Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Tôi đi tìm hiểu tác phẩm “Tuyết” của Orhan Pamuk

“Ừ, thế thì cứ loại trừ dân chúng, cấm cản họ, bắt họ phải im miệng. Bởi vì tinh hoa tiến bộ của châu Âu quan trọng hơn là dân chúng.” – Dostoevsky, ghi chép của “Anh Em Nhà Karamazov”.

Đăng từ

on

Thổ Nhĩ Kỳ có diện tích rất lớn, hơn bảy trăm tám chục ngàn kí lô mét vuông, trải rộng từ châu Âu sang châu Á, vì thế có nền văn hóa đặc biệt mang cả hai tính chất Á và Âu. Vào thế kỷ thứ chín, dòng họ Seljuk của dân Turk sống ở ngoại vi lãnh thổ Hồi giáo, phía Bắc của biển Caspian và biển Aral. Đến thế kỷ thứ 10, họ Seljuk bắt đầu lấn vào phía Đông của Anatolia, còn được gọi là Asia Minor hay Tiểu Á, dần dần biến vùng này xứ sở của các bộ lạc người Turk (Thổ Nhĩ Kỳ). Anatolia bao gồm phần lớn lãnh thổ của quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Sau trận chiến Manzikert năm 1071, họ Seljuk phát triển và trở nên vương quốc hùng mạnh bao gồm Trung Á, Ba Tư, Anatolia và Tây Nam của châu Á.

Năm 1243 trong khi tiếp tục bành trướng biên giới, quân đội Seljuk bị Mông Cổ đánh bại và suy yếu dần; cuối cùng rơi vào tay đế quốc Ottoman. Đế quốc Ottoman ngự trị 623 năm, hùng mạnh nhất vào thế kỷ 16 và thế kỷ 17, thường xuyên xung đột với Đế quốc và Giáo hội La Mã. Đang trên đà suy thoái, Ottoman ủng hộ Đức trong thế chiến thứ Nhất và hoàn toàn bị đánh bại. Lực lượng Đồng Minh cắt lực lượng Ottoman ra thành nhiều mảnh và chiếm đóng Istanbul. Mustafa Kemal Pasha dẫn đầu cuộc chiến tranh giải phóng Istanbul và dành độc lập, biến phần còn lại của Đế quốc Ottoman thành Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1923, Mustafa Kemal Pasha trở nên Tổng Thống của Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ, chủ trương tự do tôn giáo (secularism), mặc dù khoảng 99 phần trăm dân trong nước theo Hồi Giáo, đa số theo phái Sunni. Quốc hội tặng Mustafa Kemal Pasha tước hiệu Ataturk có nghĩa là người cha của dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1934.

Dân Thổ Nhĩ Kỳ đa số theo Hồi Giáo và phụ nữ thường dùng khăn choàng đầu để che mái tóc của họ. Khăn choàng đầu ngoài biểu hiện tôn giáo, đã trở thành một phong tục tập quán của phụ nữ thích trang phục kín đáo. Giới lãnh đạo trẻ tiếp nối Ataturk, trong nỗ lực “văn minh hóa” Thổ Nhĩ Kỳ bằng cách “Tây phương hóa,” đã xem khăn choàng đầu của phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ là dấu hiệu của sự lạc hậu nên tìm đủ mọi cách để hủy bỏ cách trang phục này. Hệ thống giáo dục thuộc về quyền quản trị của chính phủ vì thế các nữ sinh nếu muốn được vào trường học phải từ bỏ khăn choàng đầu.

*

Orhan Pamuk sinh ngày 7 tháng Sáu năm 1952 ở Istanbul. Ông dạy văn và phê bình văn học, môn Comparative Literature, xin tạm gọi là Văn học So sánh, ở Đại học Columbia (Hoa Kỳ). Ông là nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ đầu tiên được trao giải Nobel Văn chương năm 2006. Tác phẩm của ông đã được dịch ra hơn 50 ngôn ngữ trên thế giới, tổng số sách bán được hơn 7 triệu cuốn.

Ông mơ ước làm họa sĩ, nhưng để có thể kiếm sống, ông theo học ngành kiến trúc vì bộ môn này gần với giấc mơ làm họa sĩ của ông. Tuy nhiên, sau ba năm học ngành kiến trúc ông bỏ ngành này để theo đuổi sự nghiệp văn chương. Trong văn chương, quá khứ hội họa của ông được thể hiện bằng cách ông dùng màu đặt tên cho tác phẩm. Kinh nghiệm kiến trúc của ông được mang vào tác phẩm qua những miêu tả và nhận xét về những kiến trúc cổ mà Thổ Nhĩ Kỳ đã thừa hưởng từ những nền văn minh lâu đời nhất của Hy Lạp và La Mã. Ông tốt nghiệp ngành báo chí ở Đại học Istanbul năm 1976. Để theo đuổi sự nghiệp văn chương ông đã phải sống nhờ vào mẹ từ năm ông 22 cho đến 30 tuổi. Tháng Ba năm 1982, Pamuk kết hôn với Aylin Turegun một nhà sử học. Năm 1985 cho đến năm 1988, trong khi vợ ông đang theo học cao học ở đại học Columbia, ông nhận làm Giáo sư thỉnh giảng ở đại học này, cùng lúc ông nghiên cứu và thu thập tài liệu để viết quyển The Black Book (Quyển sách đen). Vào thời điểm này ông cũng được mời dạy ở Đại học Iowa. Năm 1991 hôn nhân của ông tan rã. Ông có một con gái đặt tên Ruya (có nghĩa là giấc mơ).

Tháng Hai năm 2005 trong một cuộc phỏng vấn của tạp chí Das Magazin Thụy Sĩ, nhà văn Pamuk đã nhắc đến hơn ba chục ngàn người Kurd và cả triệu người Armenian đã bị người Thổ Nhĩ Kỳ thảm sát, vì thế ông bị truy tố tội nhục mạ quân đội và bản chất của người Thỗ Nhỉ Kỳ. Ngày 29 tháng Mười Hai năm 2005 công tố viện hủy bỏ vụ truy tố tội hạ nhục quân đội nhưng vẫn giữ tội mạ lị bản chất dân tộc. Sách của ông bị đốt và người ta tổ chức biểu tình nhục mạ và đả kích ông. Vì vậy, ông quay lại Hoa kỳ đi dạy ở đại học Columbia. Hiện nay Pamuk đang ở trong Committee on Global Thought (Hội Đồng Ý Thức Quốc tế) và có chân trong Columbia’s Middle East and Asian Languages and Cultures Department (Ban Ngôn Ngữ và Văn Hóa Trung Đông và Á Châu của đại học Columbia).

Tác phẩm mới nhất của Pamuk The Museum of Innocence (Bảo tàng ngây thơ) đã phát hành ngày 29 tháng Tám năm 2008. Bản dịch tiếng Đức ra mắt trước khi bắt đầu Hội chợ Sách Frankfurt năm 2008. Pamuk triển lãm bộ sưu tập những vật dụng trong cuộc đời viết văn của ông trong một căn nhà của ông ở Istanbul.

Orhan Pamuk được nhiều giải thưởng trong đó có giải văn học Madarali năm 1984 cho tác phẩm The Silent House (Căn nhà im ắng), La Découverte Européenne năm 1991 cho bản tiếng Pháp của quyển này. The White Castle (Lâu đài trắng) xuất bản năm 1985 bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ được trao giải thưởng văn học ngoại quốc Independent Award năm 1990. Năm 1990 quyển The Black Book trở nên nổi tiếng và tạo ra nhiều cuộc tranh luận trong giới văn học Thổ Nhĩ Kỳ bởi vì tính chất phong phú và đa dạng của nó. Pamuk trở nên nhà văn có sách bán chạy nhất và gây ra nhiều sôi nổi trong dư luận khi năm 1985 ông xuất bản The New Life (Cuộc đời mới). Vào thời điểm này Pamuk trở nên rất danh tiếng bởi vì ông công khai bênh vực và đòi quyền sống cho người Kurd. Năm 1995 Pamuk và một nhóm nhà văn bị truy tố vì đã viết những bài tiểu luận phê phán chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ đã ngược đãi dân Kurd. Năm 1999 Pamuk xuất bản tập tiểu luận Other Colors (Những màu sắc khác). Pamuk trở nên nổi tiếng trên văn đàn thế giới sau khi ông xuất bản My Name Is Red (Tên tôi là Đỏ) năm 2000. Quyển này được dịch ra 24 ngôn ngữ trên thế giới và đã mang lại giải thưởng quốc tế IMPAC Dublin năm 2003. Năm 2005 Orhan Pamuk được trao giải Hòa Bình Thương Trường Sách của người Đức (Peace Prize of German Book Trade). Tháng Mười năm 2006 Orhan Pamuk được trao giải Nobel Văn chương.

*

Tác phẩm của Pamuk thường nói lên sự xung đột về văn hóa giữa Tây phương và Đông phương, trong đó tôn giáo là trọng điểm. Quyển Tên tôi là Đỏ và Tuyết là thí dụ điển hình. Nhà thơ Sonia Sanchez trong một bài thơ đã quan niệm, người viết văn làm thơ là những nhà chính trị. Hoặc là họ làm thinh chấp nhận chế độ họ đang sống. Hoặc là họ cất tiếng nói để thay đổi xã hội. Văn học thường phản ảnh đời sống của một quốc gia. Muốn biết đời sống của quốc gia nào cứ đọc văn học của quốc gia ấy. Tác phẩm của Orhan Pamuk phản ảnh đời sống của Thổ Nhĩ Kỳ và Orhan Pamuk là nhà văn có tham vọng thay đổi quan điểm chính trị không chỉ giới hạn trong phạm vi Thổ Nhĩ Kỳ, mà còn ở tầm mức thế giới, đặc biệt là châu Âu, đã áp đặt lên quốc gia của ông.

Thổ Nhĩ Kỳ có vị trí đặc biệt, diện tích trải rộng từ Âu sang Á, cách nhau chỉ bởi eo biển hẹp tên là Bosporus Strait, nên có nền văn hóa rất đặc thù, một sự kết hợp giữa Đông Tây rất màu sắc và phong phú. Thủ đô Istanbul ở miền Tây Bắc của Thổ Nhĩ Kỳ, là một thành phố giàu có thịnh vượng nằm trên phần đất của châu Âu. Kars, ở Đông Bắc của Thổ Nhĩ Kỳ, nằm trên châu Á, giáp ranh với Georgia, ngày xưa đã từng là một trung tâm thương mại giàu có, nơi Nga và Armenia, buôn bán trao đổi hàng hóa. Nga hoàng Alexander, tương truyền, đã từng dùng Kars làm nơi rendez-vous với tình nhân. Các nhà chính trị của Nga đã trốn qua ở Kars để tránh bị đi lưu đày ở Siberia (Tây Bá Lợi Á).

Ngày nay, Kars là một nơi điêu tàn nghèo khó, có tỉ lệ thất nghiệp rất cao. Thành phố vẫn còn rất đẹp, mặc dù những kiến trúc cổ đã bắt đầu suy tàn. Một trong những nguyên do làm cho Kars trở nên suy thoái về kinh tế và tài chính là vì lực lượng du kích của dân Kurds thường hay về làng để tìm người gia nhập đạo quân của họ và thu thập lương thực. Điều này làm người ta sợ không dám đầu tư kinh tế vào Kars. Đa số người đến Kars là nông dân trong các làng mạc xa đến Kars để buôn bán ban ngày và trở về làng khi trời tối. Còn lại là các cô điếm từ Georgia và Nga ban ngày phục vụ khách và tối tối mò đến các ba bán rượu. Trong phố có vài tiệm cà phê (tea house) mà đàn ông địa phương tụ tập suốt ngày để đánh cờ, trò chuyện giết thì giờ, và cũng để trốn cái lạnh ở nhà của họ. Kars cũng có một trường Hồi Giáo dành cho trẻ em trai. Theo Hồi Giáo, trẻ em trai đến tuổi mười một hay mười hai phải gia nhập các trường Hồi Giáo để học tập các nghi lễ về tôn giáo. Ở mức độ cực đoan, Taliban (Afghanistan) đã dùng những trường tôn giáo như thế này để huấn luyện quân sự và chính trị cho trẻ em trở thành những cảm tử quân. Chính quyền luôn luôn lo sợ các giáo sinh Hồi giáo nổi loạn nên khi có biến động trường hồi giáo thường bị ruồng xét và bắt bớ.

Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, kar có nghĩa là tuyết. Ka, nhân vật chính của quyển Tuyết, từ Istanbul đến Kars, thành phố mang tên Tuyết, nổi tiếng có thời tiết khắc nghiệt; anh ở Kars chỉ có ba ngày khi thành phố này chìm ngập trong cơn bão tuyết. Ka, như một cánh hoa tuyết ở trong một thành phố tên Tuyết nằm trong cơn bão tuyết. Orhan Pamuk trong bài tiểu luận From the Snow in Kars Notebooks đã cho biết dụng ý của ông là dùng tuyết che lấp tất cả những dấu vết đặc thù của Kars để ông có thể biến Kars thành một thành phố tổng quát chuyên chở những hình ảnh sáng tạo của ông. Kars cũng có thể là bất cứ thành phố nào tượng trưng cho Thổ Nhĩ Kỳ nơi đó Ka nhìn thấy sự xung đột Đông Tây trong chính cá nhân, của người trong quốc gia, và của quốc gia với châu Âu. Đứng về hàng ngũ Tây phương là châu Âu, Frankfurt, Istanbul (phần nằm trên địa phận châu Âu của Thổ Nhĩ Kỳ), và Ka. Đứng về hàng ngũ Đông phương là phần lớn còn lại của Thổ Nhĩ Kỳ thuộc về châu Á, Kars, và tất cả những người dân (đa số là Hồi giáo và một thiểu số Kurd) ở trong Kars.

Cảnh báo: Nội dung dưới đây tiết lộ phần lớn nội dung tác phẩm.

Ka, là nhà thơ, bốn mươi hai tuổi, đẹp trai, tính nhạy cảm đến độ hay khóc. Trong ba ngày ở Kars, anh đã khóc rất nhiều lần, ngay cả vừa đi vừa khóc trên đường phố. Ka sống lưu vong mười hai năm ở Đức, từ Frankfurt trở về Istanbul, rồi từ Istanbul đi đến Kars, đây là một cuộc hành trình đi từ Tây sang Đông, từ châu Âu sang châu Á. Trong cuộc hành trình này, qua Ka, độc giả sẽ nhìn thấy sự xung đột văn hóa và tôn giáo giữa Đông và Tây.

Tên thật của Ka là Kerim Alakuşoğlu. Anh không thích tên này nên bảo mọi người gọi mình là Ka. Orhan Pamuk trong bài tiểu luận In Kars and Frankfurt in trong quyển Other Colors viết năm 2005, đã giới thiệu về nhân vật của mình như sau: “Anh ta không màng đến chính trị, anh ta cũng chẳng thích chính trị; suốt đời anh chỉ yêu thơ. Nhân vật của tôi là một nhà thơ sống ở Frankfurt. Anh ta nhìn chính trị của Thổ Nhĩ Kỳ như người ta nhìn thấy một tai nạn – đó là một chuyện mà anh ta tình cờ mà bị liên lụy.” Mẹ anh mới vừa mất nên anh về Istanbul làm đám tang cho mẹ. Qua lời của Taner, người bạn phụ trách tờ báo Republican ở Istanbul, Ka biết Ipek, cô bạn gái rất đẹp mà anh đã thầm yêu từ ngày còn ở đại học chưa kịp tỏ tình thì cô đã lấy chồng, vừa mới ly dị và hiện đang ở Kars. Theo lời của Taner, Kars đang ở trong tình trạng biến động. Vị thị trưởng cũ của Kars vừa bị ám sát và sắp sửa có một cuộc bầu cử Thị trưởng mới. Ngoài ra có một hiện tượng đáng chú ý là ở thành phố này đang có dịch tự tử. Những người tự tử toàn là phụ nữ, có người đã lập gia đình, có người còn độc thân và tất cả đều rất trẻ. Taner cấp cho Ka một thẻ báo chí và đề nghị anh về Kars điều tra và viết một bài tường thuật về hai sự kiện này. Ở Frankfurt, Ka tuy biết tiếng Anh nhưng không biết tiếng Đức. Không hòa nhập được với xã hội Đức do bất đồng ngôn ngữ anh làm thơ để đối phó với sự im lặng và cô đơn. Và anh trở nên một nhà thơ nổi tiếng ở Đức. Rồi cũng chính sự im lặng và cô đơn này đã đưa Ka vào tình trạng bế tắc. Suốt bốn năm anh không làm được bài thơ nào. Ka có chủ ý sẽ tìm người để cưới làm vợ rồi đưa về Frankfurt sống. Ipek là lý do chính cho anh đến Kars. Ngoài ra Ka cũng hy vọng sẽ tìm được cảm hứng để làm thơ trở lại.

Ngay lập tức khi đến Kars, Ka đi phỏng vấn gia đình của các cô gái đã tự tử. Ka thu thập được nhiều lý do xem chừng như trái ngược với nhau. Có người cho là các cô tự tử vì không có hạnh phúc với chồng, vì gia đình chồng ngược đãi, vì cha mẹ cấm đoán không cho ra ngoài hay giao du với bạn bè, vì bị vu oan là mất trinh nên bị từ hôn, vì bị bắt phải cởi khăn che đầu và vì bị cấm đến trường. Khi Ka và Ipek hẹn gặp nhau ở một quán cà phê New Life Pastry gần khách sạn Snow Palace, nơi Ka ở do bố của Ipek làm chủ. Ở đây Ka chứng kiến Tiến Sĩ Nuri Yilmaz, Trưởng Viện Giáo Dục của Kars bị bắn và hôm sau ông ta chết. Người bắn là một người trong tổ chức Hồi giáo trẻ tuổi cực đoan. Với vai trò ký giả muốn thu thập tin tức về cuộc bầu cử sắp đến và tìm hiểu lý do gây ra dịch tự tử giữa một số phụ nữ trẻ tuổi ở Kars, Ka được gặp hầu hết các khuôn mặt có thế lực đặc biệt trong Kars và qua họ Ka khám phá ra rất nhiều vấn đề thời sự nóng bỏng không chỉ ảnh hưởng ở Kars mà còn ảnh hưởng đến nền chính trị của quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ. Muhtar Bey, chồng cũ của Ipek, đang ra tranh cử chức thị trưởng, đại diện cho Hồi giáo là đảng đối lập với chính quyền đương kim. Hiện Muhtar đang thắng thế. Việc ông trưởng viện Giáo dục bị ám sát là lý do để chính quyền của Kars bắt nhốt, đánh đập tra tấn nhiều người bị xem là đối lập với chính quyền, trong đó có Muhtar. Pamuk nhận thấy chừng như Muhtar đã quá quen thuộc với chuyện bị bắt bớ đánh đập nên ông ta không có vẻ gì ngạc nhiên. Muhtar xem như chuyện bị chính quyền đánh đập là một cái giá phải trả để được có tiếng nói đại diện cho những người Hồi giáo bị đàn áp. Orhan Pamuk quan niệm cách tốt nhất để hiểu biết đời sống trong một thành phố là đi bộ tham quan thành phố đó. Trong tác phẩm Tên tôi là Đỏ Pamuk đã cho nhân vật của ông đi vòng quanh Istanbul. Trong Tuyết, Pamuk cho Ka đi hết những ngõ ngách hoang phế nghèo nàn nhất của Kars, nơi mà tất cả mọi người trong Kars muốn lãng quên và trên thế giới không ai biết đến. Trong lúc đi bộ vòng quanh thành phố, Ka được Necip, một học sinh của trường Hồi giáo, kết bạn và Necip dàn xếp đưa Ka bến gặp Blue. Blue, có nghĩa là Xanh, là một biểu tượng rất quan trọng trong Hồi Giáo. Đền thờ Sultan Ahmed là một trong những đền thờ lớn nhất, nổi tiếng nhất, lâu đời nhất trong lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ được gọi là Blue Mosque, hay Đền Thờ Xanh. Sở dĩ đền thờ Sultan Ahmed được gọi là đền thờ Xanh là vì tường của đền thờ được ghép rất nhiều gạch men màu xanh thành những hình hoa văn. Vào thế kỷ 14 Thổ Nhĩ Kỳ nổi tiếng trên thế giới về việc xuất cảng cobalt một loại khoáng chất màu xanh. Nghệ nhân Việt Nam ở Chu Đậu đã dùng đá màu này trang trí đồ gốm sứ bằng những hoa văn màu xanh lam được mệnh danh là gốm sứ Chu Đậu. Ngoài ra Thổ Nhĩ Kỳ còn có một loại đá xanh đặc biệt họ đã gọi là Turquoise, có nghĩa là đá màu xanh của Thổ Nhĩ Kỳ.

Blue, là một thanh niên có đôi mắt xanh thẫm, màu của đêm sâu, đẹp trai đến độ anh chinh phục được rất nhiều trái tim người đẹp trong đó có cả hai chị em Ipek và Kadife. Người ta đồn là Blue là người cố vấn tư tưởng cho các cô gái đã tự tử. Kadife là em của Ipek, là một cô gái có cá tính rất mạnh. Cô là một cô gái theo Tây phương nên không theo chủ trương phải che dấu mái tóc của mình. Tuy nhiên có một lần bị thách thức nên cô dùng khăn choàng đầu và từ đó bị giới cầm quyền của Kars quấy nhiễu đến độ cô trở nên chống đối và thách thức chính quyền. Kể từ khi dùng khăn choàng đầu, với nhan sắc lộng lẫy, Kadife trở nên thần tượng của giới trai trẻ học sinh trong trường Hồi Giáo, và cô là thủ lĩnh của đám nữ sinh tranh đấu để được quyền choàng khăn. Theo lời của Ka, Ipek còn đẹp hơn Kadife nhiều lần. Blue là kỹ sư điện tử tốt nghiệp đại học ở Hamburg Đức. Blue có một lịch sử chính trị khá lẫy lừng. Người ta đồn là anh đã giết chết một người đồng tính luyến ái, hướng dẫn viên của một chương trình truyền hình, ăn mặc hào nhoáng lố lăng vì người này đã nói những lời bị xem là nhục mạ giáo chủ của Hồi Giáo. Blue có tài ăn nói rất thuyết phục. Blue nói rằng tuy là anh chủ trương dùng bạo động để tiêu diệt kẻ thù của Hồi giáo anh chưa hề giết người bao giờ. Hiện nay Blue được tôn làm người lãnh đạo của thanh niên Hồi Giáo ở Kars. Chính quyền tin là Blue là người điều động việc ám sát Trưởng Viện Giáo Dục vì ông ta đã cấm không cho các cô gái choàng khăn che đầu vào trường học, và đã gây căm phẫn đến độ Teslime tự tử chết. Nhà cầm quyền tìm cách bắt giam Blue bởi vì tin rằng anh có khả năng lãnh đạo nhóm sinh viên Hồi giáo để chống chính quyền.

Ở Kars, báo chí là công cụ của chính quyền. Để kiểm soát và điều động dân làm theo ý của chính quyền, báo chí thường loan tin trước khi sự kiện thật sự xảy ra. Thí dụ như Ka được biết là anh sẽ đọc một bài thơ có tựa đề là Tuyết dù anh chưa sáng tác bài thơ này. Cũng trong buổi đọc thơ này sẽ có một màn kịch được chính quyền hỗ trợ. Đây là một vở kịch có dụng ý tuyên truyền khuyến khích các cô gái từ bỏ khăn choàng đầu. Trong vở kịch có một cô gái có lối sống Tây phương. Để phát biểu quyền tự do chọn lựa cá nhân cô từ bỏ khăn choàng đầu. Những người Hồi giáo quá khích đe dọa sẽ cưỡng hiếp cô và khi họ tấn công, chính quyền đến giải cứu cô kịp lúc. Cô gái lột khăn để xõa mái tóc đẹp và tuyên bố sẽ không bao giờ dùng khăn che tóc nữa. Vở kịch này được trình diễn hằng năm và những nam sinh Hồi giáo thường la ó phản đối nhưng họ vẫn đến xem trong một ngày bão tuyết mịt mù vì họ chẳng có gì để giải trí. Cũng trong đêm diễn kịch này, khi một đám học sinh Hồi Giáo phản đối, Z Dermikol, một cựu đảng viên Cộng sản, bạn của Sunay Zaim, diễn viên chính của buổi trình diễn, đã cho lệnh nã súng vào đám nam sinh Hồi giáo giết chết một số người trong đó có Necip, một học sinh Hồi giáo hiền lành, mơ làm nhà văn, và thầm yêu Kadife.

Sunay Zaim là một diễn viên nhiều tham vọng. Ông ta đã thủ vai nhiều lãnh tụ khét tiếng như Napoleon và Lenin. Tham vọng của Sunay là được đóng vai Ataturk (có nghĩa là người cha của dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ) nhưng cho đến nay mơ ước ấy vẫn không thành và tên tuổi của Sunay Zaim chưa được vào lịch sử. Ngay trong đêm ấy có một cuộc đảo chính. Bạn của Sunay Zaim là Z Demirkol và Thiếu tá Osman Nuri Çolak, một sĩ quan đã về hưu, nhân cơ hội thành phố Kars bị bão tuyết nặng nề tất cả những con đường giao thông đến Kars đều bị ngăn cấm, làm một cuộc đảo chính để cướp quyền hành, dùng quân đội khống chế tất cả mọi người. Cũng trong đêm ấy nhóm đảo chính tấn công trường Hồi Giáo giết học sinh, tấn công một vài trụ sở của người Kurd tịch thu tài liệu, bắt một nhà văn người Kurd đi trong đêm và bắn ông ta chết.

Blue phản đối hành động giết người này và muốn gửi lời tuyên ngôn của mình ra nước ngoài. Ka nói có thể gửi lời tuyên ngôn này đến một tờ báo ở Đức nhưng để lời tuyên ngôn có giá trị bài tuyên ngôn này phải cùng là tiếng nói của những nhóm đối lập và đại diện của dân chúng ở Kars; và anh đề nghị Blue cùng ký tên với một người trưởng nhóm du kích Kurd và một người đảng viên đảng Cộng sản đã về hưu. Turgut Bey, bố của Ipek và Kadife, nguyên trước đây là đảng viên đảng Cộng sản, ký tên vào bản tuyên ngôn này. Blue vì phải xuất hiện trước công chúng để ký lá thư nên bị bắt và Sunay Zaim làm áp lực với Kadife vốn là người tình bí mật của Blue; để cứu Blue, Kadife phải cùng đóng với Sunay Zaim vở kịch The Spanish Tragedy của Thomas Kyd trong đó Sunay Zaim đã thay đổi kết thúc của vở kịch dựa vào vở kịch The Good Woman of Szechuan của Brecht. Trong vở kịch này Kadife phải cởi khăn choàng đầu để lộ bộ tóc nâu rất đẹp của mình và tuyên bố từ bỏ khăn choàng. Nếu Kadife không muốn để lộ mái tóc cô có thể dùng tóc giả. Để cứu Blue Kadife nhận lời diễn kịch nhưng không hứa là sẽ cởi khăn. Và điều kiện của Kadife là Blue phải được thả ra. Tuy nhiên ông diễn viên nghiện rượu hết thời này, có tham vọng muốn vở kịch này sẽ làm danh tiếng của ông ta sống mãi với thời gian nên đã dùng thủ đoạn dấu đạn thật vào súng. Trong vở kịch ông đã đẩy Kadife đến mức đường cùng hoặc là phải cởi khăn choàng đầu hoặc là phải tự tử để bảo vệ danh dự nhưng không cho biết là có đạn trong súng.

Ka là người đứng trung gian trong cuộc thương lượng của Sunay Zaim và Kadife đồng thời thuyết phục Blue đồng ý để Kadife cởi khăn choàng trong vở kịch để giải thoát cho Blue. Khi Kadife bắt đầu vở kịch khi Blue đã được thả và đã đến nơi ẩn náu an toàn. Ka chuẩn bị đưa Ipek ra khỏi Kars về Frankfurt để sống với anh. Khi Ka nói với Blue điều này bỗng nhiên Blue đổi ý và không đồng ý cho Kadife cởi khăn choàng. Khi Ka trao lại tin này với người của Sunay Zaim anh được thông báo cho biết Ipek có một thời đã là người tình của Blue. Trong cơn ghen tột độ anh tiết lộ chỗ trú ẩn của Blue và vì thế Blue cùng với Hande, một người tình mới cũng là bạn của Kadife, bị giết chết.

Trong cơn đau đớn tột độ vì nhận tin cái chết của người yêu cũng là lúc biết mình bị người yêu phản bội, Kadife bắn chết Sunay Zaim bằng cây súng do ông ta đã nạp đạn sẵn. Sunay Zaim đã tự dàn xếp cho cái chết của mình vì ông ta nghĩ cái chết sẽ làm tên tuổi của ông ta tồn tại “biến nghệ thuật thành huyền thoại.” Ông ta đã bắt tờ báo địa phương phải loan tin trước là ông ta sẽ chết trong vở kịch.

Trong lúc Kadife đau đớn vì cái chết của Blue, Ipek cũng đoán được là Ka vì ghen nên đã tố cáo với chính quyền chỗ trốn của Ka và vì thế Ipek từ chối không về Đức với Ka. Ka bị chính quyền bắt buộc rời Kars khi chuyến tàu hỏa đầu tiên rời khỏi nhà ga sau ba ngày tuyết phủ. Anh sống trong nỗi tuyệt vọng vì thương nhớ Ipek nhưng không dám trở về Kars vì sợ bị trả thù. Tuy nhiên bốn năm sau anh bị một nhóm Kurd, Hồi giáo trẻ cực đoan ở Đức, bắn chết để trả thù cho cái chết của Blue.

*

Trong tác phẩm Tuyết, sự xung đột Đông và Tây được biểu hiện qua sự xung đột của quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ với châu Âu. Đã rất nhiều năm Thổ Nhĩ Kỳ cố gắng tham gia Liên Minh châu Âu (European Union). Trong khi rất nhiều quốc gia Cộng sản đã lần lượt được kết hợp vào Liên Minh châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn là người ngoại cuộc đang chờ cứu xét. Sự xung đột của châu Âu với Thổ Nhĩ Kỳ là một sự xung đột lâu đời, cũng lâu đời như lịch sử xung đột của Việt Nam và Trung Quốc! Từ thời văn minh cổ đã có những trận giao tranh đẫm máu giữa Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ và các nước châu Âu đặc biệt là La Mã, Pháp và Anh kéo dài bao nhiêu thế kỷ vì lý do tôn giáo. Trong lịch sử cận đại Thổ Nhĩ Kỳ là đồng minh của Đức trong thế chiến thứ Nhất và sự đồng minh này đã đưa đến sự sụp đổ của đế quốc Ottoman. Thổ Nhĩ Kỳ đã áp dụng chính sách thanh lọc chủng tộc giống như Đức để giết hơn ba mươi ngàn người Kurd và hơn một triệu rưỡi người Armenian. Cuộc thảm sát này được châu Âu mệnh danh là Holocaust của Armenia. Một trong những lý do châu Âu dùng để ngăn chận không cho Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập Liên Minh châu Âu là Thổ Nhĩ Kỳ vi phạm nhân quyền rất trầm trọng. Vào những năm 70, báo chí Thổ Nhĩ Kỳ bớt kềm chế nên một số nhà văn đã viết bài đả kích chính quyền đàn áp người Kurd. Đến thập niên 80, có rất nhiều người trong giới báo chí, văn học, dịch thuật bị bắt đi tù vì những bài viết này. Kurd là một nhóm người thiểu số kết hợp chừng hai mươi phần trăm dân số Thổ Nhĩ Kỳ. Vào những năm 40, nhóm người thiểu số này đã bị đàn áp, cấm không được dùng ngôn ngữ, trang phục, và ngay cả dân ca của họ. Ka là một trong những người bị lưu đày mặc dù bài của anh không chỉ trích chính quyền trầm trọng. Trong quyển Tuyết, nhiều lần Ka đã nhắc đến việc Thổ Nhĩ Kỳ đã thảm sát người Armenian khi người Nga rút ra khỏi địa phận Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1915. Tuy chuyện đã thuộc về quá khứ, cho đến nay chính quyền vẫn cấm báo chí không cho phép nhắc đến và giả vờ như chuyện chưa bao giờ xảy ra. Đoạn văn sau đây là lúc Ka ngồi quán cà phê nói chuyện với Ipek:

“Ngay sau đó họ nói về chính cái tiệm bánh mà họ đang ngồi. Nó là một nhà thờ Orthodox cho đến năm 1967, khi người ta tháo cánh cửa nhà thờ để mang vào viện bảo tàng. Một phần của viện bảo tàng này được dùng để tưởng niệm cuộc thảm sát người Armenia (rất tự nhiên, nàng nói, có vài du khách đến đấy với dự tính là xem những dấu vết về sự thảm sát người Thổ Nhĩ Kỳ bởi người Armenia, và giật mình khi khám phá sự thật ngược lại với sự hiểu biết của họ).”

Orhan Pamuk vạch ra, chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ cần phải sửa đổi việc vi phạm quyền tự do ngôn luận và đàn áp người dân thiểu số nếu muốn gia nhập Liên Minh châu Âu. Thổ Nhĩ Kỳ luôn luôn đứng bên ngoài một trung tâm thương mại, muốn tiến bộ giàu có nhưng không biết phải làm gì. Có tài nguyên nhưng không có kỹ thuật tân tiến để khai thác. Bán tài nguyên cho ngoại quốc thì sẽ bị ăn phỗng tay trên. Kinh tế nghèo khó cùng với sự đàn áp quá độ đã đưa đến chỗ người dân Kurd phản kháng và nổi loạn.

Khi phát biểu về sự thảm sát người Armenia, và bênh vực người Kurd bị đàn áp ở Thổ Nhĩ Kỳ, Pamuk gia nhập hàng ngũ với Kenzaburo Oe, văn hào Nobel năm 1994 và J.M. Coetzee, văn hào Nobel năm 2003. Kenzaburo Oe đã nói về việc quân đội Nhật Bản bức tử dân Nhật và J.M. Coetzee đã phát biểu việc người Nam Phi bị đàn áp. Các văn hào này là những giọng nói hùng mạnh của giới văn học đã bênh vực nhân quyền trong đó có quyền tự do ngôn luận. Họ cũng đã dùng tiếng nói của mình để nói với thế giới thay cho những người không thể nói và không có điều kiện để phát biểu ý kiến.

*

Sự xung đột Đông và Tây trong phạm vi quốc gia được thể hiện qua biểu tượng chiếc khăn choàng đầu của phụ nữ Hồi giáo. Vào đầu những năm 1920, theo trào lưu châu Âu, Ataturk áp dụng chủ nghĩa secularism (tự điển dịch là chủ nghĩa thế tục). Các nhân vật trong quyển Tuyết, đặc biệt là các nam sinh Hồi Giáo như Necip, Fazil, và tên sát nhân đã bắn ông trưởng Viện giáo dục, thường nhập nhằng giữa secularism với atheism (chủ nghĩa vô thần). Đa số quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đều theo secularism, tôi vẫn hiểu là tự do tôn giáo, không áp đặt bất cứ tôn giáo nào làm tôn giáo của quốc gia. Tuy nhiên Hồi giáo chiếm 99 phần trăm tổng số dân số Thổ Nhĩ Kỳ. Và có lẽ những thù hằn dây dưa bắt nguồn từ thời Thập Tự viễn chinh, người Thổ Nhĩ Kỳ đã trút thù hằn này lên những người Armenia là những người theo Thiên chúa giáo. Kế vị Ataturk là những nhà lãnh đạo trẻ tuổi rất ngưỡng một nền văn hóa châu Âu thúc đẩy sâu xa hơn việc châu Âu hóa Thổ Nhĩ Kỳ. Các nhà lãnh đạo này xem việc dùng khăn choàng đầu là lạc hậu do đó cấm phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ không được dùng khăn choàng đầu khi đặt chân lên đất đai tài sản của chính quyền. Đối với người Hồi giáo, bị tước đoạt quyền dùng khăn choàng đầu là một hành động khống chế của secularism, bị xem là hậu thân của những người theo Thiên Chúa giáo.

Phụ nữ và chiếc khăn choàng đầu trở nên một quả banh quần vợt bị tung hứng trên mặt trận dàn ra bởi chính quyền mệnh danh là tự do tôn giáo và các lãnh tụ Hồi giáo. Khăn choàng đầu của phụ nữ không chỉ là trang phục, mà còn là biểu tượng tôn giáo và phong tục của phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ. Người phụ nữ Hồi giáo, để được đến trường, và để cuộc sống của người thân không bị đảo lộn, phải từ bỏ khăn choàng đầu. Họ phải trả lời đối diện với sự trừng phạt của các người lãnh đạo tôn giáo. Sự trừng phạt đôi khi là sự đánh đập và hãm hiếp. Cả hai bên đều không muốn nhận trách nhiệm trong việc đã dằng co và đưa đẩy các cô nữ sinh Hồi giáo đến chỗ tự tử chỉ vì các cô muốn có quyền được dùng khăn choàng đầu. Pamuk đã xây dựng Kadife, một nhân vật nữ có cá tính và năng khiếu lãnh đạo. Kadife đã tranh luận về lý do những người phụ nữ Hồi giáo tự tử như sau:

“Tôi xin cô vui lòng giải thích tại sao cô muốn tự tử?” Sunay nói.

“Đây không phải là một câu hỏi ai cũng có thể trả lời,” Kadife nói.

“Cô nói thế là có ý gì?”

“Nếu một người biết chính xác tại sao cô ta tự tử và có thể phát biểu lý do của mình một cách công khai, cô ta sẽ không cần tự tử,” Kadife nói.

“Không! Không phải thế,” Sunay nói. “Có người tự tử vì yêu; có người giết người vì họ không chịu được sự đánh đập của chồng nữa, hay bởi vì sự nghèo khó đã xuyên thấu xương họ như một mũi dao.”

“Ông có cái nhìn về cuộc đời đơn giản quá mức.” Kadife đáp lại. “Một người phụ nữ muốn tự tử vì tình yêu vẫn biết nếu cô ta chờ ít lâu tình yêu của cô sẽ phai tàn. Nghèo khó cũng không phải là lý do chính đáng để tự tử. Và một người phụ nữ không cần phải tự tử để trốn tránh ông chồng vũ phu; cô ta chỉ cần ăn cắp tiền của hắn và bỏ hắn.”

“Thế thì, lý do thật sự là gì?”

“Lý do chính một người phụ nữ tự tử là vì cô ta muốn bảo toàn danh dự. Ít ra đó cũng là lý do mà đa số phụ nữ đã tự tử.”

“Cô có ý nói là họ bị người yêu hạ nhục?”

“Ông chẳng hiểu biết chút nào!” Kadife nói. “Một người phụ nữ không tự tử vì cô ta mất danh dự, cô tự tử vì muốn phô trương cái danh dự của cô ta.”

*

Sự xung đột Đông Tây ở mức độ cá nhân được Pamuk thể hiện qua cách chọn lựa hạnh phúc cá nhân hay an toàn cho gia đình và xã hội. Ka, lớn lên ở Istanbul, một thành phố mang tính chất văn hóa Âu châu, và sống lâu năm ở Frankfurt, một thành phố châu Âu. Lẽ ra anh có thể hòa nhập trong xã hội châu Âu nhưng trái lại anh rất cô đơn lạc lõng trong xã hội Tây phương. Làm một cuộc hành trình từ Tây sang Đông, từ Âu sang Á, anh nghĩ là ở Kars anh sẽ tìm thấy mình và sẽ tìm thấy hạnh phúc. Ở Kars, giữa những người Hồi giáo Ka càng hoang mang không biết mình là ai, không biết mình muốn gì. Trong cơn say túy lúy anh hôn tay của sheikh Efendi nhưng vẫn không thấy mình hòa hợp với người Hồi giáo. Mọi giá trị về văn hóa và tôn giáo mà anh tự thiết lập lúc ban đầu bỗng lung lay. Ở Frankfurt hay ở Kars, Ka luôn là người ngoại cuộc đi tìm một nơi thích hợp cho mình. Khi còn ở nước ngoài Ka định nghĩa hạnh phúc là viết ra được những câu thơ và có người yêu mình. Khi về đến Kars hạnh phúc được anh định nghĩa như sau trên trang 325:

“Hạnh phúc là tìm một thế giới khác để mà sống, một thế giới mà anh có thể quên hết nghèo khó và những kẻ độc tài. Hạnh phúc là có ai đó trong vòng tay và biết rằng mình đang ôm cả thế giới.”

Sau đây là nhận xét về Ka của Z Demirkol, viết văn, làm thơ, nhà báo, đã từng theo chế độ Cộng sản, và là một trong những nhà quân sự đã làm cuộc đảo chính ở Kars.

“Những người trí thức như ông không biết mình muốn cái gì, điều này làm tôi phát ốm. Anh nói anh thích có dân chủ, thế rồi anh lại theo phe với những người Hồi giáo cực đoan. Anh nói anh muốn có nhân quyền, xong rồi anh đi thương lượng với đám khủng bố giết người. Anh nói Âu châu là giải pháp rồi anh lại đi vòng vòng nịnh bợ các người Hồi giáo ghét bất cứ những gì là biểu tượng của châu Âu. Anh nói ủng hộ nữ quyền, thế rồi anh giúp đám đàn ông quấn khăn lên đầu vợ con của họ.”

*

Tiểu thuyết của Orhan Pamuk rất đa dạng, phong phú và rất nhiều ẩn dụ. Tác giả mở đầu câu truyện bằng một vụ giết người. Rồi sau đó cứ vài chương ông cho thêm một vụ giết người nữa, và càng về sau càng nhiều người bị giết. Tương tự Doris Lessing, văn hào Nobel năm 2007, trong quyển Cỏ hát (The Grass is Singing) ông cho biết thủ phạm giết chết nhân vật ngay trong những trang đầu, và những cái chết về sau như cái chết của Necip và Sunay Zaim được báo trước như thể tác giả không muốn độc giả phí thì giờ đi tìm thủ phạm giết người. Biết được tên sát nhân rồi độc giả chú ý vào những xung đột từ nội tâm đến ngoại trường đã đưa đến việc giết người. Khác với Yu Hua trong Brothers (Anh em) Pamuk không khai thác khía cạnh ghê rợn của sự bạo động. Qua Necip, Pamuk nhấn mạnh đến cái chết phi lý của một học sinh tôn giáo, ngây thơ, mơ mộng, hiền lành, chỉ biết yêu chưa biết hận thù, còn đang phân vân không biết có sự hiện hữu của Trời hay không, một nhánh cây thanh xuân bị bẻ gãy thật đột nhiên, một cái chết mà tôi thấy trong một câu hát của Trịnh Công Sơn, “chết thật tình cờ nằm chết như mơ.” Nhân vật của ông ít khi đối ngược với nhau, ngoại trừ hai nhân vật Necip và Kadife. Necip là một thanh niên Hồi giáo rất hiền lành mơ mộng, trong khi Kadife là một phụ nữ được nuôi dạy theo văn hóa châu Âu. Các nhân vật khác được xây dựng thành từng cặp bổ túc hậu thuẫn cho nhau thí dụ như Necip là tuổi trẻ của Ka, Kadife và Ipek là biểu tượng vừa Âu vừa Á của phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ, Necip và Fazil tượng trưng cho các giáo sinh Hồi giáo, hiền lành, mơ mộng. Không phải người nào ở trong trường Hồi giáo cũng trở nên những tay khủng bố giết người.

Nếu nước trong tác phẩm Mùa len trâu (của Sơn Nam được làm thành phim) làm chết lúa với trâu và phá hủy tài sản của cải của dân ở đồng bằng miền nam Việt Nam; nếu gió trong Tam Quốc Chí đã giúp lửa đốt cháy những chiến thuyền ở trận Xích Bích; nếu những vụ bạo động giết người ở Mỹ thường xảy ra ở những khu dân nghèo, tỉ lệ nghiện ngập và thất nghiệp cao, trong những đêm mùa hè khi vạn vật đắm chìm trong hơi nóng; thì trong tác phẩm Tuyết, cơn bão tuyết kéo dài ba ngày phong tỏa mọi lối ra vào thành phố, giữa những người dân bất mãn đã lâu vì những ức chế và mức độ nghèo khó, và giữa những người có tham vọng cá nhân to hơn lòng nhân đạo với vũ khí trong tay, có tác dụng phá hoại nguy hiểm tương đương với nước, gió lửa, và hơi nóng. Tuyết có công dụng dập tắt âm thanh và vây hãm để cuộc thảm sát những người yếu thế có thể xảy ra trong một thời gian rất ngắn. Kars trong màn tuyết triền miên không còn là Kars nữa mà là hiện thân của bất cứ thành phố nào trong quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ. Cái đàn áp, bóp nghẹt, bạo động áp dụng lên những người yếu thế nhỏ bé ở Kars cũng có thể ở một nơi nào đó trên quốc gia này.

Pamuk có tham vọng thay đổi quan điểm của châu Âu về những người Hồi Giáo và Thổ Nhĩ Kỳ, qua cách ông thể hiện những nhân vật sống ở Kars, ở một thành phố hẻo lánh nghèo nàn thuộc về châu Á. Pamuk cho rằng là các quốc gia Hồi giáo, trong đó có Thổ Nhĩ Kỳ, đã bị hiểu lầm nghiêm trọng. Một thiểu số người Hồi giáo, trẻ và nông nổi, chủ trương dùng bạo động để bảo vệ danh dự Hồi giáo, thật ra chỉ là một nhóm người trẻ tuổi, dễ bị lừa dối và lung lạc. Họ gây rối loạn bởi vì nhàm chán do dư thì giờ nhưng thiếu phương tiện để tự xây dựng đời sống và hạnh phúc của riêng họ. Một nhân vật trẻ tuổi, du kích Kurd, đại diện cho nhóm người nghèo và ít học của Thổ Nhĩ Kỳ, khi được hỏi anh ta sẽ nói gì với thế giới Tây phương nếu anh được cho phép tóm gọn trong hai câu, anh ta đã nói:

“Lỗi lầm to lớn nhất của nhân loại,” anh chàng thiếu niên người Kurd nói, “sự lừa dối to lớn nhất của hằng ngàn năm qua là: lẫn lộn giữa cái nghèo với ngu ngốc.”

“Nói cho chính xác, anh ta có ý gì khi dùng chữ ngu ngốc? Anh ta nên giải thích cho rõ ràng.”

“Suốt quá trình lịch sử, các nhà lãnh đạo tôn giáo, và những người có danh dự luôn luôn cảnh giác điều lầm lẫn này. Họ nhắc cho chúng ta nhớ rằng những người nghèo khổ có tấm lòng, biết suy nghĩ, nhân từ, và sáng suốt cũng như bao nhiêu người khác.”

Pamuk cũng nói hộ người dân Thổ Nhĩ Kỳ là họ không tin người Tây phương có thể hiểu và cảm thông với họ. Fazil, bạn của Necip, một trong những nam sinh Hồi giáo, về sau kết hôn với Kadife đã nói: “Nếu ông viết một quyển sách về Kars và cho tôi vào quyển sách, tôi muốn nói với độc giả của ông là đừng tin bất cứ những gì ông nói về tôi hay về bất cứ người nào của chúng tôi. Không ai sống rất xa chúng tôi có thể hiểu chúng tôi.”

Tác phẩm Tuyết sẽ giữ một vai trò quan trọng trong việc khuyến khích Đông Tây tìm hiểu lẫn nhau để giữ hòa bình trên thế giới khi mà cuộc chiến giữa Tây phương và các quốc gia Hồi giáo như Afghanistan, Iraq vẫn còn đang tiếp diễn. Thế giới luôn lo ngại Thổ Nhĩ Kỳ sẽ biến thành một quốc gia như Iran. Một vài quốc gia lạc hậu khác nhìn thấy Thổ Nhĩ Kỳ qua tác phẩm Tuyết may ra sẽ tôn trọng nhân quyền và quyền tự do ngôn luận?

Hết.

Tham khảo:

Western Civilization, Jackson J. Spielvogl
The New York Times Book Review của Margaret Atwood

Nguyễn Thị Hải Hà


Tìm hiểu thêm về tác phẩm Tuyết

viết bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

20 điều bạn chưa biết về truyện cổ Grimm

Đăng từ

on

Người đăng

Đã hơn 200 năm kể từ ngày xuất bản các tác phẩm Hansel và Gretel, Rumpelstiltskin và 200 câu truyện khác như Kinder- und Hausmärchen hay Children’s and Household Tales của Jacob và Wilhelm Grimm vào năm 1812.

Hầu hết tất cả chúng ta đều biết đến truyện cổ Grimm. Nhưng bạn có biết trong phiên bản Grimm gốc của Cô bé Lọ Lem, các cô chị ghẻ đã cắt bỏ một phân bàn chân để mang vừa chiếc giày? Hay người muốn giết hại Bạch Tuyết chính là mẹ ruột chứ không phải mẹ kế?

Trong một cuộc phỏng vấn mới đây, Giáo sư Maria Tatar ở đại học Havard – biên tập viên, dịch giả, người chú giải cho ấn bản 20 năm của The Annotated Grimm Brothers đã tiết lộ một số sự thật bất ngờ về truyện cổ Grimm.

1. Jacob và Wilhelm Grimm không hề có dự định viết truyện cổ tích cho trẻ con. Đây chỉ là một phần của dự án học thuật để khẳng định và bảo vệ tinh thần của người dân Đức.

2. Nhưng Edgar Taylor, một người Anh, đã dịch và xuất bản những câu chuyện này ở Anh vào năm 1823, và được trẻ con vô cùng yêu thích. German Popular Stories (tạm dịch: Những câu chuyện nổi tiếng ở Đức) trở nên nổi tiếng và tạo cảm hứng cho anh em nhà Grimm biên tập lại tuyển tập sách dành cho đối tượng gia đình. Điều này đã làm nên lịch sử khi ngày nay những câu chuyện của họ giúp củng cố thêm nền văn chương và văn hóa phổ biến ở phương Tây.

3. Anh em nhà Grimm không đi lang thang khắp làng quê, cũng không đương đầu với rừng rậm hay thời tiết khắc nghiệt để lượm lặt những câu chuyện của người nông dân từ mọi ngóc ngách. Nguồn truyện của họ chủ yếu đến từ những người phụ nữ trung lưu, có học thức, đặc biệt giỏi giang. Rất nhiều người đến nhà Grimm và kể lại chuyện của họ một cách thoải mái nhẹ nhàng, ngoại trừ một người lính nghỉ hưu kể câu chuyện của mình để đổi lấy quần áo cũ.

4. Anh em nhà Grimm tiếp tục bổ sung và chỉnh sửa bộ truyện, tái bản lần thứ bảy vào năm 1857. Đó là nền tảng cho mọi phiên bản truyện cổ Grimm được xuất bản ngày nay và bao gồm 210 truyện. Ngoài những chuyện ma thuật quen thuộc, quyển sách này cũng có nhiều thần thoại về tôn giáo, truyện cười và truyện ngụ ngôn.

5. Khi nhận thấy tuyển tập truyện được các độc giả trong gia đình đón nhận, tác giả chỉnh sửa thêm cho phù hợp với đối tượng trung lưu. Một trong những điều đầu tiên Wilhelm thực hiện chính là bỏ các chi tiết gợi cảm. Trong ấn bản đầu tiên của Rapunzel, chính vì Rapunzel mang thai nên mụ phù thủy mới biết đến sự viếng thăm của hoàng tử. Cô nói “Mẹ đỡ đầu ơi, tại sao quần áo của con lại bị chật, con không mặc vừa nữa”. Trong ấn bản lần thứ 7, không có một chi tiết nào ám chỉ đến hoạt động tình dục của Rapunzel. “Mẹ đỡ đầu ơi, tại sao kéo mẹ lên lại khó hơn kéo hoàng tử?

6. Một trong những câu chuyện mà Grimm loại bỏ sau ấn bản đầu tiên là Hans Dumm. Câu chuyện kể về người đàn ông có khả năng biến phụ nữ có thai chỉ bằng việc ước điều ước.

7. Anh em nhà Grimm cũng thay đổi truyện theo nhiều hướng khác, như bổ sung các chi tiết về đạo Kitô giáo, từ ngữ dân gian, và nhấn mạnh vai trò giới tính mà khán giả của họ chấp nhận. Họ trau chuốt và mở rộng các cảnh bạo lực, thường chọn các phiên bản xấu xa hơn là kết thúc có hậu.

8. Trong vài phiên bản của Rumpelstiltskin, Rumpelstiltskin trốn thoát bằng một cái thùng hay chỉ đơn giản là bỏ chạy, như trong ấn phẩm đầu tiên. Tuy nhiên, trong ấn bản năm 1857, ông ấy la hét và “trong cơn thịnh nộ, ông đã dậm chân phải mạnh đến nỗi nó văng đến tận eo. Sau đó, quá giận dữ, ông nắm chân trái bằng hai tay và xé cả người thành hai mảnh.”

9. Trong bản Cô bé Lọ Lem của Pháp, Lọ Lem tha thứ cho hai người chị kế và tìm chồng tốt cho họ. Nhưng trong phiên bản của Grimm thì khác. Đầu tiên, cả hai người chị cắt bỏ phần bàn chân để thử giày, và hoàng tử chỉ phát hiện họ không phải cô gái chàng tìm khi một chú bồ câu nói rằng chân họ bị chảy máu. Khi hoàng tử tìm được Lọ Lem, những chú chim bồ câu này đã khoét mắt của những người chị kế.

10. Không hề có bà tiên! Đúng vậy, trong phiên bản Grimm của Cô bé Lọ Lem, một cây phỉ nhỏ bé được Lọ Lem tưới bằng nước mắt đã cho nàng váy để tham dự dạ tiệc.

11. Đừng lo về việc phải hôn một con ếch. Trong Hoàng tử ếch của Grimm, con ếch biến thành hoàng tử không phải vì nụ hôn mà khi công chúa ném nó vào bức tường trong phòng ngủ. Ngay lập tức, nàng được diện kiến hoàng tử và cả hai cùng đi ngủ. Trong các phiên bản về sau, tác giả nhà Grimm đã “đứng đắn” hơn khi sửa đổi thành chi tiết “tại buổi đấu thầu của cha cô”, hoàng tử trở thành “người chồng và bạn đời” của cô gái.

12. Người mẹ kế ác độc trong Bạch Tuyết và Hansel và Gretel ban đầu là mẹ ruột của họ. Anh em nhà Grimm cho rằng họ nên bảo vệ tình mẫu tử thiêng liêng trước độc giả của mình.

13. Vì ý định ban đầu của Grimm nhằm bảo vệ nền văn học dân gian của Đức, Đức quốc xã đã cố gắng chiếm đoạt Children’s and Household Tales cho mục đích ý thức hệ của mình.

14. Các tác giả như Margaret Atwood, Angela Carter và Anne Sexton đã chỉnh sửa và chuyển thể truyện cổ Grimm thành truyện ngắn, thơ và tiểu thuyết. Điều này có tác dụng tích cực đến việc phân tích chuyện cổ tích và ảnh hưởng của chúng, đặc biệt là ảnh hưởng lên các điều kiện giới tính.

15. Khi truyện cổ tích ra đời, các dị bản cũng ra đời. Trên thực tế, Tatar cho biết, không hề có “bản gốc” của một câu chuyện cổ tích. Vậy nên khi Jon Scieszka viết một bài chế giễu The Stinky Cheese Mann và Other Fairly Stupid Tales, ông đã thay đổi từ ngữ nhưng vẫn giữ cốt truyện. Truyện cổ tích thu hút các giá trị văn hóa về thời gian và địa điểm, và các phiên bản khác nhau cho chúng ta biết nhiều giá trị khác nhau của người kể, cũng như cách họ dựa vào các giá trị để kể nên câu chuyện của mình.

16. Đúng là một sự trùng hợp thú vị khi các anh em nhà Grimm kể chuyện cổ “grim”. Trong tiếng Đức và tiếng Anh, “grim” có nghĩa là tàn bạo, độc ác, tức giận hoặc khắc nghiệt.

17. Nhưng các câu chuyện có thật sự tàn bạo đến vậy? Theo Tatar, hầu hết 210 câu chuyện đều kết thúc có hậu. Truyện The Children Who Played Butcher With Each Other là một ngoại lệ.

18. Hầu như tất cả các câu chuyện đều ca ngợi sự khôn ngoan, can đảm và kiên cường.

19. Mùa hè năm ngoái, một nhà lưu trữ người Đức đã khám phá ra 500 câu chuyện cổ tích “mới” đã được Franz Xaver xon Schonwerth – một đồng nghiệp của anh em nhà Grimm, sưu tập trước đây. Tatar cho biết, trong tuyển tập đó có các phiên bản nam của Cô bé Lọ LemCông chúa ngủ trong rừng, và Bạch Tuyết. Liệu anh em nhà Grimm có biết đến các phiên bản này và loại chúng ra khỏi tuyển tập của mình? Chúng ta không bao giờ biết được…

20. Phiên bản mới nhất của truyện cổ Grimm là của Philip Pullman, mang tên Grimm Tales for Young and Old. Ngoài việc kể chúng ta nghe những câu chuyện hấp dẫn một cách mềm mỏng và rõ ràng, Pullman còn đưa ra một số thông tin nền tảng của từng câu chuyện. Rất đáng để bạn đọc thử.

Hết.

Anh Thư dịch

Nguồn: thestar.com


Những bài viết có cùng chủ đề cổ tích



Đọc bài viết

Phía sau trang sách

The Fix – Quốc gia tái thiết: Hy vọng vẫn còn

“The Fix” gồm 10 bài viết như những case study về cách mà các quốc gia đã vượt qua khủng hoảng của mình.

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Trong cuốn The Fix – Quốc gia tái thiết, tác giả Jonathan Tepperman đôi lần lặp đi lặp lại trạng thái “Thế giới đang bước đi trên một lưỡi dao cạo”, và vô hình chung, đây không hẳn là sự trùng hợp. Một cách vui vẻ để nhìn nhận, đứng trước mạng lưới thông tin dày đặc được cập nhật 24/7 về tình hình thế giới hiện nay, đôi khi hình tượng hạt dẻ mà chú lười Sid trong Kỷ băng hà (Ice Age) vô ý cắm vào tảng băng để từ đó vũ trụ thành ra nứt nẻ lại hiện ra. Cho đến ngày nay, khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á hay Mùa xuân Ả Rập vừa tạm nguôi đi; thì ngay lập tức mùa hạ kinh hoàng năm 2014 khi Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ra Biển Đông lại đến. Không những thế, sự lớn mạnh của Nhà nước Hồi giáo cực đoan IS, đại dịch chết chóc Ebola, sự thiếu hụt tài nguyên khí đốt, Hy Lạp phá sản hay Chủ nghĩa bản địa bài ngoại ở những nơi di dân chạy trốn chiến tranh Vùng Vịnh… cũng giáng những nỗi kinh hoàng lên đời sống con người. Ở ngay những thời khắc này, chính các sự kiện ấy là thứ hạt dẻ làm nứt vũ trụ, chỉ khác lần này không còn nằm trên màn ảnh 2D và được Disney tạo ra (sự thật rằng nó vừa mua đứt 21st Century Fox); mà đó đã dần thành hình trong thế giới thực – một thế giới của con người, vì con người; và dĩ nhiên, do con người.

The Fix tuy nhiên là một tập hợp những điều tươi sáng hơn thế. Cuốn sách gồm 10 bài viết như những case study về cách mà các quốc gia đã vượt qua khủng hoảng của mình. Lấy 10 chủ để nổi bật nhất nền địa – chính trị những năm vừa qua, Jonathan Tepperman một cách tài tình dẵn dắt người đọc qua những câu chuyện tái thiết của các quốc gia thuộc 4 châu lục; băng qua tình cảnh bất bình đẳng của Brazil, nạn tham nhũng ở Singapore, chủ nghĩa Hồi giáo Cực đoan ở Indonesia, những vết thương nội chiến của Rwanda hay lời nguyền tài nguyên của Bostwana. Bên cạnh đó, ông cũng lần mò đi tìm nguyên nhân lý giải vì sao Canada mở rộng cánh tay với người tị nạn, cách Hàn Quốc tăng trưởng – tăng trưởng nữa – tăng trưởng mãi để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, cách Mexico khởi động lại guồng máy chính phủ, cách Mỹ bùng nổ cách mạng Đá phiến hay phương pháp tháo gỡ nút thắt của New York sau vụ khủng bố 11/9. Nhìn nhận một cách khách quan, The Fix cắt ngang sự ảm đạm như một tia nắng (Adam Grant), và mang một chút hy vọng cho những ai vẫn đang mong muốn những điều tốt đẹp hơn – dĩ nhiên là thực tế hơn.

Trong vai trò Trưởng ban biên tập của Văn phòng Bộ ngoại giao, Jonathan Tepperman tiếp cận đọc giả dưới góc nhìn của một chuyên gia lành nghề. Như một bác sỹ giải phẫu tận tụy từng vấn đề, bằng kinh nghiệm và các mối quan hệ cá nhân, The Fix cung cấp cho người đọc những thông tin đúng đắn, thức thời, đôi khi ngay cả tuyệt mật từ chính những người trong cuộc; và chính yếu tố này làm nên tính thực tế và sinh động cho cuốn sách. Lấy ví dụ như trường hợp cách Mexico tháo gỡ guồng máy chính phủ ngay giữa những cuộc chống đối bè phái, mà theo Jonathan viết, đó đều là những “hoàn cảnh vụn trộm” hay những “cuộc dàn xếp bí mật” giữa 3 đảng phái nhà nước; và nếu không dùng bất cứ một mối quan hệ nào để tiếp cận những cá nhân chủ chốt từng tham gia các hội nghị trên, khó lòng để hiểu được cách chúng vận hành gỡ rối ra sao. Do đó, cá nhân người viết ở góc độ nào và đóng góp ra sao ít nhiều tạo sự thức thời cho cuốn sách này.

Và có một thực tế đa số những cuốn non-fiction ăn khách ngày nay được viết bởi những nhà báo lăn xả hơn những chuyên gia trong ngành. Có thể kể đến như Bad Blood của John Carreyrou, The Shock Doctrine của Naomi Klein, Secret Formula của Frederick L. Allen hay Seven Days in the Art Work của Sarah Thornton,… Đơn giản là vì, dưới góc độ của một nhà báo, nó đòi hỏi người viết cung cấp những thông tin giật gân, có thể gây bất ngờ hay chính những điều ngay cả người đọc không thể màng tới; và cũng chính lẽ đó, chưa chắc là những thông tin chính xác. Trong khi đó, Jonathan Tepperman giữ vững vai trò hai mang của mình – ông tìm tòi như một nhà báo, nhưng khẳng định như một chuyên gia. Cách xây dựng của ông đi từ những điều nhỏ nhặt nhất, như thể cách giải quyết bất bình đẳng ở Brazil bằng chính sách Bolsa Família, khi hỏi tổng thống Lula của nước này đâu là mấu chốt của vấn đề, ngài tổng thống đã không ngần ngại trả lời: “Người hiểu rõ nhất người nghèo thật sự cần gì là những người như mẹ ông – ấy là bản thân người nghèo”. Rõ ràng nhận thấy, Jonathan bằng cách tiếp cận trực tiếp và thức thời làm cho vấn đề một cách sáng tỏ, không đi vòng tránh né, đoán già đoán non hay tin tưởng vào những nhận định ở phía phủ định để phù hợp với con đường xây dựng cuốn sách như trường hợp của nhiều nhà báo khác.

Ảnh: Foreignpolicy.com

Cạnh đó, với các vấn đề trong cuốn sách này, Jonathan không chỉ nêu ra vấn đề, trình bày những cách giải quyết; ông cùng đó nêu bật điểm yếu hay cách áp dụng ra sao vào các nền chính trị khác. Do đó với The Fix, người đọc không mang cảm giác đây là cuốn sách tâng bốc giả tạo những sáng kiến cá nhân; khi một cách thẳng thắn, những điểm yếu của cai trị độc tài, của chủ nghĩa thực dụng, của lối từ bỏ cái hoàn hảo lấy cái có thể chấp nhận được vẫn tồn tại trong này. Jonathan không dè chừng, không sợ hãi và phơi bày chúng như những điểm yếu cần có của muôn mặt vấn đề. Đơn cử như chương về cách mạng Đá phiến của Mỹ, ông không ngần ngại chỉ ra đâu là lý do tuy nằm trên một mỏ đầy những trầm tích đá phiến với một hàm lượng gấp rất nhiều lần Mỹ nhưng lục địa già lại từ chối cơ hội khai thác này, để rồi vẫn bị Nga nắm chui khi phụ thuộc nhập khẩu hơn 1/3 khí đốt từ đất nước này. Hay bởi những đặc tính rất Trung Quốc: ngại mạo hiểm, ưa đi tắt đón đầu và thiếu nguồn khích lệ thị trường tự do đã khiến công cuộc khai thác đá phiến ở đây giậm chân tại chỗ cho đến ngày nay.

Ở một mặt khác, ông không tôn vinh quá đà hay cố lý tưởng hóa bất cứ một cá nhân hay đường lối, chính sách nào. Chẳng hạn như ngay khi vừa cho thấy một nước Mỹ sẵn sàng nghiên cứu những đường hướng mới trong cuộc cách mạng đá phiến, ông liền quay ngoắc phê phán lối thụ động đối mặt với khủng bố trong cơn ảo danh chống phá giữa các đảng phái làm tê liệt nghị trường Washington; để chính bộ máy địa phương như New York phải căng mình đứng ra lo liệu. Hay một mặt khác, ông không ngần ngại cho thấy lối cai trị độc tài của Lý Quang Diệu để đưa Singapore ra khỏi con đường tham nhũng; hay Park Chunghee tiếp tay những chaebol (tập đoàn gia đình) dần dần làm lũng đoạn kinh tế Hàn Quốc khi chỉ vừa khởi sắc. Đây đều không phải những điều đáng khen hay nên học tập trong một thế giới tiến gần đến dân chủ hóa, tự do hóa ngày nay; nhưng với những bước phát triển ngay từ bữa đầu, đây thực sự là cuộc tiểu phẫu đi sâu vào lòng vấn đề, không vòng tránh, không giảm nhẹ. Một lối viết dũng cảm, mạnh mẽ và phơi bày.

The Fix mang trong bản thân thế mạnh không chỉ của những chính sách cứu vớt khỏi cơn bĩ cực chính trị; mà còn chứa trong mình câu chuyện lịch sử của từng quốc gia dính líu ít nhiều trong này. Jonathan bằng cách nghiên cứu sâu rộng đi thẳng vào những mâu thuẫn, cách nó hình thành; đôi khi là những tập quán, phong tục tồn tại xa xưa ở những vùng đất ta chưa từng biết. Ông đi sâu vào nghiên cứu các gacaca (toà án hương thôn của Rwanda), kgotla (phiên giải quyết giữa các tù trưởng Bostwana), đặc điểm Hồi giáo cực đoan nửa vời của Indonesia hay khởi thủy một nền Canada trắng của Canada,… Do đó, nhìn chung, The Fix phù hợp người đọc ở nhiều góc nhìn. Nếu không quá chú trọng đến cách những quốc gia tái thiết – vì có lẽ đó là việc của những người chuyên trách hơn – thì cuốn sách này cho ta góc nhìn tuy chỉ một giai đoạn nhỏ, nhưng đều là những thời khắc chính trị quan trọng của những nơi chốn này. Quốc gia tái thiết đứng giữa hai bờ quá khứ – tương lai. Nếu thấy quá xa trước tương lai bất định, cứ nhảy ngược trở về quá khứ để xem cuộc nội chiến giữa 2 tộc người Tutsi và Hutu ở Rwanda tạo nên hơn 130.000 tội phạm diệt chủng và cần hơn 200 năm mới xử lý hết. Hay quay về thời khắc Singapore vừa được trao trả độc lập, với sự đồi bại và tội ác ngút trời: hội tam hoàng và những hội kín người Hoa công khai điều hành ổ hút và nhà thổ, tay chân chém giết tranh giành địa bàn khắp các đường phố,…

Thế nhưng không thể nói The Fix không có điểm yếu. Thứ nhất, nhìn chung các vấn đề trong cuốn sách này đều là các case study, do đó chúng đều là những giải pháp chỉ trên bề mặt, không một hướng đi cụ thể. Tuy Jonathan đã rất cố gắng đúc kết rất nhiều điểm chung, rất nhiều phương hướng có thể soi rọi cho những nền chính trị khác; nhưng nó là điều bất khả cho nền chính trị của các đất nước quá khác xa nhau. Nhưng như một bài học cuối cùng ông đúc kết lại, đôi khi ta phải từ bỏ cái hoàn hảo để lấy cái có thể chấp nhận được; và ở riêng điều này, The Fix tỏ ra có tác dụng. Không hoàn toàn vô ích khi học hỏi Canada về cách dang tay hỗ trợ và giữ lại người tị nạn hay cách chính quyền thành phố New York tự cứu lấy mình khỏi những lo toan khủng bố đè nặng.

Thứ hai, điểm yếu ở tính địa phương. Ở đây, hầu như 10 bài viết đều gắn liền với 10 cá nhân tổng thống xuất sắc – những người đoán đầu và chịu thử thách. Cùng đi với đó là những hoàn cảnh chính trị mà như Jonathan đôi khi thừa nhận, là rất đặc biệt, có một không hai. Chính những điều này làm nên tích chất manh mún của mỗi vấn đề. Như thể ở trường hợp Indonesia: ta không thể nói lực lượng Hồi giáo ở những khu vực vùng vịnh như Iran, Iraq hay Syria không có đường lối cứng rắn như ở Indonesia để rồi áp dụng bài học ấy ở các nước này. Hay một Bắc Triều để vươn mình phát triển như Nam Triều của ngày hôm nay, thì đào đâu ra các chaebol – gia độc gia đình để được nhà nước dù cho độc tài rót vốn, miễn thuế hay thúc đẩy phát triển? Cho nên nhìn chung, với những case study rất nhỏ và cụ thể tỏ tường thế này, một góc nào đó cho thấy The Fix vẫn chỉ là câu trả lời cho những vấn đề thức thời. Nó không bao quát, không làm nên định lý chung, không thành quỹ tích cho những đường đi vì một thế giới sẽ đẹp đẽ hơn.

Và điều cuối cùng, phụ thuộc tâm lý hơn bất cứ vấn đề nào khác của cuốn sách này. Rằng, con người với một bản chất luôn thích khám phá, bóc trần những điều tăm tối hơn là hy vọng. Dẫu cho phần đầu Jonathan một cách tinh quái nêu bật lên những lần ranh hiểm nguy trước khi đi vào giải quyết, nhưng với thời lượng quá chông chênh nhau đâm ra thiếu đi tác dụng. Không thể trách ai, chỉ trách ông quá lạc quan viết nên cuốn sách e quá tươi sáng cho những con người ủ dột của ngày hôm nay.

Đồng hồ tận thế (Doomsday Clock) vừa nhích thêm 20 giây đến khoảng cách diệt vọng của xã hội loài người, làm giảm khoảng cách xuống còn 100 giây đến thời điểm nửa đêm của ngày cuối cùng. Theo đó, Nhóm nhà Khoa học Hạt Nhân Mỹ cho rằng, hai hiểm họa diệt vong là chiến tranh hạt nhân và biến đổi khí hậu thúc sẽ đẩy càng nhanh quá trình diễn tiến. Chúng còn tăng lên khi có hàng loạt các mối đe dọa khác, khi chiến tranh thông tin trên không gian mạng đang làm ảnh hưởng khả năng đối phó một cách hiệu quả của xã hội. Và The Fix, với nguồn thông tin đầy ắp của mình, lướt qua như một tia sáng cho thấy vẫn có thể phần nào kiểm soát tình hình chừng nào chúng ta vẫn còn cố gắng và xắn tay áo lên để rồi hành động. Như đoạn mở đầu của ông trong cuốn sách này, rằng:

“Từ bỏ hy vọng tất nhiên là nỗi cám dỗ – nhất là vào thời điểm dường như có quá nhiều điều bất ổn xảy ra với thế giới này. Tuy nhiên, vấn đề với nỗi tuyệt vọng là nó chẳng có ích gì. […]

May thay cho chúng ta, nó cũng dư thừa nữa. Không một thử thách nào (dù có vẻ nghiêm trọng đến mấy) là thật sự không thể vượt qua. Giải pháp cho sự bế tắc […] đã có sẵn ngoài kia.

Bạn chỉ cần phải biết nhìn vào đâu để sửa sai mà thôi.”

Hết.

Ngô Thuận Phát

Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.


Có thể bạn sẽ thích những bài viết sau:


Đọc bài viết

Phía sau trang sách

“Thế giới mới tươi đẹp”: Nơi hạnh phúc là cội nguồn của bất hạnh

Lăng kính lãng mạn hoàn toàn bị bóp nát trong quyển tiểu thuyết này để chừa chỗ cho trí tưởng tượng về một xã hội đề cao giá trị vật chất rẻ tiền và bỏ mặc đi đời sống tinh thần quý báu.

Đăng từ

on

Người đăng

Cốt truyện kể gì?

Trong tác phẩm Thế giới mới tươi đẹp, Aldous Huxley đã xây dựng một xã hội tương lai thuần túy dựa trên sự hạnh phúc – bất chấp hệ quả về mặt đạo đức. Ở tương lai tưởng tượng ấy, khoa học phát minh ra những viên soma giúp người ta lâng lâng và quên đi những nỗi buồn đau, giống như một loại ma túy đỉnh cao của thời đại. Xã hội với tôn chỉ là “hạnh phúc”, nơi công nghệ tiên tiến trở thành công cụ chính để hoàn thành quá trình sinh sản nên các thú vui xác thịt tồn tại chỉ để thỏa mãn tình dục chứ không hề vì mục đích duy trì nòi giống. Người dân hoàn toàn bị lệ thuộc bởi sự thao túng về tâm trí của các lãnh đạo cấp cao. Huxley đã liên tưởng và cường điệu những tệ nạn xã hội trong tương lai một cách đặc sắc, với nguyên nhân lý tưởng là sự sai trái này bắt nguồn từ sự mất tự do và trách nhiệm cá nhân trong một cộng đồng. Không ai trong số họ dám chống đối và thách thức hệ thống cấp cao lãnh đạo. Tất cả mọi người đều tin rằng họ cùng nhau đoàn kết làm việc vì “lợi ích chung”. Vị thần của xã hội này là Ford – là biểu tượng của sự phi nhân hóa và mất cá tính của loài người. Nhìn tổng quan, ưu thế đặc biệt của quyển sách này chính là cốt truyện phi logic đến khó tin nhưng lại phản ánh góc nhìn tương lai khá thú vị.

Aldous Huxley

Tại sao một xã hội không đói nghèo, không bệnh tật, không chiến tranh lại không hề tốt đẹp?

Những khái niệm và quy tắc mà cuốn sách đưa ra thực lòng là rất kỳ quặc, đến nỗi mà nó làm tâm trí tôi bị lẫn lộn, lan man đủ thứ điều về cuộc sống. Nếu thực sự cái thế giới kinh khủng ấy trở thành đời sống thực thì mọi chuyện sẽ như thế nào? Những việc như những đứa trẻ được nhà nước tạo gen và nuôi dưỡng, những từ như “cha” và “mẹ” được coi là lời tục tĩu khiến tôi cảm thấy lo sợ. Cảm thấy lo sợ vì nền kinh tế thế giới phụ thuộc vào mức phát triển liên tục của các tầng lớp cao nhất, khi mà giai cấp xã hội được chia ra quá rõ ràng và những người thấp cổ bé họng thì cam chịu từ trong tiềm thức. Nhìn lướt qua thì thấy nơi đó thật tốt đẹp nhưng nếu xem xét kỹ thì nó hoàn toàn mất đi nhân tính, bất công và đàn áp tinh thần của người dân. Tình yêu và nghệ thuật đã trở thành thứ xa xỉ bởi người ta chỉ chú trọng đến tình dục rẻ tiền; những “phim đen hạng sang” rải rác khắp mọi chốn để thay thế cho dòng phim truyền thống. Ở đó, tình dục và sinh sản đã được tách ra và phụ nữ không còn sinh con nữa, tình dục đã trở thành một trò giải trí nhàm chán và được khuyến khích làm hàng ngày với nhiều người khác nhau. Các tư tưởng đạo đức đã thay đổi và giống như cả xã hội đang cổ vũ những người trẻ hãy cứ trần truồng để thực hiện “trò chơi tình ái” trong các bụi cây, bụi rậm ven đường nào đó. Nếu sống trong một xã hội như thế này, chắc tôi cũng phát điên mà la lên để đòi “quyền được bất hạnh”, để kiếm tìm lại những đam mê và sáng tạo mà bản thân đã đánh mất đi bởi sự chuyên chế và áp bức của một xã hội tàn bạo từ trong ý thức và bộ máy chính trị.

Thực chất, “thế giới tươi đẹp” ấy đã quay trở lại thời phong kiến cổ xưa vì việc kết hợp vô lý giữa khoa học công nghệ và hạnh phúc xác thịt. Tôi có cảm giác như những người lãnh đạo trong xã hội này đã áp đặt chế độ ngu dân cho toàn thể con người, họ không cho bất kỳ ý tưởng cá nhân nào bộc phát, họ không cho bất kỳ sự tiến hóa nào vượt ra khuôn khổ đã định sẵn bởi gen và thụ thai trong ống nghiệm. Và chính sách thực dân cũng được áp dụng từ trong tâm tưởng khi Alphas, Betas nắm giữ quyền lực và đại diện cho đẳng cấp của trí tuệ và thể chất còn Gammas, Deltas và Epsilons thì lại chịu chế độ nông nô. Tất cả những sự tốt đẹp ấy chỉ mang vẻ hào nhoáng bên ngoài, chỉ là mọi người bị ép buộc là hài lòng với sự ổn định đầy dối trá và những thú vui thể xác bần hèn ấy mà thôi. Làm gì có thứ hạnh phúc mà chúng ta phải hy sinh chủ nghĩa tự do và suy nghĩ cá nhân để vun đắp cho nó chứ? Sự nguy hiểm của công nghệ như một mầm mống len lỏi qua từng ngày và qua quyển sách này thì mọi thứ trở nên kinh hoàng biết bao. Một ngày nào đó, khi ánh bình minh của con người chợt tắt, nhường chỗ cho công nghệ, máy móc ngự trị thì khi đó đời sống tự nhiên sẽ bị che lấp bởi những thứ cứng ngắt và tẻ nhạt. Khi gán ghép khoa học vào yếu tố phi đạo đức, rõ ràng, tác giả đã làm bật lên được sự đáng sợ ẩn sau những tiện ích của nó. Sự phản đề của tác giả về niềm tin phổ biến của quần chúng vào công nghệ như một phương thuốc tương lai cho các vấn đề gây ra bởi bệnh tật và chiến tranh đã hoàn toàn hiệu quả.

Lời kết

Sự thành công của quyển sách này một phần vì đã đánh bật niềm tin của chúng ta rằng công nghệ có sức mạnh để thay đổi cả thế giới, khi Huxley cho thấy nó có tiềm năng trở nên nguy hiểm đến cỡ nào. Khi John đòi “quyền được bất hạnh” thì Mustapha đã thể hiện quyền ấy kèm theo những căn bệnh như ung thư, giang mai, ăn uống đói khổ và cả sự sợ hãi về tương lai. Nhưng rõ ràng, khi đọc đến khát vọng chân thực nhất của người Hoang dã, “Nhưng tôi không muốn thoải mái. Tôi muốn Thượng đế, tôi muốn thơ ca, tôi muốn nguy hiểm thật sự, tôi muốn tự do, tôi muốn lòng tốt. Tôi muốn tội lỗi.” – thì chúng ta đều cảm nhận được đây chính là những ước muốn thể hiện bản chất thẳm sâu trong loài người. Bởi lẽ việc loại bỏ tất cả những điều khó chịu và nỗi buồn trong cuộc sống đã vô tình làm loại bỏ cả những thú vui thực sự trong cuộc sống.

Đây là một cuốn sách thực sự phức tạp và tôi phải thú nhận rằng có một số phần tôi đọc mà chẳng hiểu gì cả. Tuy nhiên, may mắn thay, ý nghĩa xuyên suốt câu chuyện thì tôi đã thấu hiểu được. Có lẽ, một phần ý tưởng của tác giả bắt nguồn từ Chiến tranh thế giới thứ nhất với việc đánh dấu sự kết thúc của những giấc mơ phi lý theo chủ nghĩa lãng mạn trong văn học, giống như một số kế hoạch không tưởng ngoài đời thực sắp được đưa ra với những hậu quả tai hại. Chế độ Cộng sản ở Nga và Đức Quốc xã đều bắt đầu như những tầm nhìn phi logic như thế. Thế giới mới tươi đẹp không hề miêu tả những tình tiết máu me, rùng rợn giống như truyện kinh dị hay những tình huống bi thương, bất hạnh như tiểu thuyết tình cảm. Thế nhưng, cảm giác ám ảnh và lo sợ mà nó mang lại thực sự rất mạnh mẽ, vì nó khiến người ta rờn rợn khi nghĩ về thế giới, con người trong truyện. Lăng kính lãng mạn hoàn toàn bị bóp nát trong quyển tiểu thuyết này để chừa chỗ cho trí tưởng tượng về một xã hội đề cao giá trị vật chất rẻ tiền và bỏ mặc đi đời sống tinh thần quý báu. Hạnh phúc đã được lái sang một nghĩa mà nếu ai trải qua cũng có thể gọi đó là hạnh phúc cấp thấp giả tạo nhất.

Hết.

Trần Nguyễn Phước Thông

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!