Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Từ Sách đến Phim: 1 lít nước mắt (2005)

Gửi đến những bạn đã hoặc đang có suy nghĩ bi quan giống tôi. Hãy yêu đời nhé.

Đăng từ

on

Tôi đã khóc thật nhiều khi xem bộ phim 1 Litre of Tears. Khóc bắt đầu từ tập 8 cho đến cuối tập 11. Có lẽ, tập khiến tôi khóc nhiều nhất là tập 11. Tôi khóc hầu như suốt 45 phút. Lần đầu tiên, tôi coi phim mà phải bấm nút pause nhiều đến như vậy. Không phải bấm pause để dò từ điển mà là bấm pause để tôi có thể… khóc. Tôi khóc lúc nào mà chẳng hay…đến khi biết được thì nước mắt đã tràn ra quá nhiều làm nhòe cái mắt kiếng. Tôi phải dừng lại cũng là để lau mắt kiếng, lau những giọt nước mắt đang chảy dài trên khoé mắt.

Khóc… khóc nhiều đến nỗi tôi có cảm giác chưa bao giờ tôi được khóc thoải mái như thế. Đã một năm rồi tôi không khóc. Tôi còn nhớ lần cuối cùng tôi khóc đó là khi tôi ở ngay trước ghế đá của văn phòng đoàn trường mình. Trước đó, tôi đã đứng ở ngoài sân một vài phút để khóc trong mưa, để nước mưa có thể lau đi những giọt nước mắt của tôi. Ừ… thì đúng là nó đã lau thật. Nhưng rồi chỉ một vài phút sau khi ngồi vào băng ghế đá… tôi lại khóc tiếp tục.

Lần đó… tôi cứ ngỡ là mình sẽ không bao giờ khóc được nữa. Cho dù từ đó tới nay, đã có rất nhiều chuyện buồn xảy đến với tôi, tôi cũng đã đọc… đã coi thêm rất nhiều câu chuyện buồn nhưng…vẫn không khóc. Thật là một lời cảm ơn kì lạ nhưng… tôi vẫn muốn cảm ơn 1 Litre of Tears vì đã cho tôi khóc, cho tôi những giọt nước mắt để tôi biết hóa ra những nỗi đau mà mình đã gánh chịu còn nhẹ hơn mây trời…

Chọn một con đường dài cũng không phải là một việc quá ngốc

Nếu như tôi có thể làm một bông hoa, tôi sẽ chọn làm một nụ hoa trước tiên. Tôi sẽ quí trọng tất cả mọi giây phút bắt đầu của tuổi trẻ…

Khi xem 7 tập đầu, tôi cứ ngỡ mình là người cứng rắn vì tôi đã không khóc một chút gì cả trong khi tôi nghe dân tình trên mạng nói là họ khóc suốt bộ phim. Nhưng rồi… không ngờ… cuối cùng nó cũng đã đánh gục tôi ở tập 8.

Tuy những tập trước đó tôi không khóc nhưng mà khi xem vẫn cảm thấy rất buồn. Ngay từ tập 1 đã thế.

Aya cùng với Haruto được phân công làm người đại diện cho lớp (có thể hiểu nôm na là lớp trưởng, lớp phó). Có một buổi lễ của trường mà mỗi lớp phải chọn ra một bài nhạc để trình diễn. Đương nhiên là Aya và Haruto phải có trách nhiện về việc này nhưng khi Aya hỏi ý kiến,  ai trong lớp cũng từ chối việc tham gia.

Khi xem đến đoạn đó, tôi như thấy được hình ảnh của mình trong đó. Mà không phải chỉ mình tôi, tôi nghĩ hầu hết (không phải là toàn bộ) các học sinh đều không mấy nhiệt tình khi tham gia vào các phong trào chung của lớp. Đặc biệt là khi học cấp III, do bận bịu việc học, ai cũng sợ rằng tham gia vào các hoạt động như thế thì sẽ mất đi quỹ thời gian học tập quí báu của mình. Hậu quả là mỗi khi lớp có phong trào gì thì cũng chỉ có một thành phần nhất định trong lớp năng nổ tham gia. Đó là một thực tế mà lớp nào cũng có, trường nào cũng có. Đặc biệt với Nhật lại càng đúng khi có thành ngữ “ 4 đậu, 5 rớt” dành cho các học sinh cấp III. Nghĩa là một học sinh nếu một ngày chỉ ngủ 4 tiếng thì sẽ đậu đại học còn nếu như ngủ từ 5 tiếng trở lên thì sẽ rớt đại học.

Đáng lẽ ra, Aya chỉ cần ôm công việc một mình nếu như cả lớp không chịu làm. Nhưng…cô vẫn đứng trước lớp cố thuyết phục mọi người, không phải vì cô sợ làm một mình, cô chỉ là muốn cả lớp cùng làm. Tôi đã rất xúc động khi nghe những lời nói đó:

“Ba của tớ hiện đang mở cửa tiệm là đậu phụ…  ừm… nhưng trước đó ba đã không muốn làm công việc này chút nào dù đây là nghề mà bà nội tớ đã làm và luôn bắt ba tớ phải làm như thế. Ba đã chọn làm một công việc trong văn phòng. Nhưng dường như việc cứ ngồi một chỗ không thích hợp với ba. Rồi ba lại làm cho một tiệm đồng hồ, sau đó ông lại bỏ và đi làm cho một tiệm sửa quần áo… ba tớ đã làm rất nhiều công việc nhưng rồi cuối cùng ông lại quay trở về làm đậu phụ và thành công làm cho tới bây giờ. Có thể nói là ba tớ đã đi một con đường vòng khá dài nhưng bây giờ những công việc ngày xưa mà ông làm chẳng hề lãng phí chút nào cả. Ông làm cho tớ một cái đồng hồ… những bộ quần áo mà mọi người bảo rằng lỗi thời…nhưng mà… tớ… tớ chỉ nghĩ rằng đi một con đường dài như thế cũng không hẳn là một điều ngu ngốc. Chúng ta vẫn còn nhiều thời gian mà. Tại sao chúng ta không thử làm những việc mà chúng ta nghĩ rằng chúng ta sẽ không bao giờ làm. Tớ chỉ muốn cả lớp có thể tham gia cùng nhau thôi chứ không muốn một cá nhân riêng lẻ nào…”

Tôi đã rất xúc động khi nghe những lời nói đó. Ai cũng muốn chọn cho mình một con đường ngắn nhất, dễ đi nhất. Ai cũng sợ đường dài, đường vòng dù họ cũng biết là hầu như không thể đi một con đường đời bằng phẳng nhưng vẫn cố gắng trốn tránh việc đó… Tại sao chúng ta không nghĩ rằng trong khi chúng ta tránh đi những con đường dài thì bản thân chúng ta cũng đang mất thời gian vì phải trốn tránh? Tôi nghe đắng nơi cổ họng vì biết mình luôn trốn tránh. Tôi cũng đã trốn tránh ước mơ của chính bản thân mình vì tôi sợ con đường của tôi đi quá dài…

Nhưng mà… khi Aya nói câu: chúng ta vẫn còn rất nhiều thời gian thì lúc đó phim lại chiếu tới đoạn mẹ của Aya nhe bác sĩ nói rằng cô bị mắc bệnh  Spinocerebellar Degenaration. Căn bệnh quái ác này không làm người ta chết ngay mà dần dần giết đi các khả năng của người bệnh: đầu tiên sẽ là đi không vững, rồi sau đó sẽ gặp khó kăn trong việc nói nhìn… rồi phải ngồi xe lăn… rồi không đi được nữa… nói cũng không được… mất dần… mất dần… cuối cùng là…

… chết!…

Đối với mọi người thì thời gian còn rất dài nhưng với Aya, chỉ có một tương lai duy nhất đang đợi cô ở phía trước vì căn bệnh này là không thể chữa khỏi được.

Nếu tôi có thể là một bông hoa, tôi sẽ chọn là một nụ hoa trước tiên. Tôi sẽ quí trọng tất cả mọi giây phút bắt đầu của tuổi trẻ…

Chỉ cần yêu thương và được yêu thương đã là một việc đáng tự hào

Trong 1 Litre of Tears, không chỉ có tình yêu mà tất cả mọi tình cảm giữa người và người đều được thể hiện một cách xúc động. Tôi thật sự xúc động với tình cảm gia đình của Aya.

Khi Aya bắt đầu không thể đi lại một cách bình thường, những bước đi của cô luôn chậm chạp và trông giống như một con chim cánh cụt. Mọi người đều nhìn cô bằng ánh mắt thương hại. Bạn nghĩ sao khi có một người chị như thế? Tự hào hay xấu hổ?

Hiroki là em trai của Aya. Cậu rất thích chơi đá banh ở vị trí tiền đạo nhưng có điều… cậu vẫn chưa được vào đội tuyển. Khi thấy em trai mình tập đá ngoài bãi sân trống không khung thành, Aya đã chỉ phương pháp để tập luyện hiệu quả hơn: đó là lấy phấn vẽ một khung thành giả lên bức tường, cậu chỉ cần luyện tập bằng việc đá banh vào khung thành ấy. Aya bảo:

“Em không thể đá mà không có mục tiêu cụ thể nào được. Bằng việc làm như thế này, em sẽ tập luyện hiệu quả hơn.”

Kết quả là trình độ đá bóng của cậu tiến bộ hẳn và cậu được chọn vào đội tuyển. Lúc đó, đám bạn của câụ đã rất ngạc nhiên vì đó là lần đầu tiên Hiroki được chọn. Khi được bạn bè hỏi tại sao lại tiến bộ nhanh như thế, cậu đã tự hào mà trả lời rằng:

“Là chị Aya của tớ đã chỉ tớ phương pháp tập luyện. Chị ấy rất xinh, thông minh, học giỏi và cả chơi thể thao cũng giỏi nữa.”
“Ngưỡng mộ quá. Cậu có thể cho chúng ta gặp chị ấy một lần được không?”

Một khoảng lặng vì đó là hình ảnh của chị cậu ngày xưa. Bây giờ chị cậu đã không còn được như thế nữa. Điều đó làm cậu cảm thấy xấu hổ, không muốn cho bạn bè của mình gặp chị.

Nhưng một đám bạn của cậu cũng đã tình cờ gặp được Aya. Và thế là chúng dè bỉu chị cậu trước mặt cậu…cậu cố chịu đựng vì cho rằng không còn sự lựa chọn nào khác.

“Cậu là đồ nói láo. Chị của cậu không được như câu đã nói. Đi đứng còn không vững, cứ như chim cánh cụt ấy thì làm sao mà chơi thể thao giỏi cho được.”

Nhưng Ako-chị của cậu và là em của Aya thì lại không thể chịu đựng như thế:

“Tại sao em lại im lặng? Tại sao lại để cho chúng xỉ vả chị Aya trước mặt em như thế. Chẳng lẽ em không hề có một chút tức giận gì sao?”
“Bởi vì em không có sự lựa chọn nào khác.”

“Không có à… Nếu là chị thì chắc chị sẽ hét toáng lên mất… Em… thật ngốc đấy. Chị Aya của chúng ta rất đáng ngưỡng mộ. Chị tự hỏi nếu là chị mắc căn bệnh giống như chị Aya, chị thậm chí sẽ không dám đi ra ngoài đường… sẽ không thể mỉm cười khi có một ai nói những lời trêu chọc mình…và em biết gì nữa không, chị Aya đã khâu tên của em lên chiếc áo em sẽ bận để thi đấu vào ngày chủ nhật này đấy. Chị ấy rất khó khăn để làm việc đó nhưng vẫn cố gắng làm vì em…vì chị ấy nói làm như thế coi như để tập trị liệu cho ngón tay. Vì làm chậm nên chị ấy đã phải hi sinh cả khoảng thời gian ngủ của mình, thức trắng đêm để khâu cho em… vậy mà… tại sao em lại nỡ đối xử với chị ấy như thế?”

Và Aya đã tình cờ nghe hết mọi chuyện. Cô vốn dĩ rất muốn xem em mình thi đấu nhưng khi biết em mình xấu hổ về mình, Aya không trách em mà chỉ trách bản thân mình đã làm gánh nặng cho em, trách mình vì sao chỉ nghĩ đến cảm xúc của mình là rất muốn đi xem mà không nghĩ đến cảm xúc của em.

“Chủ Nhật này chị tình cờ có việc bận nên sẽ không thể đi coi em thi đấu được đâu. Chị phải đi xem phim với Mari.”

Nhưng buổi sáng chủ nhật ấy, Hiroki đã viết một mẩu giấy để lại trên bàn cho Aya:

Em rất muốn chị xem em chơi bóng. Chị Aya hãy đi xem em chơi bóng. Chị nhất định phải đi đấy. Nhất định

“Con…con có thể đi xem em thi đấu được hả mẹ..?”
“Được mà. Nó đã cảm thấy hối hận rồi và  không phải nó đã để lại mẩu giấy viết nó muốn như thế rồi còn gì…?”

Lúc này, khi Aya đến xem thì cậu đã không còn xấu hổ nữa mà tự hào giới thiệu với tất cả mọi người trong đội bóng:

“Đây là chị Aya của tớ-người đã chỉ tớ cách tập bóng.”

Tôi chợt hiểu ra sự khác nhau trước và sau khi Hiroki nghe những lời nói của Ako có lẽ là sự nhận thức của cậu về tình yêu thương mà Aya dành cho mình và.…có lẽ chỉ cần yêu thương  và được yêu thương cũng là một việc đáng tự hào rồi…

Tôi biết rằng cuộc sống của tôi bây giờ đã khác trước rất nhiều nhưng tôi vẫn muốn tin trong hàng ngàn con mắt nhìn tôi soi mói…vẫn có những người quan tâm và luôn dõi theo tôi.

Hạnh phúc là khi giúp đỡ được những người xung quanh

“Se..nsei…sắ..p.. đ..i kh..ỏi bệ..nh v..iện nà..y?”
“Đâu có.”
“Vậ..y l..à se..nsei vẫ..n.. ở lạ..i?…T..hậ..t… t…ốt q..uá…”
“Ừ. Tôi sẽ ở lại đây mãi.”
“Vậ…y s…ensei… có t…hể …lấ…y …em.. r…a …cho… v…iệc.. ng..hiên …cứ…u củ…a …sen..sei… đư…ợc… khôn…g?”

“Ý em là tôi có thể sử dụng cơ thể của em để nghiên cứu phương pháp trị liệu à?”
“Ừm….V…ì e…m mu..ốn.. ma..u …ch…óng… giúp… n…hững… ng…ười… c…ũng …mắ…c …că…n …bệ..nh …giố…ng… nh…ư …mì…nh… c…ó ..th…ể ch…ữa.. k…hỏi… ..E..m …cũ…ng …m..uốn… g..iúp… se…nsei… n..ữa …vì.. se..ns..ei đã.. t…ận.. t..âm …cứ…u c..hữ..a …ch..o.. e..m ..nh…ưn..g ch..ưa ba…o gi..ờ e…m ..cả…i th…iện đư…ợc s…ức …kh…ỏe.. c..ủa.. m..ìn..h ..cả…”

Đó là đoạn gần cuối phim khiến tôi khóc nhiều nhất. Aya lúc đó đã không còn có thể nói chuyện một cách rõ ràng nữa. Cô cứ bập bẹ từng tiếng một cách thật khó khăn nhưng vẫn cố gắng nói ý nguyện của mình. Vì cô luôn cảm thấy mình có lỗi với mọi người, là gánh nặng của mọi người. Trong khi mọi người luôn giúp đõ cô thì cô chẳng thể làm được vì để giúp đỡ lại họ cả.

“Mẹ à… con sống là để làm gì hả mẹ?”
“Con không thấy sao… đây là những cuốn nhật kí mà con đã viết. Con vẫn còn có thể làm công việc này mà. Hãy cố gắng viết đi con.”

Và thế là, dù ngay cả đôi tay bây giờ cũng không còn dễ dàng cho việc cầm bút, ngày ngày cô vẫn cặm cụi bên giường bệnh viết nhật kí. Có hôm viết đến quên nỗi ngồi ngủ gục. Tôi thương lắm những con chữ to đùng, nguệch ngoạc mà Aya đã viết. Có thể nó xấu xí nhưng người chủ nhân viết nó có một tâm hồn thật đẹp…

Cuốn nhật kí 1 littoru no namida đã được liệt vào hàng sách best-seller của Nhật Bản. Dù đã được xuất bản hơn chục năm nay nhưng đến bây giờ vẫn còn ăn khách. Phim dựa trên chuyện có thật của một cô gái tên là Kito Aya. Dù bị căn bệnh hành hạ từ năm 15 tuổi nhưng cô vẫn cố gắng sống cho đến năm 25 tuổi.

Xin kết lại bài viết của tôi bằng lời bài hát cuối phim có tên là Only Human do K trình bày:

Bên kia nỗi buồn là nụ cười

Phía bên kia nỗi buồn có những điều được gọi tên bằng nụ cười…
Nhưng trước khi chúng ta có thể đến được đó, điều gì sẽ chờ đợi ta ở phía trước?

Để theo đuổi ước mơ của mình, chúng ta  không có quyền chạy trốn
Chúng ta đã bước qua, quá xa rồi những ngày hè ấy…

Nếu đợi đến ngày mai mới nhận ra, chúng ta sẽ thở dài
Bởi vì như chiếc xuống trên dòng suối
Chúng ta phải đi thẳng về phía trước

Ở một nơi bị bao trùm bởi đau buồn
Vẫn còn điều gì đó gọi là kì tích, là chờ đợi…
Phải! Chúng ta vẫn đang tìm kiếm
Bông hoa hướng dương nở vào cuối xuân
Như một người chiến sĩ chờ đợi ánh nắng mặt trời
Trước khi anh ta có thể ôm những tia nắng đó, nước mắt anh long lanh rơi…

Dù chúng ta đã trưởng thành từ cô đơn
Chỉ cần dựa vào ánh sáng của mặt trăng
Chúng ta phải bay xa với một đôi cánh không có lông…
Chỉ cần đi về phía trước, dù chỉ đi xa hơn được một chút

Khi những đám mây mang cơn mưa tan đi
Những con đường loang loáng nước
Dù có lẽ nó chỉ đem lại bóng tối
Một nguồn sáng đang lớn dần…lớn dần…
Sẽ soi sáng đường chúng ta đi.

Hết.

Kodaki

viết bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Từ Sách đến Phim: You Are the Apple of My Eye (2011)

Đăng từ

on

Người đăng

Giải quyết xong You Are the Apple of My Eye rồi…
Không nghĩ là tôi có thể khóc…

Vì đơn giản là phim 1 tiếng 49 phút thì xem đến 1 tiếng 40 phút tôi vẫn còn thấy rất bình thường, chưa lần nào quá buồn cả. Vậy mà đoạn gần kết thúc, tình huống đó bất ngờ với tôi quá… Khi nhìn anh ấy hôn chú rể của cô dâu với sự say mê mãnh liệt như thế, và tưởng tượng rằng đó là người con gái anh yêu… chính lúc đó tôi hơi ngỡ ngàng chứ cũng chưa khóc. Rồi phim kết thúc. Màn hình đen, dòng chữ credit đoàn làm phim hiện ra cũng chưa khóc. Tưởng thế là xong. Vậy mà không hiểu sao, cuối cùng cũng khóc cho được. Lại còn khóc rất nhiều. Giống như đó là nỗi buồn của tôi vậy. Lạ quá. Lần đầu tiên tôi mới khóc kiểu như thế. Trước đây chưa bao giờ như vậy. Nghĩa là, nếu phim buồn, thì tôi thường khóc ngay cảnh buồn đó, ngay khi bộ phim còn đang diễn ra chứ chẳng đợi nó hết rồi mới ngồi ôm chân một mình khóc sướt mướt như vậy. Lại cảm thấy ghét bản thân tôi vì dạo này dễ khóc quá. Nước mắt đâu mà nhiều thế. Chắc khóc luôn cho những năm tháng trước đây đã không khóc. Phải rồi, hồi cấp một, cấp hai vào trường bị bắt nạt, tôi muốn khóc lắm chứ. Nhưng tôi không thể khóc. Vì tôi chỉ có một mình. Tôi biết mình mà khóc là lại càng bị bắt nạt nhiều hơn. Do đó, tôi phải làm mặt lạnh lùng như không có gì, trò bắt nạt đó không ảnh hưởng đến tôi để mà sống, mà tiếp tục học. Nghĩ lại, không hiểu sao tôi có thể học suốt 9 năm trời trong môi trường như vậy nữa…

Trong phim, có một cảnh có lẽ với nhiều người nó là bình thường, nhưng nó làm tôi chạnh lòng. Đó là cảnh ngày lễ tốt nghiệp cuối năm, mọi người ghi đầy trên áo nhau những dòng chữ kỉ niệm. Hồi xưa, trường cấp một, hai và ba của tôi cũng như vậy. Nhưng năm nào thì những chiếc áo của tôi cũng sạch sẽ, trống trơn. Cấp một, ba cũng không có gì… Nhưng đến giờ tôi vẫn còn nhớ những ngày cuối cùng của năm cấp hai là tồi tệ nhất. Cảm giác bơ vơ, lạc lõng. Không biết phải đứng ở đâu, làm gì, đi đâu. Mọi người đem bút lông, hăm hở viết vào áo nhau. Còn tôi, chẳng có lấy một người bạn. Thế là trong giờ ra chơi thì tôi… dựa cột. Đi hết từ cột bê tông này đến cột bê tông khác trong hành lang. Chỉ như một cái mốc đánh dấu nơi đi qua. Rồi trong giờ học thì đọc truyện tranh. Còn nhớ bộ truyện tôi đọc lúc đó là Kindaichi. Cô giáo chủ nhiệm của những năm cấp hai lúc nào cũng ghi vào sổ liên lạc, hoặc nói trực tiếp với tôi rằng sao không mở lòng với bạn bè, sống như thế làm sao mà sống. Tôi chỉ im lặng. Bởi vì các cô không biết tôi bị bắt nạt. Tôi cũng không hiểu tại sao tôi lại bị bắt nạt. Ý tôi là, tôi im lặng, không nói chuyện với mọi người. Vậy thì có gì đâu? Tại sao mọi người không thể chỉ đơn giản là để cho cái đứa im lặng đó tự sống một mình lặng lẽ trong thế giới của nó mà cứ thấy nó im lặng quá rồi đi bắt nạt? Thà lờ đi sự tồn tại của tôi trong lớp còn hơn là cứ bắt nạt tôi như thế. Tôi mệt mỏi lắm… Mỗi lần mà bị cô giáo nói chuyện với tôi cuối giờ, tôi thật sự rất muốn hỏi ngược lại cô là phải làm sao đây, em phải làm sao. Đâu phải lúc nào chuyện cũng đơn giản rằng em nghĩ em muốn mở lòng là mọi người sẽ đón nhận, em nói chuyện là sẽ có người nghe? Tại sao cô không nghĩ rằng em đã từng thử? Em cũng đã từng thử rồi cô ạ… Và đã thất bại. Nên em mệt mỏi và không muốn bắt chuyện với ai nữa. Em chỉ muốn ở yên trong thế giới của em. Và viết, và viết mà thôi. Vì em khó nói nên những năm tháng đó, em mới siêng viết như thế.

Những năm tháng đó của tôi, đã chẳng có chuyện giống như những năm tháng trong phim. Chỉ là một chuỗi ngày lo sợ mai vào trường sẽ như thế nào, có bị bắt nạt nữa không, có bị bạn bè giễu cợt gì nữa không. Và một ngày trôi qua với tôi là thêm một niềm vui. Vì rằng ồ tôi đã qua được ngày hôm đó rồi sao. Và chỉ cần cố gắng qua được từng ngày, rồi sẽ đến từng tháng. Và cuối cùng là hè đến, chỉ việc ở nhà xem phim, đọc sách, viết truyện. Chẳng có một cuộc gặp gỡ với bất kì ai.

Nhưng tôi vẫn cảm nhận được, những năm tháng đó trong phim rất thật. Nó thật đơn giản bởi vì nó thật. Tôi biết đó không phải là những năm tháng của tôi nhưng lại là những năm tháng của nhiều người khác khi còn là học sinh.

Ngoài ra, tôi còn thích một chi tiết nữa. Đó là cách Kha Cảnh Đằng nói rằng: “Tớ thích hình ảnh của tớ những năm tháng ấy khi thích cậu.” Phải rồi. Thật lòng mà nói, tôi cũng có cảm giác đó. Vì vậy, tính ra là khi thích một người, thực ra người ta đang thích cả hai con người: một là chính đối tượng mình thích, hai là con người của bản thân mình khi thích người đó. Tôi nghĩ rằng đó là tình yêu lí tưởng. Yêu một người đồng thời tình yêu đó quá lớn, đến nỗi chính bản thân mình cũng thấy rằng nó đẹp, để rồi tự chính mình lại đi yêu hình ảnh của mình khi yêu người đó. Dù  sao, trong tình yêu dành cho một người nhiều như thế nào, cũng sẽ có chút phần tự yêu bản thân mà.

Tôi luôn biết một điều đơn giản rằng: chuyện gì xảy ra trong đời, dù có vẻ vô lí như thế nào, cũng đều có ý nghĩa của nó. Thế nhưng, mỗi khi gặp một chuyện buồn, một sự mất mát, không khi nào tôi có đủ bình tĩnh để nhìn ra được ý nghĩa của nó. Tất cả những gì tôi đã làm chỉ là chìm sâu hơn vào nó, đau, tiếc nuối, khóc cho những ngày đã qua.

Tôi vẫn chưa tìm ra được ý nghĩa cho sự trống rỗng hiện tại…

Nhưng, những năm tháng đó, những năm tháng đó thì tôi đã có câu trả lời rồi. Việc tôi bị bắt nạt như thế giúp tôi sau này dễ đồng cảm với nỗi đau của người khác hơn. Đó là một điều không phải dễ gì có được. Và chính vì những năm tháng đó, tôi đã luôn im lặng, không thể nói được nên tôi mới có thôi thúc viết. Chính vì khó nói lên suy nghĩ của mình nên khi viết, tôi lại càng dễ dàng diễn tả được điều tôi suy nghĩ hơn. Chính vì đã không thể sống thật là tôi, làm những gì tôi muốn ở ngoài đời thực nên tôi làm tất cả những điều đó trong thế giới do tôi tạo ra khi viết: sống thực với tôi, nói những điều tôi nghĩ và… nổi loạn. Đã luôn muốn nổi loạn nhưng ở ngoài đời chẳng có can đảm. Với tôi, viết chỉ đơn giản là thực hiện những điều tôi đã không thể làm được trong đời sống hiện thực.

Xem hơn phân nửa phim, ban đầu tôi có suy nghĩ: phim này cũng khá bình thường, hay thì có hay nhưng sao được nhiều người thích và thành công như vậy? Tôi biết, không khí phim tạo ra khá hay. Một không gian trầm mặc, điềm tĩnh, đúng chất hoài niệm và tự sự. Điều đặc biệt mà không khí phim tạo ra là cả hai mặt cảm giác về thời gian: vừa nhanh vừa chậm. Người ta vừa cảm giác được sự chậm chạp như kiểu một người bình thản kể câu chuyện đã qua của cuộc đời mình, vì nó đã qua rồi nên chẳng việc gì phải kể vội vàng. Đồng thời, đôi khi người ta cũng cảm giác thời gian trôi qua quá nhanh. Đó là do sự mất mát ở những điểm chuyển giao trong cuộc đời của các nhân vật. Có điều gì đó luôn mất mát, nhẹ nhàng, nho nhỏ thôi, khó nhận ra nhưng chắc chắn là có.

Tôi thích một đoạn nữa mà tôi nghĩ với nhiều người, có lẽ nó cũng bình thường, thậm chí với một số người có thể nó còn hơi dung tục. Đó là đoạn cả phòng kí túc xá thủ dâm khi xem phim con heo của Nhật. Mọi người đều đổ mồ hôi và lên đỉnh. Nhưng một người nói: “Cuối cùng, chúng ta làm tất cả chuyện này để làm gì…” Suy nghĩ đó cũng đã chợt đến với tôi đôi lần. Tại sao con người ta lại phải thủ dâm? Nếu không có một ai đó, tại sao không thể đơn thuần chỉ cần chờ đợi người đó đến rồi có thể từ từ làm sau cũng được, cần gì phải luôn làm trước như thế? Ngày còn bé, đương nhiên tôi không hiểu và không ủng hộ chuyện này. Lúc đó, chỉ nghĩ tại sao dục tính con người cao quá, chỉ cần yêu bằng tâm hồn cũng được mà. Nhưng sau này lớn lên dần hiểu, chỉ đơn giản thôi đó là bởi vì họ đã quá cô đơn. Vì cô đơn nên không thể chờ đợi, chờ đợi ai đó đến và chạm vào cơ thể mình. Khoảng thời gian ấy dường như quá dài… nên người ta chỉ còn cách tự chạm vào cơ thể để giải khuây. Đơn giản là vậy thôi. Tôi không hối hận vì đã xem bản uncut. Bản uncut chẳng qua chỉ đơn giản là có thêm khoảng chừng năm, sáu phút đoạn các bạn nam thủ dâm. Tôi thấy cảnh này chẳng có gì phải ghê gớm để cut cả. Cũng chẳng có gì ghê gớm để các bạn nam upload phim trên forum phải khuyên nhau rằng khi xem phim này với bạn gái, nên xem bản cut, đừng xem uncut.

Nụ hôn cuối phim, hay nhỉ…

Nếu như cô ấy muốn nghĩ đó là trò đùa trẻ con thì nó là trò đùa trẻ con. Còn nếu như nghĩ đó là tình cảm thật của anh ấy thì thêm một lần nữa, cô lại nhận ra anh ấy yêu mình nhiều như thế nào, đã muốn chạm vào mình như thế nào…

Kết thúc phim, tôi nhận ra một điều nữa: điểm đặc biệt của phim là có thể khiến người ta khóc mà không cần phải làm bất cứ một cảnh nào quá buồn hay quá cao trào. Mọi thứ cứ nhẹ nhàng diễn ra như cuộc sống. Cuộc sống thực ra cũng vốn có ít kịch tính. Nếu như cuộc sống có nhiều kịch tính thì có lẽ nó đã không khiến người ta phải đau như thế. Vì kịch tính nghĩa là cái gì cũng được đẩy lên quá mức, mà khi đẩy lên quá mức như thế người ta rất dễ dàng nhận ra mình đang buồn vì điều gì, đang mất mát đi điều gì. Còn cuộc sống ngoài đời thực thì cứ nhẹ nhàng trôi đi trên bề mặt nhưng là những nỗi buồn, những mất mát ẩn sâu bên trong, người ta khó nhận ra, không thể nhận ra được trước. Chính vì vậy, khi nó đến mới đau như thế, buồn như thế. Người ta thường dễ đau vì những điều mình đã nghĩ rằng lẽ ra nó vẫn còn tồn tại chứ không phải là mất đi như thế hơn những điều vốn ngay từ đầu đã cảm nhận được là sẽ sớm mất đi… Chính cảm giác mất mát mà không biết mình đã mất nó từ khi nào mới là thứ khiến người ta đau lòng nhất chứ không phải là chính bản thân sự mất mát. You Are the Apple of My Eye làm được điều đó. Mọi thứ thực và nhẹ nhàng nhưng lại chứa đựng sự mất mát ẩn sâu như cuộc sống.

“Khi bạn rất rất yêu một người nào đó thì bạn sẽ hạnh phúc khi thấy người đó có một người yêu thương và đang hạnh phúc…”

Phải rồi. Nếu yêu một ai đó thực sự thì tình yêu đó có thể chiến thắng được nỗi sợ hãi bị lãng quên trong mắt người mình yêu. Chỉ cần người đó được hạnh phúc là đủ rồi.

For lonely night missing the one who was always by my side…
You’re the apple of my eye.

Hết.

Kodaki

Đọc bài viết

Trà chiều

Vì sao chúng ta luôn đặt ra những cam kết đầu năm? (và vì sao ta luôn thất bại)

“Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.”

Đăng từ

on

Người đăng

WHY WE MAKE RESOLUTIONS (AND WHY THEY FAIL)

Maria Konnikova

Trong tác phẩm Bức chân dung của Dorian Gray, Dorian vừa nhận được tin cô gái từng bị chàng hắt hủi đã chết – phỏng đoán là nàng tự tử vì tình. Khoảnh khắc ấy, chàng khăng khăng mình đã cam kết sẽ kết hôn với cô, nhưng cam kết của chàng đến quá trễ. Cam kết, như Oscar Wilde hiểu rõ, tồn tại nhiều vấn đề nan giải. Sau khi nghe lời bào chữa của Dorian, Ngài Henry Wotton, người bảo trợ của Dorian, đã tuyên bố “Các cam kết tử tế là những cố gắng vô ích trong việc cản trở các định luật khoa học. Căn nguyên của chúng là sự kiêu căng thuần túy. Kết quả của chúng là số không tuyệt đối.1

Không hẳn là thế, nhưng cũng gần đúng. Vào những năm 1980, khi chuyên gia tâm lý John Norcoss nghiên cứu về cam kết đầu năm (New Year’s resolution), ông thấy rằng hơn 50% người Mỹ đều đưa ra những dạng cam kết nhất định. Sau sáu tháng, chỉ còn 40% theo sát tiến độ. Hai năm sau, con số đã giảm xuống chỉ còn 19%. Thậm chí trong những người thành công, hơn một nửa trải qua những đợt “gián đoạn” – mức trung bình là 14 lần. Dẫu vậy, chúng ta vẫn tự nhủ với bản thân rằng mình có khả năng giảm cân, tiết kiệm tiền, và lết đến phòng gym.

Hóa ra việc lựa chọn thời điểm có vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu chúng ta có thành công không. Tháng Năm năm 2012, Katherine Milkman, nhà kinh tế học hành vi tại Đại học Pennsylvina, được mời dự Hội thảo PiLab, là buổi gặp mặt hàng năm giữa những nhà nghiên cứu khoa học xã hội do Google chủ trì để thảo luận phương pháp để doanh nghiệp trở nên năng suất hơn. Milkman vô tình tham gia vào cuộc luận bàn về những “cú hích” – những can thiệp môi trường phạm vi nhỏ có thể thay đổi hành vi của con người. Milkman nhớ lại, “Trong phạm vi cuộc trò chuyện, có ai đó đã đặt ra câu hỏi ‘Khi nào cú hích đạt hiệu quả lớn nhất?’” Nghiên cứu của Milkman chưa từng tập trung vào khía cạnh đặc trưng này của cú hích, nhưng cô trả lời “Trực giác tôi mách bảo rằng nó hiệu quả hơn tại những bước ngoặt – những khoảnh khắc cảm giác như khởi đầu mới.”

Khi Milkman trở lại Philadelphia, cô hợp tác với hai đồng nghiệp Jason Riis và Hengchen Dai để xem xét cái ý tưởng thời điểm của điểm ngoặt có giá trị nào không. Trong một loạt những nghiên cứu xuất hiện trên tạp chí Management Science, Milkman, Riis và Dai thấy rằng một khởi đầu hoàn toàn mới hẳn nhiên sẽ thúc đẩy chúng ta thay đổi hành vi của mình. Khởi đầu tuần mới, tháng mới, hay năm mới tạo thành cái mà nhà tâm lý học Richard Thaler gọi là “ranh giới ký hiệu.” Những nhà nghiên cứu ngờ rằng, đi kèm với nó là ý thức lạc quan, là lời hứa hẹn về “một tôi mới” (theo cách gọi của Milkman). Để thử nghiệm lý thuyết này, đội nhóm của cô phân tích lượt tìm kiếm từ khóa “ăn kiêng” trên Google trong thời gian chín năm. Họ thấy rằng những từ khóa này đi theo chu kỳ dễ đoán: nó đạt mức đỉnh vào đầu tuần, đầu tháng hoặc đầu năm, và sau đó giảm dần. Mức gia tăng cao nhất – 82% so với mức sàn – diễn ra lập tức sau dịp năm mới.

Sau đó, Milkman và đồng nghiệp của cô nghiên cứu hành vi bằng cách theo dõi lịch tập phòng gym của hơn 12.000 sinh viên đại học trong một năm rưỡi bằng cách đo lường số lần đi tập trung bình. Lượt đi tập tăng cao nhất vào tháng Một và giảm dần vào những tháng sau đó. Nhưng đợt tăng nhỏ hơn xuất hiện vào đầu mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi học kỳ.

Cuối cùng, những nhà nghiên cứu xem xét những cam kết trên một trang web tên là stickK; trang này cho phép bạn đặt ra mục tiêu và tự quyết định hậu quả dưới hình thức giao kèo hợp đồng khi bạn không thể hoàn thành mục tiêu, từ xử phạt công ích đến phạt tiền. (Nếu bạn không giảm được 10 pound, bạn phải quyên góp 50 dollar cho Đảng chính trị mà bạn căm ghét.) Sau khi xem xét 43.000 người trong vòng hai năm rưỡi, nhóm nghiên cứu phát hiện lượng cam kết lớn nhất – 150% so với mức trung bình – được kí vào đầu năm. Xuyên suốt trong năm, mỗi tuần và mỗi tháng có một vòng lặp-mini; mỗi đầu tuần có một lượng tăng 63%. Riis nói, “Mỗi tuần mang đến một cơ hội mới, và mọi người đều tận dụng điều đó, dù họ có nhận thức được hay không.”

Cảm quan này thậm chí còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Một hiện tượng được biết đến như Hiệu ứng Tháng Một cho thấy thị trường luôn hoạt động khả quan hơn trong thời điểm đầu năm (so với trung bình năm). Những bằng chứng gần đây đưa ra giả thuyết rằng một phần nguyên nhân đơn giản đến từ chứng lạc quan: vào tháng Một, mọi người có một cái nhìn hường huệ hơn về tương lai, và họ sẽ đánh cược vào những cổ phiếu không chắc chắn (Sau đó, chúng sẽ quay trở lại trị giá thực tế.)

Lạc quan không phải lúc nào cũng có giá trị xây dựng. Nếu chúng ta quá lạc quan, chúng ta tự trù dập mình đi đến thất bại. Nhiều người liên tiếp thất bại vì họ đã đánh giá quá cao khả năng của bản thân, đánh giá quá thấp thời gian và nỗ lực cần thiết để đi đúng đường và giữ được đà, và họ có cái nhìn cường điệu về tác động của sự thay đổi lên cuộc đời họ. Riis nói, “Chúng ta đánh giá thấp những dao động trong sự tự chủ và động lực. Trong khoảnh khắc hồ hởi, ta rất dễ quên rằng chúng ta không ham hố chuyện tập thể dục lắm.” Nhà tâm lý học Janet Polivy và Peter Herman gọi đây là hội chứng hi vọng sai-lầm: những kỳ vọng không thực tế về khả năng thay đổi của ta, theo sau đó là những khát vọng cao hứng bất chợt.

Một cách tự nhiên, nếu bạn đặt ra những mục tiêu thực tiễn, khả năng bạn thành công sẽ cao hơn. Trong một nghiên cứu về vai trò của kỳ vọng trong việc luyện tập thể thao, nhà tâm lý học Fiona Jones và đồng nghiệp cô thấy rằng những người có kỳ vọng khiêm tốn có khả năng cao hơn nhiều trong việc hoàn thành một khóa luyện tập dài 12 tuần. Và khi chúng ta đã đặt mục tiêu, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành mục tiêu hơn khi tạo ra một kế hoạch vững chắc. Lý thuyết “ý định thực thi” do  nhà tâm lý Peter Gollwitzer tạo ra, nói rằng chúng ta có khả năng theo sát mục tiêu một khi ta bàn tính trước về những sự cố bất ngờ để và thiết kế cách thức phản ứng trực tiếp và tự động trong từng viễn cảnh. (Nếu ta cảm thấy quá mệt mỏi và không muốn đi tập gym, ta sẽ uống chút cà phê và ăn một quả táo trước khi đi.) Milkman nói, “Việc phá vỡ một cam kết cụ thể sẽ khó khăn hơn là phá vỡ một cam kết mơ hồ.”

Có bằng chứng truyền miệng rằng cam kết với người bạn đời cụ thể cũng có thể có tác dụng. Cựu Tổng thống Obama từng nói, “Tôi chưa từng hút một điếu thuốc trong khoảng sáu năm, vì tôi sợ vợ mình.”

Nhưng việc này không hề dễ dàng. Đồng nghiệp của Milkman, Hengchen Dai thử áp dụng những nhận định trên để giúp cô từ bỏ thói quen cắn móng tay: “Có lần nó có hiệu quả trong vòng ba tháng – là một khoảng thời gian rất dài với tôi.” Móng tay của cô trong tình trạng khả quan. “Nhưng khi tôi lỡ cắn móng một lần, tôi không thể dừng lại được.” Trong những giây phút ấy, Dai nói, cô ngẫm nghĩ về giả thuyết sự khởi đầu hoàn toàn mới. “Nếu chúng ta có thể hỗ trợ mọi người nhìn nhận rằng có rất nhiều cơ hội để làm lại từ đầu, họ có thể bỏ lại những khuyết điểm phía sau.” Còn về móng tay của cô? “Chắc là tôi sẽ thử lại vào năm mới.”

Hết.

Chú thích:

  1. Bản dịch Bức tranh Dorian Gray do Thiên Lương dịch, bản quyền của BachvietBooks. Người dịch có chỉnh sửa đôi chút.

Aki-ten dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Maria Konnikova, đăng tại The New Yorker.

Xem tất cả những bài viết của Aki-ten tại đây.


Có thể bạn sẽ thích những bài viết này



Đọc bài viết

Trà chiều

Sách và Chuyện Đọc Sách: 8 xu hướng nổi bật trong thập niên qua

Ta hãy nhìn lại 8 xu hướng và đổi thay quan trọng diễn ra trong ngành xuất bản và trong thị hiếu độc giả thập kỷ qua.

Đăng từ

on

Người đăng

Đã có lúc người ta tiên đoán rằng sách sẽ đi vào dĩ vãng. Thế kỷ mới đã đến, cuộc đời ta đang được số hóa và chẳng có lý do gì để mang theo những bản ép bột giấy đi khắp mọi nơi. Thế mà trong thập niên qua, rõ ràng sự ra đi của sách đã bị phóng đại. Khi thập niên 2020 sắp đến, có nhiều lý do để ăn mừng sự trỗi dậy của sách – nhưng đồng thời nên ghi nhận rằng đường lộ dành cho những hình thức kể chuyện khác đang rộng mở, không chỉ trên thị trường mà còn trong tâm trí độc giả. Việc chúng ta dành nhiều thời gian trên mạng đâu đó có nghĩa là chúng ta càng ngày càng bị sao nhãng khỏi việc đọc… nhưng cũng có nghĩa rằng độc giả có nhiều lối đi để tìm kiếm những câu chuyện họ cần và muốn.

Ta hãy nhìn lại 8 xu hướng và đổi thay nổi bật diễn ra trong ngành xuất bản và trong thị hiếu độc giả thập niên qua.

1. Tốt nước sơn cũng quan trọng như tốt gỗ

Khi người ta tạm ngưng sử dụng thiết bị điện tử, họ sẽ tìm kiếm những cuốn sách xinh đẹp: các nhà xuất bản đã và đang ghi nhận việc người dùng sẵn sàng chi trả mức giá cao cho thứ gì đó đặc biệt. Hãy cân nhắc đến Visual Editions ra mắt năm 2010: Tôi tình cờ phát hiện những tác phẩm của họ khi thấy cuốn sách thứ hai họ xuất bản, Tree of Codes của tác giả người Mỹ Jonathan Safran Foer. Tree of Codes là một cuốn sách phi thường: phần văn bản được chuyển thể từ Street of Crocodiles của tác giả Ba Lan Bruno Schultz, những trang sách được cắt khuôn, một số từ ngữ của Schultz được dập bỏ cẩn thận để tạo nên câu chuyện của Foer. In đẹp đẽ bằng mực đỏ và đen, cuốn sách vừa là một hiện vật nghệ thuật, vừa là văn bản văn chương: một kỳ quan để chiêm ngưỡng và đọc hiểu.

Tree of Codes

Những nhà xuất bản truyền thống hơn cũng đã nhận ra độc giả muốn trở thành một phần của điều đặc biệt: năm 2015, Faber & Faber ra mắt phiên bản đóng gáy đặc biệt của tác phẩm The Buried Giant, Kazuo Ishiguro. Một vài năm sau, tập sách lộng lẫy The Lost World của Rober Macfarlane và Jackie Morris, tôn vinh thế giới tự nhiên thông qua ngôn ngữ và hình ảnh, lẳng lặng mà trở thành một hiện tượng, với những chiến dịch kêu gọi vốn tự phát để đưa sách vào trường học trong khu vực.

2. Tìm kiếm ẩn ý trong câu chữ

Nếu chúng ta học được điều gì đó trong thập niên qua, thì đó là ngoài kia tồn tại rất nhiều độc giả nghiêm túc. Cuốn sách đầu tiên của Visual Editions là ấn bản The Life and Opinions of Tristam Shandy, Gentleman của Laurence Sterne, nguyên bản được xuất bản chín tập từ năm 1759 đến 1767. Cuốn sách trở thành cảm hứng sáng lập Giải Goldsmiths vào năm 2013. Giải thưởng này lập ra để ghi nhận những tác phẩm hư cấu Anh và Ai-len mà, như Tristam Shandy đã làm trong quá khứ, mở ra những tiềm năng mới trong hình thái tiểu thuyết. Tác phẩm chiến thắng đầu tiên là A Girl is a Half-formed Thing. Tác phả Eimear McBride đã vật lộn nhiều năm trời để tìm kiếm người chịu xuất bản: về lý thuyết, những dòng-chảy-ý-thức trong cách kể chuyện khiến nó trở nên “khó đọc”. Tuy nhiên, sau khi chiến thắng Giải Goldsmiths, cuốn sách bán được mười nghìn bản, và chiến thắng Giải Phụ Nữ cho hạng mục Hư cấu (một giải thưởng “phổ biến” hơn). Tiết lộ: Tôi nằm trong hội đồng chấm Giải Goldsmith năm 2019 – Ducks, Newburyport là tác phẩm chiến thắng tuyệt vời được chắp bút bởi Lucy Ellman – và từ đó, tôi đã chướng kiến nó trở thành nền móng trong toàn cảnh văn chương. Đây là bằng chứng chứng minh việc độc giả cũng dạn dĩ và phiêu lưu như những tác gia xuất sắc: họ chỉ cần biết những tác phẩm họ muốn tồn tại.

A Girl Is a Half-formed Thing

3. Sách nói lên ngôi

Độc giả đang tìm kiếm những hình thức mới để tiếp cận với văn bản. Chẳng ai có thể không để tâm đến sự gia tăng đột biến trong doanh thu sách nói (audiobook). Doanh số của Audible, nhà bán lẻ và xuất bản sách nói, tăng đến 38 phần trăm năm 2018: năm trước đó, công ty đã công bố doanh số tăng 47 phần trăm. Nghiên cứu đề xuất rằng, tại Anh, doanh thu sách nói sẽ vượt lên sách in trong năm 2020. Lắng nghe sách nói có thể là một trải nghiệm bổ trợ tuyệt vời kể cả khi bạn thích đọc sách. Cuốn tiểu thuyết được giải Pulitzer 2017 Lincoln in the Bardo của George Sauders vốn được kể bằng hơn một trăm giọng khác nhau – những con ma chiếm đóng nghĩa trang mà Willie, cậu con trai 11 tuổi của Abraham Lincoln được chôn cất. Và vì thế, phiên bản sách nói cũng được thuật lại bằng một trăm giọng nói: hãy lắng nghe Susan Sarandon, Bradley Whitford, Don Cheadle, Bill Hader… cả một danh sách dài. Có lẽ bạn thích tiểu thuyết trinh thám của nhà văn người Na Uy Jo Nesbø – chà, vậy thì tại sao không lắng nghe Blood on Snow tường thuật bởi Patti Smith? Tôi chắc chắn rằng một trong những lý do giải thích cho sự phổ biến gia tăng của sách nói là vì quá trình số hóa và download không chỉ khiến việc nghe thuận tiện hơn, mà còn khiến người nghe bớt hoang mang trước độ dài của cuốn sách: Tôi nhớ việc từng nhận được phiên bản sách nói Moby Dick xuất bản bởi Naxos Audiobooks (tường thuật bởi William Hootkins) khi nó ra mắt năm 2005… Tôi thích mê tiểu thuyết này, nhưng cũng đồng thời có chút hết hồn bởi 19 cái CD.

4. Thơ Instagram

Nhưng dĩ nhiên, có thể ngắn gọn và ngọt ngào mới là gu đọc của bạn: trong trường hợp này, Thơ Instagram hẳn là dành cho bạn. Có lẽ nổi tiếng nhất trong lĩnh vực này là nhà thơ người Canada-Punjab Rupi Kaur, người có gần 4 nghìn lượt follow trên nền tảng Instagram. Cuốn sách đầu tiên của cô, Sữa và Mật, tự xuất bản năm 2015, chiễm chệ trên sách bán chạy của New York Times gần hai năm. Thơ của cô rõ ràng, tử tế và chân thật: cô cho rằng Instagram đã “dân chủ hóa nghệ thuật làm thơ” – mặc dù người khác có thể nói là tái-dân chủ hóa, vì thơ vốn là loại hình văn chương cổ xưa và dễ tiếp cận nhất (từ Homer đến thơ tập đánh vần). Mạng xã hội đã khiến một tác giả như Kaur tìm được giọng văn và đối tượng độc giả phù hợp mà không cần trung gian là những nhà xuất bản truyền thống. Đây hẳn là biến chuyển toàn cục lớn nhất trong thập niên vừa qua.

Rupi Kaur

5. Những “cô gái” giành quyền kiểm soát

Năm 2005, tiểu thuyết đầu tiên của tác giả người Thụy Điển Stieg Larsson vốn có tựa đề gốc là Man som hatar kvinnor (Những người đàn ông căm ghét đàn bà), nhưng khi nó xuất bản bằng tiếng Anh (và tiếng Việt), tiêu đề được đổi thành The Girl with the Dragon Tattoo (Cô gái có hình xăm rồng). Chỉnh sửa này là khởi nguyên cho xu hướng tiếp diễn trong những năm sau đó. Năm 2012, Cô gái mất tích của Gillian Flynn bán được hơn hai triệu bản. Paula Hawkin tiếp đà với Cô gái trên tàu, bán được hơn 15 nghìn bản tính đến năm 2016. Những thành công này thu hút hàng tá những bản sao. Nhưng hiện tượng “Cô gái” không chỉ là một trường hợp bắt chước quá đà. Nó dẫn đường cho một lớp tác giả nữ tài năng tấn công vào câu lạc bộ trinh thám vốn đa số chứa toàn trai già và góp phần thay đổi luật chơi.

6. Đường hướng tiếp cận trực tiếp

Trong mười năm qua, chúng ta đã chứng kiến một thị trường đầy ắp cơ hội dành cho tác giả – nhưng không hề kém thách thức. Năm 2017, quái thú trực tuyến Amazon báo cáo rằng tại Hoa Kỳ, hơn 1.000 tác giả độc lập – xuất bản trên nền tảng Kindle – kiếm được hơn 100.000 đô la Mỹ tiền nhuận bút. Một trong những thành công lớn nhất trong thập niên vừa qua – dù đánh giá của bạn có tốt xấu ra sao – là 50 sắc thái của E. L. James. Xuất hiện lần đầu tiên như là fanfiction của Chạng vạng, viết dưới bút danh Snowqueens Icedragon, sê-ri 50 sắc thái vốn được xuất bản bởi một tờ báo nhỏ. Sau khi nó manh nha trở thành hiện tượng, sách được nhà xuất bản chính thống Vintage tiếp cận. Đến năm 2014, tập đầu tiên, phát hành năm 2011, đã bán được hơn 100 bản trên toàn thế giới.

7. Những thời khắc khó khăn

Nhưng cũng có mặt trái trong phi vụ béo bở ở trên: đa số tác giả càng ngày càng gặp khó khăn trong việc kiếm sống. Một cuộc khảo sát thực hiện năm ngoái bởi Hiệp hội Thu thập và Tác quyền Tác giả tiết lộ rằng thu nhập trung vị của các tác giả đang làm việc tại Anh hiện ở mức thấp hơn 10.000 bảng Anh, giảm 42 phần trăm từ năm 2005. Mức này thấp hơn cả mức thu nhập hàng năm tối thiểu (17.900 bảng Anh) mà Quỹ Joseph Rowntree khuyến cáo. Ngành xuất bản thỉnh thoảng gặp khó khăn trong việc bắt nhịp với thế kỷ 21. Mãi đến những năm gần đây, ta mới thấy những nỗ lực thật sự trong ngành để tìm kiếm những giọng kể đa dạng, đi tìm những tài năng mới với xuất thân hiếm gặp.

8. Cuộc chơi chuyển thể của nhà sản xuất truyền hình

Không như phương thức cũ khi tác giả hy vọng bán được bản quyền sách cho nhà sản xuất phim điện ảnh, sự phát triển nhanh chóng của nền tảng truyền hình trực tuyến trong thập niên này đã tạo ra hàng hà cơ hội mới cho tác gia hư cấu. Trò chơi vương quyền, Chuyện người tùy nữ, Outlander trở thành những chương trình truyền hình phải-xem đối với hàng triệu người. Những cuốn hồi ký như Orange Is The New Black của Piper Kerman và Shrill của Lindy West được tái sinh trên màn ảnh nhỏ. Người hâm mộ thể loại sci-fi và viễn tưởng được tưởng thưởng bởi một dải thiên hà những sê-ri mới, trong đó có The Expanse của James S. A. Corey, American Gods của Neil Gaiman, The Magicians của Lev Grossman. Xu hướng này tăng nhanh chóng mặt khi thập niên dần kết thúc, với thông báo rằng cuốn sách được Giải National Book Trust Exercise của Susan Choi và được Giải Booker Narrow Road to the Deep North của Richard Flanagan sẽ được chuyển thể thành sê-ri phim. Những đốm lửa lưu lạc, được Time bình chọn là một trong 10 tác phẩm hư cấu xuất sắc nhất thập niên, đã được Hulu mua bản quyền truyền hình và chuẩn bị lên sóng năm sau (với diễn xuất của Reese Whiterspoon và Kerry Washington). Điều đáng khích lệ hơn hẳn là cách mà chương trình truyền hình đã khiến người ta tìm đọc những cuốn sách gốc, tạo ra một vòng quay của xem phim và đọc sách.

Những đốm lửa lưu lạc đã được Hulu mua bản quyền truyền hình và chuẩn bị lên sóng năm sau.

Hết.

Mèo Heo biên dịch và tổng hợp.

Bài gốc được thực hiện bởi Erica Wagner (BBC) và Ron Charles (The Washington Post)


Những bài viết có cùng chủ đề




Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!