Nối kết với chúng tôi

Trích đăng

Trích đăng “Kẻ ly hương” – Viet Thanh Nguyen

Trở thành một người tị nạn là biết chắc chắn rằng quá khứ không chỉ được đánh dấu bởi quãng thời gian đã trôi qua, mà còn bởi sự mất mát – mất mát những người thân yêu, quê cha đất tổ, bản sắc, bản ngã.

Đăng từ

on

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Kẻ ly hương

Tác giả: Viet Thanh Nguyen

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Phát hành: tháng 11.2019

Lời giới thiệu

NGUYỄN THANH VIỆT

Tôi đã từng là người tị nạn, mặc dù bây giờ chắc không ai còn nhìn lầm tôi với một nạn dân nữa. Chính vì lẽ này, tôi cứ nhất quyết muốn được gọi là một nạn dân, vì nỗi cám dỗ để giả vờ rằng mình chưa từng bao giờ là một người tị nạn thật là mãnh liệt. Sẽ thật dễ dàng hơn nếu tôi tự gọi mình là người nhập cư, vờ như mình thuộc về một kiểu nhân loại du cư rày đây mai đó vốn ít gây tranh cãi hơn, ít rầy rà hơn, và ít dọa dẫm hơn những người tị nạn.

Tôi chào đời như một công dân và như một con người. Năm lên bốn tuổi tôi đã trở thành một cái gì đó thấp kém hơn con người, ít ra trong mắt những kẻ không nghĩ về các nạn dân như là con người. Giờ đây khi nhìn lại, tôi chẳng nhớ gì về trải nghiệm đã biến tôi thành một người tị nạn. Nó bắt đầu với việc mẹ tôi đã tự mình ra một quyết định sinh tử. Ba tôi bấy giờ đang ở Sài Gòn, và mọi đường dây liên lạc đã bị cắt đứt. Tôi không nhớ việc mẹ tôi đã chạy trốn khỏi quê nhà với anh trai mười tuổi của tôi và tôi, để lại phía sau người chị nuôi mới mười sáu tuổi của chúng tôi để trông coi sản nghiệp gia đình. Tôi không nhớ chị tôi, người mà ba mẹ tôi sẽ không được gặp lại trong gần hai mươi năm trời, người mà tôi sẽ không còn gặp lại trong gần ba mươi năm.

Anh trai tôi nhớ những xác lính dù treo lủng lẳng trên cây trong hành trình trốn chạy của chúng tôi, mặc dù tôi không nhớ gì về chuyện đó. Tôi cũng không nhớ liệu mình có đi bộ hết một trăm tám mươi tư cây số tới Nha Trang, hay mẹ tôi có bồng tôi không, hay chúng tôi có xoay xở leo lên được một trong những chiếc xe hơi, xe tải, xe ngựa, xe bò, xe mô tô, và xe đạp nằm ngổn ngang la liệt trên đường không. Có lẽ mẹ tôi nhớ nhưng tôi chưa bao giờ hỏi về cuộc di tản thảm khốc đó, hoặc về mười ngàn nạn dân và binh lính đang táo tác tháo chạy, hay cuộc tranh cướp tuyệt vọng để lên được một chiếc thuyền ở Nha Trang, hay vụ vài binh lính nổ súng vào thường dân để mở đường chạy lên thuyền, như về sau tôi đọc được trong những ghi chép về thời kỳ này.

Tôi không nhớ việc đã tìm gặp ba ở Sài Gòn, hoặc chúng tôi đã nơm nớp suốt một tháng chờ đợi ngày quân đội Cộng sản tiến đến rìa thành phố ra sao, hoặc chúng tôi đã xoay xở mọi cách để đến phi trường, rồi đến Đại sứ quán Mỹ, và cuối cùng đã bằng cách nào chen lấn qua những đám đông tại bến tàu để tìm tới một con thuyền, hoặc việc ba tôi đã bị thất lạc với chúng tôi nhưng vẫn quyết định tự mình lên một chiếc thuyền dù sao mặc lòng, và việc mẹ tôi đã quyết định một điều tương tự, hoặc làm thế nào chúng tôi đã cuối cùng tái hợp trên một con tàu lớn hơn. Tôi nhớ rằng chúng tôi đã gặp may mắn một cách khó tin, tìm được đường rời khỏi đất nước, khi mà nhiều triệu người không thể, và không lạc mất một ai, khi mà nhiều ngàn người đã bị như vậy. Không ai cả, ngoại trừ chị tôi.

Trong hầu hết quãng đời đã qua của mình, tôi đều nhớ chuyện những binh lính trên thuyền chúng tôi nổ súng vào một chiếc thuyền nhỏ hơn chứa đầy người tị nạn đang cố sấn lại gần. Nhưng khi tôi nhắc chuyện đó với anh trai nhiều năm sau, anh nói rằng không bao giờ có việc nổ súng cả.

Tôi không nhớ rất nhiều chuyện, và tôi lấy làm biết ơn vì điều ấy, bởi lẽ những chuyện tôi nhớ được đã đủ làm tôi tổn thương lắm rồi. Ký ức của tôi bắt đầu sau những lần dừng chân của chúng tôi tại một chuỗi các căn cứ quân sự của Mỹ ở Philippines, đảo Guam, và sau cùng là Pennsylvania. Để được rời trại tị nạn ở Pennsylvania, những người Việt tị nạn cần những người Mỹ đỡ đầu. Một người đỡ đầu đã nhận bảo trợ ba mẹ tôi, một người khác nhận nuôi anh tôi, một người khác nữa nuôi tôi. Trong hầu hết cuộc đời mình, tôi đã cố không nhớ về thời khắc này ngoại trừ ghi nhận nó như một sự kiện hiển nhiên, như một chuyện đã xảy ra với chúng tôi nhưng không để lại thiệt hại nào cả, nhưng sự thật không phải vậy. Là một nhà văn và cha của một bé trai bốn tuổi, cùng độ tuổi mà tôi đã trở thành người tị nạn, tôi phải nhớ, hoặc đôi khi tưởng tượng, không chỉ những gì đã xảy ra, mà cả cảm giác đã được trải nghiệm. Tôi phải hình dung đến tình cảnh của một người cha và một người mẹ có những đứa con bị bắt khỏi vòng tay mình. Tôi phải tưởng tượng cảm nhận của mình lúc bấy giờ, mặc dù tôi nhớ đến việc đã bị người cha đỡ đầu bắt đưa đi thăm cha mẹ tôi và khóc thét mỗi khi chia tay ra về.

Tôi nhớ đến cảnh sum họp với cha mẹ sau vài tháng và tuyết và sự giá lạnh và việc mẹ tôi biến mất khỏi cuộc đời chúng tôi trong một quãng thời gian tôi không thể nhớ và vì những lý do tôi không thể hiểu, và với một nhận biết mơ hồ rằng nó có gì đó liên quan tới vết thương nhói lòng của một người mất nước, mất gia đình, của cải, sự an toàn, và có lẽ cả chính bản thân mình. Nhớ lại điều này, tôi biết rằng tôi cũng đang tiên báo một thứ tương lai u ám nhất có thể, về những gì sẽ xảy đến với mẹ trong nhiều thập kỷ sắp tới. Mặc cho sự vắng mặt ngắn ngủi, hoặc có lẽ là rất lâu của mẹ, tôi nhớ mình đã tận hưởng cuộc sống ở Harrisburg, Pennsylvania, vì trẻ con có thể vui thú với những thứ mà người lớn không thể miễn là chúng có thể nô đùa, và tôi nhớ về chiếc ghế tràng kỷ nằm ở sân sau và những đứa trẻ hàng xóm lấy trộm kẹo Halloween của chúng tôi và anh trai đã giận dữ dắt tôi về nhà trước khi tự mình đánh bạo đi lấy lại những thứ đã mất.

Tôi nhớ việc di chuyển tới San Jose, California, vào năm 1978 và cha mẹ tôi mở một cửa hàng tạp hóa Việt thứ hai trong thành phố và tôi nhớ cuộc gọi vào ngày lễ Giáng Sinh mà anh tôi nhận được, báo cho anh biết rằng cha mẹ tôi đã bị bắn trong một vụ cướp có vũ trang, và tôi nhớ sự tình không đến nỗi tồi tệ lắm, chỉ là những vết thương phần mềm, họ đã trở lại làm việc không lâu sau đó, và tôi nhớ rằng những người duy nhất muốn mở cửa hàng trong khu buôn bán xập xệ San Jose là những người Việt tị nạn, và tôi nhớ đã bước xuống đường phố từ cửa hàng của ba mẹ tôi và trông thấy tấm bảng trên một tủ kính bày hàng ghi MỘT NGƯỜI MỸ NỮA ĐÃ SẬP TIỆM VÌ NGƯỜI VIỆT NAM, và tôi nhớ một tên găng-xtơ lẽo đẽo theo chúng tôi về đến nhà và gõ cửa và vung vẩy khẩu súng vào mặt tất cả chúng tôi và mẹ đã cứu chúng tôi với việc chạy vụt qua mặt y và lao ra ngoài vệ đường, nhưng tôi không nhớ chuyện hai cảnh sát bị bắn chết trước cửa tiệm của cha mẹ chúng tôi vì bấy giờ tôi đã đi học đại học xa nhà và cha mẹ tôi không muốn gọi điện làm tôi lo lắng.

Tôi nhớ tất cả những điều này vì nếu tôi không nhớ và viết chúng ra ắt có lẽ tất cả chúng sẽ tan biến vào hư vô, cũng như tất cả những cửa hàng Việt Nam đã biến mất, vì sau khi họ đã giúp hồi sinh khu buôn bán mà chẳng ai buồn đầu tư vào, thành phố San Jose nhận ra rằng khu buôn bán ấy còn có thể tốt hơn thế nhiều bèn bắt buộc tất cả chủ cửa hàng bán lại mọi sản nghiệp của họ và nếu bạn ghé thăm khu thương mại San Jose ngày nay bạn sẽ nhìn thấy một tòa thị chính khổng lồ, lấp lánh, mới tinh biểu trưng cho sự thịnh vượng của Thung lũng Silicon chỉ vừa vặn bắt đầu tồn tại năm 1978 nhưng bạn sẽ không thấy cửa tiệm của ba mẹ tôi vốn nằm bên kia đường đối diện tòa thị chính mới. Cái bạn sẽ thấy thay vì vậy là một bãi đỗ xe với vài chiếc xe hơi ở đó vì hội đồng thành phố nghĩ rằng quang cảnh một bãi đỗ xe trống trơn nhìn từ những cửa sổ và phòng giải lao của tòa thị chính hấp dẫn hơn quang cảnh một tiệm tạp hóa gia đình của người Việt phục vụ những người tị nạn.

Là những nạn dân không chỉ một mà đến hai lần, từ miền Bắc chạy vào miền Nam năm 1954 khi quốc gia bị chia đôi, cha mẹ tôi đã trải nghiệm một tình thế lưỡng phân đau đớn thường thấy của một người bị coi là kẻ xa lạ. Kẻ khác lạ tồn tại trong sự mâu thuẫn, hoặc có lẽ trong sự nghịch lý, hoặc như một thứ người vô hình, hoặc bị săm soi tận chân tơ kẽ tóc, nhưng hiếm khi được nhìn nhận một cách đàng hoàng tử tế. Trong hầu hết thời gian chúng ta không thấy kẻ khác hoặc là nhìn xuyên qua họ, bất kể kẻ khác ấy là ai với chúng ta, vì mỗi chúng ta – ngay cho dù bị một số người coi là kẻ khác lạ – vẫn có những kẻ khác lạ của riêng mình. Khi chúng ta nhìn kẻ khác lạ, kẻ khác lạ ấy không thật sự là con người đối với chúng ta, bởi cùng cách thức chúng ta định nghĩa về kẻ khác lạ, mà thay vào đó là một ấn tượng bất di bất dịch, một trò đùa, hay một nỗi ghê sợ. Trong trường hợp của người Việt tị nạn ở Mỹ, chúng tôi hiện thân cho bóng ma Á châu đến để phục vụ hoặc để đe dọa.

Vô hình và hiện diện mọi lúc khắp nơi, những người tị nạn bị thờ ơ và quên lãng bởi những người không phải người tị nạn cho đến khi họ biến thành một mối đe dọa. Những người tị nạn, như tất cả những người khác, bị coi là vô hình cho đến khi họ bị nhìn thấy ở khắp nơi, đe dọa tràn vào biên giới của chúng ta, xâm lấn văn hóa chúng ta, cưỡng hiếp phụ nữ chúng ta, dọa nạt con cái chúng ta, hủy hoại nền kinh tế chúng ta. Chúng ta những người làm ngơ và lãng quên thường không nhận thức đó là hành xử thô bạo, vì chúng ta không biết mình đang làm điều đó. Nhưng đôi khi chúng ta cố tình thờ ơ và lãng quên người khác. Khi chúng ta làm vậy, chúng ta chắc chắn ý thức rằng chúng ta đang gây tổn thương, đang hành xử thô bạo, dù đó là ở trên sân trường khi còn là những đứa trẻ hay là trên bình diện quốc gia. Khi những kẻ khác lạ này chống trả vì nhu cầu được nhìn thấy và nghe thấy – như những người tị nạn đôi khi làm – họ có thể trông giống như những bóng ma hăm dọa mà số phận của họ chính chúng ta đã gây ra và đã phủ nhận. Vậy thì chẳng có gì là lạ khi chúng ta không muốn thấy họ.

Khi tôi nói chúng ta, tôi muốn kể cả những người từng là những nạn dân. Có một vài cựu nạn dân đang cảm thấy yên ổn thoải mái trong sự vô hình của họ, trong sự an toàn với tư cách công dân mới của họ, vốn nhìn những người tị nạn hiện diện khắp nơi như những mối đe dọa và nói, “Đủ rồi.” Những cựu nạn dân này nghĩ rằng họ là những người tị nạn tốt, những người tị nạn đặc biệt, trong khi rất có thể họ chỉ đơn giản là những người may mắn, những người tị nạn có số phận tương hợp với bối cảnh chính trị của đất nước tiếp nhận họ. Những người Việt tị nạn đến Mỹ đã may mắn nhận được thiện tâm phát sinh từ một nước Mỹ mang nặng mặc cảm tội lỗi về cuộc chiến, và còn từ nỗi khao khát của một nước Mỹ muốn chứng tỏ rằng quốc gia tư bản chủ nghĩa và dân chủ tốt hơn nhiều so với quốc gia cộng sản chủ nghĩa mới thành hình mà những nạn dân đang sống chết tháo chạy. Những người tị nạn Cuba trong thập niên 1970 và 1980 được hưởng lợi từ một bối cảnh chính trị Mỹ tương tự, nhưng những nạn dân Haiti trong thời của mình thì không. Màu da đen của họ đã ngăn trở họ, cũng như việc là người Hồi giáo làm tổn thương nhiều nạn dân Syria ngày nay khi họ tìm kiếm nơi lánh nạn vậy.

Từ mọi điều tôi nhớ và mọi điều tôi không nhớ, tôi tin vào sự tương đồng về số phận con người giữa tôi và những nạn dân Syria và với 65,6 triệu người mà Liên Hiệp Quốc định nghĩa là người lưu vong. Trong số đó, 40,3 triệu là những người mất nhà mất cửa, lưu lạc tha hương ngay trong xứ sở; 22,5 triệu là những nạn dân phải trốn chạy liên miên trong đất nước mình; 2,8 triệu là những người tìm kiếm nơi lánh nạn. Nếu 65,6 triệu người này có quốc gia, quốc gia của họ sẽ lớn thứ hai mươi mốt thế giới, nhỏ hơn Thái Lan nhưng lớn hơn Pháp. Ấy vậy mà, họ không có một xứ sở cho riêng mình. Thay vì vậy, họ – để mượn cách diễn giải của sử gia nghệ thuật Robert Storr, người đang viết về vai trò của những người Việt Nam trong tâm thức nước Mỹ – là những kẻ phiêu bạt vô sở trú của lương tâm thế giới.

Những kẻ tha hương này hầu hết không được hoan nghênh ở nơi từ đó họ trốn chạy; không được hoan nghênh nơi họ đang ở, trong những trại tị nạn; và không được hoan nghênh nơi họ muốn đến. Họ đã phải chạy trốn dưới những điều kiện hết sức nghiệt ngã; họ mất hết thân bằng, quyến thuộc, nhà cửa, quê hương; họ bị giam cầm trong những trại tị nạn với những điều kiện dưới mức con người, không một kết cục rõ ràng về nơi lưu trú, và không một lối thoát dứt khoát nào; họ thường bị đe dọa trục xuất về bản thổ; và rất nhiều khả năng họ sẽ bị lãng quên, vốn là chỗ mà công việc của các nhà văn trở nên quan trọng, nhất là những nhà văn là người tị nạn hoặc từng là người tị nạn – nếu có thể vạch ra một sự khác biệt như vậy.

Liên Hiệp Quốc nói rằng người tị nạn sẽ thôi là người tị nạn nếu họ tìm được một ngôi nhà mới và cố định. Đã rất lâu kể từ khi tôi còn là một người tị nạn theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc: “người bị buộc trốn chạy khỏi quê hương vì lý do bị bức hại, chiến tranh, hay bạo lực.” Nhưng tôi vẫn khắc sâu trong lòng mình những ký ức vỡ vụn của việc chính mình là một nạn dân, vì nơi mà một nhà văn nên đặt chân đến là nơi khổ đau mất mát, và vì một nhà văn cần phải biết đến cái cảm nhận của một kẻ xa lạ lạc lõng là như thế nào. Công việc của một nhà văn là bất khả nếu ông ta hay bà ta không thể khơi gợi trong tâm tưởng độc giả những thân phận con người, và chỉ thông qua những hành động ghi nhớ, tưởng tượng, và cảm thông như thế chúng ta mới có thể làm lớn lên trong chính mình khả năng cảm nhận người khác.

Nhiều nhà văn, có lẽ hầu hết nhà văn hay thậm chí là tất cả các nhà văn, là những người không cảm thấy hoàn toàn thoải mái yên ổn. Họ thường khi là những kẻ lạc lõng, những kẻ ly hương thất tán về mặt cảm xúc hoặc tinh thần hoặc xã hội ở mức độ này hay mức độ khác, vào lúc này hay lúc khác. Hay có lẽ chỉ riêng tôi cảm nhận như vậy chăng. Nhưng tôi không thể không nghi ngờ rằng chính là vì trạng huống lưu vong đày ải này mà các nhà văn bắt đầu hiện hữu, và chính đây là lý do nhiều nhà văn có mối đồng cảm và thông hiểu đến vậy với những kẻ ly hương thất tán cách này hay cách khác, dù đó là một kẻ thất cơ lỡ vận trong xã hội hay là cả một làn sóng hàng triệu con người vô gia cư gây ra bởi những thế lực ngoài tầm kiểm soát của họ. Trong trường hợp của tôi, tôi nhớ rõ thân phận lưu vong của mình đến nỗi mà giờ đây tôi có thể cảm nhận nguyên vẹn cảm giác của những phận đời ly hương. Tôi ghi nhớ nỗi bất công của cuộc sống lưu vong đến độ tôi có thể hình dung tác phẩm của tôi như một nỗ lực thực thi phần nào công lý cho những người bị bức bách ra đi. Điều không công bằng với những cuộc đời tị nạn, những con người vô tổ quốc, những kẻ tìm nơi nương náu, những kẻ không còn có mái nhà để về là gì đây? Khi nói tới công bằng, điều quan trọng không phải là liệu người dân ở đất nước cưu mang có nghĩ rằng họ không có nghĩa vụ hay nợ nần gì với các nạn dân hay là ngược lại. Giam giữ con người trong trại tập trung là trừng phạt họ khi mà họ không phạm một tội nào ngoài việc cố gắng cứu lấy sinh mệnh của chính mình và của người thân. Trại tị nạn là một người anh em họ hàng bất nhân đồng hạng với trại giam, trại tập trung, trại tử thần. Trại là nơi để chúng ta giam giữ những kẻ chúng ta không coi là con người hoàn toàn, và nếu chúng ta không chủ tâm tìm cách đưa họ đến chỗ chết trong hầu hết trường hợp, chúng ta cũng thường không tích cực tìm cách trả lại cho họ cuộc sống mà họ đã có trước kia, cuộc sống mà chúng ta đang có.

Chúng ta nên nhớ rằng công lý không giống như luật pháp. Nhiều điều luật nói rằng biên giới là bất khả xâm phạm, và rằng vượt biên trái phép là tội hình sự. Những người nhập cư trái phép vì lẽ ấy là những tội phạm và trại tị nạn là một thứ nhà tù. Nhưng nếu những đường biên giới là hợp pháp, liệu chúng cũng có công bằng chăng? Những khái niệm của chúng ta về biên giới đã thay đổi qua nhiều thế kỷ, cũng như những quan niệm về công lý và lòng nhân đạo của chúng ta vậy. Ngày nay chúng ta thường có thể di chuyển tự do giữa các thành phố trong một đất nước, ngay cho dù những thành phố ấy đã từng là những thực thể với những đường biên giới riêng của chúng và đã từng đánh nhau sứt đầu mẻ trán. Giờ đây chúng ta hãy quay nhìn lại thời kỳ của những thành bang – nếu chúng ta còn nhớ về chúng – và tôi ngờ rằng sẽ chẳng mấy ai trong chúng ta có mong muốn trở lại một điều kiện sống như thế.

Cũng vậy, chúng ta nên nhìn vào hiện trạng của những biên giới quốc gia và chúng ta nên hình dung về một thế giới công bình hơn nơi những ranh giới này là những cột mốc biểu thị văn hóa và bản sắc, quan trọng nhưng dễ dàng vượt qua, thay vì những biên giới pháp lý bày đặt ra để khoác lên bản sắc quốc gia chúng ta một diện mạo nghiệt ngã, sẵn sàng gây hấn và chiến tranh, chia rẽ chúng ta với những người khác. Sự tan rã của những biên giới là viễn kiến về một thế giới chủ nghĩa không tưởng, về nền hòa bình toàn cầu và một nơi chốn toàn cầu nơi không ai phải sống lưu vong, về nhân loại như một cộng đồng toàn cầu vốn cho phép những dị biệt văn hóa nhưng không phải loại dị biệt dẫn chúng ta đến chỗ áp bức, trừng phạt, hoặc giết chóc. Làm cho những đường biên giới trở nên dễ vượt qua, ấy là chúng ta đang đưa chúng ta lại gần hơn với người khác, và đưa người khác lại gần chúng ta hơn. Tôi thấy phấn chấn với một viễn cảnh như thế, nhưng vài người nhận thấy sự gần gũi này là điều vô cùng gây kinh hãi.

Nếu chưa thành tựu được cộng đồng toàn cầu này, ấy không phải tại vì đó là một giấc mơ hoàn toàn không tưởng, một cõi trời hư vô không được vẽ ra bởi bất kỳ biên giới nào. Có những thời khắc trong lịch sử nhân loại – và nhiều lần trong những tác phẩm văn học và văn hóa dân gian và thần học của mình – chúng ta đã đạt đến cảnh giới cao thượng nhất của phẩm cách trong khả năng mở lòng với tha nhân, cho kẻ đói ăn, cho kẻ rách rưới áo mặc, cho khách trọ nhà. Đây là điều chúng ta cần ghi nhớ khi chúng ta ấp ủ hy vọng và ra sức vì một tương lai, nơi mà thứ quan trọng không phải là biên cương, mà là con người. Đây là loại ký ức, ký ức về lòng nhân đạo của chúng ta, và sự bất nhân của chúng ta, mà các nhà văn có thể khơi dậy.

Chúng ta cần những câu chuyện để biểu đạt viễn kiến của một nhà văn, nhưng đồng thời để có thể thốt lên tiếng lòng của những người phải biền biệt câm nín. Nỗi khao khát lắng nghe sự câm lặng vô thanh này là một phép tu từ mãnh liệt đồng thời ẩn tàng nguy hiểm nếu nó ngăn chúng ta làm nhiều hơn là chỉ lắng nghe một câu chuyện hay đọc một quyển sách. Chỉ vì chúng ta đã nghe câu chuyện đó hay đọc quyển sách đó không có nghĩa đã có bất kỳ thay đổi gì cho những kẻ câm lặng. Những độc giả và nhà văn không nên tự đánh lừa mình rằng văn chương có thể thay đổi thế giới. Văn chương thay đổi thế giới của các độc giả và nhà văn, nhưng văn chương không thay đổi thế giới cho đến khi người ta nhảy ra khỏi ghế bành, lăn xả vào cuộc đời, và làm điều gì đó để đổi thay những tình cảnh mà văn chương đã nói lên. Bằng không văn chương sẽ chỉ là một vật thờ lố lăng đối với các độc giả và nhà văn, cho phép họ nghĩ rằng họ đang lắng nghe những kẻ câm lặng, trong khi thật ra họ chỉ đang nghe tiếng nói cá nhân của nhà văn mà thôi.

Vấn đề ở đây là những người mà chúng ta gọi là câm lặng thường khi không thật sự câm lặng. Nhiều người câm lặng thật ra đang luôn luôn giãi bày. Họ nói rất to, nếu bạn đến đủ gần để nghe họ, nếu bạn có khả năng lắng nghe, nếu bạn ý thức về những gì bạn không thể nghe. Vấn đề là phần lớn thế giới không muốn lắng nghe những kẻ câm lặng hoặc không thể nghe họ. Sự công bình chân chính là tạo ra một thế giới của những cơ hội xã hội, kinh tế, văn hóa, và chính trị vốn sẽ cho phép tất cả những con người câm nín này kể lại câu chuyện của họ và được nghe thấy, thay vì lệ thuộc vào một nhà văn hay một kiểu người đại diện nào đó. Không có sự công bình như thế, sẽ không bao giờ có hồi kết cho những làn sóng người lưu vong, cho việc tạo ra những con người càng câm lặng hơn nữa, hoặc, chính xác hơn, cho sự câm lặng khôn cùng của hàng triệu tiếng nói. Sự công bình chân chính sẽ là khi chúng ta không còn cần một tiếng nói cho những ai câm nín nữa.

Trong khi chờ đợi, chúng ta có quyển sách với những tiếng nói vang vọng mãnh liệt này, từ những cây bút vốn dĩ là những người tị nạn. Joseph Azam, đến từ Afghanistan, kể về quá trình tự chuyển biến dài lâu rốt cuộc đã dẫn tới việc tỉa tót cái tên cúng cơm của mình theo một hơi hướng rất Mỹ. David Bezmozgis, đến từ Liên bang Xô Viết, định cư ở Canada, nơi anh mô tả quá trình vun đắp mối tình đoàn kết thầm lặng với một người tị nạn mới đang cố gắng xin phép được ở lại. Fatima Bhutto, chào đời ở Afghanistan, có cha là một người Pakistan xuất thân từ một gia thế có bề dày làm chính trị, đã tự mình kinh qua những trải nghiệm của một nạn dân trong phiên bản thực tại ảo, và bất ngờ bị xúc động mãnh liệt. Bùi Thi, người trốn chạy cuộc chiến tranh Việt Nam để đến Hoa Kỳ, đã suy ngẫm về hành trang và những mảnh vỡ rời rạc của cuộc đời tị nạn qua những bức tranh được khắc họa sắc nét. Ariel Dorfman rời Chile và định cư ở Bắc Carolina, nơi ông bài xích đường lối chính trị của Donald Trump và tìm thấy hy vọng trong một siêu thị liên Mỹ La-tinh. Reyna Grande, người đến Mỹ như một người nhập cư không giấy tờ từ Mexico, đã nêu ra những câu hỏi quyết liệt về vấn đề định nghĩa: Điều gì làm cho anh trở thành người tị nạn thay vì người nhập cư?

Lev Golinkin, một người Liên Xô gốc Do Thái qua bao gian khổ đã tị nạn được ở Vienna, đã mô tả cuộc gắng sức triền miên tháng ngày để giữ lại được nhân tính khi trải nghiệm tị nạn hóa thành một bóng ma ghê khiếp. Meron Hadero, người đã đến Đức từ Ethiopia khi còn đỏ hỏn, quay trở lại Đức khi trưởng thành để tìm lại những trải nghiệm của phận đời lưu vong và nhập cư mà cô không còn nhớ.

Aleksandar Hemon, một người Chicago đến từ Bosnia, kể lại những trải nghiệm như nhân vật Candide của một đồng hương người Bosnia đã phải sống một cuộc đời quá đỗi bi tráng nhưng khôn cùng bất hạnh. Joseph một người tị nạn gốc Do Thái đến từ Hungary, miêu tả vị thế độc nhất vô nhị của Canada như một xứ sở dành cho những người ngoại cuộc, sau Mỹ, nhưng không hoàn toàn giống Mỹ (trong ý nghĩa tích cực). Porochista Khakpour cung cấp một tự truyện chân thực về cuộc hành trình của cô từ Iran đến Mỹ, bao gồm thân phận bấp bênh của cô với tư cách người Hồi giáo, người da nâu, và người Mỹ trong thời chiến. Marina Lewycka, sinh ra bởi một cặp vợ chồng người Ukrainia trong một trại “lưu vong”, định cư ở Anh với một căn cước Anh đàng hoàng tử tế – cho đến khi tâm cảm bài xích người nhập cư ngày một dâng cao khiến cô hoài nghi căn cước ấy. Maaza Mengiste, một nhà văn Mỹ đến từ Ethiopia, lần nọ trong một quán cà-phê Ý quan sát thấy hình ảnh khổ sở tàn tạ của một thanh niên da đen nhập cư, và cảm nhận nỗi đau của sự gắn bó giữa cô với anh ta và với nhiều người bị bức bách tha hương khác.

Dina Nayeri, sinh ra ở Iran, lớn lên ở Mỹ, và hiện là một cư dân Anh quốc, đã thách thức cái ý niệm rất phổ biến rằng những người tị nạn phải biết ơn bằng việc cho thấy lòng biết ơn là một cái bẫy như thế nào. Trần Vũ, một người Việt tị nạn đã đến Oklahoma, đưa ra một bảng phân loại nhiều lốt vỏ của người tị nạn: trẻ mồ côi, diễn viên, bóng ma. Novuyo Rosa Tshuma, có gia đình đã rời Zimbabwe để đặt chân đến một Nam Phi vừa hiếu khách vừa thù địch, mô tả nỗi sợ bị bức hại của người tị nạn như là nguồn cơn của nỗi khao khát tỏ ra khác thường, và vì lẽ ấy được chấp nhận. Kao Kalia Yang, một người tị nạn gốc Hmong đã cùng với gia đình đến Minnesota từ Lào, mãi ám ảnh với ký ức về những trẻ em tị nạn trong trại của cô đã vật lộn và chiến đấu để sinh tồn như thế nào.

Tất cả những nhà văn này chắc chắn đã viện đến những ký ức về quá khứ của chính họ và gia đình họ. Trở thành một người tị nạn là biết chắc chắn rằng quá khứ không chỉ được đánh dấu bởi quãng thời gian đã trôi qua, mà còn bởi sự mất mát – mất mát những người thân yêu, quê cha đất tổ, bản sắc, bản ngã. Chúng tôi muốn giãi bày tất cả những nỗi mất mát đau thương mà lẽ ra hãy còn chưa được nghe thấy ngoại trừ bởi chúng ta và những ai gần gụi và thân thương với chúng ta. Trong trường hợp của tôi, tôi nhớ đến những mất mát của cha mẹ tôi, và tôi nhớ giọng nói của họ. Tôi nhớ giọng nói của tất cả những người Việt tị nạn mà tôi đã gặp trong thời tuổi trẻ, khản cổ vì phải nhiều lần kể đi kể lại câu chuyện của mình. Nhưng tôi không nhớ giọng chị tôi. Tôi không nhớ giọng nói của tất cả những nạn dân đã chia sẻ cuộc di cư bi thảm với tôi và không đến được bến bờ, hoặc không sống sót. Nhưng tôi có thể hình dung về họ, và nếu tôi có thể hình dung về họ, ắt tôi cũng có thể nghe thấy họ. Đó là giấc mộng của nhà văn, rằng chỉ cần chúng tôi có thể nghe thấy những con người mà không ai khác muốn nghe này, ắt là chúng tôi cũng có thể khiến cho bạn nghe thấy họ.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.


viết bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trích đăng

Tháng Giêng tuyết tan – Trích “Niên lịch miền gió cát”

Chia sẻ niềm hân hoan cũng như nỗi trăn trở của một kẻ không thể sống thiếu thiên nhiên.

Đăng từ

on

Người đăng

Trích từ: Niên lịch miền gió cát

Tác giả: Aldo Leopold

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Tái bản: tháng 6.2020

Lời tựa

Trong cuộc sống, những gì thuộc về tự nhiên có thể không cần thiết với người này, nhưng lại hoàn toàn thiết yếu cho sự tồn tại của người khác. Những tiểu luận này chia sẻ niềm hân hoan cũng như nỗi trăn trở của một kẻ không thể sống thiếu thiên nhiên.

Như gió và hoàng hôn, chúng ta luôn coi những gì hoang dã là nghiễm nhiên có được trong tay, cho đến ngày công cuộc phát triển dẹp bỏ chúng đi. Giờ đây, chúng ta phải đối diện với câu hỏi rằng liệu một mức sống “ngày càng cao” có đáng để đánh đổi những điều tự do và hoang dã hay không. Với nhóm thiểu số chúng tôi, cơ hội ngắm nhìn một đàn ngỗng còn quan trọng hơn xem ti-vi, và việc tìm thấy một bông hoa đồng nội là một quyền lợi không thể chối cãi như quyền tự do ngôn luận vậy.

Những thứ hoang dã này, tôi công nhận, chứa đựng rất ít giá trị con người cho tới khi máy móc cơ giới đảm bảo cho chúng ta bữa ăn sáng thịnh soạn, và cho tới khi khoa học bóc tách mổ xẻ câu chuyện về nguồn gốc cũng như cách sống của chúng.

Mâu thuẫn giữa hai phe đa số và thiểu số vì thế tóm gọn lại trong câu hỏi về mức độ. Nhóm thiểu số chúng tôi nhận thấy một quy luật: giá trị nhận lại đang ngày càng giảm, còn nhóm đối kháng với chúng tôi thì không.

Chúng ta luôn phải học cách liệu cơm gắp mắm. Những bài viết được gộp thành ba phần này là nỗ lực thực hiện điều đó của tôi.

Phần I kể về những gì gia đình tôi thấy và làm trong những buổi cuối tuần đi trốn khỏi thế giới hiện đại ngột ngạt bủa vây, khi chúng tôi lánh tới “túp lều”. Tại trang trại trên miền gió cát này ở Wisconsin, mới đầu là một nơi xập xệ bị xã hội quên lãng, chúng tôi đã cố gắng gầy dựng lại, với xẻng và cưa, những gì chúng tôi đã đánh mất ở các nơi khác. Chính tại nơi đây chúng tôi tìm kiếm, đến giờ vẫn tìm, nguồn lương thực từ Chúa trời.

Những bài viết này được sắp xếp theo tháng thành một “Niên lịch Miền gió cát”.

Phần II, “Những phác họa đó đây”, hồi tưởng lại những trải nghiệm trong đời đã khiến tôi dần dần nhận ra một cách chua xót rằng xã hội của chúng ta đang ngày càng đi lệch quỹ đạo. Những hành trình trải rộng khắp châu lục qua bốn mươi năm này đại diện cho các vấn đề nằm cùng dưới một cái nhãn mang tên bảo tồn.

Phần III, “Buổi yến tiệc”, bày biện theo trình tự lô-gích một vài ý tưởng mà nhóm thiểu số chúng tôi dùng để minh chứng cho ý kiến bất đồng của mình. Chỉ có những người đọc với sự đồng cảm sâu sắc mới muốn thử thách mình bằng những câu hỏi triết lý ở phần III. Tôi nghĩ rằng những bài viết trong phần này sẽ gợi dẫn cho chúng ta cách để đưa xã hội quay trở về quỹ đạo.

Việc bảo tồn đang không đi đến đâu vì nó không ăn nhập gì với khái niệm của chúng ta về đất đai từ thời ông tổ Abraham. Chúng ta lạm dụng đất đai vì chúng ta coi nó như một thứ của cải thuộc về mình. Chỉ khi nào chúng ta nhìn nhận đất đai như một phần cộng đồng chúng ta thuộc về, khi đó chúng ta mới có thể bắt đầu sử dụng nó một cách yêu thương trân trọng. Sẽ không có cách nào khác để đất đai tiếp tục chịu đựng ảnh hưởng của xã hội cơ giới hóa, hay để chúng ta tiếp tục gặt hái những mùa màng bội thu và giá trị văn hóa từ đất đai.

Việc coi đất đai như một tổ hợp cộng đồng là một khái niệm cơ bản trong sinh thái học, nhưng việc coi đất đai như một thứ để yêu thương trân trọng lại là phần mở rộng của đạo đức. Sự thật rằng đất đai hàm ẩn các giá trị văn hóa là một sự thật lâu đời, nhưng gần đây hầu như đã rơi vào quên lãng.

Các tiểu luận sau đây sẽ cố gắng khơi lại ba suy niệm trên.

Cách hiểu như vậy về đất và người hẳn nhiên phụ thuộc rất nhiều vào lớp lang trải nghiệm và định kiến cá nhân. Nhưng dẫu cho sự thật nằm ở đâu thì ta cũng nhận thấy một điều hiển nhiên, rằng xã hội ngày càng “phồn vinh” của chúng ta giờ đây chẳng khác gì một kẻ mắc bệnh tưởng, ám ảnh về sức khỏe kinh tế của mình đến độ hoàn toàn mất đi khả năng đề kháng. Cả thế giới phát cuồng lên sản xuất bồn tắm hàng loạt đến độ chúng ta mất đi thế cân bằng để sản xuất, hay thậm chí là để tắt vòi nước. Giờ đây, không có điều gì đáng tuyên dương hơn là một chút khinh thường gờn gợn với những núi vật chất ngồn ngộn này.

Có lẽ sự thay đổi trong hệ giá trị đó có thể đạt được nếu chúng ta nhìn nhận lại những gì phi tự nhiên, đã thuần hóa và trói buộc qua lăng kính của những gì tự nhiên, hoang dã và tự do.

*

PHẦN I – NIÊN LỊCH MIỀN GIÓ CÁT

Tháng Giêng tuyết tan

Hàng năm, sau những cơn bão tuyết giữa kỳ đông chí, sẽ có một buổi tối mà khắp đất trời tí tách vang lên tiếng những giọt tuyết tan chảy khi vạn vật chuyển mình rã đông. Thời khắc này không chỉ làm xao động tâm hồn các giống loài đang say ngủ, mà còn đánh động cả những loài đã ngủ vùi trong suốt mùa đông. Con chồn hôi ngủ đông, lúc này đang cuộn tròn sâu bên trong ổ, duỗi mình và bước ra thăm thú sục sạo thế giới ẩm ướt bên ngoài, kéo lê cái bụng trên lớp tuyết. Dấu vết mà nó để lại sẽ đánh dấu một trong những mốc sự kiện sớm nhất trong cái chu kỳ của khởi nguồn và kết thúc mà chúng ta vẫn gọi là một năm.

Vết chân con chồn ít khi thể hiện một mối bận tâm đến những diễn biến đời thường hiếm gặp trong các mùa khác; nó cứ băng băng chạy thẳng qua miền đồng quê, như thể chủ nhân của con đường tự tạo này đã buông dây cương cỗ xe của mình và để cho nó cứ thế bám đuôi một vì tinh tú. Tôi lần theo dấu chân con chồn, lòng không khỏi tò mò muốn luận ra suy tư cũng như tập tính ăn uống của con vật, hay cả đích đến nếu có trong đầu nó.

*

Các tháng trong năm, từ tháng Giêng đến tháng Sáu, là một chuỗi tịnh tiến theo cấp số nhân của vô vàn những điều cám dỗ lòng người. Vào tháng Giêng, ta có thể lần theo vết chân loài chồn hôi, hay tìm kiếm bầy chim bạc má, hay quan sát xem lũ hươu đang nhấm nháp những nhánh thông non nào, hay lùng xem những cái tổ chuột xạ hương mới đắp. Trong những cuộc thăm thú tháng Giêng lãng đãng và dung dị như sương tuyết, dàn trải như cái lạnh cuối đông, chỉ thỉnh thoảng thì tâm trí ta mới xao nhãng và sa đà vào việc khác. Thời gian dư dả cho phép ta không chỉ mục sở thị loài nào đã làm những gì, mà còn ngẫm ngợi về lý do đằng sau của chúng.

*

Một con chuột đồng, giật mình khi nghe tiếng chân tôi bước lại gần, phóng ngang qua vệt đường ướt nước mà con chồn hôi để lại. Tại sao nó lại hiện hữu ngay giữa ban ngày như thế? Có lẽ nó đang lấy làm phiền lòng vì mùa tuyết tan. Hôm nay, mê lộ mà nó đã dày công gặm nhấm tạo lối trong đám cỏ bết chôn vùi dưới tuyết không còn là những đường hầm bí mật nữa, mà chỉ còn là những tuyến đường lộ thiên phơi bày ra cho thiên hạ soi mói chế nhạo. Quả thực, ánh nắng sưởi ấm của mặt trời đã giễu cợt nơi trú thân căn bản trong hệ thống sinh hoạt loài chuột!

Con chuột đồng như một công dân thức thời hiểu rằng cỏ mọc sẽ giúp nó tích trữ những bó rơm làm đường, và tuyết rơi sẽ tạo điều kiện cho nó dùng từng bó rơm đó để xây nên những đường hầm: một trật tự cung – cầu và vận chuyển hết sức chặt chẽ.

Với con chuột, tuyết rơi đồng nghĩa với việc được giải thoát khỏi nhu cầu sinh tồn và nỗi sợ thường trực.

*

Một con diều hâu chân xù đang từ trên trời sà xuống phía cánh đồng trước mặt. Lúc thì nó dừng lại, có lúc lại chao liệng như một con bói cá, rồi bổ nhào xuống đồng cỏ ngập nước như một trái bom phủ lông. Nó không bay lên sau đó nữa, nên tôi dám chắc rằng nó đã bắt được mồi, và giờ thì đang xé thịt một kỹ sư chuột đồng nào đó không đủ kiên nhẫn để đợi trời tối trước khi mò ra xem xét những chỗ sập lở trong cái thế giới ngăn nắp mà mình tạo ra.

Con diều hâu không màng gì đến chuyện tại sao cỏ lại mọc, nhưng nó nhận thức rõ rệt rằng tuyết tan sẽ giúp cho diều hâu có thể tiếp tục bắt chuột. Và nó đã bay xuống đây từ Bắc cực lạnh giá với hy vọng sẽ gặp đúng mùa tuyết tan, vì tuyết tan đối với loài diều hâu đồng nghĩa với việc được giải thoát khỏi nhu cầu sinh tồn và nỗi sợ thường trực.

*

Vết chân con chồn dẫn vào trong khu rừng, cắt ngang một trảng rừng thưa nơi những con thỏ đã kịp để lại vết chân của mình cùng những vệt nước tiểu lấm tấm hồng trên nền tuyết trắng. Những mầm cây sồi mới nhú chào đón mùa tuyết tan bằng những chồi non vừa tẽ vỏ. Các búi lông thỏ rơi vãi đánh dấu những cuộc tranh giành mở màn giữa mấy con đực rạo rực men tình. Đi sâu hơn nữa, tôi tìm thấy một vũng máu nhỏ, viền xung quanh là vòng cung sải cánh của loài cú. Với con đực xấu số này, mùa tuyết tan mang lại sự tự do ham muốn, nhưng đồng thời cũng khiến con vật liều mạng quên đi nỗi sợ bản năng. Và con cú đã nhắc nhở nó rằng mùa xuân về không đồng nghĩa với việc ta được phép lơ là bất cẩn.

*

Con chồn vẫn tiếp tục để lại những vết chân, dường như tâm trí nó lúc này không dành cho việc kiếm tìm thức ăn, mà cũng chẳng màng đến những chuyện hỉ nộ ái ố của các bên hàng xóm. Tôi băn khoăn trong đầu nó đang suy nghĩ điều gì; cái gì đã đưa chân nó ra khỏi ổ? Liệu có phải anh chàng cũng đang kéo lê cái bụng bự trên nền tuyết bùn nhão nhoét để tìm nơi thỏa chí yêu đương? Sau cùng thì vết chân đi vào trong một đám cành củi trôi dạt và không thấy trở ra. Tôi lắng tai nghe tiếng những giọt nước chảy tong tỏng qua những thân củi, và tôi đồ rằng con chồn hẳn cũng nghe thấy. Tôi quay bước về nhà, lòng vẫn miên man tự hỏi.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Chương 1 “Tội ác và hình phạt” (Fyodor Dostoevsky)

Đăng từ

on

Người đăng

Trích từ: Tội ác và hình phạt

Tác giả: Fyodor Dostoevsky

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Tái bản: tháng 6.2020

Chi tiết tác phẩm

PHẦN THỨ NHẤT

Vào một ngày đầu tháng Bảy oi bức lạ thường, lúc xế chiều có một người trẻ tuổi rời gian gác xép thuê lại trong ngõ S., bước ra phố và chậm rãi đi về phía cầu K., dáng như tần ngần do dự. Khi xuống thang gác, chàng đã may mắn tránh mặt được bà chủ trọ. Căn buồng xép của chàng kê sát dưới mái một tòa nhà cao năm tầng và trông giống một cái tủ hơn là một gian phòng ở. Còn bà chủ – người cho chàng trọ, dọn cơm tháng và cho chàng mượn cả người dọn buồng – thì ở một căn nhà riêng phía dưới, cách buồng chàng một cầu thang, và mỗi lần ra phố thế nào chàng cũng phải đi ngang cánh cửa gian nhà bếp của bà chủ luôn luôn mở toang nhìn ra thang gác. Cứ mỗi lần đi ngang cánh cửa ấy, người trẻ tuổi lại có một cảm giác sợ sệt bệnh tật khiến chàng xấu hổ và cau mặt. Chàng mắc nợ bà chủ trọ lút đầu lút cổ và sợ gặp mặt bà ta lắm.

Cũng chẳng phải chàng hèn nhát và khiếp nhược đến thế, trái lại nữa là đằng khác, nhưng ít lâu nay tâm thần chàng kích động và căng thẳng khác thường, gần như mắc chứng u uất. Chàng sống cô độc rụt sâu vào nội tâm và xa lánh mọi người, đến nỗi gặp ai chàng cũng sợ chứ chẳng riêng gì bà chủ trọ. Chàng bị cảnh nghèo khó vùi dập, nhưng gần đây ngay cả tình cảnh túng bấn cũng không còn đè nén chàng nữa. Chàng đã bỏ hẳn mọi công việc và cũng chẳng buồn làm ăn gì cả. Thật ra chàng chẳng sợ mụ chủ nào hết, dù mụ có mưu mô gì để hại, chàng cũng mặc. Nhưng dừng chân trên thang gác, nghe những câu nói lải nhải đã nhàm tai về những chuyện vặt vãnh thường ngày chẳng có lý thú gì đối với mình, những câu đòi nợ dai dẳng, những lời dọa dẫm, than phiền, rồi chính mình lại phải kiếm cớ khất lần, xin lỗi, dối quanh, – không! Thà tìm cách lủi đi như một con mèo, rón rén xuống thang gác và chuồn thẳng một mạch, đừng để ai trông thấy.

Vả chăng lần này, khi bước ra phố chàng lại còn lấy làm lạ không hiểu sao mình lại sợ gặp cái mụ chủ nợ ấy đến thế.

“Ta đang mưu đồ một việc như vậy, mà đồng thời lại sợ những chuyện nhảm ấy ư?” – Chàng nghĩ thầm, môi nở một nụ cười kỳ dị. – “Thì… phải… tất cả đều nằm trong tay con người, thế mà nó cứ bỏ lỡ cơ hội, chỉ vì hèn nhát… thật hiển nhiên quá đi rồi. Kể cũng lạ không biết người ta sợ cái gì nhất nhỉ? Bước một bước mới, nói lên một lời mới do chính mình nghĩ ra đấy, họ sợ cái ấy hơn cả… Nhưng mà mình nói nhiều quá! Mình không làm gì chính cũng vì nói nhiều. Mà cũng có lẽ mình nói nhiều bởi vì mình chẳng làm gì cả. Chẳng qua tháng vừa rồi mình đâm ra nói nhiều vì cứ nằm lì suốt đêm ngày trong xó mà nghĩ đến… chuyện trên trời dưới đất. Nhưng bây giờ mình đi thế này để làm gì? Chả nhẽ mình có thể làm việc ấy sao? Việc ấy liệu có phải là chuyện nghiêm chỉnh không? Chẳng nghiêm chỉnh gì đâu. Thế thôi, chẳng qua mình tưởng tượng ra để tự tiêu khiển: chuyện đùa ấy mà. Phải, có lẽ chỉ là chuyện đùa thôi cũng nên?”.

Ngoài đường phố nóng như thiêu đốt, không khí ngột ngạt, người qua lại xô đẩy, chen chúc nhau, đâu đâu cũng thấy ngổn ngang những vôi, gạch, gỗ xây nhà, bụi bặm, và phảng phất cái mùi hôi hám của mùa hè rất quen thuộc đối với những người dân Petersburg nào không thuê nổi một ngôi biệt thự ở ngoại thành. Thần kinh của người trẻ tuổi đã khích động sẵn, lại thêm tất cả những thứ đó dồn dập vào một lúc, nên càng thêm nhức nhối khó chịu. Mùi xú uế xông ra nồng nặc từ các tiệm rượu nhan nhản ở khu phố này, và những gã say rượu gặp nhan nhản trên hè phố tuy đang giờ làm việc, càng tô cho màu sắc ảm đạm và dơ dáy của bức tranh thêm đậm đà. Một cảm giác ghê tởm đến cùng cực thoáng hiện một khoảnh khắc trên nét mặt thanh tú của người trẻ tuổi. Chàng rất khôi ngô, có đôi mắt thẫm màu rất đẹp, tóc hung đậm, vóc người trên trung bình, mảnh dẻ và cân đối. Nhưng phút chốc chàng dường như đã ngập sâu vào tâm trạng đăm chiêu, hay nói cho đúng hơn, một trạng thái hầu như mê muội, và chàng bước đi, không còn trông thấy gì xung quanh nữa, mà cũng chẳng buồn để ý đến cái gì hết. Chỉ thấy chàng chốc chốc lại lẩm bẩm câu gì trong miệng, theo cái thói quen nói một mình mà chàng vừa tự thú nhận. Lúc ấy chàng cũng nhận thấy ý nghĩ của chàng đôi khi rối loạn và thể chất chàng đã suy nhược lắm rồi: đã hai ngày nay chàng hầu như không có miếng gì lót dạ.

Chàng ăn mặc tồi tàn đến nỗi giá phải người khác, dù đã dạn dày chăng nữa, cũng phải thấy ngượng khi bước ra phố giữa ban ngày trong những tấm giẻ rách như vậy. Song ở khu phố này thì dù có ăn mặc thế nào cũng khó lòng mà khiến ai ngạc nhiên. Ở đây rất gần khu Chợ Hàng Rơm, lại có nhiều tiệm rượu, dân cư phần lớn là thợ thuyền, chen chúc trong những phố xá và ngõ hẻm ở khu vực trung tâm Petersburg này, cho nên quang cảnh chung nhiều khi được tô điểm bằng những mẫu người lắm hình lắm vẻ đến nỗi khó có thể ngạc nhiên khi gặp một bóng dáng quá kỳ quặc. Nhưng lòng người trẻ tuổi đã chứa chất một sự khinh miệt hằn học đến nỗi mặc dầu chàng vốn có một tính cả thẹn và tự ái đôi khi rất ngây thơ, chàng cũng chẳng thấy ngượng nghịu chút nào khi phải phô bày những mảnh giẻ rách của mình trên đường phố. Còn như gặp người quen hay bạn học cũ thì đó lại là chuyện khác; nói chung chàng không thích gặp những người này… Vừa lúc ấy, có một gã say rượu chẳng hiểu tại sao và đi đâu mà lại ngất ngưởng trên một chiếc xe giàn to tướng thắng một con ngựa tải to tướng đang chạy qua phố; khi xe đến ngang tầm người trẻ tuổi, gã say rượu bỗng quát: “Ê, thằng cha đội mũ Đức kia?” – rồi giơ tay chỉ chàng ngoác mồm cười rống lên. Người trẻ tuổi dừng phắt lại và lập cập đưa tay lên nắm lấy mũ. Chiếc mũ chàng đội là một chiếc mũ dạ hiệu Zimmermann1 đã sờn hết tuyết và bạc phếch, loang lổ những vết bẩn và chi chít những lỗ thủng, vành mòn gần sát, méo xệch sang một bên, trông không còn ra cái hình thù gì nữa. Nhưng lúc bấy giờ chàng choáng người đi không phải vì xấu hổ mà vì một cảm giác gì khác hẳn, giống như kinh hãi.

– Mình đã biết mà. – Chàng lẩm bẩm trong cơn bối rối. – Chính mình cũng đã nghĩ từ trước! Cái ấy mới tệ hại hơn cả! Chính những cái không đâu như thế, những cái vặt vãnh ngu xuẩn, tầm thường như thế lại có thể phá hỏng cả một ý đồ! Phải, cái mũ này dễ bị chú ý quá! Nó lố lăng, cho nên dễ bị chú ý… ăn mặc rách rưới thế này thì nhất định phải đội mũ lưỡi trai, một cái mũ khổ nào đấy cũng được, chứ không thể đội cái vật quái gở này. Chẳng thấy ai đội thứ mũ này cả, cách xa một dặm người ta cũng chú ý ngay, họ sẽ nhớ… Cái chính là về sau họ sẽ nhớ, thế là thành một tang vật. Lúc này, phải cố sao đừng để ai chú ý mới được. Những cái vặt vãnh, những cái vặt vãnh lại chính là cái chủ yếu!… Chính những cái vặt vãnh này bao giờ cũng làm hỏng hết mọi việc.

Chàng không phải đi xa lắm. Chàng lại còn biết rõ từ cổng nhà trọ đến đấy bao nhiêu bước: đúng bảy trăm ba mươi bước. Trước kia trong khi mơ tưởng mông lung chàng đã có lần đếm. Dạo ấy chính chàng cũng chưa tin là thật và chỉ dùng những mộng tưởng liều lĩnh quái gở nhưng đầy sức cám dỗ ấy để tự làm cho mình nôn nao, day dứt. Nhưng từ dạo ấy đến nay đã được một tháng, chàng đã bắt đầu có một cách nhìn khác, và tuy những khi nói chuyện một mình chàng vẫn tự đay nghiến là bất lực và thiếu quả quyết, chàng dần dần quen xem cái mộng tưởng “quái gở” kia như một mưu đồ thật sự, mặc dầu trong thâm tâm chàng vẫn chưa dám tự tin. Bây giờ chàng đang đi “duyệt thử lại” việc đã mưu đồ, và cứ mỗi bước tâm trạng bứt rứt của chàng lại càng tăng thêm.

Tim như ngừng đập chân tay run lẩy bẩy, chàng đến gần tòa nhà cao lớn một mặt trông ra con kênh đào, một mặt trông ra phố X…. Tòa nhà ngăn ra nhiều gian nhỏ làm nơi trú ngụ cho đủ các hạng người: thợ may, thợ khóa, đầu bếp; ở đấy có những người Đức thuộc đủ các loại, những cô gái mãi dâm, những viên thư lại… Qua hai cái cổng dẫn vào hai khoảng sân trước và sau nhà, người ra kẻ vào tấp nập. Trong nhà có ba hay bốn người gác cổng trông nom. Người trẻ tuổi rất hài lòng vì đã không chạm trán phải người nào trong bọn họ. Vừa lọt vào cổng, chàng liền rẽ ngoặt sang phải, lấm lét bước lên cầu thang. Thang gác phụ này chật hẹp và tối tăm, nhưng chàng đã biết rõ và đã nghiên cứu cặn kẽ hết những điều đó, nên rất hài lòng: “Tối thế này thì dù có con mắt tò mò nào dòm dõi cũng không ngại. Bây giờ mà mình còn sợ sệt thế này, thì giả sử khi đến đây để làm việc ấy thật, cơ sự còn sẽ ra sao?” – Chàng bất giác nghĩ thầm khi bước lên tầng thứ tư. Đến đây chàng phải dừng lại vì gặp phải mấy người cựu binh làm nghề khuân vác đang khiêng bàn ghế đồ đạc trong một gian nhà ra ngoài.

Chàng biết đây là gian của một gia đình công chức người Đức. “Thế nghĩa là lão người Đức kia dọn nhà đi và như vậy trong một thời gian nào đấy ở tầng thứ tư này, cuối thang gác này, chỉ có gian của mụ già là còn người ở. Như thế rất tốt, nhỡ khi có cần đến…” – Chàng lại nghĩ thầm, rồi đến giật chuông trước cửa nhà mụ già. Cái chuông nhỏ khẽ rung lên rè rè, nghe như tiếng sắt tây chứ không phải tiếng động. Trong những gian phòng chật chội của loại nhà này hầu như bao giờ cũng dùng rặt một loại chuông ấy. Chàng đã quên bẵng cái âm thanh rè rè của chiếc chuông, và bây giờ cái âm thanh đặc biệt ấy bỗng như nhắc chàng nhớ lại một điều gì mà chàng chợt thấy hiện rõ mồn một trước mắt… Chàng bỗng rùng mình, vì lần này thần kinh chàng đã quá bạc nhược.

Một lát sau, cánh cửa mở hé ra thành một khe hở rất nhỏ; mụ già dòm khách qua khe hở với một vẻ nghi kị rõ rệt, chỉ thấy đôi mắt mụ long lanh trong bóng tối. Nhưng thấy ngoài hành lang đông người, mụ dạn dĩ lên và mở hẳn cửa ra. Người trẻ tuổi bước qua ngưỡng cửa, đặt chân vào gian phòng ngoài tối mờ mờ có một bức vách mỏng ngăn cách với một gian bếp chật chội.

Mụ già lặng lẽ đứng trước mặt chàng và nhìn chàng như dò hỏi. Đó là một mụ già khô đét, người bé loắt choắt, tuổi trạc sáu mươi, đôi mắt sắc và ác, cái mũi nhọn hoắt. Đầu mụ để trần, mớ tóc màu gai hơi bạc xức dầu trơn nhầy nhụa. Trên cái cổ mảnh và cao, trông như cái cẳng gà, quấn một thứ giẻ bằng nỉ mỏng, và tuy tiết trời nồng nực, trên vai mụ cũng vắt vẻo một chiếc khăn choàng bằng lông thú xơ xác đã ngả sang màu vàng. Mụ già ho khục khặc và đằng hắng luôn mồm. Trong khóe mắt của người trẻ tuổi khi nhìn mụ chắc phải có một cái gì khác thường, vì thấy mắt mụ lại thoáng lộ vẻ nghi kị như cũ.

– Tôi là Raxcolnicov, sinh viên. Tháng trước tôi có đến nhà bà một lần. – Người trẻ tuổi vội nói lắp bắp và khẽ nghiêng mình chào.

Chàng vừa sực nhớ ra rằng mình cần phải nhã nhặn.

– Tôi nhớ cậu ạ, tôi nhớ rõ là cậu đã có lần đến đây. – Mụ già nói rõ từng tiếng, đôi mắt dò hỏi vẫn nhìn chàng soi mói.

– Thưa bà… lần này tôi đến cũng vì việc ấy… – Raxcolnicov nói tiếp, hơi lúng túng và ngạc nhiên vì cái vẻ nghi kị của mụ già.

“Chắc mụ ta bao giờ cũng vẫn thế, chẳng qua lần trước mình không để ý đấy thôi”. – Chàng nghĩ thầm với một cảm giác khó chịu.

Mụ già im lặng một lát như suy nghĩ điều gì, rồi tránh sang một bên nhường lối cho khách và chỉ cửa buồng nói:

– Mời cậu vào nhà.

Người trẻ tuổi bước vào một gian phòng nhỏ hẹp, tường dán giấy vàng, cửa sổ có chăng màn nhiễu, trên bậu đặt mấy chậu hoa dương hải đường. Ánh mặt trời lặn chiếu vào phòng sáng rực. “Thế nghĩa là đến lúc ấy ánh nắng cũng sẽ chiếu sáng như thế này…” – Ý nghĩ ấy bất giác vụt qua óc Raxcolnicov. Chàng đưa mắt rất nhanh nhìn khắp gian phòng một lượt để xem xét và ghi nhớ thật kĩ cách bày biện. Nhưng trong phòng chẳng có gì đặc biệt. Đồ đạc đều làm bằng gỗ màu vàng và đã cũ lắm, gồm một chiếc đi-văng lưng rất rộng bằng gỗ uốn, một cái bàn hình bầu dục đặt trước đi-văng, một chiếc bàn trang điểm với một tấm gương móc lên khoảng tường giữa hai khung cửa sổ mấy chiếc ghế đặt dọc tường và vài ba bức tranh rẻ tiền đóng khung gỗ vàng, vẽ những cô gái Đức cho chim đậu trên tay, đồ đạc trong phòng chỉ có thế. Ở một góc phòng, trước một bức tượng thánh nhỏ, leo lét một ngọn đèn thờ. Mọi vật đều sạch sẽ tinh tươm, bàn ghế và sàn nhà đều được đánh xi bóng lộn. “Bàn tay mụ Lizaveta đây”. – Người trẻ tuổi nghĩ thầm. Khắp gian nhà không tìm đâu lấy được một hạt bụi. “Chỉ có mấy mụ đàn bà góa già nua và độc ác mới có cái nề nếp sạch sẽ như thế này” – Chàng tự nhủ tiếp và tò mò liếc mắt về phía bức màn vải hoa trên khung cửa dẫn vào căn buồng nhỏ thứ hai, nơi đặt giường ngủ của hai mụ già và một chiếc tủ ngăn. Chàng chưa lần nào ghé mắt vào đấy. Cả gian nhà ở chỉ có hai căn buồng này.

– Cậu cần hỏi việc gì? – Mụ già nói, giọng nghiêm nghị, trong khi bước vào phòng đứng trước mặt chàng như lúc nãy, để có thể nhìn thẳng vào mặt chàng.

– Tôi mang cái này lại cầm. Đây ạ! – Và chàng móc túi lấy ra một chiếc đồng hồ quả quýt mỏng bằng bạc, mặt sau có chạm một quả địa cầu. Dây chuyền đeo đồng hồ đánh bằng thép.

– Nhưng chuyến cầm lần trước đã hết hạn rồi. Cậu hẹn một tháng, đến nay đã quá mất ba ngày.

– Tôi sẽ trả thêm cho bà một tháng lãi nữa. Bà nán đợi cho ít lâu.

– Cái đó còn tùy tôi, cậu ạ, nán đợi hay đem bán ngay bây giờ là tùy tôi.

– Cái đồng hồ này liệu có được nhiều tiền không, bà Aliona Ivanovna?

– Cậu cứ đem đến đây rặt những của rẻ thối không đáng giá một xu. Lần trước cậu đem cầm chiếc nhẫn tôi đưa cậu hai tờ2, chứ thật ra đến hàng thợ bạc mà mua thì dễ chỉ đến một rúp rưỡi.

– Bà ứng cho tôi bốn rúp, tôi sẽ chuộc lại, chả đấy là vật kỷ niệm của cha tôi. Tôi sắp lĩnh được món tiền.

– Một rúp rưỡi, tiền lãi trừ trước, cậu không ưng thì thôi vậy.

– Một rúp rưỡi? – Người trẻ tuổi thốt lên.

– Tùy cậu đấy. – Mụ già nói đoạn trao trả chiếc đồng hồ lại. Người trẻ tuổi cầm lấy, lòng căm uất đến nỗi toan bỏ đi ngay. Nhưng chàng chợt nghĩ lại, sực nhớ rằng mình chẳng còn biết đi đâu nữa; vả chăng chàng đến đây còn có mục đích khác.

– Bà đưa tiền đây. – Người trẻ tuổi nói, giọng cộc cằn.

Mụ già lục túi tìm chùm chìa khóa và đi sang buồng bên, sau bức màn. Đứng lại một mình giữa căn phòng, người trẻ tuổi tò mò lắng tai nghe ngóng và nhẩm suy tính. Bên kia có tiếng mụ già mở tủ ngăn. “Chắc là ngăn trên cùng” – chàng phỏng đoán. – “Mụ ta bỏ chìa khóa ở túi bên phải… Mấy chiếc đều móc vào cái khâu bằng thép thành một chùm. Có một chiếc to gấp ba mấy chiếc kia, đầu khóa răng cưa, chắc hẳn không phải chìa khóa mở tủ ngăn… Thế nghĩa là còn có một cái tráp hay một cái rương gì đấy… kể cũng lạ. Chìa khóa rương đều như thế cả… Nhưng sao ta lại có những ý nghĩ hèn hạ đến thế…” – Mụ già trở ra.

– Đây cậu ạ: Mỗi tháng trừ lãi mỗi rúp một hào, tôi trừ trước một tháng lãi, vị chi mỗi rúp rưỡi trừ một hào rưỡi. Thế với lại trừ thêm vào chỗ hai rúp tháng trước của cậu hai hào nữa, vị chi cả thảy là ba hào rưỡi. Vậy bây giờ tôi đưa cậu một rúp mười lăm cô-pếch tiền cầm đồng hồ. Đấy cậu cầm lấy!

– Ơ! Thế ra bây giờ chỉ còn một rúp mười lăm cô-pếch thôi ư?

– Đúng thế đấy ạ.

Người trẻ tuổi không cãi lại, lẳng lặng cầm lấy tiền. Chàng nhìn mụ già và chần chừ chưa đi vội, như còn muốn nói gì hay làm gì nữa, nhưng cụ thể là cái gì thì dường như chàng cũng không rõ.

– Bà Aliona Ivanovna ạ, có lẽ nay mai tôi sẽ mang lại một cái nữa… bằng bạc… đẹp lắm… một chiếc hộp đựng thuốc lá… khi nào tôi lấy ở bạn tôi về… – Chàng đâm luống cuống và im bặt.

– Thôi đến lúc ấy hẵng hay cậu ạ.

– Chào bà… Thế bà lúc nào cũng ở nhà một mình à? Bà em đi vắng à? – Chàng cố lấy giọng thật ung dung hỏi mụ già khi bước ra phòng ngoài.

– Cậu hỏi mụ em nhà tôi có việc gì thế?

– Thì… cũng chẳng có gì đâu. Tôi chỉ hỏi thế thôi. Chắc bà lại tưởng… Thôi chào bà Aliona Ivanovna.

Raxcolnicov ra về, tâm thần mỗi lúc một thêm bối rối. Khi xuống thang gác, chàng còn dừng lại mấy lần như chợt có điều gì làm cho chàng choáng cả người đi. Và cuối cùng, khi đã ra phố chàng thốt lên:  “Trời ơi! Ghê tởm quá! Mà có lẽ nào, lẽ nào ta lại không, chỉ là chuyện nhảm, phi lý hết sức?” – Chàng ngần ngừ nói thêm. – “Chả nhẽ một việc khủng khiếp như vậy mà ta có thể nghĩ đến? Lòng ta có thể chứa đựng những điều nhơ nhuốc như thế ư? Tệ hơn cả là nó bẩn thỉu, xấu xa, kinh tởm hết sức!… Thế mà suốt một tháng ròng ta có thể… “- Nhưng những lời nói, những tiếng kêu chàng thốt ra không sao biểu lộ hết nỗi xúc động trong lòng chàng. Cái cảm giác ghê tởm cùng cực đã bắt đầu đè nén, giày vò chàng ngay từ khi đang đi đến nhà mụ già, bây giờ đã mãnh liệt và rõ ràng đến nỗi chàng không còn biết trốn vào đâu cho thoát cơn ám ảnh này. Chàng bước trên vỉa hè như người say rượu, không trông thấy người qua đường và cứ xô phải họ, mãi đến phố sau chàng mới định thần lại. Đưa mắt nhìn quanh, chàng nhận thấy mình đang đứng trước một tiệm rượu dọn trong một gian nhà hầm có mấy bậc thang từ trên vỉa hè dẫn xuống cửa ra vào. Vừa lúc ấy có hai gã say rượu từ trong tiệm dìu nhau bước ra, mồm chửi bới lảm nhảm. Raxcolnicov không nghĩ ngợi gì lâu. Chàng lập tức bước xuống mấy bậc thềm. Xưa nay chàng chưa lần nào vào quán rượu, nhưng bây giờ chàng thấy chóng mặt và thêm vào đấy lại khát bỏng cả họng. Chàng đang thèm uống một cốc bia lạnh, và hơn nữa chàng chợt có ý nghĩ rằng mình đột nhiên bạc nhược hẳn đi như thế này là vì đói. Chàng đến ngồi ở một góc tối và bẩn, cạnh một cái bàn nhớp nháp, gọi bia và khao khát nốc cạn cốc thứ nhất. Lập tức mọi vật đều sáng tỏ ra, và trí óc chàng cũng trở nên minh mẫn. “Tất cả những cái đó đều là chuyện nhảm” – chàng nói, lòng khấp khởi hy vọng – “chẳng việc gì mình phải bứt rứt! Chẳng qua là một sự rối loạn về cơ thể. Chỉ cần uống cốc bia, cắn miếng bánh, thế là trong một thoáng trí óc đã lại minh mẫn, ý định đã lại vững vàng! Xì! Toàn chuyện không đâu!”. Nhưng tuy chàng nhổ nước bọt một cách khinh bỉ như vậy, khóe mắt chàng cũng đã vui hẳn lên, dường như chàng vừa đột nhiên thoát khỏi một ách gì khủng khiếp. Chàng đưa mắt thân mật nhìn những người ngồi trong tiệm. Nhưng ngay trong phút ấy chàng cũng mơ hồ cảm thấy tâm trạng lạc quan này có một cái gì bệnh tật. Bấy giờ trong tiệm rượu chỉ còn lác đác mấy người khách. Ngoài hai người say rượu chàng đã gặp trên bậc thang, sau họ còn có cả một tốp khoảng năm người ra về, lôi theo một cô gái điếm, vừa đi vừa kéo phong cầm – họ đi khuất, quán rượu im lặng và rộng rãi hẳn ra. Chỉ còn lại một người hơi ngà ngà say ngồi trước mặt cốc bia, dáng dấp như một người tiểu thương, bạn hắn là một người to béo phục phịch mặc áo xibirca dài, để bộ râu hoa râm; say túy lúy, hắn nằm ngủ trên chiếc ghế dài và thỉnh thoảng, như chợt tỉnh giấc, lại bẻ ngón tay kêu răng rắc, vươn vai và nhấc lưng lên dây mấy cái, nhưng vẫn không ngồi dậy, mồm khẽ ê a hát một bài nhảm nhí nào đấy, vừa ngâm nga vừa cố nhớ lại những câu thơ như:

Suốt năm hú hí với nhà tôi
Suốt năm hú… hú… h…í hí…

Hoặc sau một lát lại sực tỉnh, hát:

Đang đi trên phố Podiatsexkaya
Tôi bỗng gặp người năm xưa…

Nhưng chẳng ai buồn chia sẻ hạnh phúc của hắn, thậm chí bạn hắn còn tỏ thái độ thù địch và nghi ngờ đối với những cơn cảm hứng này. Trong tiệm còn có một người trông vẻ như một viên công chức về hưu. Hắn ngồi riêng ra một xó, trước mặt để một be rượu, chốc chốc lại nhấp từng ngụm nhỏ và dạo mắt nhìn quanh. Hình như hắn cũng đang có chuyện gì bứt rứt.

-Còn tiếp-

Chú thích:

  1. Zimmermann, một hiệu mũ dạ nổi tiếng của Đức.
  2. Ý nói hai đồng rúp tiền giấy.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Trích “Người thầy của tỉnh thức & thương yêu”: Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong mắt người Tây phương

Với đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước, từ lâu, Thiền sư Thích Nhất Hạnh được xem là một trong số ít những vị lãnh tụ tinh thần nổi tiếng nhất thế giới. Người Phương Tây thường gọi ông một cách giản dị và kính trọng là “Thầy”, với hàm nghĩa Thiền sư là người thầy tâm linh, trong khi người Việt Nam lại trìu mến, thân thương gọi ông là “Sư Ông Làng Mai”. Rất nhiều Phật tử coi ông như một vị Bụt sống.

Đăng từ

on

Người đăng

Trích từ: Người thầy của tỉnh thức & thương yêu

Tác giả: Nhiều tác giả

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Phát hành: tháng 1.2020

Chi tiết tác phẩm

Đây là tập hợp một số bài báo trong hàng vạn bài viết về Thiền sư Thích Nhất Hạnh của các cây bút nổi tiếng trên thế giới. Có thể xem cuốn sách này như một tập chân dung về Thiền sư Thích Nhất Hạnh được “ký họa” ở nhiều góc độ khác nhau, dưới con mắt quan sát, qua “cái thấy” của người nước ngoài.

Một điều thú vị là qua những bài viết ở đây, chúng ta phát hiện ra, người phương Tây tìm đến Thiền sư Thích Nhất Hạnh không chỉ để giãi bày, chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau, tìm lại niềm vui sống giữa đời mà họ còn tìm cầu tuệ giác của ông trong việc làm thế nào để điều hành doanh nghiệp tốt hơn, giảm bớt stress, căng thẳng, phát huy nhiều hơn nữa sự sáng tạo, trên cơ sở đó để tăng lợi nhuận. Họ là những CEO của các tập đoàn kinh tế khổng lồ như Google, Yahoo, Ngân hàng Thế giới (World Bank). Họ còn là những thượng nghị sĩ Mỹ, những ngôi sao Hollywood nổi tiếng, những chính khách lừng danh… Qua những cuộc gặp gỡ, trao đổi ấy, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã chỉ bày cho họ hướng đi tâm linh trong đời sống, trong sự nghiệp cùng những phương pháp thực hành rất cụ thể. Tu tập theo ông, người ta sẽ thấy trí tuệ và lòng từ bi tăng trưởng, nhờ thế mà an lạc thân tâm.

Vị “anh hùng ẩn danh”  đằng sau công cuộc chống biến đổi khí hậu trên thế giới

Jo Confino

(Đăng trên The Huffington Post ngày 22.01.2016)

Một trong những động lực ở hậu trường dẫn dắt vòng đàm phán Paris và đem lại bản thỏa thuận lịch sử về biến đổi khí hậu là vị thiền sư 89 tuổi người Việt Nam.

Christina Figueres, kiến trúc sư trưởng của những cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu tại Paris, đã thừa nhận vai trò then chốt của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong việc giúp bà phát triển sức mạnh nội tâm, trí tuệ và lòng từ bi cần thiết để có thể thúc đẩy các bên liên quan đi đến Thỏa thuận Paris – một bản thỏa thuận toàn cầu đầu tiên về biến đổi khí hậu được sự thông qua bởi 196 quốc gia.

Bà Figueres, Tổng thư ký điều hành Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) nói rằng những lời dạy của Thầy đến với bà một cách rất tình cờ khi bà đang trải qua một cuộc khủng hoảng cá nhân sâu sắc cách đây ba năm. (“Thầy” là cách gọi thân thương mà hàng trăm ngàn đệ tử trên thế giới dành cho Thiền sư Thích Nhất Hạnh.)

Những giáo lý đạo Bụt qua cách diễn bày của Thầy – người hiện đang trong quá trình phục hồi sau một cơn xuất huyết não nghiêm trọng – đã giúp bà đối diện được với những khó khăn của chính mình trong giai đoạn đó, đồng thời giữ được sự định tâm trong các cuộc đàm phán về khí hậu.

“Tôi cần có một cái gì đó ngay trong tầm tay để nương vào, nếu không thì tôi chẳng thể nào hoàn thành được nhiệm vụ của mình. Một điều quá rõ ràng là lúc ấy tôi không có cơ hội để nghỉ ngơi, dù chỉ một ngày. Đó là một cuộc chạy đua kéo dài sáu năm không ngừng, tôi thực sự cần một cái gì đó để nương tựa. Nếu không được dẫn dắt bởi những lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, tôi đã không thể có được sức mạnh nội tâm, niềm lạc quan sâu sắc, sự tận tâm và niềm cảm hứng mạnh mẽ như vậy”Bà Figueres chia sẻ với phóng viên của The Huffington Post trong thời gian diễn ra Diễn đàn Kinh tế Thế giới thường niên tại Davos, Thụy Sĩ.

Vậy, Thầy đã dạy cho người phụ nữ này điều gì?

Bà Figueres làm sáng tỏ điều đó qua câu chuyện về chuyến thăm của bà tại Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) do Thầy thành lập, tại Waldbröl, Đức. Nơi đây từng là bệnh viện tâm thần với 700 bệnh nhân cho tới khi Đức Quốc xã (Nazis) xuất hiện, thủ tiêu hoàn toàn những bệnh nhân và biến nơi này thành cơ sở cho Đảng thanh niên Hitler (Hitler Youth).

Bà kể rằng Thầy đã chọn nơi này để thành lập tu viện vì “Thầy muốn chỉ ra rằng chuyển hóa niềm đau thành tình thương, nạn nhân thành người chiến thắng, hận thù thành thương yêu và tha thứ là điều có thể làm được. Thầy muốn điều đó được thực hiện ở ngay chính mảnh đất này, nơi đã từng xảy ra những hành động bạo tàn và phi nhân tính”.

“Việc làm đầu tiên của Thầy là viết thư cho cộng đồng Phật giáo. Trong thư Thầy nói rằng: Thầy muốn có những trái tim được khâu bằng tay, mỗi trái tim dành cho một bệnh nhân bị thủ tiêu, để chúng ta có thể bắt đầu chuyển hóa tòa nhà này, không gian này và năng lượng nơi đây”– bà Figueres chia sẻ tiếp.

“Đó là một câu chuyện vô cùng chấn động đối với tôi. Bởi vì dưới nhiều góc độ, đây chính là hành trình mà chúng tôi đã đi qua để tới được với nhau trong những cuộc đàm phán về khí hậu. Đó là hành trình từ lên án, trách móc lẫn nhau đi tới hợp tác thật sự với nhau. Đó là hành trình từ cảm giác hoàn toàn tê liệt, bất lực, dễ tổn thương đi tới cảm giác thực sự thấy mình có khả năng cùng nhau hành động… Hành trình đó đồng thời đem đến cho tôi rất nhiều trị liệu. Bởi vì ngay chính trong tôi cũng còn có những khó khăn, khổ đau cần được chuyển hóa”. Bà nói thêm: “Chưa thể nói rằng tôi đã đi qua giai đoạn khó khăn của cá nhân mình, nhưng tôi sẽ chuyển hóa nó. Tôi cần làm điều đó cho chính mình.”

Bà tiếp tục chia sẻ: “Tôi cảm nhận đây chính là năng lượng mà những cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu cần phải có. Tôi thực sự rất hứng khởi khi được nghe những lời chỉ dạy tuyệt vời như vậy”.

Lần đầu tiên tới cơ sở cũ của Đức Quốc xã, nơi có 400 phòng ở này, Thầy đã viết một bức thư cho những người đã bị giết hại. Lá thư được các thầy, các sư cô sống tại đây đọc lên mỗi ngày:

“Xin hương linh quý vị và các cháu lắng nghe và chứng giám. Bảy mươi năm về trước, người ta đã đối xử rất tệ hại với liệt vị. Nỗi khổ niềm đau rất lớn ấy ít ai thấy được.

Ngày nay tăng thân đã tới, tăng thân đã nghe và đã hiểu tất cả những khổ đau tủi nhục và uất ức ấy. Tăng thân đã đi thiền hành, đã ngồi thiền, đã thở trong chánh niệm, đã trì chú, tụng kinh, thí thực, để cầu ơn trên chư Bụt, chư vị Bồ tát, chư vị Tổ sư để quý Ngài hồi hướng công đức vĩ đại của quý Ngài cho liệt vị và các cháu, để quý vị và các cháu có cơ hội chuyển hóa, tái sinh ra dưới những hình thức mới. Những người đã làm khổ quý vị, họ cũng đã gánh chịu nghiệp quả khổ đau, xin quý vị mở lòng từ bi mà tha thứ cho họ để họ cũng có cơ hội giải thoát và chuyển hóa.

Xin hộ trì cho tăng thân và cho các thế hệ hành giả kế tiếp, để họ có thể biến nơi này thành một cơ sở thực tập chuyển hóa và trị liệu, không những cho thành phố Waldbröl mà cho cả nước Đức và cả toàn thế giới.”

Thầy được coi là cha đẻ của pháp môn thực tập chánh niệm ở phương Tây, là nhà hoạt động môi trường tích cực từ hơn hai thập kỷ qua. Người đã thành lập nhiều trung tâm thiền tập ở khắp nơi và xây dựng nên một tăng thân xuất sĩ có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới. Các nhà lãnh đạo lớn của Mỹ rất kính trọng vị thiền sư này.

Năm ngoái, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim đã mời Thầy tới trụ sở của tổ chức này tại Washington để hướng dẫn một ngày chánh niệm cho các nhân viên của ông. Cuốn sách yêu thích nhất của ông Kim là cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức mà Thầy là tác giả. Ông Kim đã ca ngợi sự thực tập của Thầy – vị thiền sư “có sự cảm thông và lòng từ bi sâu sắc đối với những người đau khổ”.

Năm 2013, Google cũng mời Thầy tới thăm Thung lũng Silicon và hướng dẫn một ngày thực tập chánh niệm cho các tổng giám đốc của 15 tập đoàn mạnh nhất trên thế giới trong lĩnh vực công nghệ cao. Marc Benioff, Giám đốc Điều hành của tập đoàn Salesforce – người khổng lồ của lĩnh vực điện toán đám mây (cloud computing) – đã và đang hỗ trợ rất tích cực quá trình hồi phục sức khỏe sau tai biến của Thầy.

Thầy sống một cuộc đời thật phi thường. Năm 1967, Martin Luther King đề cử Thầy cho giải Nobel Hòa bình vì những cống hiến của Thầy giúp chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Trong lí do đề cử của mình, Mục sư Luther King đã tuyên bố: “Tôi không thấy ai xứng đáng nhận giải thưởng Nobel Hòa bình hơn vị thầy tu Việt Nam hiền lành này. Những tư tưởng vì hòa bình của ông, nếu được áp dụng, sẽ tạo nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản”.

Nguồn: http://www.huffingtonpost.com/entry/ thich-nhat-hanh-paris-climate-agreement_ us_56a24b7ae4b076aadcc64321

*

Ta hạnh phúc liền giây phút này

Claudio Gallo

Ngày 10.9.2014, nhật báo La Stampa – một trong những tờ báo lớn nhất ở Ý – có đăng một bài phỏng vấn Thầy. Claudio Gallo – Biên tập viên phụ trách chuyên mục Văn hóa (Culture Editor) của tờ báo đã tham dự trọn vẹn khóa tu dành cho người Ý được tổ chức tại Làng Mai trong tuần lễ cuối của tháng 8, và anh đã tự mình trải nghiệm được cái gọi là “hiện pháp lạc trú”. Sau đây là bài tường thuật của anh với tựa đề “Happiness is Now” đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt.

Có một cái gì thật dịu ngọt mà cũng thật hùng tráng tỏa ra từ những ruộng nho, những cánh rừng, những đồng cỏ xanh mướt trải dài nối đuôi nhau lướt qua ô cửa sổ của chuyến tàu đi về miền quê nước Pháp, từ Bordeaux đến Bergerac. Đó cũng là sự nhẹ nhàng đầy hùng lực mà ta có thể tìm thấy trong những lời giảng của Thầy Nhất Hạnh. Là một tu sĩ Phật giáo người Việt, Thầy sống với tăng thân của mình tại Làng Mai, một trung tâm tu học tọa lạc trên những ngọn đồi bao quanh ngôi làng Thénac nhỏ bé. Mọi người đều gọi Thầy một cách giản dị là “Thầy” (nghĩa là “một vị thầy tâm linh”).

Thầy đã 88 tuổi, gương mặt trông có vẻ nghiêm khắc nhưng có thể bất ngờ nở một nụ cười trẻ thơ khiến cho ai nhìn thấy cũng phải mỉm cười theo. Năm 1973, Thầy bị chính quyền miền Nam Việt Nam buộc phải lưu vong và Thầy đã chọn Tây phương nơi mà Thầy được Mục sư Martin Luther King và Linh mục Thomas Merton vô cùng trân quý. Ở Mỹ, Thầy cũng được biết đến thông qua các chuyến đi vận động hòa bình cho Việt Nam.

Là tác giả của trên 100 cuốn sách, Thầy đã đem đến cho người Tây phương một phương pháp thực tập dựa trên giáo lý căn bản của đạo Bụt, đó là phương pháp thực tập chánh niệm – sự thực tập tỉnh thức và có mặt một trăm phần trăm cho những gì đang xảy ra trong ta và chung quanh ta. Trong Phật giáo, cùng với đức Đạt Lai Lạt Ma, Thầy có lẽ là vị thầy nổi tiếng nhất trên thế giới với rất nhiều trung tâm tu học ở khắp các châu lục và có số người theo tu học lên đến hàng trăm nghìn người. Điều đáng chú ý là Thầy không đòi hỏi các đệ tử Tây phương phải từ bỏ đạo gốc của mình. Rất nhiều người trong số 700 người Ý tham dự khóa tu vào cuối tháng 8 vừa qua tại Làng Mai là những người theo truyền thống Cơ Đốc giáo.

Thưa Thầy, đạo Bụt có thể cống hiến được gì cho thế hệ kỹ thuật số hiện nay – thế hệ những người trẻ suốt ngày vùi đầu vào internet?

Hiện nay, những người trẻ đã bỏ quá nhiều thì giờ vào internet. Đây là căn bệnh của thời đại chúng ta. Khi ngồi hai tiếng đồng hồ trước máy vi tính, chúng ta hoàn toàn quên là mình có một hình hài. Internet là một phương tiện có khả năng mang lại rất nhiều lợi ích cho con người, nhưng đồng thời nó cũng tạo ra vô số vấn đề.

Sử dụng internet là một hình thức tiêu thụ. Ta tiêu thụ thông qua những tư tưởng, hình ảnh, âm thanh mà ta tiếp xúc được trên internet và sự tiêu thụ đó có thể lành mạnh hoặc có thể gây tàn hại cho thân tâm ta. Thực tế là chỉ riêng lượng thông tin nhận được qua internet thôi cũng đủ khiến cho nhiều người rơi vào tình trạng quá tải thông tin rồi.

Cũng có nhiều người trong chúng ta trở nên nghiện internet. Ta đánh mất mình trong biển thông tin đó và ta không có mặt cho chính mình, không có mặt cho những người thương của mình và không có mặt cho thiên nhiên. Ta có ảo tưởng là thông qua mạng internet chúng ta có thể nối kết được với nhau, nhưng kỳ thực ta lại càng cảm thấy cô đơn.

Chánh niệm giúp cho ta biết điều độ khi lên mạng, đồng thời cũng giúp cho ta thấy được cái mà ta đang tiếp xúc có thật sự ích lợi hay chỉ làm cho ta càng cô đơn và tuyệt vọng thêm. Ta tiêu thụ internet để khỏa lấp sự cô đơn, nhưng thật ra nó chỉ làm cho tình trạng tệ hại hơn mà thôi. Thường thì khi tiêu thụ những tin tức, quảng cáo, những phim ảnh khêu gợi và kích thích dục tình, ta đồng thời cũng đang đưa vào trong thân tâm ta những độc tố như giận hờn, bạo động, sợ hãi và thèm khát.

Theo đạo Bụt thì cái ta riêng biệt là một ảo tưởng, vậy trong cái thấy đó có còn sự phân biệt giữa thiện và ác hay không?

Trong thế kỷ XX, chủ nghĩa cá nhân được đưa lên vị trí hàng đầu và điều này đã tạo ra rất nhiều khổ đau. Chúng ta tạo ra sự phân biệt, chia cách giữa ta và người, giữa cha và con, giữa con người và thiên nhiên, giữa quốc gia này và quốc gia khác. Chúng ta không ý thức được mối tương quan mật thiết giữa mình với mọi người và mọi loài xung quanh. Đạo Bụt gọi mối liên hệ đó là “tương tức” (“inter-being”).

Cái hiểu, cái thấy sâu sắc về tương tức chính là nền tảng của con đường đạo đức mà đạo Bụt đóng góp cho nhân loại. Những gì xảy ra cho một cá nhân cũng ảnh hưởng tới toàn thể xã hội và cả thế giới. Với cái thấy này, sự thực tập chánh niệm giúp cho ta phân biệt được cái gì thiện, cái gì ác, cái gì đúng, cái gì sai. Có chánh niệm thì ta sẽ nhận ra được những tàn hại đối với các loài gia súc, gia cầm cũng như đối với hành tinh này do ngành công nghiệp sản xuất thịt gây ra. Ý thức được điều đó thì ăn chay là một hành động thương yêu đối với chính mình, đối với sinh môi và đối với trái đất.

Nhiều người trong chúng ta đang chạy theo danh vọng, quyền hành, tiền tài và sắc dục. Chúng ta nghĩ rằng những thứ đó đem lại cho ta hạnh phúc, nhưng thực ra nó có thể dẫn chúng ta đi tới chỗ tàn hoại thân tâm mình. Những người trẻ thường lẫn lộn giữa tình dục và tình yêu chân thật. Trên thực tế thì tình dục có thể hủy hoại tình yêu và đưa tới sự thèm khát, cô đơn và tuyệt vọng nhiều hơn. Sự thực tập chánh niệm giúp chúng ta mỗi ngày hiểu sâu hơn về người mà ta thương. Cái hiểu chính là nền tảng của tình thương đích thực. Chúng ta không thể nào có được một tình thương đích thực nếu ta không hiểu được người mình thương.

Có thể vượt thoát sự sợ hãi về cái chết hay không?

Gốc rễ của sự sợ hãi nằm ở cái thấy sai lạc của ta về bản chất cái chết. Ta sợ hãi cái chết tại vì ta nghĩ rằng khi chết rồi thì ta sẽ trở thành không. Khoa học hiện đại đã chứng minh cho ta thấy rằng: Không có gì sinh cũng không có gì diệt, tất cả đều chuyển biến không ngừng.

Quan sát một đám mây, ta có thể đặt câu hỏi: Đám mây có thể chết không? Đám mây có thể từ mà trở thành không? Nhìn cho sâu ta thấy đám mây có thể trở thành mưa, thành tuyết, thành mưa đá, rồi thành hơi nước trở lại. Bản chất của chúng ta cũng giống như bản chất của đám mây. Cũng như mưa, tuyết là sự tiếp nối của đám mây thì những hành động, lời nói và tư tưởng mà ta chế tác ra chính là sự tiếp nối của ta.

Chúng ta sống trong một thế giới đầy xung đột và bất công xã hội. Làm sao ta có thể cải thiện được tình trạng đó với tư cách một Phật tử?

Sự xung đột và bất công trong xã hội phát sinh ra từ tâm chúng ta. Đạo Bụt cống hiến cho chúng ta những phương pháp thực tập cụ thể để nuôi dưỡng tình thương và hạnh phúc đích thực. Khi tình thương và hạnh phúc có mặt thì ta có thể tạo ra sự bình an trong tự thân và góp phần vào hòa bình trên thế giới. Khi tâm ta bị cuốn đi bởi tham vọng và sợ hãi thì bất công xã hội và bạo động sẽ phát sinh. Sự thực tập chánh niệm giúp cho ta nuôi lớn hạnh phúc và bình an trong giây phút hiện tại. Và đây chính là sự đóng góp tuyệt vời cho nền hòa bình thế giới và cũng đồng thời là nền tảng để chúng ta có thể làm tốt những công tác phụng sự cho xã hội.

Thầy dạy cho mọi người về sự thực tập chánh niệm và chánh định, thế nhưng một tình trạng đáng lo ngại của thế giới hiện nay là tình trạng suy giảm khả năng tập trung của con người…

Nhiều người trong chúng ta không biết làm thế nào để thật sự có mặt cho người mình thương và cho những mầu nhiệm đang có sẵn trong giây phút hiện tại. Tâm của ta rất dễ bị phân tán. Trong khi đó, thị trường bên ngoài không ngừng cung cấp cho ta những phương tiện để giữ cho tâm ta luôn ở trong tình trạng này. Thân của ta ở đây mà tâm của ta thì đang chạy theo những dự án ở tương lai, những sầu đau của quá khứ hay những lo lắng, buồn phiền trong hiện tại.

Cách đây không lâu, chúng tôi được mời hướng dẫn thực tập chánh niệm cho hơn 700 nhân viên Google tại trụ sở chính của tập đoàn này ở California. Điều đầu tiên mà chúng tôi chia sẻ là sự thực tập dừng lại, vì trong xã hội hiện nay chúng ta luôn có thói quen rong ruổi, tìm cầu. Khi ta có khả năng dừng lại, ta có thể nhận diện được những gì đang xảy ra trong thân và trong tâm mình. Đây là cách thức để ta có thể bắt đầu chăm sóc cho chính mình. Chúng ta đã có quá đủ những điều kiện để hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Chỉ cần dừng lại và nhận diện những điều kiện hạnh phúc đang có mặt là ta có thể tiếp xúc được ngay với hạnh phúc đích thực.

Nguồn: http://plumvillage.org/news/an-italian- journalist-reports-from-plum-village/

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!