Nối kết với chúng tôi

Trích đăng

Trích đăng “Kẻ ly hương” – Viet Thanh Nguyen

Trở thành một người tị nạn là biết chắc chắn rằng quá khứ không chỉ được đánh dấu bởi quãng thời gian đã trôi qua, mà còn bởi sự mất mát – mất mát những người thân yêu, quê cha đất tổ, bản sắc, bản ngã.

Đăng từ

on

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Kẻ ly hương

Tác giả: Viet Thanh Nguyen

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Phát hành: tháng 11.2019

Lời giới thiệu

NGUYỄN THANH VIỆT

Tôi đã từng là người tị nạn, mặc dù bây giờ chắc không ai còn nhìn lầm tôi với một nạn dân nữa. Chính vì lẽ này, tôi cứ nhất quyết muốn được gọi là một nạn dân, vì nỗi cám dỗ để giả vờ rằng mình chưa từng bao giờ là một người tị nạn thật là mãnh liệt. Sẽ thật dễ dàng hơn nếu tôi tự gọi mình là người nhập cư, vờ như mình thuộc về một kiểu nhân loại du cư rày đây mai đó vốn ít gây tranh cãi hơn, ít rầy rà hơn, và ít dọa dẫm hơn những người tị nạn.

Tôi chào đời như một công dân và như một con người. Năm lên bốn tuổi tôi đã trở thành một cái gì đó thấp kém hơn con người, ít ra trong mắt những kẻ không nghĩ về các nạn dân như là con người. Giờ đây khi nhìn lại, tôi chẳng nhớ gì về trải nghiệm đã biến tôi thành một người tị nạn. Nó bắt đầu với việc mẹ tôi đã tự mình ra một quyết định sinh tử. Ba tôi bấy giờ đang ở Sài Gòn, và mọi đường dây liên lạc đã bị cắt đứt. Tôi không nhớ việc mẹ tôi đã chạy trốn khỏi quê nhà với anh trai mười tuổi của tôi và tôi, để lại phía sau người chị nuôi mới mười sáu tuổi của chúng tôi để trông coi sản nghiệp gia đình. Tôi không nhớ chị tôi, người mà ba mẹ tôi sẽ không được gặp lại trong gần hai mươi năm trời, người mà tôi sẽ không còn gặp lại trong gần ba mươi năm.

Anh trai tôi nhớ những xác lính dù treo lủng lẳng trên cây trong hành trình trốn chạy của chúng tôi, mặc dù tôi không nhớ gì về chuyện đó. Tôi cũng không nhớ liệu mình có đi bộ hết một trăm tám mươi tư cây số tới Nha Trang, hay mẹ tôi có bồng tôi không, hay chúng tôi có xoay xở leo lên được một trong những chiếc xe hơi, xe tải, xe ngựa, xe bò, xe mô tô, và xe đạp nằm ngổn ngang la liệt trên đường không. Có lẽ mẹ tôi nhớ nhưng tôi chưa bao giờ hỏi về cuộc di tản thảm khốc đó, hoặc về mười ngàn nạn dân và binh lính đang táo tác tháo chạy, hay cuộc tranh cướp tuyệt vọng để lên được một chiếc thuyền ở Nha Trang, hay vụ vài binh lính nổ súng vào thường dân để mở đường chạy lên thuyền, như về sau tôi đọc được trong những ghi chép về thời kỳ này.

Tôi không nhớ việc đã tìm gặp ba ở Sài Gòn, hoặc chúng tôi đã nơm nớp suốt một tháng chờ đợi ngày quân đội Cộng sản tiến đến rìa thành phố ra sao, hoặc chúng tôi đã xoay xở mọi cách để đến phi trường, rồi đến Đại sứ quán Mỹ, và cuối cùng đã bằng cách nào chen lấn qua những đám đông tại bến tàu để tìm tới một con thuyền, hoặc việc ba tôi đã bị thất lạc với chúng tôi nhưng vẫn quyết định tự mình lên một chiếc thuyền dù sao mặc lòng, và việc mẹ tôi đã quyết định một điều tương tự, hoặc làm thế nào chúng tôi đã cuối cùng tái hợp trên một con tàu lớn hơn. Tôi nhớ rằng chúng tôi đã gặp may mắn một cách khó tin, tìm được đường rời khỏi đất nước, khi mà nhiều triệu người không thể, và không lạc mất một ai, khi mà nhiều ngàn người đã bị như vậy. Không ai cả, ngoại trừ chị tôi.

Trong hầu hết quãng đời đã qua của mình, tôi đều nhớ chuyện những binh lính trên thuyền chúng tôi nổ súng vào một chiếc thuyền nhỏ hơn chứa đầy người tị nạn đang cố sấn lại gần. Nhưng khi tôi nhắc chuyện đó với anh trai nhiều năm sau, anh nói rằng không bao giờ có việc nổ súng cả.

Tôi không nhớ rất nhiều chuyện, và tôi lấy làm biết ơn vì điều ấy, bởi lẽ những chuyện tôi nhớ được đã đủ làm tôi tổn thương lắm rồi. Ký ức của tôi bắt đầu sau những lần dừng chân của chúng tôi tại một chuỗi các căn cứ quân sự của Mỹ ở Philippines, đảo Guam, và sau cùng là Pennsylvania. Để được rời trại tị nạn ở Pennsylvania, những người Việt tị nạn cần những người Mỹ đỡ đầu. Một người đỡ đầu đã nhận bảo trợ ba mẹ tôi, một người khác nhận nuôi anh tôi, một người khác nữa nuôi tôi. Trong hầu hết cuộc đời mình, tôi đã cố không nhớ về thời khắc này ngoại trừ ghi nhận nó như một sự kiện hiển nhiên, như một chuyện đã xảy ra với chúng tôi nhưng không để lại thiệt hại nào cả, nhưng sự thật không phải vậy. Là một nhà văn và cha của một bé trai bốn tuổi, cùng độ tuổi mà tôi đã trở thành người tị nạn, tôi phải nhớ, hoặc đôi khi tưởng tượng, không chỉ những gì đã xảy ra, mà cả cảm giác đã được trải nghiệm. Tôi phải hình dung đến tình cảnh của một người cha và một người mẹ có những đứa con bị bắt khỏi vòng tay mình. Tôi phải tưởng tượng cảm nhận của mình lúc bấy giờ, mặc dù tôi nhớ đến việc đã bị người cha đỡ đầu bắt đưa đi thăm cha mẹ tôi và khóc thét mỗi khi chia tay ra về.

Tôi nhớ đến cảnh sum họp với cha mẹ sau vài tháng và tuyết và sự giá lạnh và việc mẹ tôi biến mất khỏi cuộc đời chúng tôi trong một quãng thời gian tôi không thể nhớ và vì những lý do tôi không thể hiểu, và với một nhận biết mơ hồ rằng nó có gì đó liên quan tới vết thương nhói lòng của một người mất nước, mất gia đình, của cải, sự an toàn, và có lẽ cả chính bản thân mình. Nhớ lại điều này, tôi biết rằng tôi cũng đang tiên báo một thứ tương lai u ám nhất có thể, về những gì sẽ xảy đến với mẹ trong nhiều thập kỷ sắp tới. Mặc cho sự vắng mặt ngắn ngủi, hoặc có lẽ là rất lâu của mẹ, tôi nhớ mình đã tận hưởng cuộc sống ở Harrisburg, Pennsylvania, vì trẻ con có thể vui thú với những thứ mà người lớn không thể miễn là chúng có thể nô đùa, và tôi nhớ về chiếc ghế tràng kỷ nằm ở sân sau và những đứa trẻ hàng xóm lấy trộm kẹo Halloween của chúng tôi và anh trai đã giận dữ dắt tôi về nhà trước khi tự mình đánh bạo đi lấy lại những thứ đã mất.

Tôi nhớ việc di chuyển tới San Jose, California, vào năm 1978 và cha mẹ tôi mở một cửa hàng tạp hóa Việt thứ hai trong thành phố và tôi nhớ cuộc gọi vào ngày lễ Giáng Sinh mà anh tôi nhận được, báo cho anh biết rằng cha mẹ tôi đã bị bắn trong một vụ cướp có vũ trang, và tôi nhớ sự tình không đến nỗi tồi tệ lắm, chỉ là những vết thương phần mềm, họ đã trở lại làm việc không lâu sau đó, và tôi nhớ rằng những người duy nhất muốn mở cửa hàng trong khu buôn bán xập xệ San Jose là những người Việt tị nạn, và tôi nhớ đã bước xuống đường phố từ cửa hàng của ba mẹ tôi và trông thấy tấm bảng trên một tủ kính bày hàng ghi MỘT NGƯỜI MỸ NỮA ĐÃ SẬP TIỆM VÌ NGƯỜI VIỆT NAM, và tôi nhớ một tên găng-xtơ lẽo đẽo theo chúng tôi về đến nhà và gõ cửa và vung vẩy khẩu súng vào mặt tất cả chúng tôi và mẹ đã cứu chúng tôi với việc chạy vụt qua mặt y và lao ra ngoài vệ đường, nhưng tôi không nhớ chuyện hai cảnh sát bị bắn chết trước cửa tiệm của cha mẹ chúng tôi vì bấy giờ tôi đã đi học đại học xa nhà và cha mẹ tôi không muốn gọi điện làm tôi lo lắng.

Tôi nhớ tất cả những điều này vì nếu tôi không nhớ và viết chúng ra ắt có lẽ tất cả chúng sẽ tan biến vào hư vô, cũng như tất cả những cửa hàng Việt Nam đã biến mất, vì sau khi họ đã giúp hồi sinh khu buôn bán mà chẳng ai buồn đầu tư vào, thành phố San Jose nhận ra rằng khu buôn bán ấy còn có thể tốt hơn thế nhiều bèn bắt buộc tất cả chủ cửa hàng bán lại mọi sản nghiệp của họ và nếu bạn ghé thăm khu thương mại San Jose ngày nay bạn sẽ nhìn thấy một tòa thị chính khổng lồ, lấp lánh, mới tinh biểu trưng cho sự thịnh vượng của Thung lũng Silicon chỉ vừa vặn bắt đầu tồn tại năm 1978 nhưng bạn sẽ không thấy cửa tiệm của ba mẹ tôi vốn nằm bên kia đường đối diện tòa thị chính mới. Cái bạn sẽ thấy thay vì vậy là một bãi đỗ xe với vài chiếc xe hơi ở đó vì hội đồng thành phố nghĩ rằng quang cảnh một bãi đỗ xe trống trơn nhìn từ những cửa sổ và phòng giải lao của tòa thị chính hấp dẫn hơn quang cảnh một tiệm tạp hóa gia đình của người Việt phục vụ những người tị nạn.

Là những nạn dân không chỉ một mà đến hai lần, từ miền Bắc chạy vào miền Nam năm 1954 khi quốc gia bị chia đôi, cha mẹ tôi đã trải nghiệm một tình thế lưỡng phân đau đớn thường thấy của một người bị coi là kẻ xa lạ. Kẻ khác lạ tồn tại trong sự mâu thuẫn, hoặc có lẽ trong sự nghịch lý, hoặc như một thứ người vô hình, hoặc bị săm soi tận chân tơ kẽ tóc, nhưng hiếm khi được nhìn nhận một cách đàng hoàng tử tế. Trong hầu hết thời gian chúng ta không thấy kẻ khác hoặc là nhìn xuyên qua họ, bất kể kẻ khác ấy là ai với chúng ta, vì mỗi chúng ta – ngay cho dù bị một số người coi là kẻ khác lạ – vẫn có những kẻ khác lạ của riêng mình. Khi chúng ta nhìn kẻ khác lạ, kẻ khác lạ ấy không thật sự là con người đối với chúng ta, bởi cùng cách thức chúng ta định nghĩa về kẻ khác lạ, mà thay vào đó là một ấn tượng bất di bất dịch, một trò đùa, hay một nỗi ghê sợ. Trong trường hợp của người Việt tị nạn ở Mỹ, chúng tôi hiện thân cho bóng ma Á châu đến để phục vụ hoặc để đe dọa.

Vô hình và hiện diện mọi lúc khắp nơi, những người tị nạn bị thờ ơ và quên lãng bởi những người không phải người tị nạn cho đến khi họ biến thành một mối đe dọa. Những người tị nạn, như tất cả những người khác, bị coi là vô hình cho đến khi họ bị nhìn thấy ở khắp nơi, đe dọa tràn vào biên giới của chúng ta, xâm lấn văn hóa chúng ta, cưỡng hiếp phụ nữ chúng ta, dọa nạt con cái chúng ta, hủy hoại nền kinh tế chúng ta. Chúng ta những người làm ngơ và lãng quên thường không nhận thức đó là hành xử thô bạo, vì chúng ta không biết mình đang làm điều đó. Nhưng đôi khi chúng ta cố tình thờ ơ và lãng quên người khác. Khi chúng ta làm vậy, chúng ta chắc chắn ý thức rằng chúng ta đang gây tổn thương, đang hành xử thô bạo, dù đó là ở trên sân trường khi còn là những đứa trẻ hay là trên bình diện quốc gia. Khi những kẻ khác lạ này chống trả vì nhu cầu được nhìn thấy và nghe thấy – như những người tị nạn đôi khi làm – họ có thể trông giống như những bóng ma hăm dọa mà số phận của họ chính chúng ta đã gây ra và đã phủ nhận. Vậy thì chẳng có gì là lạ khi chúng ta không muốn thấy họ.

Khi tôi nói chúng ta, tôi muốn kể cả những người từng là những nạn dân. Có một vài cựu nạn dân đang cảm thấy yên ổn thoải mái trong sự vô hình của họ, trong sự an toàn với tư cách công dân mới của họ, vốn nhìn những người tị nạn hiện diện khắp nơi như những mối đe dọa và nói, “Đủ rồi.” Những cựu nạn dân này nghĩ rằng họ là những người tị nạn tốt, những người tị nạn đặc biệt, trong khi rất có thể họ chỉ đơn giản là những người may mắn, những người tị nạn có số phận tương hợp với bối cảnh chính trị của đất nước tiếp nhận họ. Những người Việt tị nạn đến Mỹ đã may mắn nhận được thiện tâm phát sinh từ một nước Mỹ mang nặng mặc cảm tội lỗi về cuộc chiến, và còn từ nỗi khao khát của một nước Mỹ muốn chứng tỏ rằng quốc gia tư bản chủ nghĩa và dân chủ tốt hơn nhiều so với quốc gia cộng sản chủ nghĩa mới thành hình mà những nạn dân đang sống chết tháo chạy. Những người tị nạn Cuba trong thập niên 1970 và 1980 được hưởng lợi từ một bối cảnh chính trị Mỹ tương tự, nhưng những nạn dân Haiti trong thời của mình thì không. Màu da đen của họ đã ngăn trở họ, cũng như việc là người Hồi giáo làm tổn thương nhiều nạn dân Syria ngày nay khi họ tìm kiếm nơi lánh nạn vậy.

Từ mọi điều tôi nhớ và mọi điều tôi không nhớ, tôi tin vào sự tương đồng về số phận con người giữa tôi và những nạn dân Syria và với 65,6 triệu người mà Liên Hiệp Quốc định nghĩa là người lưu vong. Trong số đó, 40,3 triệu là những người mất nhà mất cửa, lưu lạc tha hương ngay trong xứ sở; 22,5 triệu là những nạn dân phải trốn chạy liên miên trong đất nước mình; 2,8 triệu là những người tìm kiếm nơi lánh nạn. Nếu 65,6 triệu người này có quốc gia, quốc gia của họ sẽ lớn thứ hai mươi mốt thế giới, nhỏ hơn Thái Lan nhưng lớn hơn Pháp. Ấy vậy mà, họ không có một xứ sở cho riêng mình. Thay vì vậy, họ – để mượn cách diễn giải của sử gia nghệ thuật Robert Storr, người đang viết về vai trò của những người Việt Nam trong tâm thức nước Mỹ – là những kẻ phiêu bạt vô sở trú của lương tâm thế giới.

Những kẻ tha hương này hầu hết không được hoan nghênh ở nơi từ đó họ trốn chạy; không được hoan nghênh nơi họ đang ở, trong những trại tị nạn; và không được hoan nghênh nơi họ muốn đến. Họ đã phải chạy trốn dưới những điều kiện hết sức nghiệt ngã; họ mất hết thân bằng, quyến thuộc, nhà cửa, quê hương; họ bị giam cầm trong những trại tị nạn với những điều kiện dưới mức con người, không một kết cục rõ ràng về nơi lưu trú, và không một lối thoát dứt khoát nào; họ thường bị đe dọa trục xuất về bản thổ; và rất nhiều khả năng họ sẽ bị lãng quên, vốn là chỗ mà công việc của các nhà văn trở nên quan trọng, nhất là những nhà văn là người tị nạn hoặc từng là người tị nạn – nếu có thể vạch ra một sự khác biệt như vậy.

Liên Hiệp Quốc nói rằng người tị nạn sẽ thôi là người tị nạn nếu họ tìm được một ngôi nhà mới và cố định. Đã rất lâu kể từ khi tôi còn là một người tị nạn theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc: “người bị buộc trốn chạy khỏi quê hương vì lý do bị bức hại, chiến tranh, hay bạo lực.” Nhưng tôi vẫn khắc sâu trong lòng mình những ký ức vỡ vụn của việc chính mình là một nạn dân, vì nơi mà một nhà văn nên đặt chân đến là nơi khổ đau mất mát, và vì một nhà văn cần phải biết đến cái cảm nhận của một kẻ xa lạ lạc lõng là như thế nào. Công việc của một nhà văn là bất khả nếu ông ta hay bà ta không thể khơi gợi trong tâm tưởng độc giả những thân phận con người, và chỉ thông qua những hành động ghi nhớ, tưởng tượng, và cảm thông như thế chúng ta mới có thể làm lớn lên trong chính mình khả năng cảm nhận người khác.

Nhiều nhà văn, có lẽ hầu hết nhà văn hay thậm chí là tất cả các nhà văn, là những người không cảm thấy hoàn toàn thoải mái yên ổn. Họ thường khi là những kẻ lạc lõng, những kẻ ly hương thất tán về mặt cảm xúc hoặc tinh thần hoặc xã hội ở mức độ này hay mức độ khác, vào lúc này hay lúc khác. Hay có lẽ chỉ riêng tôi cảm nhận như vậy chăng. Nhưng tôi không thể không nghi ngờ rằng chính là vì trạng huống lưu vong đày ải này mà các nhà văn bắt đầu hiện hữu, và chính đây là lý do nhiều nhà văn có mối đồng cảm và thông hiểu đến vậy với những kẻ ly hương thất tán cách này hay cách khác, dù đó là một kẻ thất cơ lỡ vận trong xã hội hay là cả một làn sóng hàng triệu con người vô gia cư gây ra bởi những thế lực ngoài tầm kiểm soát của họ. Trong trường hợp của tôi, tôi nhớ rõ thân phận lưu vong của mình đến nỗi mà giờ đây tôi có thể cảm nhận nguyên vẹn cảm giác của những phận đời ly hương. Tôi ghi nhớ nỗi bất công của cuộc sống lưu vong đến độ tôi có thể hình dung tác phẩm của tôi như một nỗ lực thực thi phần nào công lý cho những người bị bức bách ra đi. Điều không công bằng với những cuộc đời tị nạn, những con người vô tổ quốc, những kẻ tìm nơi nương náu, những kẻ không còn có mái nhà để về là gì đây? Khi nói tới công bằng, điều quan trọng không phải là liệu người dân ở đất nước cưu mang có nghĩ rằng họ không có nghĩa vụ hay nợ nần gì với các nạn dân hay là ngược lại. Giam giữ con người trong trại tập trung là trừng phạt họ khi mà họ không phạm một tội nào ngoài việc cố gắng cứu lấy sinh mệnh của chính mình và của người thân. Trại tị nạn là một người anh em họ hàng bất nhân đồng hạng với trại giam, trại tập trung, trại tử thần. Trại là nơi để chúng ta giam giữ những kẻ chúng ta không coi là con người hoàn toàn, và nếu chúng ta không chủ tâm tìm cách đưa họ đến chỗ chết trong hầu hết trường hợp, chúng ta cũng thường không tích cực tìm cách trả lại cho họ cuộc sống mà họ đã có trước kia, cuộc sống mà chúng ta đang có.

Chúng ta nên nhớ rằng công lý không giống như luật pháp. Nhiều điều luật nói rằng biên giới là bất khả xâm phạm, và rằng vượt biên trái phép là tội hình sự. Những người nhập cư trái phép vì lẽ ấy là những tội phạm và trại tị nạn là một thứ nhà tù. Nhưng nếu những đường biên giới là hợp pháp, liệu chúng cũng có công bằng chăng? Những khái niệm của chúng ta về biên giới đã thay đổi qua nhiều thế kỷ, cũng như những quan niệm về công lý và lòng nhân đạo của chúng ta vậy. Ngày nay chúng ta thường có thể di chuyển tự do giữa các thành phố trong một đất nước, ngay cho dù những thành phố ấy đã từng là những thực thể với những đường biên giới riêng của chúng và đã từng đánh nhau sứt đầu mẻ trán. Giờ đây chúng ta hãy quay nhìn lại thời kỳ của những thành bang – nếu chúng ta còn nhớ về chúng – và tôi ngờ rằng sẽ chẳng mấy ai trong chúng ta có mong muốn trở lại một điều kiện sống như thế.

Cũng vậy, chúng ta nên nhìn vào hiện trạng của những biên giới quốc gia và chúng ta nên hình dung về một thế giới công bình hơn nơi những ranh giới này là những cột mốc biểu thị văn hóa và bản sắc, quan trọng nhưng dễ dàng vượt qua, thay vì những biên giới pháp lý bày đặt ra để khoác lên bản sắc quốc gia chúng ta một diện mạo nghiệt ngã, sẵn sàng gây hấn và chiến tranh, chia rẽ chúng ta với những người khác. Sự tan rã của những biên giới là viễn kiến về một thế giới chủ nghĩa không tưởng, về nền hòa bình toàn cầu và một nơi chốn toàn cầu nơi không ai phải sống lưu vong, về nhân loại như một cộng đồng toàn cầu vốn cho phép những dị biệt văn hóa nhưng không phải loại dị biệt dẫn chúng ta đến chỗ áp bức, trừng phạt, hoặc giết chóc. Làm cho những đường biên giới trở nên dễ vượt qua, ấy là chúng ta đang đưa chúng ta lại gần hơn với người khác, và đưa người khác lại gần chúng ta hơn. Tôi thấy phấn chấn với một viễn cảnh như thế, nhưng vài người nhận thấy sự gần gũi này là điều vô cùng gây kinh hãi.

Nếu chưa thành tựu được cộng đồng toàn cầu này, ấy không phải tại vì đó là một giấc mơ hoàn toàn không tưởng, một cõi trời hư vô không được vẽ ra bởi bất kỳ biên giới nào. Có những thời khắc trong lịch sử nhân loại – và nhiều lần trong những tác phẩm văn học và văn hóa dân gian và thần học của mình – chúng ta đã đạt đến cảnh giới cao thượng nhất của phẩm cách trong khả năng mở lòng với tha nhân, cho kẻ đói ăn, cho kẻ rách rưới áo mặc, cho khách trọ nhà. Đây là điều chúng ta cần ghi nhớ khi chúng ta ấp ủ hy vọng và ra sức vì một tương lai, nơi mà thứ quan trọng không phải là biên cương, mà là con người. Đây là loại ký ức, ký ức về lòng nhân đạo của chúng ta, và sự bất nhân của chúng ta, mà các nhà văn có thể khơi dậy.

Chúng ta cần những câu chuyện để biểu đạt viễn kiến của một nhà văn, nhưng đồng thời để có thể thốt lên tiếng lòng của những người phải biền biệt câm nín. Nỗi khao khát lắng nghe sự câm lặng vô thanh này là một phép tu từ mãnh liệt đồng thời ẩn tàng nguy hiểm nếu nó ngăn chúng ta làm nhiều hơn là chỉ lắng nghe một câu chuyện hay đọc một quyển sách. Chỉ vì chúng ta đã nghe câu chuyện đó hay đọc quyển sách đó không có nghĩa đã có bất kỳ thay đổi gì cho những kẻ câm lặng. Những độc giả và nhà văn không nên tự đánh lừa mình rằng văn chương có thể thay đổi thế giới. Văn chương thay đổi thế giới của các độc giả và nhà văn, nhưng văn chương không thay đổi thế giới cho đến khi người ta nhảy ra khỏi ghế bành, lăn xả vào cuộc đời, và làm điều gì đó để đổi thay những tình cảnh mà văn chương đã nói lên. Bằng không văn chương sẽ chỉ là một vật thờ lố lăng đối với các độc giả và nhà văn, cho phép họ nghĩ rằng họ đang lắng nghe những kẻ câm lặng, trong khi thật ra họ chỉ đang nghe tiếng nói cá nhân của nhà văn mà thôi.

Vấn đề ở đây là những người mà chúng ta gọi là câm lặng thường khi không thật sự câm lặng. Nhiều người câm lặng thật ra đang luôn luôn giãi bày. Họ nói rất to, nếu bạn đến đủ gần để nghe họ, nếu bạn có khả năng lắng nghe, nếu bạn ý thức về những gì bạn không thể nghe. Vấn đề là phần lớn thế giới không muốn lắng nghe những kẻ câm lặng hoặc không thể nghe họ. Sự công bình chân chính là tạo ra một thế giới của những cơ hội xã hội, kinh tế, văn hóa, và chính trị vốn sẽ cho phép tất cả những con người câm nín này kể lại câu chuyện của họ và được nghe thấy, thay vì lệ thuộc vào một nhà văn hay một kiểu người đại diện nào đó. Không có sự công bình như thế, sẽ không bao giờ có hồi kết cho những làn sóng người lưu vong, cho việc tạo ra những con người càng câm lặng hơn nữa, hoặc, chính xác hơn, cho sự câm lặng khôn cùng của hàng triệu tiếng nói. Sự công bình chân chính sẽ là khi chúng ta không còn cần một tiếng nói cho những ai câm nín nữa.

Trong khi chờ đợi, chúng ta có quyển sách với những tiếng nói vang vọng mãnh liệt này, từ những cây bút vốn dĩ là những người tị nạn. Joseph Azam, đến từ Afghanistan, kể về quá trình tự chuyển biến dài lâu rốt cuộc đã dẫn tới việc tỉa tót cái tên cúng cơm của mình theo một hơi hướng rất Mỹ. David Bezmozgis, đến từ Liên bang Xô Viết, định cư ở Canada, nơi anh mô tả quá trình vun đắp mối tình đoàn kết thầm lặng với một người tị nạn mới đang cố gắng xin phép được ở lại. Fatima Bhutto, chào đời ở Afghanistan, có cha là một người Pakistan xuất thân từ một gia thế có bề dày làm chính trị, đã tự mình kinh qua những trải nghiệm của một nạn dân trong phiên bản thực tại ảo, và bất ngờ bị xúc động mãnh liệt. Bùi Thi, người trốn chạy cuộc chiến tranh Việt Nam để đến Hoa Kỳ, đã suy ngẫm về hành trang và những mảnh vỡ rời rạc của cuộc đời tị nạn qua những bức tranh được khắc họa sắc nét. Ariel Dorfman rời Chile và định cư ở Bắc Carolina, nơi ông bài xích đường lối chính trị của Donald Trump và tìm thấy hy vọng trong một siêu thị liên Mỹ La-tinh. Reyna Grande, người đến Mỹ như một người nhập cư không giấy tờ từ Mexico, đã nêu ra những câu hỏi quyết liệt về vấn đề định nghĩa: Điều gì làm cho anh trở thành người tị nạn thay vì người nhập cư?

Lev Golinkin, một người Liên Xô gốc Do Thái qua bao gian khổ đã tị nạn được ở Vienna, đã mô tả cuộc gắng sức triền miên tháng ngày để giữ lại được nhân tính khi trải nghiệm tị nạn hóa thành một bóng ma ghê khiếp. Meron Hadero, người đã đến Đức từ Ethiopia khi còn đỏ hỏn, quay trở lại Đức khi trưởng thành để tìm lại những trải nghiệm của phận đời lưu vong và nhập cư mà cô không còn nhớ.

Aleksandar Hemon, một người Chicago đến từ Bosnia, kể lại những trải nghiệm như nhân vật Candide của một đồng hương người Bosnia đã phải sống một cuộc đời quá đỗi bi tráng nhưng khôn cùng bất hạnh. Joseph một người tị nạn gốc Do Thái đến từ Hungary, miêu tả vị thế độc nhất vô nhị của Canada như một xứ sở dành cho những người ngoại cuộc, sau Mỹ, nhưng không hoàn toàn giống Mỹ (trong ý nghĩa tích cực). Porochista Khakpour cung cấp một tự truyện chân thực về cuộc hành trình của cô từ Iran đến Mỹ, bao gồm thân phận bấp bênh của cô với tư cách người Hồi giáo, người da nâu, và người Mỹ trong thời chiến. Marina Lewycka, sinh ra bởi một cặp vợ chồng người Ukrainia trong một trại “lưu vong”, định cư ở Anh với một căn cước Anh đàng hoàng tử tế – cho đến khi tâm cảm bài xích người nhập cư ngày một dâng cao khiến cô hoài nghi căn cước ấy. Maaza Mengiste, một nhà văn Mỹ đến từ Ethiopia, lần nọ trong một quán cà-phê Ý quan sát thấy hình ảnh khổ sở tàn tạ của một thanh niên da đen nhập cư, và cảm nhận nỗi đau của sự gắn bó giữa cô với anh ta và với nhiều người bị bức bách tha hương khác.

Dina Nayeri, sinh ra ở Iran, lớn lên ở Mỹ, và hiện là một cư dân Anh quốc, đã thách thức cái ý niệm rất phổ biến rằng những người tị nạn phải biết ơn bằng việc cho thấy lòng biết ơn là một cái bẫy như thế nào. Trần Vũ, một người Việt tị nạn đã đến Oklahoma, đưa ra một bảng phân loại nhiều lốt vỏ của người tị nạn: trẻ mồ côi, diễn viên, bóng ma. Novuyo Rosa Tshuma, có gia đình đã rời Zimbabwe để đặt chân đến một Nam Phi vừa hiếu khách vừa thù địch, mô tả nỗi sợ bị bức hại của người tị nạn như là nguồn cơn của nỗi khao khát tỏ ra khác thường, và vì lẽ ấy được chấp nhận. Kao Kalia Yang, một người tị nạn gốc Hmong đã cùng với gia đình đến Minnesota từ Lào, mãi ám ảnh với ký ức về những trẻ em tị nạn trong trại của cô đã vật lộn và chiến đấu để sinh tồn như thế nào.

Tất cả những nhà văn này chắc chắn đã viện đến những ký ức về quá khứ của chính họ và gia đình họ. Trở thành một người tị nạn là biết chắc chắn rằng quá khứ không chỉ được đánh dấu bởi quãng thời gian đã trôi qua, mà còn bởi sự mất mát – mất mát những người thân yêu, quê cha đất tổ, bản sắc, bản ngã. Chúng tôi muốn giãi bày tất cả những nỗi mất mát đau thương mà lẽ ra hãy còn chưa được nghe thấy ngoại trừ bởi chúng ta và những ai gần gụi và thân thương với chúng ta. Trong trường hợp của tôi, tôi nhớ đến những mất mát của cha mẹ tôi, và tôi nhớ giọng nói của họ. Tôi nhớ giọng nói của tất cả những người Việt tị nạn mà tôi đã gặp trong thời tuổi trẻ, khản cổ vì phải nhiều lần kể đi kể lại câu chuyện của mình. Nhưng tôi không nhớ giọng chị tôi. Tôi không nhớ giọng nói của tất cả những nạn dân đã chia sẻ cuộc di cư bi thảm với tôi và không đến được bến bờ, hoặc không sống sót. Nhưng tôi có thể hình dung về họ, và nếu tôi có thể hình dung về họ, ắt tôi cũng có thể nghe thấy họ. Đó là giấc mộng của nhà văn, rằng chỉ cần chúng tôi có thể nghe thấy những con người mà không ai khác muốn nghe này, ắt là chúng tôi cũng có thể khiến cho bạn nghe thấy họ.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.


viết bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trích đăng

Tình bạn – Trích “Đời sống bí ẩn của cây”

“Nhưng tại sao cây lại là sinh vật có tính xã hội? Tại sao chúng lại chia sẻ thức ăn với cây cùng loài và thỉnh thoảng còn nuôi dưỡng cả đối thủ của chúng?”

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Đời sống bí ẩn của cây

Tác giả: Peter Wohlleben

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Phát hành: tháng 8.2019

Tình bạn

Nhiều năm trước, tôi tình cờ thấy một bãi đá hình thù kỳ lạ phủ đầy rêu tại một trong số những khu bảo tồn dẻ gai cổ thụ mọc ở cánh rừng tôi quản lý. Ngẫm nghĩ lại, tôi nhận ra mình đã từng đi qua bãi đá này rất nhiều lần mà chẳng hề lưu tâm đến nó. Nhưng ngày hôm đó, tôi đã dừng lại và cúi xuống để nhìn thật kỹ. Các tảng đá có hình dạng khác thường: Chúng hơi cong và có nhiều vùng rỗng bên trong. Thật cẩn thận, tôi gạt rêu trên một trong những tảng đá ra. Thứ tôi thấy bên dưới lớp rêu là vỏ cây. Vậy hóa ra chúng chẳng phải là đá, mà là những khối gỗ già. Tôi đã ngạc nhiên trước độ cứng của những “viên đá” này, vì thường chỉ cần ít năm thôi là gỗ dẻ gai nằm trên nền đất ẩm đã phân hủy. Nhưng điều tôi ngạc nhiên nhất chính là việc tôi không thể nâng nổi khối gỗ lên. Rõ ràng là nó đã bám chặt vào đất bằng cách nào đó.

Tôi lấy con dao bỏ túi ra và cẩn thận cạo đi một ít vỏ cây cho đến khi chạm đến lớp có màu hơi lục. Lục ư? Màu này chỉ tìm được trong chất diệp lục – thứ tạo nên màu xanh của lá non; chất diệp lục cũng được trữ trong phần thân của những cây còn sống. Điều này có nghĩa là: Khúc gỗ này vẫn còn sống! Tôi đột nhiên chú ý thấy những “viên đá” còn lại tạo thành hình rõ rệt: Chúng xếp thành một vòng tròn với đường kính khoảng 5 feet (152,4 cm). Thứ mà tôi tình cờ tìm thấy lại là phần “xương xẩu” sót lại của một gốc cổ thụ khổng lồ. Tất cả những gì còn lại là vết tích của phần rìa ngoài cùng. Phần bên trong đã hoàn toàn mục rữa thành đất mùn từ rất lâu – dấu hiệu rõ ràng cho thấy cây có lẽ đã ngã xuống ít nhất bốn hay năm trăm năm trước đó. Nhưng làm thế nào mà phần còn sót lại này có thể tiếp tục sống lâu đến thế?

Tế bào sống cần có thức ăn dưới dạng đường, chúng phải thở, và phải phát triển thêm, ít nhất cũng phải lớn hơn được một chút. Nhưng không có lá – và vì vậy không có sự quang hợp – thì việc đó là không thể. Không sinh vật nào trên hành tinh của chúng ta có thể nhịn đói hàng thế kỷ, thậm chí tàn tích của một cái cây cũng chẳng thể, và chắc chắn một gốc cây càng không tồn tại được đến giờ nếu chỉ dựa vào mình nó. Rõ ràng là có điều gì khác đang xảy ra với gốc cây này. Chắc hẳn nó đã nhận được sự giúp đỡ từ những cây sống xung quanh, cụ thể là từ rễ của chúng. Các nhà khoa học nghiên cứu những tình huống tương tự đã phát hiện sự giúp đỡ có thể đến từ rất xa thông qua hệ thống nấm nằm quanh các đầu rễ – thứ tạo điều kiện cho việc trao đổi dưỡng chất giữa các cây – hoặc có thể đến từ chính sự liên kết giữa các sợi rễ của chúng. Trong trường hợp của gốc cây mà tôi tình cờ bắt gặp, tôi không thể khám phá được điều gì đang diễn ra, vì tôi không muốn làm gốc cây già bị thương khi đào xới xung quanh nó, nhưng có một điều rõ ràng rằng: Những cây dẻ gai xung quanh đã bơm đường cho gốc cây này để giữ nó sống sót.

Nếu nhìn vào những bờ đắp bên đường, bạn có lẽ sẽ thấy được cách mà cây cối kết nối với nhau thông qua hệ thống rễ của chúng. Ở những độ dốc này, mưa thường rửa trôi đất, khiến mạng lưới rễ ngầm dưới đất lộ ra. Các nhà khoa học tại dãy núi Harz ở Đức đã khám phá ra rằng điều này thực sự là minh chứng cho cách sống phụ thuộc lẫn nhau, và hầu hết các cá thể cây cùng loài mọc ở cùng vị trí sẽ kết nối với nhau thông qua hệ thống rễ của chúng. Dường như việc trao đổi dưỡng chất và trợ giúp hàng xóm khi cần chính là luật lệ, điều này dẫn đến kết luận rằng rừng là xã hội hữu cơ có kết nối nội bộ rất giống với tổ kiến.

Tất nhiên, rất hợp lý nếu hỏi rằng liệu có thể rễ cây chỉ đơn giản lang thang lòng vòng không mục đích dưới mặt đất rồi kết nối lại khi chúng tình cờ gặp được rễ cây khác cùng loài hay không? Một khi đã kết nối, chúng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc trao đổi dưỡng chất. Chúng tạo nên thứ giống như mạng xã hội, nhưng điều chúng trải qua chỉ đơn thuần là tình cờ cho và nhận. Trong trường hợp này, sự gặp gỡ tình cờ thay thế cho hình ảnh đầy cảm động về việc chủ động hỗ trợ, mà dù chỉ gặp gỡ tình cờ thì vẫn đem lại nhiều lợi ích cho hệ sinh thái khu rừng. Nhưng thiên nhiên phức tạp hơn thế nhiều. Theo Massimo Maffei của Đại học Turin, thực vật – bao gồm cây – có khả năng tuyệt vời trong việc phân biệt rễ của bản thân chúng với rễ của những loài khác, và thậm chí với rễ của những cá thể cùng họ.

Nhưng tại sao cây lại là sinh vật có tính xã hội? Tại sao chúng lại chia sẻ thức ăn với cây cùng loài và thỉnh thoảng còn nuôi dưỡng cả đối thủ của chúng? Nguyên nhân cũng tương tự như cộng đồng loài người: Làm việc cùng nhau có lợi hơn. Một cây làm chẳng nên rừng. Chỉ một mình, cây không thể thiết lập khí hậu khu vực phù hợp. Nó sẽ phải phó thân cho gió và thời tiết. Nhưng cùng nhau, nhiều cây sẽ tạo thành một hệ sinh thái giúp làm dịu cái nóng cực độ hay cái lạnh buốt xương, giúp lưu giữ thật nhiều nước, và sản sinh thật nhiều hơi ẩm. Trong môi trường được bảo vệ này, cây có thể sống mãi đến khi thành cổ thụ. Để sống được đến đó, cộng đồng cây phải còn nguyên vẹn dù bất cứ giá nào. Nếu mỗi cây đều chỉ biết tự lo thân mình, thì khá nhiều trong số chúng sẽ chẳng bao giờ có thể thành cổ thụ. Nhiều cây chết thường xuyên sẽ tạo ra những khoảng trống lớn trên tán rừng khiến bão có thể dễ dàng lọt vào trong và làm bật rễ nhiều cây hơn. Cái nóng của mùa hè cũng sẽ tràn xuống nền rừng và khiến nó bị khô hạn. Tất cả cây trong rừng đều sẽ chịu tổn thất.

Mỗi cây, vì vậy, đều có giá trị đối với cộng đồng và đáng được giữ lại càng lâu càng tốt. Đây là lý do vì sao ngay cả những cây bị bệnh cũng được hỗ trợ và nuôi dưỡng cho đến khi chúng bình phục. Lần sau, có lẽ sẽ ngược lại: Cây từng hỗ trợ cây khác có thể trở thành cây cần được giúp đỡ. Khi những cây dẻ gai rậm rạp màu xám bạc này cư xử như vậy, chúng làm tôi nhớ đến đàn voi. Cũng như đàn voi, chúng biết tự chăm sóc bản thân và giúp đỡ những thành viên bị bệnh hoặc yếu sức hồi phục. Chúng thậm chí rất miễn cưỡng khi phải bỏ lại thành viên đã chết.

Tuy mỗi cây là một thành viên của cộng đồng, nhưng lại có nhiều hạng thành viên khác nhau. Ví dụ, hầu hết các gốc cây đều sẽ mục rữa thành đất mùn và biến mất trong vòng vài trăm năm (đây chẳng phải là thời gian quá dài đối với cây). Chỉ có một số ít duy trì được sự sống qua hàng thế kỷ, giống như những “viên đá” phủ đầy rêu mà tôi vừa mô tả. Vậy sự khác nhau là gì? Không lẽ xã hội của cây cũng có công dân hạng hai như xã hội loài người? Có vẻ là vậy, mặc dù khái niệm “thứ hạng” chưa thực sự phù hợp lắm. Đúng hơn là mức độ kết nối – hay thậm chí có lẽ là tình cảm – mới là thứ quyết định một cây xanh nhận được bao nhiêu giúp đỡ từ các “cộng sự” của mình.

Bạn có thể tự kiểm tra điều này đơn giản bằng cách nhìn lên tán rừng. Một cây bình thường sẽ cứ mọc cành ra cho đến khi chạm phải đầu cành của cây hàng xóm có cùng chiều cao. Nó không xòe rộng ra nữa vì không khí và ánh sáng tốt hơn trong không gian này đã bị lấy đi. Tuy nhiên, nó lại “gia cố” thật kỹ những cành đã vươn dài, do đó bạn sẽ cảm thấy trên tán rừng như có một trận “so tài” chen lấn. Nhưng một đôi bạn thật sự sẽ cẩn thận ngay từ đầu không đâm những cành quá rậm rạp về phía nhau. Cây không muốn lấy đi bất cứ thứ gì từ bạn mình, nên chúng chỉ phát triển các cành cứng chắc ở rìa ngoài tán lá, nghĩa là, hướng về phía những cây “không phải bạn bè”. Những đôi bạn thế này thường có rễ liên kết rất chặt và thỉnh thoảng chúng thậm chí chết cùng nhau.

Thông thường, tình bạn sâu nặng đến mức phần gốc trơ lại vẫn được chăm sóc có thể chỉ hình thành trong những khu rừng chưa bị khai phá. Cũng có thể tất cả loài cây đều làm điều này chứ không chỉ riêng gì loài dẻ gai. Tôi từng tự mình quan sát phần gốc cây sồi, lãnh sam, vân sam và linh sam Douglas còn sống sót rất lâu sau khi bị chặt. Cây trong các khu rừng được trồng – hầu hết là các rừng cây lá kim ở Trung Âu, cư xử giống như “những đứa trẻ đường phố” mà tôi mô tả trong chương 27. Do rễ bị tổn thương không thể phục hồi lúc được trồng, nên chúng dường như không có khả năng tạo ra mạng lưới kết nối với nhau. Thông thường, cây trong những khu rừng được trồng như thế cư xử giống những kẻ cô độc và chịu tổn thương vì sự cô lập này. Và kiểu gì thì hầu hết chúng cũng chẳng bao giờ có cơ hội trở thành cổ thụ. Dựa theo chủng loài, những cây này sẽ được đánh giá là sẵn sàng để thu hoạch khi chúng chỉ khoảng một trăm tuổi.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Chiến tranh trong tình yêu – Chương 1 “Tình yêu hạnh phúc có tồn tại?”

Nàng và chàng đang trong cuộc khủng hoảng, cũng như nhiều lứa đôi đương đại. Tuy nhiên, cuộc chiến chàng – nàng đã nổ ra từ rất lâu, bắt nguồn từ sự mất ổn định của chế độ phụ hệ – chế độ xã hội mà quyền lực của người cha và các giá trị nam tính nắm ưu thế.

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Tình yêu hạnh phúc có tồn tại

Tác giả: Guy Corneau

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Xuất bản: Tháng 7.2019

Giới thiệu:

Làm thế nào sự hờ hững của người cha tạo nên những “người đàn bà yêu quá nhiều” và sự ân cần quá đáng của người mẹ tạo nên những “người đàn ông sợ tình yêu”?

Làm thế nào cuộc sống của chúng ta lại tràn đầy xung đột, đặc biệt với người mình yêu thương nhất, trong khi mỗi người chúng ta đều thiết tha đi tìm hạnh phúc? Cuộc chiến đó nhằm mục đích gì? Ai là người gây chiến? Phần thưởng cho người chiến thắng là gì? Và câu hỏi nhức nhối nhất: làm thế nào để chấm dứt nó?

Chàng và nàng trên ghế sofa

Nàng

Chàng vừa đi làm về, và vừa ngồi xuống ghế sofa trong phòng khách, vẻ mệt mỏi nhưng hài lòng. Chàng ngáp và vươn vai sau khi cởi giầy. Chàng có thật nhiều điều muốn kể với nàng, chàng nói liên tục ngay cả khi nàng vào bếp lấy mấy cái ly và chai rượu. Chàng đang mặc cái áo sơ mi mà nàng rất thích (cái áo đó chính nàng đã chọn) vì nó làm chàng trông lém lỉnh và nhẹ nhàng, xua bớt vẻ trịnh trọng của chàng. Nàng thích giây phút này, khi chàng hơi mệt mỏi nên có vẻ buông thả, và chịu nói chuyện dông dài với nàng. Câu chuyện chàng nói không có gì đặc biệt hấp dẫn, nhưng chí ít chàng cũng chịu nói chuyện. Chàng nói trong khi nàng từ từ tiến tới ghế sofa, và nàng bỗng muốn hôn chàng, chẳng vì lý do gì, chỉ để hoan nghênh giây phút này. Lần này nàng sẽ chủ động. Đây là một điều nàng ít làm (và chàng cũng thường trách cứ nàng điều này). Thế là nàng tiến gần lại, vẻ lả lơi khiêu gợi.

Chàng nhìn thấy nàng tiến tới, mỉm cười, đặt cái ly lên bàn, hôn trả lại cái hôn đầu tiên của nàng với sự thích thú rõ ràng. Nhưng nàng càng tiếp tục, mọi chuyện càng tồi tệ đi. Nàng cảm thấy sự không thoải mái hiển nhiên của chàng. Nàng cảm thấy thân hình chàng trở nên cứng đờ, nụ cười vẫn còn đó nhưng gương mặt chàng có vẻ đông cứng lại. Chàng ngừng nói chuyện và lại cầm lấy cái ly.

Rõ ràng chàng khó chịu, và nàng không hiểu gì cả. Ừ, thật ra thì nàng hiểu, nhưng không muốn hiểu. Mỗi khi nàng chủ động, mọi chuyện sẽ không đi xa được, lúc nào cũng là chọn nhầm lúc, chẳng hạn như chàng sẽ viện cớ đang nhức đầu. Cứ như thể… như thể chàng là đứa con nít sợ mẹ. Ồ không, nàng không phải mẹ chàng. Nàng chẳng dính dáng gì tới mẹ chàng cả, và bây giờ nàng những muốn đóng gói chàng gửi ngược lại cho mẹ chàng trong cái thùng với dòng chữ: hàng bị lỗi.

Chàng

Nàng đã về nhà trước chàng, mùi hương nàng đã tỏa đầy khắp căn hộ, cùng ánh nắng tràn trề rọi qua cửa sổ. Nàng hỏi chàng có muốn uống một cốc rượu vang không, và chàng nói tại sao lại không nhỉ. Chàng rất thích nàng phục vụ chàng một thứ thức ăn hay thức uống gì đó, khi nàng đang vui và ân cần. Những lúc như vậy, chàng cảm thấy được cưng chiều và cuộc đời thật đẹp. Chàng kể lể một vài điều linh tinh để làm nàng cười, vì chàng biết nàng thích nghe chàng nói chuyện. Chàng cứ nói, cứ nói và đột nhiên, chàng cảm thấy muốn làm tình với nàng. A, giá như nàng chủ động nhỉ, hầu như nàng chẳng làm thế bao giờ. Ồ nếu nàng làm thế, chàng sẽ nhai sống nàng ngay.

Nhưng đúng lúc ấy, nàng chủ động thật, nàng đang tiến về phía chàng với vẻ khiêu gợi. Mong đợi thành hiện thực. Nhưng có cái gì đó không ổn ở đây. Là vẻ say đắm trong ánh mắt nàng, sự khát khao trong cử chỉ của nàng, cứ như thể cuộc sống của nàng phụ thuộc vào đó. Cứ như thể nhu cầu tình cảm của nàng lớn đến nỗi không người đàn ông nào có thể đáp ứng nổi.

Nàng đặt cái ly xuống bàn, ôm hôn chàng, xiết chặt người nàng và người chàng. Lúc này đây, nàng đang muốn nghe chàng nói “anh yêu em”. Không chứ, mọi chuyện lại bắt đầu rồi. Nàng muốn nghe chàng nói “anh yêu em” từ sáng đến tối, mọi lúc mọi nơi. Cái câu “anh yêu em” đó, chắc chàng phải thâu băng lại cho nàng có thể nghe mỗi khi nàng thích. Chàng bắt đầu thấy bực mình rồi. Ở đâu ra cái nhu cầu tình cảm lớn đến vậy, cứ như cái hang sâu hút mà chàng tránh đến gần, sợ nhỡ sảy chân rơi xuống thì hỏng. Chắc chắn nàng sẽ lặp lại câu “em thiếu tình thương của cha mà”. Thiếu tình thương của cha! Cứ làm như chàng được cha thương yêu lắm không bằng.

Sau cái hôn thứ tư, chàng chộp lấy ly rượu. Chàng hy vọng nàng không nhận ra sự khó chịu trong lòng mình. Nhưng nhạy cảm như nàng, dĩ nhiên là nàng đã thấy. Chỉ còn cách là chàng làm đổ một ít rượu xuống thảm và vì thế có thể chạy vào nhà vệ sinh, để tâm trạng bình thường trở lại.

Nàng

Vậy đó, lại thêm một lần nữa chàng chạy biến mất. Nhưng lần này, nàng thề sẽ không chạy theo đuôi chàng đâu nhé. Nàng ngán tới tận cổ thứ đàn ông lãnh cảm này rồi. Nàng đã chán ngấy việc đóng vai cô gái dễ thương rồi. Nàng đã chán phải chuẩn bị các món ăn ngon cho chàng, phải chiều những trò chơi chàng ham thích trên giường, với hy vọng đổi lại sự trìu mến dịu dàng không bao giờ đến. Nàng giận thật rồi, nhưng nàng sẽ nổi giận trong yên lặng, vì những gì nàng muốn nói bây giờ có vẻ thô lỗ, độc địa quá. Mới năm phút trước đây thôi nàng còn muốn hôn chàng, nhưng giờ nàng chỉ muốn tìm cách trả đũa. Chàng mà thò đầu ra khỏi nhà vệ sinh xem…

Chàng

Chàng tự trách phản ứng của mình. Nói cho cùng, nàng làm điều đó chỉ cốt khiến cho chàng vui lòng. Nếu chàng chiều theo sự chủ động của nàng lần này, nếu chàng
cho nàng sự âu yếm lãng mạn mà nàng mong đợi, có thể trận chiến bắt đầu từ vài ngày nay sẽ kết thúc. Thế là chàng trở lại phòng khách, lòng đầy dự định tốt lành.

Chàng nhìn thấy nàng lúc đó trông xa lạ, lạnh lẽo, đanh đá, ngồi lùi sát một góc sofa. Những dự định tốt lành bay biến hết. Nàng muốn chiến tranh chứ gì, nàng sẽ có chiến tranh! Chàng không để bị áp đảo được. Nhất là từ khi nàng bắt đầu đi tư vấn tâm lý và bắt đầu học khẳng định mình, nàng không bỏ sót một dịp gây hấn nào, mọi chuyện ngày càng tồi tệ hơn. Rồi thì nàng bắt đầu bản trường thoại của nàng về cuộc sống hai người và những hiệp ước, máu chàng bắt đầu sôi lên. Chàng nuốt một ngụm rượu, nhưng rượu lúc này có vị chua như giấm. Cái gì nàng động đến cũng chua như giấm. Buổi tối nay thế là hỏng bét. Chàng chỉ còn muốn mỗi một điều là bỏ đi khỏi nhà. Đang định mở miệng nói, nàng đã chặn trước: “Tôi cá rằng anh lại muốn bỏ đi. Anh thấy tôi quá phiền chứ gì? Anh tưởng rằng đàn bà khác sẽ chịu được anh và xử sự khác tôi sao? Có thật anh nghĩ một ngày anh sẽ tìm được người đàn bà lý tưởng? Nhìn lại mình đi, cưng à!!”

Sức nặng của giấc mơ

Vậy là bắt đầu điệu vũ của những lời chê bai và kết tội. Cả hai sẽ ngày càng lớn tiếng, sẽ dẫn đến vài cú sấm sét theo kiểu đóng sập cửa, bỏ đi và trở lại… Sẽ có vài tiếng la hét, nước mắt, cay đắng ở cả hai phía, hối hận, hôn nhau, và nếu là một tối may mắn, sẽ kết thúc bằng một pha làm tình. Và vài ngày sau mọi chuyện lại tiếp diễn.

Tôi biết, bạn nghĩ rằng chuyện này chỉ xảy ra trong nhà bạn. Xin lỗi phải làm bạn thất vọng, chuyện này xảy ra ở khắp nơi. Dĩ nhiên bạn có thể thêm thắt vào vài điểm nhấn cá nhân, có khi câu chuyện xảy ra giữa hai người đàn ông, hoặc hai người đàn bà, có khi nàng là người lãnh cảm không muốn chàng lại gần, có khi cuộc cãi vã dẫn đến ẩu đả… Nhưng nói chung kịch bản không thay đổi nhiều lắm, đến nỗi chúng ta có cảm giác là chuyện tình cảm của con người diễn ra theo một chương trình đã định sẵn.

Nàng tự thấy mình đã sẵn sàng và đi tìm một người đàn ông có ý muốn ổn định và quyết định ràng buộc. Nàng muốn được ấm áp và an toàn, từ xưa đến giờ nàng chưa có được cảm giác đó, cha đã không cho nàng. Nhưng sức nặng của sự chờ đợi như thế làm chàng phát sợ. Hơn nữa, chàng không hiểu chút gì về cái gọi là quan hệ hòa hợp thấu hiểu giữa hai giới, chàng còn không hiểu chính mình nữa là. Chàng biết cái gì là quyền lực, là chiến thắng, là cơ khí, là vận dụng đầu óc. Nhưng những gì liên quan tới tình cảm lại là chuyện khác. Hình như chàng thiếu hiểu biết về thứ gia vị gì đó để nấu món ăn tình yêu, mà nàng tự cho rằng mình biết. Bỗng nhiên chàng thấy mình thật không ra gì trên lĩnh vực tình cảm. Chàng thấy có lỗi vì không thể thỏa mãn giấc mơ mà nàng tha thiết đến thế, có lẽ chàng không thích hợp để giúp nàng điều này. Nàng cảm thấy đau khổ vì không đủ khả năng làm cho chàng hạnh phúc. Vậy mà nàng đã cố gắng bao nhiêu để giúp chàng trở thành mẫu hoàng tử mà nàng mong muốn. Chàng thì cảm thấy bị kiểm soát, dắt mũi, ép uổng thành mẫu người không phải bản chất chàng. Cảm giác khó chịu này giống như khi chàng đứng trước mặt mẹ. Bà cũng thế, bà lúc nào cũng chỉ muốn ép chàng thành hoàng tử bé. Cùng một dạng áp lực, nàng đè nặng lên chàng mà không hay biết.

Nàng không nhận ra sức nặng của giấc mơ. Chàng không nhận thấy sức nặng của sự khó tính, hờ hững nơi mình. Chàng không nhận thấy mình muốn nàng phải trả giá, phải nhận bài học vì cái giấc mơ hoang đường ấy của nàng. Và cứ thế, sự tình dần trở nên khó chấp nhận. Nàng, chờ đợi và theo chàng. Chàng, im lặng và lẩn trốn. Bằng những cử chỉ của mình, mỗi người tiết lộ điều mình mong đợi ở người kia, và lần lượt khiến cho nhau thất vọng. Hai người duy trì tình trạng này ngày này sang ngày khác như thể để xem sức chịu đựng của mình và người kia tới đâu, để xem người kia thất vọng và để tang giấc mơ ấy như thế nào. Họ tiếp tục quen nhau vì nhu nhược. Cho đến một ngày, nhận ra mình đã bị dắt mũi quá lâu, đã dậm chân tại chỗ quá lâu, họ chia tay trong chán chường. Nàng thấy mình đã bị lừa. Còn chàng thấy mình bị sập bẫy. Và cả hai đều đau khổ khi chấm dứt cuộc tình.

Điệu vũ của những tiếng thở dài từ hai phía không phải mới, chúng ta quan sát thấy nhiều từ hơn một phần tư thế kỷ nay. Chúng ta cần một cuộc khủng hoảng tận gốc để mong thay đổi nó.

Khi cuộc sống lứa đôi là chiến trường

Chế độ phụ hệ mất thăng bằng

Nàng và chàng đang trong cuộc khủng hoảng, cũng như nhiều lứa đôi đương đại. Tuy nhiên, cuộc chiến chàng – nàng đã nổ ra từ rất lâu, bắt nguồn từ sự mất ổn định của chế độ phụ hệ – chế độ xã hội mà quyền lực của người cha và các giá trị nam tính nắm ưu thế. Trong hoàn cảnh đó, câu nói: “Yêu nhau, hai người trở thành một” là không rõ. Phải trả lời thêm câu hỏi: Nhưng một đó là ai, đàn ông hay đàn bà? Và với một cặp đôi cổ điển, sự hòa hợp trong gia đình chủ yếu dựa trên sự khuất phục, hy sinh của người phụ nữ. Hai người hòa hợp để xây dựng mái ấm của người đàn ông, mái ấm sẽ tuân theo các chỉ dụ của chế độ phụ hệ. Người đàn bà thường phải chối bỏ cá tính của mình, nghĩa là chối bỏ những sở thích, tham vọng, tính sáng tạo của mình để tập trung vào việc nuôi dạy con cái.

Ngày người phụ nữ bắt đầu không chấp nhận tình trạng trên, lứa đôi dĩ nhiên sẽ lâm vào khủng hoảng, vì chúng ta không biết, không có hình mẫu nào trong lịch sử dạy ta biết phải làm gì để chung sống hòa hợp mà vẫn là hai con người toàn diện và tự chủ.

Chế độ phụ hệ là hệ thống tư tưởng chi phối tâm lý của mọi người đàn ông và đàn bà. Ý thức hệ này đặt vị trí của người đàn bà là phục tùng đàn ông, dựa trên các thành kiến là những gì người đàn ông thực hiện, sản xuất thì hiển nhiên quan trọng hơn những gì người đàn bà thực hiện, cảm thấy… Thành kiến này cũng khiến những gì liên quan đến nữ tính, tình cảm, nội trợ… bị đánh giá thấp. Chính vì thế, ý thức phụ hệ bị khủng hoảng khi ngày càng nhiều phụ nữ khẳng định mình là con người toàn diện. Cuộc chiến nổ ra dưới mỗi mái nhà, trong mỗi gia đình. Một câu hỏi giản dị được đặt ra: ai phục vụ, và ai được phục vụ. Chúng ta có thể xem phụ nữ như các mật thám của sự hiện đại hóa xã hội. Tuy từ xưa, thời nào cũng có tấm gương phụ nữ đứng lên đòi sự công bằng và tôn trọng cho phái nữ, nhưng hiện tượng này chỉ phổ biến gần đây, cùng với thuốc ngừa thai, đến làn sóng phụ nữ bươn chải làm việc để kiếm sống sau Thế chiến II. Phụ nữ thoát khỏi việc làm mẹ không chủ động và lệ thuộc về kinh tế. Phong trào nữ quyền tích cực bắt đầu từ năm 1968 đến nay đã chứng kiến sự tham gia tích cực của phái nữ trên mọi lĩnh vực hoạt động.

Biến chuyển này dĩ nhiên ảnh hưởng sâu đậm đến quan hệ lứa đôi. Và như thế, cuộc sống lứa đôi hiện đại đã trở thành bãi chiến trường, nơi chế độ phụ hệ bị đe dọa, nơi hai nền tư tưởng nam tính và nữ tính đụng độ nảy lửa trong cuộc sống ngày thường, trong nhà bếp, trong phòng ngủ…

Chế độ phụ hệ nằm trong tâm tưởng mỗi chúng ta

Trong cuộc tranh chấp này, muốn phân biệt kẻ tốt người xấu, kẻ đúng người sai chỉ là ảo tưởng. Bởi chế độ phụ hệ không chỉ đàn áp và làm khổ phụ nữ, nó cũng cắt mất người đàn ông khỏi phần quan trọng của anh ta bằng cách đưa ra kiểu mẫu người đàn ông anh hùng, cứng nhắc, không biểu hiện cảm xúc, đến nỗi nhiều người đàn bà cứ tưởng đàn ông không có tình cảm gì, không biết tổ chức gia đình hay dạy dỗ con cái. Đó là phần ngược lại của thành kiến đặt trên phái kia, cho rằng đàn bà thì không biết suy nghĩ.

Tiếp tục duy trì những tư tưởng kiểu trên là một cách để duy trì mãi chế độ phụ hệ. Tốt hơn chúng ta nên nhìn đàn ông và đàn bà là hai phe hiện đang đoàn kết, từng cùng chịu bi kịch lịch sử, và cả hai đều có cả đao phủ lẫn nạn nhân. Hai phái nên bước ra khỏi vị trí xác định sẵn cho họ trong tiềm thức. Chúng ta từng thấy nhiều phụ nữ trong dòng chảy chung cố gắng học lấy sự cứng rắn để tìm chỗ đứng trong lĩnh vực của đàn ông. Những luật lệ khắc nghiệt của chế độ phụ hệ đã thấm sâu trong mỗi người: “dù là đàn ông hay đàn bà, muốn sống sót chúng ta phải cứng rắn, không có chỗ đứng cho sự yếu mềm tình cảm”.

Một đôi lứa thấu hiểu hòa hợp là không thể có được trong bối cảnh hiện nay, khi ý thức hệ như thế còn ngự trị trong xã hội. Nam tính được quan niệm như cắt rời khỏi cơ thể và trái tim, đồng nghĩa với trấn áp sự nhạy cảm và cảm xúc, và dựa trên sự phong tỏa các biểu hiện của cảm xúc. Mọi đau khổ đều được đề nghị chữa trị bằng lý trí thống trị, bằng các nguyên tắc trừu tượng. Chúng ta đưa công việc lên trước vui chơi, nghĩa vụ lên trước quyền lợi, lý trí lên trước tình cảm. Sự tham gia của mỗi người, đàn ông lẫn đàn bà, vào niềm tin hoang đường tập thể này đã khiến hai giới ngày càng cách biệt. Vì chế độ phụ hệ không chỉ là một hệ thống tổ chức xã hội và chính trị, nó hiện hữu trong mỗi người. Cũng chính vì lý do đó, công cuộc xây dựng mối quan hệ thấu hiểu sâu sắc giữa nam và nữ, trong công bằng và hỗ trợ, là liều thuốc duy nhất có thể cứu ta khỏi những đau khổ này.

Đi tìm sự thấu hiểu thực sự

Sự thấu hiểu giữa đàn ông và đàn bà dường như chưa từng hiện hữu. Cũng gần đây thôi, chúng ta bắt đầu lấy nhau vì tình yêu, và mới hơn nữa, chúng ta cố gắng không chia tay vì tình yêu. Trong khi trước đó, hôn nhân chủ yếu để tồn tại về kinh tế, để thăng tiến trong xã hội, để giữ gìn hoặc tăng thêm của cải… Những cặp vợ chồng thế hệ trước thường cố gắng ở bên nhau để họ hàng, nhà thờ, người quen khỏi đàm tiếu. Đối với họ, sự thấu hiểu giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái không nằm trong danh sách các nhiệm vụ phải thực hiện. Với họ, vai trò của người cha, người mẹ, cũng tức là người chồng, người vợ đã được xác định từ trước. Và quan niệm tĩnh lặng này dần dần làm khô héo cuộc sống.

Đó là lý do tại sao, ngày nay tất cả đều bùng nổ. Vai trò của cha mẹ, chồng vợ không còn rõ ràng như trước. Chúng ta đặt câu hỏi ngay cả thế nào là một người đàn ông, thế nào là một người đàn bà… Những câu hỏi tầm cỡ này, trên diện rộng như thế này chưa nền văn minh nào có cơ hội để đặt ra. Cuộc khủng hoảng này chưa từng có, và nó cho chúng ta cơ hội tiến hóa không gì so sánh được. Và cũng vì thế, thời đại này vừa quyến rũ, kích thích, vừa khiến chúng ta bối rối.

Trước sự bi quan, nhiều người sẽ cảm thấy trước cuộc tàn sát này, nhà báo và nhà tâm lý học Ariane Émond trả lời: chưa bao giờ quan hệ giữa đàn ông và đàn bà lại tốt hơn bây giờ, vì lần đầu tiên trong lịch sử, hai giới bắt đầu vượt khỏi những vai trò quy định sẵn để đối thoại thực sự với nhau.

Với những hình mẫu đàn ông và đàn bà của chế độ phụ hệ, một “đôi” hạnh phúc có thể nói là không thể tồn tại. Cuộc phiêu lưu mới này đầy thách thức và kích thích. Cái được thua trong cuộc chiến này không còn là ai sẽ phải hy sinh cho ai, mà là: làm thế nào để sống hòa hợp làm một trong khi mỗi người vẫn là chính mình.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Dazai Osamu: Thư gửi Kawabata Yasunari – Trích “Trăng cười”

“Nuôi con chim nhỏ, đi xem ca múa thì cuộc sống cao sang quý phái à? Ðau lòng thì có, tôi nghĩ vậy. Ðại ác nhân.”

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Trăng cười – Tuyển tập truyện ngắn hiện đại Nhật Bản

Tác giả: Nhiều tác giả

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Xuất bản: Tháng 2.2016

Mối ân oán giữa hai văn hào Kawabata và Dazai Osamu bắt nguồn từ việc chọn tác giả để trao giải thưởng văn học Akutagawa lần đầu tiên vào năm 1935. Dazai Osamu rất kỳ vọng vào tác phẩm “Hoa hề” của mình nhưng giải thưởng lại được trao cho Ishikawa Tatsuzo 石川 達三 (1905-1985). Kawabata phê phán Dazai là “ Tác phẩm phảng phất cái mùi của một cuộc sống hạ đẳng do đó khiến tôi thấy tiếc cho tài năng tác giả không được phát huy một cách đúng đắn”( 作者目下の生活に厭な雲ありて、才能の 素直に発せざる憾みあった ) làm cho Dazai nổi trận lôi đình. Dazai lập tức viết bài phản kích đăng trên tạp chí “Văn nghệ thông tín” ( 文藝通信 ) tháng mười năm đó rằng: “Nuôi con chim nhỏ, đi xem ca múa thì cuộc sống cao sang quý phái à? Ðau lòng thì có, tôi nghĩ vậy. Ðại ác nhân…” ( 小鳥を飼い、舞 踏を見るのがそんなに立派な生活なのか。刺す。そうも思った。大悪党だと思った ) phê phán lại cách sống của Kawabata qua tác phẩm “Cầm thú” và “Cô vũ nữ xứ Izu”.

Chúng tôi dịch nguyên văn bức thư của Dazai gửi Kawabata để chúng ta thấy được cá tính mạnh mẽ của Dazai và phần nào sự phức tạp của làng văn nghệ Nhật Bản. Bản dịch chúng tôi dựa trên nguyên tác “Thư gửi Kawabata” ( 川端康成へ ) trên trang mạng kho sách ngoài trời Aozora:

http://www.aozora.gr.jp/cards/000035/files/1607_13766.html


Trên tạp chí “Văn nghệ xuân thu” (文藝春秋) số tháng 9, ông đã viết về tôi với những lời ác ý “…Quả thực, tác phẩm “Hoa hề” (道化の華) chứa đầy quan niệm văn học và cuộc sống của tác giả. Thế nhưng theo ý kiến của tôi, tác phẩm phảng phất cái mùi của một cuộc sống hạ đẳng do đó khiến tôi thấy tiếc cho tài năng tác giả không được phát huy một cách đúng đắn”.

Chúng ta đừng nói ra những lời dối trá tệ hại nữa. Khi đọc bài viết của ông ở nhà sách, tôi cực kỳ khó chịu. Những lời này khiến tôi nghĩ dường như ông đã tự mình quyết định giải thưởng Akutagawa nhưng đây không phải là văn chương của ông. Chắc chắn đây là thứ văn chương được viết bởi một người nào khác. Thậm chí ông còn nỗ lực để thể hiện ra điều đó.

“Hoa hề” là tác phẩm tôi viết cách đây ba năm vào mùa hè năm tôi hai mươi bốn tuổi. Chủ đề của tác phẩm là viết về biển. Tôi đã đưa cho bạn mình là Konkan Ichi, Ima Uhei đọc, khi ấy bản thảo hãy còn rất sơ sài so với bây giờ, hoàn toàn không có lời độc thoại của chàng trai là “tôi” trong đó. Tác phẩm thuần túy chỉ là một bản tóm lược mà thôi. Mùa thu năm đó, tôi mượn được quyển “Luận về Dostoyevsky” của Gide từ nhà thơ Akamatsu Gessen gần nhà để đọc. Quyển sách này gợi cho tôi nhiều suy nghĩ nên tôi đã mang tác phẩm “Biển” nguyên sơ chân chất đó chia nhỏ ra, để cho nhân vật nam là “tôi” xuất hiện tùy chỗ trong tác phẩm và ra uy với bạn bè rằng đây là tác phẩm Nhật Bản chưa từng có. Các bạn tôi như Nakamura Chihei, Kubo Ryuichiro rồi ngay cả tiên sinh Ibuse đều đọc qua tác phẩm và nhận xét rất hay. Ðược tiếp thêm sinh lực, tôi tiếp tục sửa chữa, xóa bỏ rồi viết thêm, viết lại sạch đẹp đến lần thứ năm tôi mới cẩn thận bỏ vào trong túi giấy cất cẩn thận nơi chỗ để chăn đệm. Vào dịp Tết năm nay bạn tôi là Dan Kazuo đọc được mới nói: “Cậu này, đây là kiệt tác đấy, thử mang gửi cho tạp chí văn học nào hay là mang thử đến chỗ ngài Kawabata Yasunari xem sao”. Cậu ấy nói nếu là ngài Kawabata chắc chắn sẽ hiểu được tác phẩm này đấy.

Lúc đó tôi đang bế tắc trong việc viết truyện, có thể nói là một cuộc hành trình với tâm thế sẵn sàng phơi thây ngoài nội cỏ vậy. Thế nên lời khích lệ đó làm tôi hơi phấn chấn.

Dù cho anh tôi la mắng thế nào mặc kệ, tôi chỉ muốn mượn năm trăm yên. Rồi quay trở về Tokyo với tâm niệm thử làm lại một lần nữa xem sao. Cũng nhờ bạn bè tận lực mà từ lúc này trở đi tôi nhận được của anh mình năm mươi yên mỗi tháng trong khoảng 2, đến 3 năm tới. Trong khi tôi cuống cuồng tìm nhà thuê thì cơn viêm ruột thừa phát tác phải nhập viện Shinohara ở Asahaya. Mủ tràn ra thành ruột, suýt chút nữa thì tiêu đời nhà ma. Tôi nhập viện vào ngày 4 tháng 4 năm nay. Nhà văn Nakatani Takao đến thăm nói tôi gia nhập trường phái lãng mạn Nhật Bản đi rồi thì hãy xuất bản “Hoa hề” như một món quà lưu niệm.

Chuyện là như thế. “Hoa hề” đến tay Dan Kazuo. Dan chủ trương là nên mang đến chỗ ngài Kawabata xem thử. Tôi đau đớn vì bụng mới mổ xong, không thể nhúc nhích được chút nào. Phổi tôi lại yếu đi. Tôi trải qua những ngày không tỉnh táo. Sau này vợ tôi nói lại với tôi là bác sĩ cũng không thể đảm đương trách nhiệm nữa rồi. Tôi nằm li bì trong bệnh viện cả tháng trời, ngay cả việc ngẩng đầu lên cũng phải gắng sức lắm mới được. Vào tháng năm tôi được chuyển sang bệnh viện nội khoa ở Kyodo, khu Setagaya. Tôi nằm ở đó hai tháng. Vào ngày một tháng bảy, cơ cấu bệnh viện thay đổi, toàn thể bác sĩ y tá bị thay thế, tất cả bệnh nhân phải rời đi. Anh tôi cùng với một người quen làm nghề thợ may tên là Kita Hoshiro bàn bạc và quyết định đưa tôi về Funabashi, tỉnh Chiba. Cả ngày tôi nằm dài mà ngủ trên chiếc ghế mây, buổi sáng và chiều thì đi dạo một chút. Cứ một tuần thì có bác sĩ từ Tokyo xuống khám một lần. Tình trạng đó kéo dài hai tháng, và đến cuối tháng 8 tôi đọc được tạp chí “Văn nghệ xuân thu” ở nhà sách, trong đó có bài viết của ông. Bài viết có những câu như “Tác giả phảng phất cái mùi của một cuộc sống hạ đẳng và vân vân…”. Sự thật là tôi vô cùng phẫn nộ. Mấy đêm liền không thể nào ngủ ngon giấc được cả.

Nuôi con chim nhỏ, đi xem ca múa thì cuộc sống cao sang quý phái à? Ðau lòng thì có, tôi nghĩ vậy. Ðại ác nhân. Nhưng lúc đó từ sâu thẳm trong mình tôi không ngừng cảm thấy một thứ tình yêu mạnh mẽ nóng bỏng mà cũ kỹ già nua của ông dành cho tôi như thể Nellie trong “Những kẻ tủi nhục” của Dostoyevski vậy. Không phải đâu. Không phải. Tôi lắc đầu. Tuy nhiên cái thứ tình ái quá khích và thác loạn kiểu Dostoyevski dù bên ngoài tỏ ra lạnh lùng của ông thiêu đốt cơ thể tôi. Và ông chẳng mảy may biết gì về điều đó.

Bây giờ tôi không muốn so sánh trí tuệ với ông làm gì. Trong bài viết của ông tôi cảm nhận được thế nào là “thế gian” và đã ngửi thấy cái mùi đau đớn của “quan hệ kim tiền”. Tôi chỉ muốn thông báo điều này cho hai, ba độc giả nhiệt thành mà thôi. Ðó là điều tôi phải nói. Chúng ta bắt đầu nghi ngờ vẻ đẹp đạo đức của sự nhẫn nhục phục tùng rồi nhỉ.

Tôi nghĩ đến quang cảnh Kikuchi Kan vừa mỉm cười nói “Thôi thế cũng tốt. Bình an vô sự là hay rồi” vừa lấy khăn tay mà lau mồ hôi trán mà cũng mỉm cười chơi thôi. Mọi chuyện như vậy biết đâu lại hay, tôi nghĩ thế. Tôi cũng cảm thấy hơi tội nghiệp cho Akutagawa Ryunosuke nhưng gì nhỉ, đây cũng là “thế gian”. Ông Ishikawa thì có cuộc sống nghiêm túc đàng hoàng rồi. Về điểm đó thì ông ta nỗ lực rất nghiêm túc và bền bỉ.

Chỉ có điều tôi cảm thấy đáng tiếc mà thôi. Kawabata đã cố gắng hết sức che đậy sự dối trá vô tình của mình nhưng vẫn bị phát hiện. Ðó là điều tôi không ngừng cảm thấy đáng tiếc. Cũng chẳng cần phải làm thế. Chắc chắn chẳng cần phải làm thế. Ông cần phải ý thức rõ ràng hơn nữa (trong cách cư xử) rằng một tác gia luôn luôn sống giữa sự ngu ngốc và bất toàn.

Hết.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!