Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Từ Sách đến Phim: You Are the Apple of My Eye (2011)

Published

on

Giải quyết xong You Are the Apple of My Eye rồi…
Không nghĩ là tôi có thể khóc…

Vì đơn giản là phim 1 tiếng 49 phút thì xem đến 1 tiếng 40 phút tôi vẫn còn thấy rất bình thường, chưa lần nào quá buồn cả. Vậy mà đoạn gần kết thúc, tình huống đó bất ngờ với tôi quá… Khi nhìn anh ấy hôn chú rể của cô dâu với sự say mê mãnh liệt như thế, và tưởng tượng rằng đó là người con gái anh yêu… chính lúc đó tôi hơi ngỡ ngàng chứ cũng chưa khóc. Rồi phim kết thúc. Màn hình đen, dòng chữ credit đoàn làm phim hiện ra cũng chưa khóc. Tưởng thế là xong. Vậy mà không hiểu sao, cuối cùng cũng khóc cho được. Lại còn khóc rất nhiều. Giống như đó là nỗi buồn của tôi vậy. Lạ quá. Lần đầu tiên tôi mới khóc kiểu như thế. Trước đây chưa bao giờ như vậy. Nghĩa là, nếu phim buồn, thì tôi thường khóc ngay cảnh buồn đó, ngay khi bộ phim còn đang diễn ra chứ chẳng đợi nó hết rồi mới ngồi ôm chân một mình khóc sướt mướt như vậy. Lại cảm thấy ghét bản thân tôi vì dạo này dễ khóc quá. Nước mắt đâu mà nhiều thế. Chắc khóc luôn cho những năm tháng trước đây đã không khóc. Phải rồi, hồi cấp một, cấp hai vào trường bị bắt nạt, tôi muốn khóc lắm chứ. Nhưng tôi không thể khóc. Vì tôi chỉ có một mình. Tôi biết mình mà khóc là lại càng bị bắt nạt nhiều hơn. Do đó, tôi phải làm mặt lạnh lùng như không có gì, trò bắt nạt đó không ảnh hưởng đến tôi để mà sống, mà tiếp tục học. Nghĩ lại, không hiểu sao tôi có thể học suốt 9 năm trời trong môi trường như vậy nữa…

Trong phim, có một cảnh có lẽ với nhiều người nó là bình thường, nhưng nó làm tôi chạnh lòng. Đó là cảnh ngày lễ tốt nghiệp cuối năm, mọi người ghi đầy trên áo nhau những dòng chữ kỉ niệm. Hồi xưa, trường cấp một, hai và ba của tôi cũng như vậy. Nhưng năm nào thì những chiếc áo của tôi cũng sạch sẽ, trống trơn. Cấp một, ba cũng không có gì… Nhưng đến giờ tôi vẫn còn nhớ những ngày cuối cùng của năm cấp hai là tồi tệ nhất. Cảm giác bơ vơ, lạc lõng. Không biết phải đứng ở đâu, làm gì, đi đâu. Mọi người đem bút lông, hăm hở viết vào áo nhau. Còn tôi, chẳng có lấy một người bạn. Thế là trong giờ ra chơi thì tôi… dựa cột. Đi hết từ cột bê tông này đến cột bê tông khác trong hành lang. Chỉ như một cái mốc đánh dấu nơi đi qua. Rồi trong giờ học thì đọc truyện tranh. Còn nhớ bộ truyện tôi đọc lúc đó là Kindaichi. Cô giáo chủ nhiệm của những năm cấp hai lúc nào cũng ghi vào sổ liên lạc, hoặc nói trực tiếp với tôi rằng sao không mở lòng với bạn bè, sống như thế làm sao mà sống. Tôi chỉ im lặng. Bởi vì các cô không biết tôi bị bắt nạt. Tôi cũng không hiểu tại sao tôi lại bị bắt nạt. Ý tôi là, tôi im lặng, không nói chuyện với mọi người. Vậy thì có gì đâu? Tại sao mọi người không thể chỉ đơn giản là để cho cái đứa im lặng đó tự sống một mình lặng lẽ trong thế giới của nó mà cứ thấy nó im lặng quá rồi đi bắt nạt? Thà lờ đi sự tồn tại của tôi trong lớp còn hơn là cứ bắt nạt tôi như thế. Tôi mệt mỏi lắm… Mỗi lần mà bị cô giáo nói chuyện với tôi cuối giờ, tôi thật sự rất muốn hỏi ngược lại cô là phải làm sao đây, em phải làm sao. Đâu phải lúc nào chuyện cũng đơn giản rằng em nghĩ em muốn mở lòng là mọi người sẽ đón nhận, em nói chuyện là sẽ có người nghe? Tại sao cô không nghĩ rằng em đã từng thử? Em cũng đã từng thử rồi cô ạ… Và đã thất bại. Nên em mệt mỏi và không muốn bắt chuyện với ai nữa. Em chỉ muốn ở yên trong thế giới của em. Và viết, và viết mà thôi. Vì em khó nói nên những năm tháng đó, em mới siêng viết như thế.

Những năm tháng đó của tôi, đã chẳng có chuyện giống như những năm tháng trong phim. Chỉ là một chuỗi ngày lo sợ mai vào trường sẽ như thế nào, có bị bắt nạt nữa không, có bị bạn bè giễu cợt gì nữa không. Và một ngày trôi qua với tôi là thêm một niềm vui. Vì rằng ồ tôi đã qua được ngày hôm đó rồi sao. Và chỉ cần cố gắng qua được từng ngày, rồi sẽ đến từng tháng. Và cuối cùng là hè đến, chỉ việc ở nhà xem phim, đọc sách, viết truyện. Chẳng có một cuộc gặp gỡ với bất kì ai.

Nhưng tôi vẫn cảm nhận được, những năm tháng đó trong phim rất thật. Nó thật đơn giản bởi vì nó thật. Tôi biết đó không phải là những năm tháng của tôi nhưng lại là những năm tháng của nhiều người khác khi còn là học sinh.

Ngoài ra, tôi còn thích một chi tiết nữa. Đó là cách Kha Cảnh Đằng nói rằng: “Tớ thích hình ảnh của tớ những năm tháng ấy khi thích cậu.” Phải rồi. Thật lòng mà nói, tôi cũng có cảm giác đó. Vì vậy, tính ra là khi thích một người, thực ra người ta đang thích cả hai con người: một là chính đối tượng mình thích, hai là con người của bản thân mình khi thích người đó. Tôi nghĩ rằng đó là tình yêu lí tưởng. Yêu một người đồng thời tình yêu đó quá lớn, đến nỗi chính bản thân mình cũng thấy rằng nó đẹp, để rồi tự chính mình lại đi yêu hình ảnh của mình khi yêu người đó. Dù  sao, trong tình yêu dành cho một người nhiều như thế nào, cũng sẽ có chút phần tự yêu bản thân mà.

Tôi luôn biết một điều đơn giản rằng: chuyện gì xảy ra trong đời, dù có vẻ vô lí như thế nào, cũng đều có ý nghĩa của nó. Thế nhưng, mỗi khi gặp một chuyện buồn, một sự mất mát, không khi nào tôi có đủ bình tĩnh để nhìn ra được ý nghĩa của nó. Tất cả những gì tôi đã làm chỉ là chìm sâu hơn vào nó, đau, tiếc nuối, khóc cho những ngày đã qua.

Tôi vẫn chưa tìm ra được ý nghĩa cho sự trống rỗng hiện tại…

Nhưng, những năm tháng đó, những năm tháng đó thì tôi đã có câu trả lời rồi. Việc tôi bị bắt nạt như thế giúp tôi sau này dễ đồng cảm với nỗi đau của người khác hơn. Đó là một điều không phải dễ gì có được. Và chính vì những năm tháng đó, tôi đã luôn im lặng, không thể nói được nên tôi mới có thôi thúc viết. Chính vì khó nói lên suy nghĩ của mình nên khi viết, tôi lại càng dễ dàng diễn tả được điều tôi suy nghĩ hơn. Chính vì đã không thể sống thật là tôi, làm những gì tôi muốn ở ngoài đời thực nên tôi làm tất cả những điều đó trong thế giới do tôi tạo ra khi viết: sống thực với tôi, nói những điều tôi nghĩ và… nổi loạn. Đã luôn muốn nổi loạn nhưng ở ngoài đời chẳng có can đảm. Với tôi, viết chỉ đơn giản là thực hiện những điều tôi đã không thể làm được trong đời sống hiện thực.

Xem hơn phân nửa phim, ban đầu tôi có suy nghĩ: phim này cũng khá bình thường, hay thì có hay nhưng sao được nhiều người thích và thành công như vậy? Tôi biết, không khí phim tạo ra khá hay. Một không gian trầm mặc, điềm tĩnh, đúng chất hoài niệm và tự sự. Điều đặc biệt mà không khí phim tạo ra là cả hai mặt cảm giác về thời gian: vừa nhanh vừa chậm. Người ta vừa cảm giác được sự chậm chạp như kiểu một người bình thản kể câu chuyện đã qua của cuộc đời mình, vì nó đã qua rồi nên chẳng việc gì phải kể vội vàng. Đồng thời, đôi khi người ta cũng cảm giác thời gian trôi qua quá nhanh. Đó là do sự mất mát ở những điểm chuyển giao trong cuộc đời của các nhân vật. Có điều gì đó luôn mất mát, nhẹ nhàng, nho nhỏ thôi, khó nhận ra nhưng chắc chắn là có.

Tôi thích một đoạn nữa mà tôi nghĩ với nhiều người, có lẽ nó cũng bình thường, thậm chí với một số người có thể nó còn hơi dung tục. Đó là đoạn cả phòng kí túc xá thủ dâm khi xem phim con heo của Nhật. Mọi người đều đổ mồ hôi và lên đỉnh. Nhưng một người nói: “Cuối cùng, chúng ta làm tất cả chuyện này để làm gì…” Suy nghĩ đó cũng đã chợt đến với tôi đôi lần. Tại sao con người ta lại phải thủ dâm? Nếu không có một ai đó, tại sao không thể đơn thuần chỉ cần chờ đợi người đó đến rồi có thể từ từ làm sau cũng được, cần gì phải luôn làm trước như thế? Ngày còn bé, đương nhiên tôi không hiểu và không ủng hộ chuyện này. Lúc đó, chỉ nghĩ tại sao dục tính con người cao quá, chỉ cần yêu bằng tâm hồn cũng được mà. Nhưng sau này lớn lên dần hiểu, chỉ đơn giản thôi đó là bởi vì họ đã quá cô đơn. Vì cô đơn nên không thể chờ đợi, chờ đợi ai đó đến và chạm vào cơ thể mình. Khoảng thời gian ấy dường như quá dài… nên người ta chỉ còn cách tự chạm vào cơ thể để giải khuây. Đơn giản là vậy thôi. Tôi không hối hận vì đã xem bản uncut. Bản uncut chẳng qua chỉ đơn giản là có thêm khoảng chừng năm, sáu phút đoạn các bạn nam thủ dâm. Tôi thấy cảnh này chẳng có gì phải ghê gớm để cut cả. Cũng chẳng có gì ghê gớm để các bạn nam upload phim trên forum phải khuyên nhau rằng khi xem phim này với bạn gái, nên xem bản cut, đừng xem uncut.

Nụ hôn cuối phim, hay nhỉ…

Nếu như cô ấy muốn nghĩ đó là trò đùa trẻ con thì nó là trò đùa trẻ con. Còn nếu như nghĩ đó là tình cảm thật của anh ấy thì thêm một lần nữa, cô lại nhận ra anh ấy yêu mình nhiều như thế nào, đã muốn chạm vào mình như thế nào…

Kết thúc phim, tôi nhận ra một điều nữa: điểm đặc biệt của phim là có thể khiến người ta khóc mà không cần phải làm bất cứ một cảnh nào quá buồn hay quá cao trào. Mọi thứ cứ nhẹ nhàng diễn ra như cuộc sống. Cuộc sống thực ra cũng vốn có ít kịch tính. Nếu như cuộc sống có nhiều kịch tính thì có lẽ nó đã không khiến người ta phải đau như thế. Vì kịch tính nghĩa là cái gì cũng được đẩy lên quá mức, mà khi đẩy lên quá mức như thế người ta rất dễ dàng nhận ra mình đang buồn vì điều gì, đang mất mát đi điều gì. Còn cuộc sống ngoài đời thực thì cứ nhẹ nhàng trôi đi trên bề mặt nhưng là những nỗi buồn, những mất mát ẩn sâu bên trong, người ta khó nhận ra, không thể nhận ra được trước. Chính vì vậy, khi nó đến mới đau như thế, buồn như thế. Người ta thường dễ đau vì những điều mình đã nghĩ rằng lẽ ra nó vẫn còn tồn tại chứ không phải là mất đi như thế hơn những điều vốn ngay từ đầu đã cảm nhận được là sẽ sớm mất đi… Chính cảm giác mất mát mà không biết mình đã mất nó từ khi nào mới là thứ khiến người ta đau lòng nhất chứ không phải là chính bản thân sự mất mát. You Are the Apple of My Eye làm được điều đó. Mọi thứ thực và nhẹ nhàng nhưng lại chứa đựng sự mất mát ẩn sâu như cuộc sống.

“Khi bạn rất rất yêu một người nào đó thì bạn sẽ hạnh phúc khi thấy người đó có một người yêu thương và đang hạnh phúc…”

Phải rồi. Nếu yêu một ai đó thực sự thì tình yêu đó có thể chiến thắng được nỗi sợ hãi bị lãng quên trong mắt người mình yêu. Chỉ cần người đó được hạnh phúc là đủ rồi.

For lonely night missing the one who was always by my side…
You’re the apple of my eye.

Hết.

Kodaki

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Vai trò của dịch giả trong sự thành công của văn hào Mạc Ngôn

Published

on

Trước khi nhận giải Nobel văn chương 2012, Mạc Ngôn không phải là cái tên quen thuộc với độc giả Anh ngữ. Quyển Red Sorghum (Cao lương đỏ) của Mạc Ngôn xuất hiện trên thị trường sách Hoa Kỳ năm 1994, The Garlic Ballads (Cây tỏi nổi giận) năm 1995, The Republic of Wine (Tửu quốc) năm 2000, và những quyển tiếp theo không gây được tiếng vang nào. Rải rác trên báo chí Hoa Kỳ và Anh Quốc – The New York TimesThe Guardian – là vài bài điểm sách ngắn ngủi sơ sài, thường gồm chung với nhiều tác giả khác. Năm 2005, báo The New Yorker có bài phê bình của John Updike về quyển Big Breasts and Wide Hips (Báu vật của đời) phân tích cặn kẽ hơn nhưng chê nhiều hơn khen, chê cả tác giả lẫn dịch giả.

Mạc Ngôn, Báu vật của đời và sự phân tán hai góc nhìn

Sau khi Mạc Ngôn được giải Nobel, nhiều cuộc tranh luận sôi nổi xảy ra. Vài nhà văn nổi tiếng trên quốc tế, như Herta Muller và Salman Rushdie, phản đối mạnh mẽ vì họ cho rằng Mạc Ngôn ủng hộ chính sách ngăn cấm tự do ngôn luận và giữ im lặng khi giới văn nghệ sĩ chống chế độ độc tài bị đàn áp. Giới học thuật có Perry Link, Tiến sĩ chuyên ngành văn học văn hóa Á châu của Đại học Princeton, cho rằng Mạc Ngôn không xứng đáng được trao giải Nobel văn chương vì suốt cuộc đời Mạc Ngôn chỉ tự bảo vệ quyền lợi cá nhân bằng cách tuân theo chủ trương chính trị của nhà cầm quyền. Ngoài Perry Link còn có Jeffrey Yang và Larry Siems trong một bài báo đăng trên New York Times đã chê trách Mạc Ngôn không quan tâm bênh vực những nhà văn Trung Quốc cùng thời bị khủng bố đe dọa vì dám đòi hỏi nhân quyền chống đối chế độ. Một trong những điều người ta chế nhạo Mạc Ngôn là ông đã tham gia phong trào chép tay một văn bản của Mao Trạch Đông và được thưởng công với giá tiền chừng 150 Mỹ kim.

Bênh vực Mạc Ngôn có Pankaj Mishra của tờ báo Guardian bảo rằng Rushdie nên dè dặt hơn trong việc chê trách thái độ chính trị của Mạc Ngôn. Ông còn mang cả John Updike ra nhắc cho mọi người nhớ là Updike đã từng tích cực ủng hộ chính phủ Hoa Kỳ trong việc ném bom Hà Nội. Bênh vực Mạc Ngôn hùng hồn nhất là Howard Goldblatt, dịch giả của Mạc Ngôn. Trong khi mọi người kết tội Mạc Ngôn giữ im lặng để yên thân, Goldblatt lại nhìn thấy Mạc Ngôn ngấm ngầm chỉ trích chính quyền trong nội dung những quyển truyện ông ta đã viết. Thẳng thừng, Goldblatt đáp lại lời phê bình của Jeffrey Yang: “Nói như vậy là nông cạn, thiếu suy nghĩ, và sai lầm”“ông không thể làm như thế nếu ông muốn tiếp tục sống và viết ở Trung Quốc.”1

Sau khi Mạc Ngôn được trao giải dĩ nhiên có rất nhiều lời khen ngợi. Người ta còn gán cho ông là một nhà nữ quyền, nhưng có lẽ ông nghĩ chỉ có phụ nữ mới được làm nhà nữ quyền nên ông nhấn mạnh tuy những nhân vật của tôi là phụ nữ có cá tính mạnh nhưng tôi là đàn ông. Peter Englund, Thư ký Viện Hàn Lâm Thụy Điển, chủ giải Nobel văn học, khi được hỏi nghĩ sao về tác phẩm của Mạc Ngôn, ông ta đã khen ngợi quyển Cây tỏi nổi giận. Englund nói: “quyển này nói về tính chất cao quý của những người dân bình thường, họ đã cố gắng hết sức mình để tồn tại, cố gắng vượt bậc để gìn giữ phẩm giá của họ. Đôi khi họ thắng cuộc nhưng phần lớn là họ thua cuộc.” Ông tuyên bố như thế nhưng tôi e rằng ông ta chỉ đọc một đoạn ngắn được người nào đó soạn sẵn. Ngay cả hai nhà văn lớn Muller và Rushdie tôi cũng nghi ngờ quý vị thật sự có thì giờ để đọc những quyển truyện, mỗi quyển nặng mấy kí lô, của Mạc Ngôn. Nói càng như thế là vì thời giờ có hạn, những người quá bận bịu với chuyện viết, hay thường xuyên xuất hiện trước công chúng, lấy đâu thì giờ để đọc. Thế ban giám khảo có thì giờ để đọc tất cả những quyển sách được đề cử không? May ra thì họ đọc những bài tóm tắt mà những người đề cử soạn sẵn. Chuyện đọc, hay không đọc, những nhà văn được chọn trao giải thưởng khó có thể kiểm chứng được. Tuy nhiên có một người tuyên bố đã đọc từng lời từng chữ của Mạc Ngôn, đó là Howard Goldblatt. “Không ai đọc một văn bản kỹ cho bằng dịch giả, người phải xem xét nghĩa của từng chữ và cách nó liên hệ với những chữ khác. Tôi đã từng dịch truyện dài cũng như truyện ngắn của cả chục tác giả Hoa Lục và Đài Loan, và trong khi có nhiều nhà văn xứng đáng được đề cử cho giải Newman, Mạc Ngôn nổi bật là nhà văn thành công nhất cũng như sáng tạo nhất trong số những nhà văn cùng thời với ông.2

Không chỉ đọc và dịch tác phẩm của Mạc Ngôn, Howard Goldblatt còn là người đã đề cử, và nhờ bài đề cử này, Mạc Ngôn được trao giải Newman năm 2009. Giải Newman là giải văn chương đầu tiên của Hoa Kỳ được thành lập, dành riêng cho tác phẩm viết bằng Hoa ngữ. Giải Newman, tôi phỏng đoán, được dùng để mở đường đưa Mạc Ngôn đến với giải Nobel 2012. Có thể nói Howard Goldblatt là một trong những cánh tay đắc lực nhất đưa Mạc Ngôn lên đỉnh vinh quang.

Trong bài đề cử cho giải Newman năm 2009 có tựa đề “Mo Yan’s Novels Are Wearing Me Out” để giúp hội đồng giám khảo Hoa Kỳ có thể hình dung văn phong và cách xây dựng nhân vật của Mạc Ngôn, Goldblatt so sánh Mạc Ngôn với Rabelais, Faulkner và Márquez. Truyện của Mạc Ngôn có điểm gì tương tự với Rabelais? Theo Goldblatt, Mạc Ngôn đã chế nhạo xã hội Trung Quốc về tật mê thức ăn ngon, như thịt người và ham uống rượu. Mạc Ngôn còn được so sánh với khuynh hướng hiện thực huyền ảo cũng như Faulkner và Marquez. Sự thật thì Faulkner và Marquez đã ảnh hưởng đến Mạc Ngôn như thế nào?

Theo Shelley Chan3, trong phần giới thiệu có tiêu đề Cơn đói và cô đơn, trong bài diễn văn Mạc Ngôn đọc ở Đại học Berkley năm 2000 cho biết ông đã bắt chước Faulkner “chế” ra một địa danh là Northeast Gaomi Township. Địa danh này được dùng làm bối cảnh cho rất nhiều quyển truyện của ông, cũng như Faulkner đã tưởng tượng ra Yoknapatawpha County.  Còn Márquez? Márquez cũng có một địa danh hư cấu tên là Macondo Town trong quyển Trăm năm cô đơn.

Goldblatt nêu ra thêm một điểm đồng dạng giữa Mạc Ngôn và Márquez là cả hai đều viết truyện ăn thịt người. Trong bài phê bình “The Saturnicon Forbidden Food of Mo Yan” Goldblatt trích dẫn một đoạn ngắn trong Tửu quốc tả cảnh ăn một cái gì đó giống như một chú bé, và trong phần chú thích ông trích một đoạn ngắn trong quyển The Autumn of the Patriarch của Márquez tả cảnh ăn thịt một người đàn ông đã được nướng đặt trên mâm.

Goldblatt không phải là người đầu tiên đã so sánh Mạc Ngôn với Faulkner. Theo Shelley Chan, năm 2006, một học giả ở Hoa Lục tên Zhu Binzhong, xuất bản quyển Một cuộc đối thoại vượt thời gian và không gian: Nghiên cứu so sánh Faulkner và Mạc Ngôn. Zhu nghiên cứu, so sánh và đưa ra nhiều luận điểm quý giá nhưng cuối cùng kết luận là Mạc Ngôn thua kém Faulkner ở nhiều khía cạnh4. Bà Chan cũng nói thêm kết luận này tuy thế vẫn còn chờ được giới học giả thảo luận.

Năm 2000, M. Thomas Inge, một học giả chuyên nghiên cứu về Faulkner, trong bài tiểu luận “Mo Yan Through Western Eyes” có nêu thêm vài chi tiết nói về ảnh hưởng của Márquez và Faulkner trong quyển Cao lương đỏ. Inge cho rằng ở phần 3 của quyển Cao lương đỏ có nói về những con chó rừng kiếm sống thông minh như loài người sau chiến tranh, có thể được xem là ảnh hưởng bởi Márquez. Trong phần 5, nhân vật Passion, người bà thứ hai của người kể truyện, bị hiếp rồi bị giết, đứa bé gái bà đang mang thai bị đâm chết bằng dao găm. Linh hồn bà bị một con chồn tinh chế ngự. Inge viết: “Bất cứ nhân vật nào trong quyển truyện dài tình tiết đa dạng này đứng lên và để lại một cái bóng, như Faulkner đã có lần nói rằng đó là một trong những mục đích chính của ông trong vai trò nhà văn.

Trong bài phỏng vấn đăng trên Granta ngày 11 tháng 10 năm 2012 của John Freeman, Mạc Ngôn nói ông bắt đầu tiếp xúc với tác phẩm của Faulkner và Márquez vào năm 1984 và nhận ra cuộc đời của ông có nhiều điểm tương tự với cuộc đời của hai văn hào Nobel này. Nhưng qua những chi tiết trong truyện, chúng ta có thể nhận thấy rằng có một vài chi tiết tương đồng giữa truyện của Mạc Ngôn với truyện của Faulkner hay truyện của Márquez, nhưng ảnh hưởng thì không có. Có thể, khi tự nhận mình đã học hỏi ở hai đại văn hào nói trên, Mạc Ngôn không những chỉ tìm một vị trí thuận lợi để đứng vào hàng văn học quốc tế, ông khôn khéo tự đặt mình ngang tầm với hai văn hào của giải Nobel.

Giới nghiên cứu và phê bình văn học Á châu chú ý đến Mạc Ngôn khá sớm dù không nồng nhiệt lắm. Năm 1993, Kam Louie lúc ấy đang là Giáo sư của trường Đại học Queensland, Australia, trong bài phê bình quyển Explosions and Other Stories của Mạc Ngôn (bản dịch của Duncan Hewitt và Janice Wickeri) đã nhận xét: “Giết trẻ em và thở hổn hển là chủ đề chính của quyển Explosions, nó nói về một anh chồng bắt buộc vợ phải đi phá thai. Phần lớn câu truyện xảy ra ở bệnh viện, miêu tả một sự sinh sản, một cái chết, và một cuộc săn chồn ở bên ngoài cùng lúc với một cuộc phá thai, có nhiều thứ làm cho chúng ta nhột nhạt và chóng mặt buồn nôn. Mạc Ngôn bản thân là một người lính, dường như rất mê thích chuyện giết chóc cũng như tình dục.” Để kết thúc bài phê bình, ông Louie nói cảm tưởng của ông: “Riêng tôi, bao tử tôi không mấy cứng cáp để có thể nói tôi thích đọc những chuyện như thế này, nhưng những truyện này tương phản phong trào tiểu thuyết của Trung Quốc trong những năm 80. Quyển này là một đóng góp quý giá vào sự phát triển sách dịch văn học đương đại của Trung Quốc.”5

Năm 2005 trong bài phê bình có tên Tre đắng6, John Updike cũng có cái nhìn tương tự Louie, nhưng đến năm 2009 thì Howard Goldblatt khen ngợi Mạc Ngôn không tiếc lời: “Ông ấy là một người quán triệt nhiều loại văn phong cũng như hình thức, từ chuyện cổ tích cho đến chủ nghĩa huyền thoại hiện thực, đặc trưng hiện thực, chủ nghĩa (hậu) hiện đại, và còn nhiều thứ khác. Hình ảnh trong văn của ông rất sống động, truyện của ông rất thu hút, và nhân vật của ông rất quyến rũ. Ông ta, một cách đơn giản, là một người có một không hai.

Howard Goldblatt hầu như là người độc quyền dịch văn học tiếng Trung sang tiếng Anh. Ngoài việc chuyển ngữ tác phẩm của Mạc Ngôn, ông còn dịch hơn năm mươi tác phẩm, biên tập nhiều tuyển tập thơ văn Hoa ngữ, chiếm hầu như tất cả giải thưởng về dịch từ tiếng Hoa sang tiếng Anh. Trong bốn năm đầu tiên của giải văn học Man Asian, ba trong bốn nhà văn thắng giải là do Goldblatt dịch. Không chỉ dịch văn Mạc Ngôn, Goldblatt khéo léo giới thiệu văn của Mạc Ngôn bằng những từ ngữ quen thuộc với độc giả Hoa Kỳ. “Nếu bạn thích Poe bạn sẽ thích quyển Đàn hương hình sắp in, nếu bạn là người thích truyện Rabelais bạn sẽ thích Tửu quốc, nếu bạn là người thích truyện cổ tích bạn sẽ thích Mệt mỏi sống chết.” Goldblatt cũng là người đã đề cử Mạc Ngôn với hội đồng giám khảo giải Nobel.

Có lẽ không có gì quá đáng nếu nói rằng không có Goldblatt thì không chắc Mạc Ngôn đã được trao giải Newman và Nobel. Goldblatt am hiểu quan điểm của người Tây phương, giải thưởng Nobel văn học thường trao cho những nhà văn có khuynh hướng đấu tranh cho nhân quyền, chống áp bức độc tài, bảo vệ quyền tự do ngôn luận. Goldblatt khéo léo “đánh bóng” Mạc Ngôn như là một người tranh đấu ngầm, như một diễn viên đóng vai hài trong một đoàn xiếc và từ đó nhìn ngắm nhận xét ông chủ đoàn xiếc từ cái nhìn của người trong cuộc. Khi đề cử giải Newman 2009, Howard Goldblatt nhấn mạnh quyển Cây tỏi nổi giận chê trách chính quyền địa phương tham nhũng hà khắc với nông dân. Khi xảy ra cuộc biểu tình ở Thiên An Môn người ta phải cất giấu quyển sách này để trách khích động. Và Goldblatt đã thành công. Thêm vào đó, nếu một học giả hay phê bình gia Á châu nhiệt liệt khen ngợi và đề cử Mạc Ngôn có lẽ sẽ không được hội đồng chấm giải Newman và Nobel văn học tin tưởng bằng lời giới thiệu của Howard Goldblatt, một dịch giả Hoa Kỳ và cũng là một học giả kỳ cựu về văn chương Hoa ngữ. Không ai dám, cũng không có thì giờ, kiểm soát việc ông dịch như thế nào; vả lại những nghi ngờ về sự am hiểu văn hóa Trung Quốc, nếu có, đều bị xua đi khi nghĩ rằng Goldblatt có một sự hỗ trợ đắc lực bên cạnh là bà vợ người Đài Loan, Tiến sĩ Li-chun Lin chuyên ngành văn chương Á châu, ông mới cưới sau khi ông về hưu năm 2000.

Mạc Ngôn dùng phương ngữ, ẩn dụ, cổ tích, huyền thoại, chơi chữ và những chi tiết văn hóa mà khi dịch sang một ngôn ngữ khác sẽ bị thất thoát. Nhận biết điều này, Mạc Ngôn viết một số truyện ngắn và truyện vừa, thay đổi cách viết để Goldblatt có thể dịch văn bản dễ dàng. Goldblatt tự tay chọn một số truyện xuất bản với tựa đề Shifu, you’ll do anything for a laugh. Trong tuyển tập truyện ngắn này, độc giả Anh ngữ sẽ thấy truyện của Mạc Ngôn không tục tằn, phóng túng, và bạo động như thường thấy trong những quyển tiểu thuyết khác của Mạc Ngôn. M. Thomas Inge khen ngợi tài dịch thuật của Goldblatt đọc hay như là được viết bằng Anh ngữ. Tuy nhiên Updike chê cách diễn tả bằng Anh ngữ của Goldblatt có nhiều chỗ sáo mòn.

Dấu vết Goldblatt xoa dịu sự sống sượng trong văn của Mạc Ngôn được Ling Tun Ngai ghi nhận. Trong Cao lương đỏ, Mạc Ngôn viết và Ngai dịch: “Had Grandma become a writer, she would have stomped the shit out of many men of letters. Nôm na, nếu bà ngoại/nội là nhà văn thì bà sẽ dẫm cho đám văn sĩ vãi cứt ra. Còn Goldblatt dịch văn vẻ hơn, “Nếu bà nội/ngoại là nhà văn bà nội/ngoại sẽ làm cho văn sĩ cùng thời với bà hổ thẹn.” (If she could have become a writer, she would have put many of her literary peers to shame.)

Howard Goldblatt không chối cãi việc ông cố ý làm giảm mức độ sống sượng của văn bản chính. Khi có người đặt vấn đề dịch là phản bội, Goldblatt bảo rằng dùng chữ phản bội thì không đúng, ông nói: “Khi ông dịch một văn bản, ông lấy cái ngôn ngữ của văn bản này biến nó thành ra ngôn ngữ của ông. Tuy không phải là một sự hiếp dâm nhưng ông lấy nó và hành hạ nó. Đó là cách duy nhất mà ông có thể chuẩn bị nó cho người đọc. Dịch giả luôn luôn phải xin lỗi. Suốt cuộc đời chúng tôi phải nói ‘Tôi xin lỗi’.

Người ta có thể chê văn của Mạc Ngôn tục tĩu, nhớp nhúa, thô bạo nhưng không thể phủ nhận ông có sức tưởng tượng dồi dào và máu khôi hài đen táo bạo. Nhưng Dư Hoa cũng khôi hài và tục tĩu chẳng kém Mạc Ngôn. Còn mức sáng tạo thì Haruki Murakami cũng sung mãn chẳng kém. Truyện của Murakami được giới Tây phương đón nhận nồng ấm hơn truyện của Mạc Ngôn có lẽ vì nó “yuppie” hơn. Văn hào Nobel Kenzaburo Oe lớn tiếng ủng hộ Mạc Ngôn bảo rằng Mạc Ngôn xứng đáng được giải Nobel hơn là Murakami. Có lẽ Oe hài lòng cách Mạc Ngôn đề cao sự anh dũng của người Nhật trong cuộc chiến Trung – Nhật mà Mạc Ngôn đã dùng làm bối cảnh cho Cao lương đỏ. Tập truyện ngắn Shifu, you’ll do anything for a laugh do chính tay Howard Goldblatt tuyển chọn và “massage” cho thích hợp với khuynh hướng đọc của người Tây phương có nhiều truyện hay. Truyện ngắn Iron Child Soaring là điển hình của khuynh hướng hiện thực huyền ảo của Mạc Ngôn. Trong Iron Child, những đứa trẻ bị bỏ rơi vì đói nên ăn than và sắt rỉ rồi biến thành những con quỷ nhỏ chuyên ăn trộm đồ dùng bằng sắt để ăn. Trong Soaring, một cô gái đẹp bị bắt ép lấy một anh chồng mặt rỗ, để bù cho người anh bị mù của cô được lấy cô chị rất đẹp của anh chồng mặt rỗ. Vừa cưới xong, cô gái bỏ trốn vào ruộng cao lương đỏ. Khi bị bao vây đến hết đường chạy trốn, cô liền bay lên ngọn cây. Tác giả ngừng ở chỗ đó nên không cần phải giải thích hay tìm cách kết thúc hiện thực hợp lý. Tôi thích cách viết truyện có tính chất siêu thực của Murakami hơn. Murakami ít khi đưa truyện đến chỗ phi lý. Những sự kiện độc giả thấy phi lý thường được giải thích bằng phản ứng tâm lý hay là sự khủng hoảng tinh thần của nhân vật.

Goldblatt nói đùa rằng “dịch giả là những nhà văn bị tức bực.” Nhiều người cho rằng dịch giả chỉ là một bóng mờ đứng sau lưng tác giả. Tôi nghĩ có một kinh nghiệm mà giới dịch thuật có thể dùng để đưa nhà văn Việt Nam đến với giải Nobel: chọn một dịch giả biết nấu “Chinese food” theo khẩu vị người Mỹ.

Hết.

Nguyễn Thị Hải Hà

Ảnh đầu bài: Ulf Andersen

Chú thích:

  1. Orbach, Micheal, Mo Yan’s Jewish Interpreter. “It was shallow, knee-jerk, and wrong-headed. . . . I like Yang, but his expectations were that Mo Yan should come out and tell the officials in China that they should take a flying fuck. You don’t do that if you want to continue living and writitng in China. . . .” Link.
  2. Howard Goldblatt, Mo Yan’s Novels Are Wearing Me Out Nominating Statement for the 2009 Newman  Prize, World Literature Today, July – August 2009, p. 29
  3. Shelly W. Chan, A Subversive Voice in China – The Fictional World of Mo Yan, Cambria Press, New York, 2011
  4. Shelley Chan, chú thích số 6 của chương Introduction, Hunger and Loneliness.
  5. Kam Louie, The Australian Journal of Chinese Affair, No. 29 (Jan., 1993), pp. 195-196 published by: The University of Chicago Press on behalf of the College of Asia and the Pacific, The Australian National University.
  6. John Updike, Bitter Bamboo, The New Yorker. Link.

Đọc bài viết

Trà chiều

Nỗi hổ thẹn trong văn học

Marina Endicott về lịch sử giáo dục cưỡng chế với những người Canada bản địa

Published

on

THE FUNCTION OF SHAME IN LITERATURE
Marina Endicott

Tại sao chúng ta nhớ mãi về một câu chuyện, hay một ký ức? Chúng ta thường ghi nhớ một cách tự nhiên những khung cảnh và hình ảnh ấn tượng bày ra ngay trước mắt, ghi dấu trên tảng băng nổi của ký ức. Tuy nhiên, một số khác lại ấn giấu sâu hơn trong những lớp nghĩa và sau đó, chúng mới từ từ trồi lên, như một miếng bạc cổ lấp lánh đang tự tìm cách bước ra ánh sáng. 

Đó là cái cách mà giáo viên piano thời thơ ấu của tôi kể câu chuyện của cô ấy. Những câu chuyện về tuổi thơ của mình, được chu du vòng quanh thế giới trên chiếc thuyền buồm của gia đình. Cảm giác hân hoan khi được nghe kể chuyện đến với tôi mỗi khi tôi được thưởng vì đã chơi tốt hay được dỗ dành sau mỗi lần cô giáo tức giận. Lúc tôi lười tập luyện (một việc xảy ra rất thường xuyên), việc đòi nghe kể chuyện về chiếc sừng kỳ lân biển đặt trên cây piano, hay về cây quạt Trăm Mặt1 nổi tiếng mà cha mẹ cô giáo được tặng trong chuyến hành trình trăng mật tới Trung Quốc là một cách hiệu quả để kéo dài thời gian tới lúc kết thúc buổi học.

Chân dung những con tàu được treo trên tường: con thuyền Belmont – Ánh rạng đông. Nhà của cô giáo giống như ngôi đền tôn thờ kỷ nguyên của những cánh buồm, được đong đầy những món đồ quý hiếm, những món đồ gốm sứ hay những vỏ sò vô giá, được mua hoặc thu thập trong suốt quãng thời gian phiêu lưu trên biển. Câu chuyện về đại dương của cô giáo tôi diễn ra chậm rãi theo từng nhịp tích tắc của thời gian trong căn phòng khách tối tăm, yên tĩnh.

Thế nhưng, cô giáo không kể với tôi chuyện mẹ cô đã mua một cậu bé tại vùng biển phía nam với giá 4 pao thuốc lá2. Tôi không biết về câu chuyện trên cho tới những năm 1990, khi mà (trong lúc đang mất tập trung vào công việc) tôi tra google tên cô giáo và trên màn hình máy tính hiện lên biểu tượng cái loa, vang lên ngắt quãng giọng nói quen thuộc của cô Ladd (tên của cô giáo) – một đoạn băng phỏng vấn trước khi cô mất tại Yarmouth, Nova Scotia.

Không biết bao nhiêu buổi chiều thứ ba tôi cùng cô luyện tập. Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy, người ta thường nói vậy; tuy nhiên với tôi, cô là một trong những giáo viên tuyệt vời nhất và giọng nói ấy của cô sao mà yêu thương, sao mà thân thuộc vậy.

Cho đến tôi được biết về câu chuyện của cô ấy, về chuyến hành trình trăng mật của cha mẹ cô:

“Trên hành trình cập cảng Trung Quốc… họ đã đi tới hòn đảo này và một chiếc xuồng tiến tới gần chiếc thuyền buồm. Những người trên xuồng là dân bản xứ với vẻ ngoài đáng thương và cha cho phép hai người trong số họ lên thuyền. Những thủy thủ đã thủ sẵn gậy gộc. Họ lên tàu, đi cùng họ có một cậu bé. Mẹ đã quá phấn khích và muốn cậu bé đó, bà nghĩ rằng sẽ có thêm nhiều điều thú vị cho chuyến đi. Và cha mẹ tôi đã mua cậu bé đó với 4 pao thuốc lá. Cậu bé không hiểu gì cả. Khi cậu thấy chiếc cầu thang, cậu ngồi cúi gằm đầu xuống và khoanh tay qua đầu gối. Và đương nhiên, cậu bé cũng không biết cách cư xử! Cậu cần được dạy dỗ.”

Mẹ của cô giáo dạy cho cậu bé đọc và viết tiếng Anh cùng một chút tiếng Latin; đầu bếp trên thuyền dạy cậu chữ tượng hình Trung Quốc. Cậu bé hẳn là một học sinh tiếp thu nhanh. Thật khó để nhớ chính xác cậu đã ở trên con tàu bao lâu – khoảng một năm; đoạn ghi âm chỉ nói rằng ở Thượng Hải, cậu bị cảm lạnh và bệnh tình trở nên nghiêm trọng hơn khi đi qua Horn. Khi họ tới New York, cậu bé đã nhiễm bệnh lao.

“Cậu bé ao ước có một quả dừa. Cha tôi cập cảng ở New York và tìm thấy một quả. Cậu bé chết vì bệnh lao, khi vẫn ôm chặt lấy quả dừa của cậu.”

Lắng nghe câu chuyện buồn này qua lời kể của cô Ladd thật sự là một cú sốc, hay là không: giọng đọc bình thản của cô dường như không cho rằng hành động của cha mẹ cô là sai trái, không có bi kịch nào ở đây – như thể cô chỉ kể câu chuyện về một con thú cưng mà họ từng nuôi.

Tài năng, quyết đoán nhưng mù quáng và ngạo mạn3, cô Ladd là sản phẩm của quá trình giáo dục và trưởng thành; mẹ cô ấy cũng thế, không có gì phải bàn cãi. Tôi cũng vậy. Câu chuyện đó khiến tôi cảm thấy xấu hổ, ẩn trong đó là mối tương đồng giữa tôi và những người đã bắt cóc cậu bé và để mặc cậu ấy chết.

Điều này thật sự quá quen thuộc. Nó khiến tôi cảm thấy hổ thẹn khi tôi sống với tư cách là một người Canada da trắng, hổ thẹn với những sai lầm mà lịch sử đã gây ra cho các em bé người bản địa.

*

Ở Canada, chúng tôi phải vật lộn nhiều năm để phơi bày và chấp nhận lịch sử của những trường học nội trú. Trong những hiệp ước ban đầu giữa người Canada bản địa và Hoàng gia (Chính phủ, hầu hết là người của Nữ hoàng Elizabeth), những lời lẽ được ghi ra thật ấm áp, pha trộn giữa niềm tin và tình yêu thương; các tù trưởng ký tên đã bị thuyết phục bởi niềm tin về sự quan tâm như từ mẫu của Nữ hoàng dành cho họ, bởi những hiểu biết và sự kính trọng mà các vị sĩ quan đàm phán dành cho Nữ hoàng. Thật khó để diễn tả chính xác nội dung hiệp ước, vì những chủ trương thể hiện qua ngôn ngữ yêu thương ấy bị xem thường bởi chính phủ Canada, cả khi đó tới tận bây giờ.

Một trong những thỏa thuận bị phá vỡ là trẻ em sẽ được hưởng sự giáo dục “bất cứ khi nào người da đỏ trong khu vực mong muốn được đi học”4 tại bất cứ trường học nào trong khu vực đó. Nhưng thay vì để họ được quyền lựa chọn, chính phủ Canada đã tập trung các em bé bản địa và giam giữ ép buộc tất cả trong những ngôi trường nội trú cách rất xa khu vực bộ lạc của bọn trẻ.

Đây là sự thực, theo ngài John A. Macdonald (nói trước Nghị viện năm 1883), việc phá vỡ nguồn gốc văn hóa và bản sắc của những đứa trẻ sẽ khiến chúng có những thói quen và phương thức suy nghĩ của người da trắng. Hệ thống trường học nội trú tại Canada đã tồn tại hơn 100 năm, và sự ảnh hưởng của nó đã tàn phá nhiều thế hệ.

Câu chuyện của cô Ladd ám ảnh tôi, như một vết sẹo bên dưới da. Tôi cố kiềm nén nó, rất thận trọng khi đối mặt với một câu chuyện nhiều đau buồn mà cũng quá nhiều sai trái. Và tôi không tin tưởng vào cái kết với “quả dừa” như thế.

Một vài năm sau, tôi tới New Zealand cùng với Tổ chức Thịnh vượng chung dành cho các nhà văn để phát biểu và làm hội thảo tại Tonga. Trong chuyến thăm, tôi đã gặp hàng trăm học sinh và làm quen với một vài em. Câu chuyện của cô Ladd một lần nữa hiện ra trong tâm trí tôi và lần này sẽ thật là hèn nhát nếu tiếp tục không nghĩ về nó.

Tháng trước, tôi có đọc câu chuyện về sáu cậu bé người Tonga bị bỏ mặc trên đảo ‘Ata trong 15 tháng vào năm 1965 – những đứa trẻ hoàn toàn không phải là “những Chúa ruồi trong đời thật”, như cái cách tờ báo The Guardian đã đặt tiêu đề. Những cậu bé Tonga này biết cách tồn tại ngay cả trong môi trường khắc nghiệt nhất, không có nước như đảo ‘Ata. Không giống Piggy và những người bạn, chúng hiện thực hóa định nghĩa về nền văn minh của Margaret Mead5 bằng cách cố định xương và băng bó thành công cho một cậu bạn bị gãy chân.

Sự sụp đổ của nền văn minh được xây dựng trong Chúa ruồi không hề xuất hiện trong cuộc sinh tồn của các cậu bé Tonga – điều này vốn là một giả định sai lầm. Bất cứ ai kể lại một câu truyện đều dựa trên những trải nghiệm của cá nhân, và đây là lý do quan trọng tại sao bạn không nên độc chiếm cái micro, không nên cố chiếm hữu mạch truyện: câu chuyện sẽ hay hơn nếu được tự kể bởi chủ nhân của chúng.

Thế mà, ôi thế mà, tôi lại bị thúc đẩy để kể về câu chuyện của Kay (chị gái của cậu bé người bản địa được mua với giá 4 pao thuốc bởi gia đình cô Ladd) và người em trai đã bị mua hay bị chiếm đoạt của cô, để kiểm chứng thông qua thực tế hoang đường về lý do một người phụ nữ tốt bụng (theo định nghĩa truyền thống) quyết định cướp đoạt cậu bé ấy khỏi gia đình, khỏi ngôi nhà của cậu; phải chăng những chuẩn mực đạo đức trong Kinh thánh hay niềm khát khao làm mẹ đột ngột thúc đẩy bà cướp đoạt một đứa trẻ với niềm tin mù quáng rằng bà đang thực hiện một hành động nhân từ. Với chủng tộc, giới tính, niềm tin và bổn phận làm mẹ của mình, có thể tôi sẽ làm một điều giống hệt nếu được sinh ra vào một thời điểm khác.

Tôi chọn nhìn vào đôi mắt của hai người phụ nữ, một già, một trẻ; một người phấn khích vì sự ngộ nhận đúng đắn trong hành động của mình, người còn lại bối rối vô định với những cảm giác về sự sai trái, tủi hổ. Tôi muốn phản bác lại những luận điểm của trường học nội trú – luận điểm vì tương lai tốt đẹp của lũ trẻ, vì những ý định tốt đẹp và nhân từ, và bởi giáo dục là cần thiết – để kiểm chứng những lý lẽ của người da trắng, những người tự nhận mình nhân từ và để bác bỏ chúng.

Đó là sai lầm nghiêm trọng, không thể tha thứ khi mang một đứa trẻ ra khỏi gia đình và đưa chúng tới những trường nội trú. Để tới được kết luận này, như tôi đã cố gắng, không thể có sự bao dung. Chỉ có sự bù đắp và hòa giải.

Sự hòa giải là như thế nào? Đối với Kay, hòa giải có nghĩa là đặt mọi thứ trở lại nơi chúng được tìm thấy. Thật cẩn thận sửa chữa lại những điều bị vi phạm. Cô ấy nghĩ vậy vì hai lý do: cô ấy hiểu được cô ấy cần phải hành động và cô ấy còn trẻ, còn ngây thơ. Có thể tôi cũng thế: nhưng tôi chắc chắn rằng chúng ta phải làm gì đó. Nó sẽ không bao giờ đủ nếu chúng ta chỉ ngồi im trong sự xấu hổ mà không hành động vì một điều tốt đẹp hơn.

Một hành động mà tôi cho rằng sẽ hữu ích là xem xét các sự kiện được cho là lịch sử. Một trong những giả định sai lầm của tôi, khi bắt đầu viết cuốn sách này, đó là cho rằng những ghi chép lịch sử này có cơ sở vững chắc. Đó quả là một cú sốc cần thiết để tôi nhận ra, dù muộn màng, rằng “ghi chép lịch sử” chẳng có gì hơn những ý kiến cá nhân của hai hoặc ba người, và chẳng có cơ sở nào cả.

Ngay cả khi chúng ta nhìn lại thời điểm khi mà cậu bé bị đem ra trao đổi với thuốc lá, chẳng có ai giải thích được làm sao người dân bản địa họ hiểu và diễn dịch giao dịch đó, làm sao họ có thể giải thích nó bởi rào cản ngôn ngữ và phong tục địa phương – và cả những khái niệm cơ bản về một cuộc trao đổi.

Ký ức là một nguyên liệu quan trọng cho những câu chuyện hư cấu, nhưng nó có thể bị thay đổi. Ký ức của tôi về phòng khách của cô Ladd, về hai cây đàn piano được bao quanh bởi những di vật vô giá và hào nhoáng, bởi sự im lặng và âm nhạc, đã bị ghi đè lên bởi vẻ đẹp nguyên thủy của vùng Thái Bình Dương và bởi những cậu bé Tonga mà tôi được gặp, được chào hỏi và được cười đùa cùng. Khi viết những tiểu thuyết lịch sử, nếu không được trải nghiệm thực tế, chúng ta có thể tạo ra ký ức không chỉ bằng những văn bản (nhật ký, ghi chú, thư từ, danh sách hay hải trình của thuyền) mà còn bằng cách lắp ráp những chi tiết nhỏ có ý nghĩa: những bức ảnh hay bức vẽ, bản thiết kế, quần áo, các mảnh vụn từ thân cây, tủ chén hay gác mái của các căn nhà cổ.

Ở một khía cạnh nào đó, câu chuyện của cô Ladd đã thật sự thuộc về tôi, vì tôi biết rõ những món hiện vật của cô ấy, nhờ bảy năm thời gian ngồi trong phòng khách của cô, hay nhìn chằm chằm vào chiếc sừng kỳ lân biển trong khi cô Ladd đang say mê với câu chuyện mà tôi đã cố gắng kéo dài hết mức có thể, để tránh phải học nhạc Barcarolle6, thể loại mà tôi chưa từng tập luyện bao giờ.

Cuốn sách của tác giả: Hành trình trên chiếc thuyền Ánh Rạng Đông

Hết.

Bún Cứng dịch

Bài viết gốc được thực hiện bởi Marina Endicott, đăng tại Literary Hub

Chú thích:

  1. Nguyên văn “Hundred Faces” – Nhăc tới nghệ thuật Biến diện/thay mặt nạ vốn rất nổi tiếng của Trung Quốc.
  2. Khoảng 2kg.
  3. Nguyên văn “superior” – Dịch giả hiểu là sự tự cho mình là bề trên, là đẳng cấp cao hơn bình thường.
  4. Nguyên văn “whenever the Indians of the reserve shall desire it” – trích trong quy tắc số 6 trong hiệp ước giữa người bản địa Canada, bao gồm người da đỏ Anh điêng, và Hoàng gia năm 1876; quy định về quyền được đi học của người dân bản xứ
  5. Margaret Mead (1901-1978) – nhà nhân chủng học nổi tiếng người Mỹ, nổi tiếng với nhiều nghiên cứu, nhiều học thuyết về nhân chủng học, văn hóa.
  6. Một phong cách nhạc dân ca hay được hát bởi những người chèo thuyền đáy bằng tại Venice, Ý.

Đọc bài viết

Trà chiều

Ba bước đơn giản để luận bàn về một tác phẩm văn chương theo kiểu nouveau riche

Published

on

Cả thế giới đang hướng về một thế giới với những binh đoàn hợp chủng quốc nouveau riche ngang tàn và bạo sát và giương cờ khởi nghĩa. Họ quét qua những nẻo đường miễn là nơi đó có tri thức, họ đánh sập những hệ thống giáo điều và nghiên cứu dài lâu của Friedrich Nietzsche, Martin Heidegger,… để thốt lên những điều thâm sâu, có khi vô lý nhưng rất thuyết phục (với đại đa số chúng ta, nên họ được tung hê ở mọi nơi mọi lúc, nhất là trên phiếc-búc lúc chờ trà hãm), về cuộc đời, về tồn tại và lời nào là hiện sinh lời đó. Lời nào là thấy cảm động đến tận tâm can lời đó, khiến ai nấy cũng đều vỗ tay thán ngạc không thôi, ai nấy cũng đều thấy mình cần phải làm gì đó để sánh vai với những đại nouveau riche đó. Thế là họ quên thân cống hiến cho đội quân bằng những triết lý và lời lẽ riêng (mới lượm lặt được) của mình như ngày ấy sử ta viết ông Nguyễn Trãi dâng Bình Ngô sách, còn bây giờ họ không cần nhiều nhời như thế, chỉ cần like, share, subscribe là đã thật dụng công rồi. Những diễn ngôn của họ làm lay động hàng triệu thính giả (nhất là những nouveau riche khác) bằng cách như thế đấy, điều mà Carl Jung có mãi thăm dò trong tiềm thức hay Albert Camus tìm hết đời mình xem liệu cuộc đời vô lý đến chừng nào thì cũng chẳng thế nào có được số lượng tín đồ hùng cường đến thế.

Đến đây, có lẽ quý vị độc giả không hiểu rằng liệu tên nhãi tác giả đang huyên thuyên về cái gì thế này, nươ-vồ rít-che là gì mà ghê gớm? Có phải là tên một bọn buôn thịt bán người lai phối cùng hội giải cứu niềm tin đổ vỡ tuổi mười nhăm hay không. Thưa rằng, chẳng được huy hoàng như thế. “Nouveau riche” tiếng Pháp dịch ra tiếng ta chỉ một tầng lớp quý tộc mới nổi với xuất thân là nhà nghèo, nhờ các biến chuyển xã hội thời đại mà giàu có lên. Hiểu nôm na, một cái thùng rỗng, một ông-nghè-chưa-đỗ-đã-đe-hàng-tổng, một trưởng giả, một nhân vật hát dở tuồng lâu. Nghe có vẻ chướng tai gai mắt, thế thì tại sao nhiều người lại cố gắng đi theo dòng chảy của nouveau riche đến như vậy? Câu trả lời nằm trong chính định nghĩa mà tôi đã sơ sài kể cùng quý bạn, những biến chuyển thời đại. Ta đang sống trong một thời đại tri thức kiệt cùng, tri thức khắp mọi nơi nài nỉ người tri nhận, tri thức có mặt trong tất cả những gì quý bạn thấy, ăn, ngửi, thậm chí là cảm giác sâu thẳm nhất trong con người của chúng ta, từ thời hang đá ở lùm đến ở skycraperspenthouse. Ta được “văn học” và văn hóa đại chúng quét qua người từng giây từng phút, tâm hồn ta rộn rã và tràn ngập tiếng chim ca như thi sĩ Tố Hữu. “Văn học” đó đến với ta dưới nhiều dạng thức: những tản mạn, tùy bút, tùy tiện bút, bán phóng sự bán tự sự,… của những nhân vật thành đạt post lên trang cá nhân của mình, những chia sẻ tuổi thầm kín của một cô ca sỹ nhạc dance về nhân sinh quan, của một f-boy về hoa và nhà chùa. Điều đó kết nối những tâm hồn nhạy cảm với nhau, trên cái sân chơi cyber-world, với ước muốn đem những cảm xúc riêng tư của mình sục sạo tìm những tâm hồn đồng điệu (nếu đồng điệu hãy like, thả tim, bình luận). Làm nouveau riche đồng nghĩa với việc hóa bản thân mình thành một tập đoàn tảo lục hùng mạnh, chăm chút cho sự thông minh có hạn của nhau, cùng nhau thỏa mãn với kiến thức của mình, đặc biệt, phù phiếm cảm xúc cùng với nhau.

Bao nhiêu đặc quyền của việc trở thành một nouveau riche tôi chỉ nói được có thế, trong dung lượng của bài. Vậy, nếu đủ mẫn cán và dụng công, quý bạn sẽ có cơ hội trở thành một quý tộc mới ngay trong những status tới trên wall nhà mình. Sau đây, trong khuôn khổ của một trang tin về sách báo chí, tôi xin mạn phép giới thiệu những bí quyết vỡ lòng để trở thành một nhân vật bất hủ trong thời đại hôm nay chỉ với những phương pháp viết luận những tác phẩm văn chương (điểm sách, review sách, PR sách, tham gia thi cảm thụ sách,… thậm chí rất hữu dụng để viết nghị luận văn học trong chương trình phổ thông từ lớp 6 đến lớp 12) mà bạn có thể áp dụng ngay trong lần tới.

1. Trích dẫn những tác phẩm – tác giả thật hàn lâm và xa rời chủ đề

Đừng bao giờ quên rằng, cách để mọi người biết mình là một nouveau riche qua những bài luận là có những kiến thức thâm sâu và uyên bác bậc nhất về văn học, nền văn học, tác giả, phong cách sáng tác,… Nhưng chẳng có ai dư dả thời gian để tới nghe bạn trình chiếu powerpoint về Vladimir Nabokov hay một cái ông đã chết lẩu lâu. Trích dẫn không ngừng nghỉ vào trong bài viết của quý bạn là một giải pháp toàn vẹn cả đôi đường. Nhiều khi bạn không cần đọc Ulysses để trích dẫn James Joyce, hãy search chúng, và đặt cốt truyện cùng những chương văn xuôi cách điệu và sáng tạo của văn hào Ireland kia vào trong bài của bạn. Thật sáng tạo và nhiều tri thức làm sao! Bạn đã tạo ra trong tác phẩm của bạn những gương mặt có máu có me trong làng văn và chắc chắn ai ai cũng ngưỡng mộ, dù phần lớn, sẽ tra xem đó là ai, ngoài tác phẩm được trích còn có gì, hoặc tra thêm bút pháp, rút gọn nhất có thể, vừa thời gian uống một cốc latte.

Cũng đừng ngần ngại rằng liệu những tác phẩm mà quý bạn đem vào thực sự nó có giúp ích, nâng cao hay thậm chí, chỉ là minh hoạ cho chủ đề, cuốn sách bạn đang nói về hay không. Tin tôi rằng, nếu ngoan tay một tí, tất cả những cuốn sách trong cuộc đời này đều liên quan tới nhau, đều là những câu chuyện phiếm không đầu không cuối góp trong một lần nhiều chuyện trong chợ lúc giã giề. Hãy dùng Paulo Coelho mà nói về Finnegans Wake (nhân tiện, thì Happy Bloomsday!), một người thật mainstream và một văn nhân thập cổ lai hi chẳng ai thèm đọc ư? Chẳng sao cả.

Hãy sưu tập những cái tên nổi tiếng ngay bây giờ để trích dẫn vào bài viết của mình, dù chỉ sẽ dùng như là những cái tên sau ngàn dấu phẩy liệt kê để dẫn nhập vào tác giả mà mình muốn nói. Giả dụ, Mỹ-La tinh sao có thể bỏ qua Jorge Luis Borges, Gabriel Garcia Marquez. Đông Âu làm sao quên László Krasznahorkai, Bruno Schulz,… Ứng với đó, Borges có Cuốn sách cát, Khu vườn những lối đi phân nhánh, Mê hồn trận; Marquez làm sao quên Trăm năm cô đơn, Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, Tình yêu thời thổ tả; László Krasznahorkai rối rắm với Nỗi buồn kháng cự (thêm phim của Bela Tarr nữa thì còn gì bằng), Chiến tranh và chiến tranh trong khi Schulz có Những cửa hiệu quếPhố cá sấu.

Nhưng hãy chú ý rằng, đừng bao giờ đem những cái tên mà những người khác đã đem vào hàng trăm lần rồi, nhưng cũng đừng vận công vào những nhà văn chẳng có ai biết. Ernest Hemingway, Lev Tolstoy, Honore de Balzac, Truyện Kiều, Vội vàng là lựa chọn phù hợp, nhưng không phải lúc nào cũng an toàn.

2. Rước cho mình một giọng văn như nhà phê bình chán đời và khó tính

Dù quý bạn khó tính hay không khó tính, dù quý bạn có nhìn đời bằng màu hồng hay màu mực, khi muốn tỏ ra là một người giàu kinh nghiệm, hãy tỏ ra khó nhằn. Tại sao lại như thế, việc tung hê ai đó một cách sỗ sàng thường được gán cho vài tính từ hạ bệ kinh khủng đối với người viết: bợ đít, níu váy,… Và dĩ nhiên các nhà nouveau riche không hề thích thú làm gì việc đó. Nên dù khi đối mặt với một trang văn không tì vết và hợp gu đến lạ lùng (đó là tôi khi đọc Friedrich Durrenmatt) thì đừng có mà suồng sã khen một cách tới tấp. Hãy học cách Joseph Conrad giải mã chậm và ẩn ý, bằng việc phân tích một cách lớp lang: tổng, phân, tích, kết. Hãy chê bai thứ gì đó, ví dụ chê đời sống tình dục và phàm ăn tục uống của ông Balzac khi chẳng còn gì để chê (hoặc sợ chê sai), hoặc nếu khó khăn để bới móc, hãy lôi ai đó vào, và chê bai chép miệng, như một người bạn thân thiết biết rõ từng tính nết của gã ta (nhà văn, nhà thơ,…).

3. Dùng những ngôn ngữ lạ lùng

Đó không phải là những dạng thức teencode vung vãi trên từng dòng tin nhắn của quý bạn trên mạng xã hội khi muốn người khác nhìn bạn với tất cả sự dễ thương và hóm hỉnh, đó chính là những thuật ngữ khoa học chính cống và rất mang sức đánh động. Dù có hơi khó khăn để nhớ vì rối rắm, hãy rước cho mình những câu từ quý phái để làm một nhà bình phẩm chính cống: sự nới lỏng tổ chức (looseness of association), hiện thực thậm phồn (hyperreality), rễ chùm (rhizone),… Có vô vàn thuật ngữ sang trọng để quý bạn cho vào trong bài viết của chính mình để mà tô điểm. Dù đó là một công trình nghiên cứu rất cật lực và từ ngữ mang nhiều sắc thái và luận đề, hãy cứ bỏ nó vào một tình tiết hay nghệ thuật nào đó bất kỳ, vì thật may mắn làm sao, tất cả những ngôn từ, bình dân đến bác học, mới phù phiếm và tự do vận động đến bất ngờ. Một số cuốn sách nên đọc với lượng từ khổng lồ để sưu tầm là Văn học hậu hiện đại (Lê Huy Bắc), Cấu trúc thơ (Thụy Khuê), Triết học của tự do (Nikolai Alexandrovich Berdyaev),…

Không chỉ thế, thật ấn tượng làm sao nếu bạn đã đọc bản gốc của tác phẩm và trích nó lại bằng chính ngôn ngữ của nó. Thậm chí trích luôn D. H Lawrence, T.S Eliot hay Charles Dickens bằng tiếng Pháp thì chẳng ai phàn nàn gì, mà chỉ thấy ôi, sao mà giỏi thế!

Có rất nhiều bí kíp để thực hành làm một nouveau riche đúng điệu qua từng lời nói và bài viết của bạn, về văn học nói riêng và cuộc đời nói riêng. Việc mua những cuốn sách của Paul Valery hay Wittgestein và chẳng hiểu gì thật là trác tuyệt, việc cặp kè Franz Kafka và thảo luận liên hồi về kafkaesque, iceberg theory, lost generation,… mới hiểu biết làm sao, việc coi Bắt trẻ đồng xanh (J. D. Salinger) và Bay trên tổ chim cúc cu (Ken Kesey) là tuyên ngôn đi tìm chính mình của quý bạn thật sâu sắc nhường nào. Đó là lúc bạn đã trở thành một nouveau riche vang dội.

(Bài viết vận dụng những bí kíp chia sẻ, dù tác giả chẳng mặn mà gì mấy.)

Hết.

Gia Bin


Xem tất cả những bài viết của Gia Bin.


*

Chuyện bình sách


Đọc bài viết

Cafe sáng