Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Tôi đi tìm hiểu tác phẩm “Tuyết” của Orhan Pamuk

“Ừ, thế thì cứ loại trừ dân chúng, cấm cản họ, bắt họ phải im miệng. Bởi vì tinh hoa tiến bộ của châu Âu quan trọng hơn là dân chúng.” – Dostoevsky, ghi chép của “Anh Em Nhà Karamazov”.

Đăng từ

on

Thổ Nhĩ Kỳ có diện tích rất lớn, hơn bảy trăm tám chục ngàn kí lô mét vuông, trải rộng từ châu Âu sang châu Á, vì thế có nền văn hóa đặc biệt mang cả hai tính chất Á và Âu. Vào thế kỷ thứ chín, dòng họ Seljuk của dân Turk sống ở ngoại vi lãnh thổ Hồi giáo, phía Bắc của biển Caspian và biển Aral. Đến thế kỷ thứ 10, họ Seljuk bắt đầu lấn vào phía Đông của Anatolia, còn được gọi là Asia Minor hay Tiểu Á, dần dần biến vùng này xứ sở của các bộ lạc người Turk (Thổ Nhĩ Kỳ). Anatolia bao gồm phần lớn lãnh thổ của quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Sau trận chiến Manzikert năm 1071, họ Seljuk phát triển và trở nên vương quốc hùng mạnh bao gồm Trung Á, Ba Tư, Anatolia và Tây Nam của châu Á.

Năm 1243 trong khi tiếp tục bành trướng biên giới, quân đội Seljuk bị Mông Cổ đánh bại và suy yếu dần; cuối cùng rơi vào tay đế quốc Ottoman. Đế quốc Ottoman ngự trị 623 năm, hùng mạnh nhất vào thế kỷ 16 và thế kỷ 17, thường xuyên xung đột với Đế quốc và Giáo hội La Mã. Đang trên đà suy thoái, Ottoman ủng hộ Đức trong thế chiến thứ Nhất và hoàn toàn bị đánh bại. Lực lượng Đồng Minh cắt lực lượng Ottoman ra thành nhiều mảnh và chiếm đóng Istanbul. Mustafa Kemal Pasha dẫn đầu cuộc chiến tranh giải phóng Istanbul và dành độc lập, biến phần còn lại của Đế quốc Ottoman thành Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1923, Mustafa Kemal Pasha trở nên Tổng Thống của Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ, chủ trương tự do tôn giáo (secularism), mặc dù khoảng 99 phần trăm dân trong nước theo Hồi Giáo, đa số theo phái Sunni. Quốc hội tặng Mustafa Kemal Pasha tước hiệu Ataturk có nghĩa là người cha của dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1934.

Dân Thổ Nhĩ Kỳ đa số theo Hồi Giáo và phụ nữ thường dùng khăn choàng đầu để che mái tóc của họ. Khăn choàng đầu ngoài biểu hiện tôn giáo, đã trở thành một phong tục tập quán của phụ nữ thích trang phục kín đáo. Giới lãnh đạo trẻ tiếp nối Ataturk, trong nỗ lực “văn minh hóa” Thổ Nhĩ Kỳ bằng cách “Tây phương hóa,” đã xem khăn choàng đầu của phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ là dấu hiệu của sự lạc hậu nên tìm đủ mọi cách để hủy bỏ cách trang phục này. Hệ thống giáo dục thuộc về quyền quản trị của chính phủ vì thế các nữ sinh nếu muốn được vào trường học phải từ bỏ khăn choàng đầu.

*

Orhan Pamuk sinh ngày 7 tháng Sáu năm 1952 ở Istanbul. Ông dạy văn và phê bình văn học, môn Comparative Literature, xin tạm gọi là Văn học So sánh, ở Đại học Columbia (Hoa Kỳ). Ông là nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ đầu tiên được trao giải Nobel Văn chương năm 2006. Tác phẩm của ông đã được dịch ra hơn 50 ngôn ngữ trên thế giới, tổng số sách bán được hơn 7 triệu cuốn.

Ông mơ ước làm họa sĩ, nhưng để có thể kiếm sống, ông theo học ngành kiến trúc vì bộ môn này gần với giấc mơ làm họa sĩ của ông. Tuy nhiên, sau ba năm học ngành kiến trúc ông bỏ ngành này để theo đuổi sự nghiệp văn chương. Trong văn chương, quá khứ hội họa của ông được thể hiện bằng cách ông dùng màu đặt tên cho tác phẩm. Kinh nghiệm kiến trúc của ông được mang vào tác phẩm qua những miêu tả và nhận xét về những kiến trúc cổ mà Thổ Nhĩ Kỳ đã thừa hưởng từ những nền văn minh lâu đời nhất của Hy Lạp và La Mã. Ông tốt nghiệp ngành báo chí ở Đại học Istanbul năm 1976. Để theo đuổi sự nghiệp văn chương ông đã phải sống nhờ vào mẹ từ năm ông 22 cho đến 30 tuổi. Tháng Ba năm 1982, Pamuk kết hôn với Aylin Turegun một nhà sử học. Năm 1985 cho đến năm 1988, trong khi vợ ông đang theo học cao học ở đại học Columbia, ông nhận làm Giáo sư thỉnh giảng ở đại học này, cùng lúc ông nghiên cứu và thu thập tài liệu để viết quyển The Black Book (Quyển sách đen). Vào thời điểm này ông cũng được mời dạy ở Đại học Iowa. Năm 1991 hôn nhân của ông tan rã. Ông có một con gái đặt tên Ruya (có nghĩa là giấc mơ).

Tháng Hai năm 2005 trong một cuộc phỏng vấn của tạp chí Das Magazin Thụy Sĩ, nhà văn Pamuk đã nhắc đến hơn ba chục ngàn người Kurd và cả triệu người Armenian đã bị người Thổ Nhĩ Kỳ thảm sát, vì thế ông bị truy tố tội nhục mạ quân đội và bản chất của người Thỗ Nhỉ Kỳ. Ngày 29 tháng Mười Hai năm 2005 công tố viện hủy bỏ vụ truy tố tội hạ nhục quân đội nhưng vẫn giữ tội mạ lị bản chất dân tộc. Sách của ông bị đốt và người ta tổ chức biểu tình nhục mạ và đả kích ông. Vì vậy, ông quay lại Hoa kỳ đi dạy ở đại học Columbia. Hiện nay Pamuk đang ở trong Committee on Global Thought (Hội Đồng Ý Thức Quốc tế) và có chân trong Columbia’s Middle East and Asian Languages and Cultures Department (Ban Ngôn Ngữ và Văn Hóa Trung Đông và Á Châu của đại học Columbia).

Tác phẩm mới nhất của Pamuk The Museum of Innocence (Bảo tàng ngây thơ) đã phát hành ngày 29 tháng Tám năm 2008. Bản dịch tiếng Đức ra mắt trước khi bắt đầu Hội chợ Sách Frankfurt năm 2008. Pamuk triển lãm bộ sưu tập những vật dụng trong cuộc đời viết văn của ông trong một căn nhà của ông ở Istanbul.

Orhan Pamuk được nhiều giải thưởng trong đó có giải văn học Madarali năm 1984 cho tác phẩm The Silent House (Căn nhà im ắng), La Découverte Européenne năm 1991 cho bản tiếng Pháp của quyển này. The White Castle (Lâu đài trắng) xuất bản năm 1985 bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ được trao giải thưởng văn học ngoại quốc Independent Award năm 1990. Năm 1990 quyển The Black Book trở nên nổi tiếng và tạo ra nhiều cuộc tranh luận trong giới văn học Thổ Nhĩ Kỳ bởi vì tính chất phong phú và đa dạng của nó. Pamuk trở nên nhà văn có sách bán chạy nhất và gây ra nhiều sôi nổi trong dư luận khi năm 1985 ông xuất bản The New Life (Cuộc đời mới). Vào thời điểm này Pamuk trở nên rất danh tiếng bởi vì ông công khai bênh vực và đòi quyền sống cho người Kurd. Năm 1995 Pamuk và một nhóm nhà văn bị truy tố vì đã viết những bài tiểu luận phê phán chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ đã ngược đãi dân Kurd. Năm 1999 Pamuk xuất bản tập tiểu luận Other Colors (Những màu sắc khác). Pamuk trở nên nổi tiếng trên văn đàn thế giới sau khi ông xuất bản My Name Is Red (Tên tôi là Đỏ) năm 2000. Quyển này được dịch ra 24 ngôn ngữ trên thế giới và đã mang lại giải thưởng quốc tế IMPAC Dublin năm 2003. Năm 2005 Orhan Pamuk được trao giải Hòa Bình Thương Trường Sách của người Đức (Peace Prize of German Book Trade). Tháng Mười năm 2006 Orhan Pamuk được trao giải Nobel Văn chương.

*

Tác phẩm của Pamuk thường nói lên sự xung đột về văn hóa giữa Tây phương và Đông phương, trong đó tôn giáo là trọng điểm. Quyển Tên tôi là Đỏ và Tuyết là thí dụ điển hình. Nhà thơ Sonia Sanchez trong một bài thơ đã quan niệm, người viết văn làm thơ là những nhà chính trị. Hoặc là họ làm thinh chấp nhận chế độ họ đang sống. Hoặc là họ cất tiếng nói để thay đổi xã hội. Văn học thường phản ảnh đời sống của một quốc gia. Muốn biết đời sống của quốc gia nào cứ đọc văn học của quốc gia ấy. Tác phẩm của Orhan Pamuk phản ảnh đời sống của Thổ Nhĩ Kỳ và Orhan Pamuk là nhà văn có tham vọng thay đổi quan điểm chính trị không chỉ giới hạn trong phạm vi Thổ Nhĩ Kỳ, mà còn ở tầm mức thế giới, đặc biệt là châu Âu, đã áp đặt lên quốc gia của ông.

Thổ Nhĩ Kỳ có vị trí đặc biệt, diện tích trải rộng từ Âu sang Á, cách nhau chỉ bởi eo biển hẹp tên là Bosporus Strait, nên có nền văn hóa rất đặc thù, một sự kết hợp giữa Đông Tây rất màu sắc và phong phú. Thủ đô Istanbul ở miền Tây Bắc của Thổ Nhĩ Kỳ, là một thành phố giàu có thịnh vượng nằm trên phần đất của châu Âu. Kars, ở Đông Bắc của Thổ Nhĩ Kỳ, nằm trên châu Á, giáp ranh với Georgia, ngày xưa đã từng là một trung tâm thương mại giàu có, nơi Nga và Armenia, buôn bán trao đổi hàng hóa. Nga hoàng Alexander, tương truyền, đã từng dùng Kars làm nơi rendez-vous với tình nhân. Các nhà chính trị của Nga đã trốn qua ở Kars để tránh bị đi lưu đày ở Siberia (Tây Bá Lợi Á).

Ngày nay, Kars là một nơi điêu tàn nghèo khó, có tỉ lệ thất nghiệp rất cao. Thành phố vẫn còn rất đẹp, mặc dù những kiến trúc cổ đã bắt đầu suy tàn. Một trong những nguyên do làm cho Kars trở nên suy thoái về kinh tế và tài chính là vì lực lượng du kích của dân Kurds thường hay về làng để tìm người gia nhập đạo quân của họ và thu thập lương thực. Điều này làm người ta sợ không dám đầu tư kinh tế vào Kars. Đa số người đến Kars là nông dân trong các làng mạc xa đến Kars để buôn bán ban ngày và trở về làng khi trời tối. Còn lại là các cô điếm từ Georgia và Nga ban ngày phục vụ khách và tối tối mò đến các ba bán rượu. Trong phố có vài tiệm cà phê (tea house) mà đàn ông địa phương tụ tập suốt ngày để đánh cờ, trò chuyện giết thì giờ, và cũng để trốn cái lạnh ở nhà của họ. Kars cũng có một trường Hồi Giáo dành cho trẻ em trai. Theo Hồi Giáo, trẻ em trai đến tuổi mười một hay mười hai phải gia nhập các trường Hồi Giáo để học tập các nghi lễ về tôn giáo. Ở mức độ cực đoan, Taliban (Afghanistan) đã dùng những trường tôn giáo như thế này để huấn luyện quân sự và chính trị cho trẻ em trở thành những cảm tử quân. Chính quyền luôn luôn lo sợ các giáo sinh Hồi giáo nổi loạn nên khi có biến động trường hồi giáo thường bị ruồng xét và bắt bớ.

Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, kar có nghĩa là tuyết. Ka, nhân vật chính của quyển Tuyết, từ Istanbul đến Kars, thành phố mang tên Tuyết, nổi tiếng có thời tiết khắc nghiệt; anh ở Kars chỉ có ba ngày khi thành phố này chìm ngập trong cơn bão tuyết. Ka, như một cánh hoa tuyết ở trong một thành phố tên Tuyết nằm trong cơn bão tuyết. Orhan Pamuk trong bài tiểu luận From the Snow in Kars Notebooks đã cho biết dụng ý của ông là dùng tuyết che lấp tất cả những dấu vết đặc thù của Kars để ông có thể biến Kars thành một thành phố tổng quát chuyên chở những hình ảnh sáng tạo của ông. Kars cũng có thể là bất cứ thành phố nào tượng trưng cho Thổ Nhĩ Kỳ nơi đó Ka nhìn thấy sự xung đột Đông Tây trong chính cá nhân, của người trong quốc gia, và của quốc gia với châu Âu. Đứng về hàng ngũ Tây phương là châu Âu, Frankfurt, Istanbul (phần nằm trên địa phận châu Âu của Thổ Nhĩ Kỳ), và Ka. Đứng về hàng ngũ Đông phương là phần lớn còn lại của Thổ Nhĩ Kỳ thuộc về châu Á, Kars, và tất cả những người dân (đa số là Hồi giáo và một thiểu số Kurd) ở trong Kars.

Cảnh báo: Nội dung dưới đây tiết lộ phần lớn nội dung tác phẩm.

Ka, là nhà thơ, bốn mươi hai tuổi, đẹp trai, tính nhạy cảm đến độ hay khóc. Trong ba ngày ở Kars, anh đã khóc rất nhiều lần, ngay cả vừa đi vừa khóc trên đường phố. Ka sống lưu vong mười hai năm ở Đức, từ Frankfurt trở về Istanbul, rồi từ Istanbul đi đến Kars, đây là một cuộc hành trình đi từ Tây sang Đông, từ châu Âu sang châu Á. Trong cuộc hành trình này, qua Ka, độc giả sẽ nhìn thấy sự xung đột văn hóa và tôn giáo giữa Đông và Tây.

Tên thật của Ka là Kerim Alakuşoğlu. Anh không thích tên này nên bảo mọi người gọi mình là Ka. Orhan Pamuk trong bài tiểu luận In Kars and Frankfurt in trong quyển Other Colors viết năm 2005, đã giới thiệu về nhân vật của mình như sau: “Anh ta không màng đến chính trị, anh ta cũng chẳng thích chính trị; suốt đời anh chỉ yêu thơ. Nhân vật của tôi là một nhà thơ sống ở Frankfurt. Anh ta nhìn chính trị của Thổ Nhĩ Kỳ như người ta nhìn thấy một tai nạn – đó là một chuyện mà anh ta tình cờ mà bị liên lụy.” Mẹ anh mới vừa mất nên anh về Istanbul làm đám tang cho mẹ. Qua lời của Taner, người bạn phụ trách tờ báo Republican ở Istanbul, Ka biết Ipek, cô bạn gái rất đẹp mà anh đã thầm yêu từ ngày còn ở đại học chưa kịp tỏ tình thì cô đã lấy chồng, vừa mới ly dị và hiện đang ở Kars. Theo lời của Taner, Kars đang ở trong tình trạng biến động. Vị thị trưởng cũ của Kars vừa bị ám sát và sắp sửa có một cuộc bầu cử Thị trưởng mới. Ngoài ra có một hiện tượng đáng chú ý là ở thành phố này đang có dịch tự tử. Những người tự tử toàn là phụ nữ, có người đã lập gia đình, có người còn độc thân và tất cả đều rất trẻ. Taner cấp cho Ka một thẻ báo chí và đề nghị anh về Kars điều tra và viết một bài tường thuật về hai sự kiện này. Ở Frankfurt, Ka tuy biết tiếng Anh nhưng không biết tiếng Đức. Không hòa nhập được với xã hội Đức do bất đồng ngôn ngữ anh làm thơ để đối phó với sự im lặng và cô đơn. Và anh trở nên một nhà thơ nổi tiếng ở Đức. Rồi cũng chính sự im lặng và cô đơn này đã đưa Ka vào tình trạng bế tắc. Suốt bốn năm anh không làm được bài thơ nào. Ka có chủ ý sẽ tìm người để cưới làm vợ rồi đưa về Frankfurt sống. Ipek là lý do chính cho anh đến Kars. Ngoài ra Ka cũng hy vọng sẽ tìm được cảm hứng để làm thơ trở lại.

Ngay lập tức khi đến Kars, Ka đi phỏng vấn gia đình của các cô gái đã tự tử. Ka thu thập được nhiều lý do xem chừng như trái ngược với nhau. Có người cho là các cô tự tử vì không có hạnh phúc với chồng, vì gia đình chồng ngược đãi, vì cha mẹ cấm đoán không cho ra ngoài hay giao du với bạn bè, vì bị vu oan là mất trinh nên bị từ hôn, vì bị bắt phải cởi khăn che đầu và vì bị cấm đến trường. Khi Ka và Ipek hẹn gặp nhau ở một quán cà phê New Life Pastry gần khách sạn Snow Palace, nơi Ka ở do bố của Ipek làm chủ. Ở đây Ka chứng kiến Tiến Sĩ Nuri Yilmaz, Trưởng Viện Giáo Dục của Kars bị bắn và hôm sau ông ta chết. Người bắn là một người trong tổ chức Hồi giáo trẻ tuổi cực đoan. Với vai trò ký giả muốn thu thập tin tức về cuộc bầu cử sắp đến và tìm hiểu lý do gây ra dịch tự tử giữa một số phụ nữ trẻ tuổi ở Kars, Ka được gặp hầu hết các khuôn mặt có thế lực đặc biệt trong Kars và qua họ Ka khám phá ra rất nhiều vấn đề thời sự nóng bỏng không chỉ ảnh hưởng ở Kars mà còn ảnh hưởng đến nền chính trị của quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ. Muhtar Bey, chồng cũ của Ipek, đang ra tranh cử chức thị trưởng, đại diện cho Hồi giáo là đảng đối lập với chính quyền đương kim. Hiện Muhtar đang thắng thế. Việc ông trưởng viện Giáo dục bị ám sát là lý do để chính quyền của Kars bắt nhốt, đánh đập tra tấn nhiều người bị xem là đối lập với chính quyền, trong đó có Muhtar. Pamuk nhận thấy chừng như Muhtar đã quá quen thuộc với chuyện bị bắt bớ đánh đập nên ông ta không có vẻ gì ngạc nhiên. Muhtar xem như chuyện bị chính quyền đánh đập là một cái giá phải trả để được có tiếng nói đại diện cho những người Hồi giáo bị đàn áp. Orhan Pamuk quan niệm cách tốt nhất để hiểu biết đời sống trong một thành phố là đi bộ tham quan thành phố đó. Trong tác phẩm Tên tôi là Đỏ Pamuk đã cho nhân vật của ông đi vòng quanh Istanbul. Trong Tuyết, Pamuk cho Ka đi hết những ngõ ngách hoang phế nghèo nàn nhất của Kars, nơi mà tất cả mọi người trong Kars muốn lãng quên và trên thế giới không ai biết đến. Trong lúc đi bộ vòng quanh thành phố, Ka được Necip, một học sinh của trường Hồi giáo, kết bạn và Necip dàn xếp đưa Ka bến gặp Blue. Blue, có nghĩa là Xanh, là một biểu tượng rất quan trọng trong Hồi Giáo. Đền thờ Sultan Ahmed là một trong những đền thờ lớn nhất, nổi tiếng nhất, lâu đời nhất trong lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ được gọi là Blue Mosque, hay Đền Thờ Xanh. Sở dĩ đền thờ Sultan Ahmed được gọi là đền thờ Xanh là vì tường của đền thờ được ghép rất nhiều gạch men màu xanh thành những hình hoa văn. Vào thế kỷ 14 Thổ Nhĩ Kỳ nổi tiếng trên thế giới về việc xuất cảng cobalt một loại khoáng chất màu xanh. Nghệ nhân Việt Nam ở Chu Đậu đã dùng đá màu này trang trí đồ gốm sứ bằng những hoa văn màu xanh lam được mệnh danh là gốm sứ Chu Đậu. Ngoài ra Thổ Nhĩ Kỳ còn có một loại đá xanh đặc biệt họ đã gọi là Turquoise, có nghĩa là đá màu xanh của Thổ Nhĩ Kỳ.

Blue, là một thanh niên có đôi mắt xanh thẫm, màu của đêm sâu, đẹp trai đến độ anh chinh phục được rất nhiều trái tim người đẹp trong đó có cả hai chị em Ipek và Kadife. Người ta đồn là Blue là người cố vấn tư tưởng cho các cô gái đã tự tử. Kadife là em của Ipek, là một cô gái có cá tính rất mạnh. Cô là một cô gái theo Tây phương nên không theo chủ trương phải che dấu mái tóc của mình. Tuy nhiên có một lần bị thách thức nên cô dùng khăn choàng đầu và từ đó bị giới cầm quyền của Kars quấy nhiễu đến độ cô trở nên chống đối và thách thức chính quyền. Kể từ khi dùng khăn choàng đầu, với nhan sắc lộng lẫy, Kadife trở nên thần tượng của giới trai trẻ học sinh trong trường Hồi Giáo, và cô là thủ lĩnh của đám nữ sinh tranh đấu để được quyền choàng khăn. Theo lời của Ka, Ipek còn đẹp hơn Kadife nhiều lần. Blue là kỹ sư điện tử tốt nghiệp đại học ở Hamburg Đức. Blue có một lịch sử chính trị khá lẫy lừng. Người ta đồn là anh đã giết chết một người đồng tính luyến ái, hướng dẫn viên của một chương trình truyền hình, ăn mặc hào nhoáng lố lăng vì người này đã nói những lời bị xem là nhục mạ giáo chủ của Hồi Giáo. Blue có tài ăn nói rất thuyết phục. Blue nói rằng tuy là anh chủ trương dùng bạo động để tiêu diệt kẻ thù của Hồi giáo anh chưa hề giết người bao giờ. Hiện nay Blue được tôn làm người lãnh đạo của thanh niên Hồi Giáo ở Kars. Chính quyền tin là Blue là người điều động việc ám sát Trưởng Viện Giáo Dục vì ông ta đã cấm không cho các cô gái choàng khăn che đầu vào trường học, và đã gây căm phẫn đến độ Teslime tự tử chết. Nhà cầm quyền tìm cách bắt giam Blue bởi vì tin rằng anh có khả năng lãnh đạo nhóm sinh viên Hồi giáo để chống chính quyền.

Ở Kars, báo chí là công cụ của chính quyền. Để kiểm soát và điều động dân làm theo ý của chính quyền, báo chí thường loan tin trước khi sự kiện thật sự xảy ra. Thí dụ như Ka được biết là anh sẽ đọc một bài thơ có tựa đề là Tuyết dù anh chưa sáng tác bài thơ này. Cũng trong buổi đọc thơ này sẽ có một màn kịch được chính quyền hỗ trợ. Đây là một vở kịch có dụng ý tuyên truyền khuyến khích các cô gái từ bỏ khăn choàng đầu. Trong vở kịch có một cô gái có lối sống Tây phương. Để phát biểu quyền tự do chọn lựa cá nhân cô từ bỏ khăn choàng đầu. Những người Hồi giáo quá khích đe dọa sẽ cưỡng hiếp cô và khi họ tấn công, chính quyền đến giải cứu cô kịp lúc. Cô gái lột khăn để xõa mái tóc đẹp và tuyên bố sẽ không bao giờ dùng khăn che tóc nữa. Vở kịch này được trình diễn hằng năm và những nam sinh Hồi giáo thường la ó phản đối nhưng họ vẫn đến xem trong một ngày bão tuyết mịt mù vì họ chẳng có gì để giải trí. Cũng trong đêm diễn kịch này, khi một đám học sinh Hồi Giáo phản đối, Z Dermikol, một cựu đảng viên Cộng sản, bạn của Sunay Zaim, diễn viên chính của buổi trình diễn, đã cho lệnh nã súng vào đám nam sinh Hồi giáo giết chết một số người trong đó có Necip, một học sinh Hồi giáo hiền lành, mơ làm nhà văn, và thầm yêu Kadife.

Sunay Zaim là một diễn viên nhiều tham vọng. Ông ta đã thủ vai nhiều lãnh tụ khét tiếng như Napoleon và Lenin. Tham vọng của Sunay là được đóng vai Ataturk (có nghĩa là người cha của dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ) nhưng cho đến nay mơ ước ấy vẫn không thành và tên tuổi của Sunay Zaim chưa được vào lịch sử. Ngay trong đêm ấy có một cuộc đảo chính. Bạn của Sunay Zaim là Z Demirkol và Thiếu tá Osman Nuri Çolak, một sĩ quan đã về hưu, nhân cơ hội thành phố Kars bị bão tuyết nặng nề tất cả những con đường giao thông đến Kars đều bị ngăn cấm, làm một cuộc đảo chính để cướp quyền hành, dùng quân đội khống chế tất cả mọi người. Cũng trong đêm ấy nhóm đảo chính tấn công trường Hồi Giáo giết học sinh, tấn công một vài trụ sở của người Kurd tịch thu tài liệu, bắt một nhà văn người Kurd đi trong đêm và bắn ông ta chết.

Blue phản đối hành động giết người này và muốn gửi lời tuyên ngôn của mình ra nước ngoài. Ka nói có thể gửi lời tuyên ngôn này đến một tờ báo ở Đức nhưng để lời tuyên ngôn có giá trị bài tuyên ngôn này phải cùng là tiếng nói của những nhóm đối lập và đại diện của dân chúng ở Kars; và anh đề nghị Blue cùng ký tên với một người trưởng nhóm du kích Kurd và một người đảng viên đảng Cộng sản đã về hưu. Turgut Bey, bố của Ipek và Kadife, nguyên trước đây là đảng viên đảng Cộng sản, ký tên vào bản tuyên ngôn này. Blue vì phải xuất hiện trước công chúng để ký lá thư nên bị bắt và Sunay Zaim làm áp lực với Kadife vốn là người tình bí mật của Blue; để cứu Blue, Kadife phải cùng đóng với Sunay Zaim vở kịch The Spanish Tragedy của Thomas Kyd trong đó Sunay Zaim đã thay đổi kết thúc của vở kịch dựa vào vở kịch The Good Woman of Szechuan của Brecht. Trong vở kịch này Kadife phải cởi khăn choàng đầu để lộ bộ tóc nâu rất đẹp của mình và tuyên bố từ bỏ khăn choàng. Nếu Kadife không muốn để lộ mái tóc cô có thể dùng tóc giả. Để cứu Blue Kadife nhận lời diễn kịch nhưng không hứa là sẽ cởi khăn. Và điều kiện của Kadife là Blue phải được thả ra. Tuy nhiên ông diễn viên nghiện rượu hết thời này, có tham vọng muốn vở kịch này sẽ làm danh tiếng của ông ta sống mãi với thời gian nên đã dùng thủ đoạn dấu đạn thật vào súng. Trong vở kịch ông đã đẩy Kadife đến mức đường cùng hoặc là phải cởi khăn choàng đầu hoặc là phải tự tử để bảo vệ danh dự nhưng không cho biết là có đạn trong súng.

Ka là người đứng trung gian trong cuộc thương lượng của Sunay Zaim và Kadife đồng thời thuyết phục Blue đồng ý để Kadife cởi khăn choàng trong vở kịch để giải thoát cho Blue. Khi Kadife bắt đầu vở kịch khi Blue đã được thả và đã đến nơi ẩn náu an toàn. Ka chuẩn bị đưa Ipek ra khỏi Kars về Frankfurt để sống với anh. Khi Ka nói với Blue điều này bỗng nhiên Blue đổi ý và không đồng ý cho Kadife cởi khăn choàng. Khi Ka trao lại tin này với người của Sunay Zaim anh được thông báo cho biết Ipek có một thời đã là người tình của Blue. Trong cơn ghen tột độ anh tiết lộ chỗ trú ẩn của Blue và vì thế Blue cùng với Hande, một người tình mới cũng là bạn của Kadife, bị giết chết.

Trong cơn đau đớn tột độ vì nhận tin cái chết của người yêu cũng là lúc biết mình bị người yêu phản bội, Kadife bắn chết Sunay Zaim bằng cây súng do ông ta đã nạp đạn sẵn. Sunay Zaim đã tự dàn xếp cho cái chết của mình vì ông ta nghĩ cái chết sẽ làm tên tuổi của ông ta tồn tại “biến nghệ thuật thành huyền thoại.” Ông ta đã bắt tờ báo địa phương phải loan tin trước là ông ta sẽ chết trong vở kịch.

Trong lúc Kadife đau đớn vì cái chết của Blue, Ipek cũng đoán được là Ka vì ghen nên đã tố cáo với chính quyền chỗ trốn của Ka và vì thế Ipek từ chối không về Đức với Ka. Ka bị chính quyền bắt buộc rời Kars khi chuyến tàu hỏa đầu tiên rời khỏi nhà ga sau ba ngày tuyết phủ. Anh sống trong nỗi tuyệt vọng vì thương nhớ Ipek nhưng không dám trở về Kars vì sợ bị trả thù. Tuy nhiên bốn năm sau anh bị một nhóm Kurd, Hồi giáo trẻ cực đoan ở Đức, bắn chết để trả thù cho cái chết của Blue.

*

Trong tác phẩm Tuyết, sự xung đột Đông và Tây được biểu hiện qua sự xung đột của quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ với châu Âu. Đã rất nhiều năm Thổ Nhĩ Kỳ cố gắng tham gia Liên Minh châu Âu (European Union). Trong khi rất nhiều quốc gia Cộng sản đã lần lượt được kết hợp vào Liên Minh châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn là người ngoại cuộc đang chờ cứu xét. Sự xung đột của châu Âu với Thổ Nhĩ Kỳ là một sự xung đột lâu đời, cũng lâu đời như lịch sử xung đột của Việt Nam và Trung Quốc! Từ thời văn minh cổ đã có những trận giao tranh đẫm máu giữa Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ và các nước châu Âu đặc biệt là La Mã, Pháp và Anh kéo dài bao nhiêu thế kỷ vì lý do tôn giáo. Trong lịch sử cận đại Thổ Nhĩ Kỳ là đồng minh của Đức trong thế chiến thứ Nhất và sự đồng minh này đã đưa đến sự sụp đổ của đế quốc Ottoman. Thổ Nhĩ Kỳ đã áp dụng chính sách thanh lọc chủng tộc giống như Đức để giết hơn ba mươi ngàn người Kurd và hơn một triệu rưỡi người Armenian. Cuộc thảm sát này được châu Âu mệnh danh là Holocaust của Armenia. Một trong những lý do châu Âu dùng để ngăn chận không cho Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập Liên Minh châu Âu là Thổ Nhĩ Kỳ vi phạm nhân quyền rất trầm trọng. Vào những năm 70, báo chí Thổ Nhĩ Kỳ bớt kềm chế nên một số nhà văn đã viết bài đả kích chính quyền đàn áp người Kurd. Đến thập niên 80, có rất nhiều người trong giới báo chí, văn học, dịch thuật bị bắt đi tù vì những bài viết này. Kurd là một nhóm người thiểu số kết hợp chừng hai mươi phần trăm dân số Thổ Nhĩ Kỳ. Vào những năm 40, nhóm người thiểu số này đã bị đàn áp, cấm không được dùng ngôn ngữ, trang phục, và ngay cả dân ca của họ. Ka là một trong những người bị lưu đày mặc dù bài của anh không chỉ trích chính quyền trầm trọng. Trong quyển Tuyết, nhiều lần Ka đã nhắc đến việc Thổ Nhĩ Kỳ đã thảm sát người Armenian khi người Nga rút ra khỏi địa phận Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1915. Tuy chuyện đã thuộc về quá khứ, cho đến nay chính quyền vẫn cấm báo chí không cho phép nhắc đến và giả vờ như chuyện chưa bao giờ xảy ra. Đoạn văn sau đây là lúc Ka ngồi quán cà phê nói chuyện với Ipek:

“Ngay sau đó họ nói về chính cái tiệm bánh mà họ đang ngồi. Nó là một nhà thờ Orthodox cho đến năm 1967, khi người ta tháo cánh cửa nhà thờ để mang vào viện bảo tàng. Một phần của viện bảo tàng này được dùng để tưởng niệm cuộc thảm sát người Armenia (rất tự nhiên, nàng nói, có vài du khách đến đấy với dự tính là xem những dấu vết về sự thảm sát người Thổ Nhĩ Kỳ bởi người Armenia, và giật mình khi khám phá sự thật ngược lại với sự hiểu biết của họ).”

Orhan Pamuk vạch ra, chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ cần phải sửa đổi việc vi phạm quyền tự do ngôn luận và đàn áp người dân thiểu số nếu muốn gia nhập Liên Minh châu Âu. Thổ Nhĩ Kỳ luôn luôn đứng bên ngoài một trung tâm thương mại, muốn tiến bộ giàu có nhưng không biết phải làm gì. Có tài nguyên nhưng không có kỹ thuật tân tiến để khai thác. Bán tài nguyên cho ngoại quốc thì sẽ bị ăn phỗng tay trên. Kinh tế nghèo khó cùng với sự đàn áp quá độ đã đưa đến chỗ người dân Kurd phản kháng và nổi loạn.

Khi phát biểu về sự thảm sát người Armenia, và bênh vực người Kurd bị đàn áp ở Thổ Nhĩ Kỳ, Pamuk gia nhập hàng ngũ với Kenzaburo Oe, văn hào Nobel năm 1994 và J.M. Coetzee, văn hào Nobel năm 2003. Kenzaburo Oe đã nói về việc quân đội Nhật Bản bức tử dân Nhật và J.M. Coetzee đã phát biểu việc người Nam Phi bị đàn áp. Các văn hào này là những giọng nói hùng mạnh của giới văn học đã bênh vực nhân quyền trong đó có quyền tự do ngôn luận. Họ cũng đã dùng tiếng nói của mình để nói với thế giới thay cho những người không thể nói và không có điều kiện để phát biểu ý kiến.

*

Sự xung đột Đông và Tây trong phạm vi quốc gia được thể hiện qua biểu tượng chiếc khăn choàng đầu của phụ nữ Hồi giáo. Vào đầu những năm 1920, theo trào lưu châu Âu, Ataturk áp dụng chủ nghĩa secularism (tự điển dịch là chủ nghĩa thế tục). Các nhân vật trong quyển Tuyết, đặc biệt là các nam sinh Hồi Giáo như Necip, Fazil, và tên sát nhân đã bắn ông trưởng Viện giáo dục, thường nhập nhằng giữa secularism với atheism (chủ nghĩa vô thần). Đa số quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đều theo secularism, tôi vẫn hiểu là tự do tôn giáo, không áp đặt bất cứ tôn giáo nào làm tôn giáo của quốc gia. Tuy nhiên Hồi giáo chiếm 99 phần trăm tổng số dân số Thổ Nhĩ Kỳ. Và có lẽ những thù hằn dây dưa bắt nguồn từ thời Thập Tự viễn chinh, người Thổ Nhĩ Kỳ đã trút thù hằn này lên những người Armenia là những người theo Thiên chúa giáo. Kế vị Ataturk là những nhà lãnh đạo trẻ tuổi rất ngưỡng một nền văn hóa châu Âu thúc đẩy sâu xa hơn việc châu Âu hóa Thổ Nhĩ Kỳ. Các nhà lãnh đạo này xem việc dùng khăn choàng đầu là lạc hậu do đó cấm phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ không được dùng khăn choàng đầu khi đặt chân lên đất đai tài sản của chính quyền. Đối với người Hồi giáo, bị tước đoạt quyền dùng khăn choàng đầu là một hành động khống chế của secularism, bị xem là hậu thân của những người theo Thiên Chúa giáo.

Phụ nữ và chiếc khăn choàng đầu trở nên một quả banh quần vợt bị tung hứng trên mặt trận dàn ra bởi chính quyền mệnh danh là tự do tôn giáo và các lãnh tụ Hồi giáo. Khăn choàng đầu của phụ nữ không chỉ là trang phục, mà còn là biểu tượng tôn giáo và phong tục của phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ. Người phụ nữ Hồi giáo, để được đến trường, và để cuộc sống của người thân không bị đảo lộn, phải từ bỏ khăn choàng đầu. Họ phải trả lời đối diện với sự trừng phạt của các người lãnh đạo tôn giáo. Sự trừng phạt đôi khi là sự đánh đập và hãm hiếp. Cả hai bên đều không muốn nhận trách nhiệm trong việc đã dằng co và đưa đẩy các cô nữ sinh Hồi giáo đến chỗ tự tử chỉ vì các cô muốn có quyền được dùng khăn choàng đầu. Pamuk đã xây dựng Kadife, một nhân vật nữ có cá tính và năng khiếu lãnh đạo. Kadife đã tranh luận về lý do những người phụ nữ Hồi giáo tự tử như sau:

“Tôi xin cô vui lòng giải thích tại sao cô muốn tự tử?” Sunay nói.

“Đây không phải là một câu hỏi ai cũng có thể trả lời,” Kadife nói.

“Cô nói thế là có ý gì?”

“Nếu một người biết chính xác tại sao cô ta tự tử và có thể phát biểu lý do của mình một cách công khai, cô ta sẽ không cần tự tử,” Kadife nói.

“Không! Không phải thế,” Sunay nói. “Có người tự tử vì yêu; có người giết người vì họ không chịu được sự đánh đập của chồng nữa, hay bởi vì sự nghèo khó đã xuyên thấu xương họ như một mũi dao.”

“Ông có cái nhìn về cuộc đời đơn giản quá mức.” Kadife đáp lại. “Một người phụ nữ muốn tự tử vì tình yêu vẫn biết nếu cô ta chờ ít lâu tình yêu của cô sẽ phai tàn. Nghèo khó cũng không phải là lý do chính đáng để tự tử. Và một người phụ nữ không cần phải tự tử để trốn tránh ông chồng vũ phu; cô ta chỉ cần ăn cắp tiền của hắn và bỏ hắn.”

“Thế thì, lý do thật sự là gì?”

“Lý do chính một người phụ nữ tự tử là vì cô ta muốn bảo toàn danh dự. Ít ra đó cũng là lý do mà đa số phụ nữ đã tự tử.”

“Cô có ý nói là họ bị người yêu hạ nhục?”

“Ông chẳng hiểu biết chút nào!” Kadife nói. “Một người phụ nữ không tự tử vì cô ta mất danh dự, cô tự tử vì muốn phô trương cái danh dự của cô ta.”

*

Sự xung đột Đông Tây ở mức độ cá nhân được Pamuk thể hiện qua cách chọn lựa hạnh phúc cá nhân hay an toàn cho gia đình và xã hội. Ka, lớn lên ở Istanbul, một thành phố mang tính chất văn hóa Âu châu, và sống lâu năm ở Frankfurt, một thành phố châu Âu. Lẽ ra anh có thể hòa nhập trong xã hội châu Âu nhưng trái lại anh rất cô đơn lạc lõng trong xã hội Tây phương. Làm một cuộc hành trình từ Tây sang Đông, từ Âu sang Á, anh nghĩ là ở Kars anh sẽ tìm thấy mình và sẽ tìm thấy hạnh phúc. Ở Kars, giữa những người Hồi giáo Ka càng hoang mang không biết mình là ai, không biết mình muốn gì. Trong cơn say túy lúy anh hôn tay của sheikh Efendi nhưng vẫn không thấy mình hòa hợp với người Hồi giáo. Mọi giá trị về văn hóa và tôn giáo mà anh tự thiết lập lúc ban đầu bỗng lung lay. Ở Frankfurt hay ở Kars, Ka luôn là người ngoại cuộc đi tìm một nơi thích hợp cho mình. Khi còn ở nước ngoài Ka định nghĩa hạnh phúc là viết ra được những câu thơ và có người yêu mình. Khi về đến Kars hạnh phúc được anh định nghĩa như sau trên trang 325:

“Hạnh phúc là tìm một thế giới khác để mà sống, một thế giới mà anh có thể quên hết nghèo khó và những kẻ độc tài. Hạnh phúc là có ai đó trong vòng tay và biết rằng mình đang ôm cả thế giới.”

Sau đây là nhận xét về Ka của Z Demirkol, viết văn, làm thơ, nhà báo, đã từng theo chế độ Cộng sản, và là một trong những nhà quân sự đã làm cuộc đảo chính ở Kars.

“Những người trí thức như ông không biết mình muốn cái gì, điều này làm tôi phát ốm. Anh nói anh thích có dân chủ, thế rồi anh lại theo phe với những người Hồi giáo cực đoan. Anh nói anh muốn có nhân quyền, xong rồi anh đi thương lượng với đám khủng bố giết người. Anh nói Âu châu là giải pháp rồi anh lại đi vòng vòng nịnh bợ các người Hồi giáo ghét bất cứ những gì là biểu tượng của châu Âu. Anh nói ủng hộ nữ quyền, thế rồi anh giúp đám đàn ông quấn khăn lên đầu vợ con của họ.”

*

Tiểu thuyết của Orhan Pamuk rất đa dạng, phong phú và rất nhiều ẩn dụ. Tác giả mở đầu câu truyện bằng một vụ giết người. Rồi sau đó cứ vài chương ông cho thêm một vụ giết người nữa, và càng về sau càng nhiều người bị giết. Tương tự Doris Lessing, văn hào Nobel năm 2007, trong quyển Cỏ hát (The Grass is Singing) ông cho biết thủ phạm giết chết nhân vật ngay trong những trang đầu, và những cái chết về sau như cái chết của Necip và Sunay Zaim được báo trước như thể tác giả không muốn độc giả phí thì giờ đi tìm thủ phạm giết người. Biết được tên sát nhân rồi độc giả chú ý vào những xung đột từ nội tâm đến ngoại trường đã đưa đến việc giết người. Khác với Yu Hua trong Brothers (Anh em) Pamuk không khai thác khía cạnh ghê rợn của sự bạo động. Qua Necip, Pamuk nhấn mạnh đến cái chết phi lý của một học sinh tôn giáo, ngây thơ, mơ mộng, hiền lành, chỉ biết yêu chưa biết hận thù, còn đang phân vân không biết có sự hiện hữu của Trời hay không, một nhánh cây thanh xuân bị bẻ gãy thật đột nhiên, một cái chết mà tôi thấy trong một câu hát của Trịnh Công Sơn, “chết thật tình cờ nằm chết như mơ.” Nhân vật của ông ít khi đối ngược với nhau, ngoại trừ hai nhân vật Necip và Kadife. Necip là một thanh niên Hồi giáo rất hiền lành mơ mộng, trong khi Kadife là một phụ nữ được nuôi dạy theo văn hóa châu Âu. Các nhân vật khác được xây dựng thành từng cặp bổ túc hậu thuẫn cho nhau thí dụ như Necip là tuổi trẻ của Ka, Kadife và Ipek là biểu tượng vừa Âu vừa Á của phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ, Necip và Fazil tượng trưng cho các giáo sinh Hồi giáo, hiền lành, mơ mộng. Không phải người nào ở trong trường Hồi giáo cũng trở nên những tay khủng bố giết người.

Nếu nước trong tác phẩm Mùa len trâu (của Sơn Nam được làm thành phim) làm chết lúa với trâu và phá hủy tài sản của cải của dân ở đồng bằng miền nam Việt Nam; nếu gió trong Tam Quốc Chí đã giúp lửa đốt cháy những chiến thuyền ở trận Xích Bích; nếu những vụ bạo động giết người ở Mỹ thường xảy ra ở những khu dân nghèo, tỉ lệ nghiện ngập và thất nghiệp cao, trong những đêm mùa hè khi vạn vật đắm chìm trong hơi nóng; thì trong tác phẩm Tuyết, cơn bão tuyết kéo dài ba ngày phong tỏa mọi lối ra vào thành phố, giữa những người dân bất mãn đã lâu vì những ức chế và mức độ nghèo khó, và giữa những người có tham vọng cá nhân to hơn lòng nhân đạo với vũ khí trong tay, có tác dụng phá hoại nguy hiểm tương đương với nước, gió lửa, và hơi nóng. Tuyết có công dụng dập tắt âm thanh và vây hãm để cuộc thảm sát những người yếu thế có thể xảy ra trong một thời gian rất ngắn. Kars trong màn tuyết triền miên không còn là Kars nữa mà là hiện thân của bất cứ thành phố nào trong quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ. Cái đàn áp, bóp nghẹt, bạo động áp dụng lên những người yếu thế nhỏ bé ở Kars cũng có thể ở một nơi nào đó trên quốc gia này.

Pamuk có tham vọng thay đổi quan điểm của châu Âu về những người Hồi Giáo và Thổ Nhĩ Kỳ, qua cách ông thể hiện những nhân vật sống ở Kars, ở một thành phố hẻo lánh nghèo nàn thuộc về châu Á. Pamuk cho rằng là các quốc gia Hồi giáo, trong đó có Thổ Nhĩ Kỳ, đã bị hiểu lầm nghiêm trọng. Một thiểu số người Hồi giáo, trẻ và nông nổi, chủ trương dùng bạo động để bảo vệ danh dự Hồi giáo, thật ra chỉ là một nhóm người trẻ tuổi, dễ bị lừa dối và lung lạc. Họ gây rối loạn bởi vì nhàm chán do dư thì giờ nhưng thiếu phương tiện để tự xây dựng đời sống và hạnh phúc của riêng họ. Một nhân vật trẻ tuổi, du kích Kurd, đại diện cho nhóm người nghèo và ít học của Thổ Nhĩ Kỳ, khi được hỏi anh ta sẽ nói gì với thế giới Tây phương nếu anh được cho phép tóm gọn trong hai câu, anh ta đã nói:

“Lỗi lầm to lớn nhất của nhân loại,” anh chàng thiếu niên người Kurd nói, “sự lừa dối to lớn nhất của hằng ngàn năm qua là: lẫn lộn giữa cái nghèo với ngu ngốc.”

“Nói cho chính xác, anh ta có ý gì khi dùng chữ ngu ngốc? Anh ta nên giải thích cho rõ ràng.”

“Suốt quá trình lịch sử, các nhà lãnh đạo tôn giáo, và những người có danh dự luôn luôn cảnh giác điều lầm lẫn này. Họ nhắc cho chúng ta nhớ rằng những người nghèo khổ có tấm lòng, biết suy nghĩ, nhân từ, và sáng suốt cũng như bao nhiêu người khác.”

Pamuk cũng nói hộ người dân Thổ Nhĩ Kỳ là họ không tin người Tây phương có thể hiểu và cảm thông với họ. Fazil, bạn của Necip, một trong những nam sinh Hồi giáo, về sau kết hôn với Kadife đã nói: “Nếu ông viết một quyển sách về Kars và cho tôi vào quyển sách, tôi muốn nói với độc giả của ông là đừng tin bất cứ những gì ông nói về tôi hay về bất cứ người nào của chúng tôi. Không ai sống rất xa chúng tôi có thể hiểu chúng tôi.”

Tác phẩm Tuyết sẽ giữ một vai trò quan trọng trong việc khuyến khích Đông Tây tìm hiểu lẫn nhau để giữ hòa bình trên thế giới khi mà cuộc chiến giữa Tây phương và các quốc gia Hồi giáo như Afghanistan, Iraq vẫn còn đang tiếp diễn. Thế giới luôn lo ngại Thổ Nhĩ Kỳ sẽ biến thành một quốc gia như Iran. Một vài quốc gia lạc hậu khác nhìn thấy Thổ Nhĩ Kỳ qua tác phẩm Tuyết may ra sẽ tôn trọng nhân quyền và quyền tự do ngôn luận?

Hết.

Tham khảo:

Western Civilization, Jackson J. Spielvogl
The New York Times Book Review của Margaret Atwood

Nguyễn Thị Hải Hà


Tìm hiểu thêm về tác phẩm Tuyết

viết bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Bàn về những nhân vật phụ trong “Bắt trẻ đồng xanh”: Thầy Antolini và cô bé Phoebe

Có câu trả lời nào cho giấc mơ mà “Bắt trẻ đồng xanh” vẽ nên không? Có câu trả lời nào cho sự hoang mang của cái tuổi Holden hay một ai đó sẽ trưởng thành?
Có, đó là lý do tôi nhắc đến thầy Antolini và cô bé Phoebe.

Đăng từ

on

Người đăng

Tôi luôn nói mình không ấn tượng nhiều về Holden; so với Holden, tôi đặc biệt cảm giác phấn khích hơn với ông thầy Antolini và em gái cậu, Phoebe.

Holden luôn rất tự phụ, tự phụ đến mức gần như cô độc. Cậu không bao giờ tâm sự chuyện đời tư của mình quá nhiều, nhưng có hai người khiến cậu thật sự “ưa nói”: người đầu tiên đương nhiên là Phoebe, còn lại là ông giáo Antolini này. Đơn giản, ở Antolini hay Phoebe đều hiện diện một thứ Holden luôn tìm kiếm, chính là câu trả lời về sự tử tế.

Antolini là ai?

“Ổng là người độc nhất cuối cùng đã bế xốc cái thằng nhảy ra ngoài cửa sổ, thằng Castle…”

Đây là một ông thầy tôi cho là rất uyên bác, có học vị và khá khiêm cung. Antolini hoàn toàn khác biệt những ông thầy tôi bắt gặp trong câu chuyện của Holden, như Vinson, Spencer,… Không phải ở chỗ tôi thấy ai bộ tịch hơn ai, mà Antolini trước hết là một ông thầy không có cái nhìn định kiến với học trò. Thầy ấy không công khai phủ đầu Holden khi cậu liên tiếp thi rớt và bị đuổi học. Thay vì chỉ trích và phán xét Holden, Antolini rất bình tĩnh, cởi mở nói chuyện với cậu. Chính cách cư xử hòa nhã đó, nó giúp ta vỡ lẽ ra rất nhiều những khía cạnh đằng sau Holden – nếu cái chúng ta nhìn thấy là một Holden luôn có cảm giác cậu sẽ biến mất:

“Tôi cứ đi tuốt Đại lộ Năm… Cứ mỗi lần đi đến cuối ngã tư và bước xuống khỏi lề, tôi lại có cảm giác rằng tôi sẽ không bao giờ đi qua bên kia đường cả. Tôi nghĩ tôi sẽ chỉ đi xuống, đi xuống mãi.”

Thì Antolini sẽ phỏng đoán nó: “Tôi nghĩ rằng cái dốc mà chú đang lăn xuống là một thứ dốc khủng khiếp. Không bao giờ người xuống dốc được nghe hay cảm thấy mình chạm phải đáy hố. Họ cứ việc lăn xuống, lăn xuống.”

Nếu cái chúng ta nhìn thấy là Holden liên tục bị đuổi khỏi các ngôi trường, liên tục gặp gỡ những người cậu quen biết, liên tục quan sát xung quanh mình,… thì Antolini, thầy ấy tiếp tục lý giải: “Cái dốc ấy dành cho những người, vào một lúc nào đó trong đời, đi tìm một cái gì mà hoàn cảnh và những người xung quanh không thể đem lại cho họ, hay họ nghĩ là không thể đem lại cho họ.”

Ở đây, cái hay của Antolini là thầy không giống chúng ta, ông không theo chân Holden sát từng bước, cũng không đọc được toàn bộ suy nghĩ ở trong đầu Holden; ông đơn giản chỉ hỏi cậu nhóc một số những câu hỏi, thế nhưng tất cả những điều chính Holden hay chúng ta không đoán được, ta nhận ra Antolini biết cách kết luận nó.

Antolini đặc biệt còn làm được một điều tôi nghĩ là thật sự không hiện diện nhiều lắm ở những ông thầy – đó là sự chịu khó lắng nghe học sinh. Thậm chí sẽ không khoa trương mấy khi tôi tin rằng, không, không chỉ có mỗi Holden tìm thấy điều gì đó ở cái ông thầy ấy, mà chính Antolini, ngược lại cũng khám phá ra ở Holden khá nhiều điều. Hay nói một cách khác, sánh cạnh Antolini, Holden không đóng vai một đứa trẻ bị động, và Antolini cũng không ở vị thế của một người chủ động hoàn toàn.

*

Tại sao Antolini là một trong số hai nhân vật tôi luôn coi trọng?

Không biết các bạn có giống tôi hay không, có hai thời điểm tôi đọc cuốn sách này và bất chợt muốn khóc. Lần đầu tiên là khi tôi hiểu nỗi sợ của Holden thật sự mang ý nghĩa thế nào. Lúc đấy khóc đơn giản vì tôi biết, dù rõ ràng rất muốn nói một điều gì đó để cổ vũ cậu ta, song tôi đã không làm được. Điều duy nhất tôi nghĩ đến chỉ là, Holden nói đúng, trưởng thành là một quá trình mà ta không cách gì còn có thể nguyên vẹn như trước nữa! Đâu đó ngọn lửa bên trong tôi nguội dần, nguội dần…

Lần thứ hai, đó là khi tôi nghe thầy Antolini phân tách: “Cũng như một ngày kia, nếu chú có cái gì để dâng hiến, thì một người nào đó sẽ học được một điều gì nơi chú.” Antolini làm tôi hơi vỡ òa, vỡ òa bởi tôi tin Bắt trẻ đồng xanh hoàn toàn không điên rồ, và tương lai của Holden cũng không hoàn toàn là một cái gì đó mờ mịt. Phải, chính Antolini ở chỗ này đã thay chúng ta viết tiếp cái giấc mơ Holden sẽ đứng bên vách núi, bắt từng đứa trẻ sẽ rơi xuống đáy vực. Bằng cách thầy ấy đã gợi ý cho Holden rất tỉ mỉ rằng – chỉ cần Holden tiếp tục tin tưởng vào trường học, Holden không những có thể tìm thấy thứ hiểu biết sưởi ấm được trái tim của cậu, mà cậu còn có thể tận dụng sự hiểu biết của mình để giúp đỡ ngược lại những người khác.

Trưởng thành là một quá trình mà ta không cách gì còn có thể nguyên vẹn như trước nữa!

Đâu đó ngọn lửa bên trong tôi nguội dần, nguội dần…

Dĩ nhiên hiện diện ở đây một vấn đề, liệu Holden có thật sự tiếp thu những điều Antolini đang cố gắng hướng dẫn? Tôi nghĩ, có lẽ, tồn tại một khả năng rất cao là có. Ta nhận ra Holden hội tụ vừa đủ các điều kiện, ngoài có thừa thông minh lẫn sự nhạy cảm – giống Antolini đã nói – cậu còn là một đứa trẻ rất “say mê hiểu biết”. Mặc dù ngoài miệng Holden luôn tỏ ra như không hoàn toàn lắng nghe thật kỹ càng bất cứ điều gì. Thế nhưng ta vẫn biết Holden có để tâm. Bởi vì cậu là một người rất chú trọng tiểu tiết, tiểu tiết xuất hiện khắp nơi trong câu chuyện cậu kể chúng ta nghe. Ngược lại, nhìn nhận Antolini, chúng ta phát hiện ra Antolini đại diện cho khá nhiều chuẩn phong cách:

1. Khi thầy ấy nói với Holden: “Chú không phải người đầu tiên đã từng hoang mang, giật mình hay kinh hãi cả đến nôn mửa vì cách xử sự của người ta.” Antolini không nói về chính thầy, tuy nhiên ta chắc chắn, ta có thể xem Antolini như một nguyên mẫu gốc trong số nhiều, rất nhiều người đã từng dao động.

2. Chúng ta say mê lắng nghe Antolini là vì chúng ta hiểu tầm hiểu biết của Antolini thật sự rất rộng. Khi Antolini công nhận và tin tưởng Holden sẽ vượt xa khỏi các ông Vinson hay các thứ diễn thuyết, ta biết Antolini có cơ sở để tin vào điều ấy. Có thể, ta đã luôn bất ngờ về một thằng nhóc tên Holden, nhưng ta càng bất ngờ hơn về một ông thầy (vừa khiêm cung, vừa thông minh, vừa sáng tạo) có thể giải mã và đưa ra được lời khuyên tốt nhất cho cái thằng nhóc đấy. Nếu Holden cảm thấy đổ vỡ vì những góc tối hiện diện nơi hệ thống giáo dục, thì Antolini là một người có thể đại diện cho cái góc sáng trong chính hệ thống giáo dục đó. Ông ta chân thực là một trong số “một vài người đã ghi lại những khó khăn”, cũng là người mà Holden có thể học hỏi. Đó là lý do Antolini thuyết phục được Holden.

Tuy nhiên, Antolini không hoàn toàn là người thay đổi Holden ngay lập tức (không hẳn vì đêm đó, ông thầy đã vuốt đầu Holden. Chính Holden cũng không chắc hành động này mang ý nghĩa gì, chúng ta càng không thể đoán chắc). Chỉ là, có lẽ ở chỗ của Antolini, cái Holden tìm được gần như chỉ là một lời gợi mở mà thôi. Một sự gợi mở sâu sắc tới nỗi nó khiến chúng ta tin, những lời Antolini chia sẻ sẽ theo chân cậu, theo sát chân chúng ta suốt đời.

Vậy thì ai mới là người chân thực nhất khiến Holden lay động?

Đáp án không ai khác ngoài Phoebe!

Tuy khoảnh khắc Phoebe xuất hiện ở những chương cuối chứ không phải trong hồi ức của Holden, tôi luôn cho rằng Phoebe đóng một vai trò rất lớn trong cuộc đời thằng nhóc. Phoebe không giản đơn là một đứa em được Holden vô cùng yêu quý và nuông chiều, mà còn hiện diện sống động như một bản sao nhí của chính Holden nữa. Phoebe khá đa cảm (Em đa cảm lắm. Ý tôi là em rất đa cảm đối với một đứa bé. Đôi khi em quá đa cảm). Cô bé cũng dễ nhạy cảm luôn luôn với những thứ rất bình thường:

“Bữa ăn tối của con ra sao?”

“Mắc dịch”, Phoebe nói.

“Con đã nghe ba con mắng về chuyện xài chữ ấy rồi. Cái gì mắc dịch? Con có thịt sườn. Má đã đi tuốt xuống đường Lexington để…”

“Thịt sườn không sao cả, nhưng Charlene luôn luôn thở vào đầu con mỗi khi chị ấy để cái gì xuống. Chị ấy thở vào hết tất cả món đồ ăn và các thứ. Chị ấy thở vào mọi thứ.”

Không những chỉ nhạy cảm, thỉnh thoảng em cũng xài vài ngôn từ dịch hạch giống Holden. Em thông minh, nhạy bén với các bộ môn nghệ thuật không khác anh trai mình. Dĩ đương nhiên, cả cái cách em xách va li bỏ nhà theo Holden, em quyết định nghỉ học cũng thế. Bởi vì Phoebe là phiên bản nhí của Holden, cho nên trong cuộc truyện trò của hai đứa trẻ ấy, ta nhận ra Phoebe làm khơi dậy được bên trong Holden khá nhiều những góc cạnh.

Đầu tiên, quan sát suốt quá trình hai anh em bên cạnh nhau, ta để ý dường như chân thực nổi bật lên ở đây hình ảnh của một Holden rất trái ngược với cái dáng vẻ đầy bất cần ta vẫn thường hay thấy. Holden ấm áp hơn, cậu biết cách kiểm soát ngôn ngữ lẫn hành vi của mình, cân nhắc đâu nhẹ và đâu nặng. Những điều này thể hiện thông qua thái độ cậu uốn nắn Phoebe – “Đấy không phải là một lý do để đổ mực vào” – lúc Phoebe lý giải nguyên nhân tại sao em vấy mực lên áo đứa bạn. Thể hiện thông qua sự giận dữ của cậu – “Nào, đi. Anh sẽ dẫn em trở lại trường học” – ngay khoảnh khắc Phoebe nói với cậu em quyết định bỏ học để cùng đi theo cậu dù phải tới bất kỳ đâu. Thông qua cái cách cậu đấu tranh với em, rồi hứa sẽ quay trở về nhà.

Sự đối nghịch ấy nói lên điều gì? Chính Phoebe, em làm lớn dậy được năng lực dám chịu trách nhiệm (cũng đồng thời là bản năng) của một người anh trai bên trong Holden. Một đứa trẻ, có thể không biết bỏ học đối với bản thân sẽ tai hại ra sao, tuy nhiên chắc chắn nó biết bỏ học đối với em gái mình thì sẽ gây ra hệ lụy lớn thế nào. Thế cho nên thay vì tiếp tục trốn tránh phải đến trường, ta thấy nó chọn không để hình ảnh của bản thân trở thành một tấm gương xấu cho em gái. Chính quyết định cực kỳ quan trọng ấy cứu nó, cứu em gái nó. Người ta thường nổi loạn hoặc tỏ ra bất cần với cuộc sống mình, duy sự nổi loạn ấy sẽ dừng lại vào cái ngày mà họ hiểu, cuộc đời họ là một chuỗi những sợi dây liên kết với những người họ đặc biệt yêu quý, và họ có trách nhiệm với không chỉ mỗi bản thân mình, mà còn với những mắt xích đó (chẳng hạn như cha/ mẹ họ, em gái họ, con cái họ…).

Thứ hai, Holden là một thằng nhóc ưa mâu thuẫn nhất bạn từng gặp, bạn nghe nó nói về tất cả những chuyện trên trời dưới biển, bạn tưởng Holden biết rất rõ bản thân mình, thế nhưng không, cậu ấy không biết gì hết cả. Thực ra, nói đúng hơn thì không phải Holden không hiểu mình muốn gì, ngược lại, cậu hình dung khá rõ thứ cậu luôn khao khát vươn tới. Tuy nhiên thay vì đối diện với bản thân, đi tìm câu trả lời xem liệu mình có phải một trong số những thằng bộ tịch không, Holden chọn bỏ cuộc ngay cả trước khi cậu thực sự bắt đầu, cậu “muốn chết một cách cao thượng vì một sự nghiệp”… Rồi cậu bắt gặp chính cậu trong hình ảnh của Phoebe. Cậu muốn thôi học, và Phoebe cũng thế. Phoebe khiến cậu phải ít nhiều tự soi lại bản thân.

Người ta thường nổi loạn hoặc tỏ ra bất cần với cuộc sống mình, duy sự nổi loạn ấy sẽ dừng lại vào cái ngày mà họ hiểu, cuộc đời họ là một chuỗi những sợi dây liên kết với những người họ đặc biệt yêu quý.

Khi Holden nói, “Anh sẽ về nhà. Anh sẽ về nhà ngay khi em đi học” – có bao nhiêu phần trăm thằng nhóc thốt lên lời hứa ấy vì Phoebe, có bao nhiêu phần trăm Holden vì chính mình? Tôi không biết, nhưng tôi dám cá, vào lúc Holden khăng khăng hứa, cậu ta đã lần đầu tiên dám trực diện nhìn thẳng vào bản thân!

*

Quay trở lại, nếu chúng ta vẫn còn nhớ đến câu của thầy Antolini:

“Một khi đã vượt qua được tất cả những ông Vinson, chú sẽ bắt đầu tới ngày càng gần hơn – ấy là nếu chú muốn, và nếu chú tìm kiếm nó và trông chờ nó – thứ hiểu biết làm trái tim chú rất, rất âu yếm.”

Ta sẽ nhận ra cái Holden đi tìm không hẳn hoàn toàn thuộc về nơi giáo dục, cái thầy Antolini tư vấn cho Holden cũng vượt xa giáo dục, và cuối cùng – có những sự hiểu biết cũng thế!

Trong câu chuyện về Holden, ý nghĩa thật sự của trưởng thành vốn không nằm ở chỗ bản chất con người sẽ thay đổi, nó nằm ở việc quá trình trưởng thành luôn được đánh dấu bằng khoảnh khắc ta bằng lòng gánh vác trách nhiệm trên vai mình. Chúng ta hình dung đến hai chữ trách nhiệm, cảm tưởng nó nặng hơn hàng vạn tấn sắt, đá trong đời. Kỳ thực nặng nhẹ không phụ thuộc vào trọng lượng của những tranh đấu, va vấp, đổ vỡ ta bắt gặp sau này. Bởi vì nếu chúng ta đem đặt những đắng cay, va vấp ấy lên một đầu bàn cân, còn đầu bên kia là cảm tình chúng ta tha thiết dành gửi đến ai đó, ta biết ta có thể vượt qua được cả bản thân mình. Kim chỉ lệch về phía mà ta thật sự trân trọng.

Đó là lý do cuốn tiểu thuyết khép lại, ta thấy Holden hơi nghẹn ngào:

“Có thể nói là cái mũ săn đã chở che tôi rất nhiều… Tôi suýt khóc lớn lên nữa, vì tôi cảm thấy sung sướng… Tôi cũng không hiểu tại sao. Chỉ vì em thật dễ thương như thế kia…”

Bằng một cách nào đó, Antolini đã luôn ủi an và chỉ dẫn cả Holden lẫn chúng ta. Thầy làm chúng ta thốt nhiên muốn mỉm cười. Mười bảy tuổi – ta biết Holden không chỉ lớn, cậu bắt đầu trở nên hiểu biết hơn.

Có lẽ, Phoebe chính là đứa trẻ đầu tiên được Holden cứu, cũng đồng thời ngược lại, chính nhờ Phoebe mà Holden không sa mình xuống vực. Nếu nói Antolini là người có thể vẽ ra cái viễn cảnh hiện diện một Holden ở tương lai vừa thành tựu, lại vừa tử tế; thì Phoebe, em là người khơi dậy được chân thực hình ảnh một Holden tử tế ở khoảng cách rất gần mình, ngay phút giây mà ai cũng hiểu – hoàn toàn hiện tại.

Quá trình trưởng thành luôn được đánh dấu bằng khoảnh khắc, ta bằng lòng gánh vác trách nhiệm trên vai mình.

Hết.

Người Giao Bánh

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

thế giới đã thay đổi. hoặc phụ nữ bao giờ cũng thế mà ta không biết

“Nếu cần thì gọi hai người đàn ông làm chứng, nếu không có đủ đàn ông thì một đàn ông và hai đàn bà”
(Con Bò, câu 282 – kinh Qur’an)

Đăng từ

on

Người đăng

#Metoo, Time’s Up hay #OscarsSoWhite đã bắt đầu gặt hái những thành công nhất định kể từ khi dậy sóng 1-2 năm trước sau cơn rúng động bê bối của Harvey Weistein. Lần đầu tiên sau bấy nhiêu năm, những giá trị phụ nữ được đưa lên, xem xét và nhìn nhận một cách đúng đắn và đầy đủ. Và không gì khác, chính những giải thưởng như Oscar hay BAFTA vừa qua đã cho thấy những nỗ lực cố gắng (dẫu cho vẫn còn khiêm tốn) của những gì mà vụ mùa ấy đáng thu được. Từ lời phát biểu công tâm của Joker Joaquin Phoenix với sự phân biệt đối xử người da màu cho đến câu đùa thâm sâu của Issa Rae “Xin chúc mừng những người đàn ông ấy”, ta vẫn thấy đâu đó giá trị người da màu và phụ nữ vẫn còn bỏ lửng. Nhưng dẫu sao, từ đó nhìn vào sự cố gắng, những bộ phim kỳ công như Judy, Marriage Story, Little Women hay Bombshell đã phần nào cho thấy phụ nữ ngày nay không còn giậm chân tại chỗ. Họ có thể ra tranh cử tổng thống như Hillary Clinton, trở nên giàu có như Rihanna, quyền lực như Beyoncé hay cất lên tiếng nói đầy tính cá nhân như Lady Gaga,… và còn nhiều điều họ có thể làm hơn thế nữa.

Nhưng ở một khía cạnh khác, phần lớn những yếu tố nữ quyền ta thấy trong dòng chảy xa hoa của Hollywood hay lớp hào nhoáng của nền giải trí thường là khía cạnh mở. Có nghĩa ở đó, phụ nữ đấu tranh cho vị trí của mình, quyền lợi của mình, cho những thứ mà mình có thể làm tốt tương đương một người đàn ông nhưng lại không được công nhận đủ. Ở đó họ vẫn có quyền sống, vẫn có thể được công nhận; nhưng nếu giảm xuống một nấc, khi họ không sống một cách tự do, không những bị đàn ông hạ bệ mà còn bị hủ tục chen lấn? Và đó là khi tiếng nói phụ nữ đã không còn mở. Đó là đợt tấn công toàn thể. Một cách hoài nghi, văn chương Hồi giáo chính là mặt bị giản thể ấy. Cho đến nay, văn chương của địa hạt này vẫn còn ít được quan tâm, có chăng dậy sóng đôi chút khi Salman Rushdie lãnh án tử hình vắng mặt từ các thủ lĩnh tôn giáo cực đoan. Thế nhưng, cũng như vẻ đẹp và sự huyền bí Đông phương, văn chương Hồi giáo lạ lùng nhưng cá tính, đồng thời là tiếng nói mạnh mẽ dấn sâu vào đời sống phụ nữ như nhát dao xé toang hủ tục, phơi bày ra thế giới hiện thực những gì ta vẫn chưa biết, thâm sâu nhưng cũng không kém phần hài hước.

Bài viết này đề cập đến năm cuốn sách, cả những cuốn hư cấu và tự thuật. Trong đó gồm hai cuốn văn chương hiện thực châm biếm của nhà văn người Liban Rachid El-Daif mà Thuận dịch trong những năm vừa qua – Cho xem đùi nào LeilaCon miu cái của nàng Sikirida. Thêm vào đó, phiên bản “Crazy Rich Asians” của thế giới Hồi giáo đến bằng cây viết Rajaa Alsanea mang tên Những tiểu thư Hồi giáo. Hai cuốn tự truyện đau xót làm dậy sóng dư luận những năm về trước, một của Nojoud – cô bé Ly hôn tuổi lên 10; và một của Latifa – cái tên giả mà vì những vạch trần hiện thực cô sẽ phải mang suốt đời còn lại, được tái hiện trong Khuôn mặt bị đánh cắp.

Ở đó, một mặt hiện lên vẻ đẹp của các quốc gia Hồi giáo từ phong cảnh, con người cho đến cảnh ngộ bị băm nát, nổ tung của những xung đột lên cao. Trong chính những cảnh huống ấy, hình tượng người phụ nữ – vai vế vốn luôn bị xem thường trong xã hội này – hiện lên một cách nổi bật. Họ có thể dũng cảm trong nét giễu nhại của Rachid El-Daif, có thể hiện đại theo chuẩn trong tiểu thuyết của Rajaa; nhưng ở mặt khác, họ cũng bị tự do ruồng bỏ, hà khắc xem thường như trong trường hợp Nojoud hay Latifa. Ở đó, vấn đề phụ nữ không là duy nhất; các nhà văn kể trên khéo léo lồng ghép những hệ tư tưởng giao thoa giữa các phông nền văn hóa – truyền thống dưới góc nhìn của thời đại mới. Ta có thể thấy những đối lập về giới, là sự xung khắc những giá trị mới cũ, hay tính nữ vượt lên dẫu cho những nhầy nhụa khinh thường. Dẫu cho không nhiều, năm cuốn sách trên ít nhiều mở ra cánh cửa lạ lẫm của địa hạt văn chương này – nơi còn nhiều bỏ ngõ, nhưng vàng vẫn luôn tồn tại ẩn sâu.

Tái hiện xã hội

Dù là tiểu thuyết hay tự thuật đi chăng nữa, đời sống xã hội Hồi giáo đương thời không ít thì nhiều đã được tái hiện trọn vẹn trong những cuốn sách này. Từ Liban – quốc gia tự do nhất khu vực Ả Rập cho đến Yemen đói nghèo hay Afganistan nội chiến, từ Ả Rập Saudi hào nhoáng cho đến Palestine xách động; tất cả được đem vào đây âm ỉ cháy. Bỏ lại sau lưng hiện thực tàn khốc của cuộc xung đột tôn giáo biến thành nội chiến, của những phiến loạn – chiến tranh; ở đôi nhịp thời khắc ta vẫn thấy dôi dư ra cảnh tượng tươi đẹp của đời sống con người. Đó có thể là những đường dây điện thoại nặng trĩu của Afganistan mà vì những hủ tục bóp nghẹn, chúng phải tải sức nặng của tất cả những lời than thở, những tiếng thở dài, những lời than vãn và những nụ hôn không thể thực hiện trong thế giới thực. Hay đó cũng có thể là đời sống hiện đại của những trung tâm thương mại, của những cô gái hút shisha, uống rượu, mặc thời trang thế hệ mới và lái BMW. Muôn mặt được đưa ra cho những phông nền, nhưng dẫu cho những tươi đẹp ấy, hiện thực sau rốt bỗng chốc khiến chúng chỉ như tia nắng lướt qua bầu trời âm u.

Ẩn đằng sau cái vẻ đẹp thức thời ấy, là chiến tranh, là nội chiến, là xung đột tôn giáo, là diệt chủng con người. Chúng lấy đi không chỉ vẻ đẹp cảnh quan, mà ở một mặt nào đó, là cả những chân kiềng của giá trị con người – tự do, niềm vui sống và được thể hiện mình. Ở đó, phụ nữ có thể bị quất bằng roi bọc chì khi họ mang giày trắng – màu lá cờ Taliban. Họ cũng có thể một đi không trở về một tối nào đó, bởi những xung đột tôn giáo giữa Cơ Đốc giáo, Hồi giáo; hay cả trong nội bộ dòng chảy Hồi giáo, giữa dòng Shite, Sunnite hay Druze. Ở đó, giết người là chuyện thường tình, không ai bận tâm lấy lại công bằng cho người thân mình; vì cũng như không khí, cái chết với họ nhan nhản ở khắp mọi nơi. Không khí là cái chết, mà không khí cũng là nhân quyền, hư vô, mênh mông và không lối thoát. Ở đó, như Rachid viết: “Nói cho cùng thì những cái chết vô tội vạ đã trở thành chuyện thường ngày ở Liban. Người ta có thể giết ai đó chỉ vì kẻ này đã từ chối không nhường đường khi lái xe, hay nhường chỗ khi xếp hàng mua bánh. Người ta giết nhau trong dửng dưng. Ở Liban, thời gian đó, giết người thậm chí không còn bị qui định là một tội ác. Tội ác chỉ là khi giết người có chủ ý”.

Artwork background: Võ Khánh Trang

Giá trị con người ở thời khắc ấy trở nên rẻ rúng trước những cai trị hà khắc của tôn giáo cực đoan. Là sự cầm tù tự do của Taliban, là cái chết ép uổng của những cô bé lên 9 lên 10 không thể cất lên tiếng nói để rồi bị lạm dụng thân thể chỉ vì hai chữ “tự do”, “danh dự” của người đàn ông trong gia đình mình. Ở đó, những đứa bé vẫn chưa kịp lớn đã bị đưa đi như món hàng cứu viện xách động từ Iraq – chúng thanh toán lẫn nhau do những nguyên do còn bẩn thỉu hơn, như trộm ô tô, tranh cửa hiệu để tống tiền, buôn bán ma túy, dẫn gái, giành chỗ đậu xe, v.v. Xã hội Hồi giáo trong những cuốn sách này không được nhắc đến một cách tự thân, chúng chìm ẩn trong những cấu trúc ngữ nghĩa và ngôn từ tràn lan; thế nhưng đó là cảnh tượng không thể làm ngơ. Chúng hiển hiện, nổi bật chỉ như một dụng ý ngầm, nhưng đó còn là tiếng gào thét vào thế giới tự do, văn minh; của một xã hội không còn đói nghèo, bất công và cả chiến trận. Thế nhưng xã hội Hồi giáo không chỉ có thế, dường như chỉ là bước đầu.

Những luồng tư tưởng

Không khó để nhận ra những xung đột mới – cũ, Đông – Tây giữa các nhân vật trong cuốn sách này. Nếu bốn cô gái của Rajaa trong Những tiểu thư hồi giáo đại diện cho cách sống mới – kiểu “live fast, die young, be wild, have fun”; thì những nhân vật trường thọ như má Adiba trong Con miu cái của nàng Sikirida hay Z trong Cho xem đùi nào Leila lại như những rường cột niềm tin, truyền thống, về những ý nghĩ cổ điển. Nếu Rachid quăng thẳng vào những hủ tục xa xưa lát cắt sắc lẹm từ cái vốn được coi là không trong sáng, lành mạnh trong xã hội Hồi giáo – sex; thì Rajaa còn cất tiếng nói mạnh hơn, khi xây dựng hình tượng Michelle – một nữ anh hùng thời đại với những lý lẽ đóng đinh như thể Doris Lessing từng xây nên Anna Wulf trong Cuốn sổ vàng.

Ở đó Rachid El-Daif cười vào rường cột những luật lệ hà khắc một cách đầy châm biếm mỉa mai như thể một tình tiết trong Con miu cái của nàng Sikirida khi ông xây dựng cảnh huống để cho Sikirida và chính cháu gái mình cùng kết hôn giả với người đàn ông lái taxi – Abu Brahim trước sự chứng kiến đúng luật của thầy dòng, để má Adiba không phải bận tâm về sự hướng thần của mình. Kết hôn được cho là một trong những vấn đề tế nhị và có phần thiêng liêng trong fatwa, thế nhưng dù cho thế nào, con người ta vẫn cố tìm lấy khoảng hở để sống đúng cuộc đời mình. Dùng một thứ thiêng liêng tự thân để cười vào những cố định vô lý, Rachid một lần nữa cho thấy những nghịch lý làm giới hạn đi sự sống của con người; và cũng tái khẳng định ở một mặt nào đó, dẫu sao đi nữa con người sẽ vẫn luôn hướng về phía tự do – hướng về những thứ vốn thuộc về họ mà không một ai có thể lấy đi.

Và một lần nữa, điều này còn khẳng định đúng ở Những tiểu thư hồi giáo khi Rajaa xây dựng song song giữa một bên là những gì xã hội muốn và một bên là những gì các cô gái thời cô làm. Xã hội của cô mong muốn phụ nữ phải đi lại ít thôi, nói ít thôi để tìm được một tấm chồng. Xã hội ấy cũng xé toạc những cuốn tiểu thuyết lãng mạn, cô lập các mối quan hệ của con cái mình trong hiển hình của những người cha người mẹ. Xã hội này đồng thời căm ghét Valentine, gọi nó là tội ác màu đỏ. Xã hội thời bấy giờ cũng tạo nên thứ gọi là Uỷ ban phát huy đức hạnh và ngăn ngừa đồi bại, hay ngắn gọn hơn là Cảnh sát Tôn giáo, để ngăn ngừa những người khác giới đi gặp gỡ nhau. Thế nhưng vượt lên trên những cố định ấy, những cô gái của Rajaa vẫn tụ tập, chia sẻ với nhau dưới sự bảo trợ của Nuwayyen những quan tâm chính trị, việc chơi đùa các chàng trai hay tư duy sống cho chính bản thân mình của Michelle hay Lamees để rồi từ từ Gamrah hay Sadeems cũng tưởng thưởng chính lối sống ấy.

Thế nhưng nhìn nhận ở mọi khía cạnh, sự khác biệt ấy là điều hiển nhiên và khó dung hòa dù cho là xã hội nào. Mới – cũ, Đông – Tây vẫn luôn tồn tại song song trong mỗi một ngày. Một cách văn chương và đầy mới mẻ, cả Rachid và Rajaa đã cho ta thấy cách những đối ngẫu luôn sống cạnh nhau và khẳng định rằng, con người dẫu sao sẽ luôn vươn lên và sống đời mình chẳng chóng thì chầy chỉ là thời gian.

Những đối lập về giới

Trong bộ phim Marriage Story, nhân vật Nora do Laura Dern thủ vai đã có một phát biểu đậm tính luật sư được nhào nặn ra để 1) suy tôn nữ quyền và 2) mang cho cô giải Oscar danh giá thế này: “Người ta chẳng chấp nhận nổi những người mẹ bợm rượu, quát nạt con cái, mắng chúng là lũ khốn. […] Thử nghĩ xem, hình mẫu một người cha tốt đẹp chỉ mới được hình thành khoảng ba mươi năm gần đây thôi. Trước đó, các ông bố có quyền im lặng, lơ đãng, không thể dựa dẫm được và ích kỉ, tất cả chúng ta đều nói rằng mình muốn họ khác đi. Nhưng về cơ bản, ta chấp nhận họ. Ta yêu họ vì những khiếm khuyết của họ, nhưng người ta hoàn toàn không chấp nhận những khuyết điểm tương tự ở người mẹ. Ta không chấp nhận về mặt quy ước vai trò, ta cũng không chấp nhận về mặt tinh thần. Vì nền tảng trong đức tin Do Thái-Kitô giáo của chúng ta là dù Mary, Đức Mẹ của Chúa Jesus có như thế nào đi chăng nữa, bà cũng phải hoàn hảo. Bà là trinh nữ nhưng vẫn mang thai, kiên định ủng hộ con mình và ôm xác con khi con qua đời. Mà ông bố thì chẳng có ở đấy. Ông ta thậm chí còn không làm gì. Chúa ở trên thiên đường. Chúa là cha, và Chúa không xuất hiện. Vậy nên cô phải hoàn hảo […] Cô luôn phải tuân theo một chuẩn mực khác, đòi hỏi cao hơn.

Chán hết chỗ nói, nhưng đời là thế đấy”.

Ảnh: Phim Marriage Story (2019)

Và vâng, là đúng thế, đời là thế đấy và chán hết chỗ nói. Điều này cũng đúng trong trường hợp văn chương khi phần lớn (và hầu hết) những nhân vật nam trong các cuốn sách này đều như được đúc ra từ một khuôn. Họ là những người cha (của Amal, của Nojoud, của má Adiba) xấu xa, gia trưởng, độc đoán. Họ là những người đàn ông chưa kịp lớn (“tôi” và “cha tôi” trong Cho xem đùi nào Leila). Họ cũng là những người suy nhược, như tràng dài những anh người yêu của bốn cô gái (Waleed, Rashid, Falie, Khalid, Firas,…). Từ góc nhìn Rajaa là điều bình thường – khi cô là tác gia nữ nhìn về phía đàn ông dưới một xã hội không mấy thiện cảm. Nhưng với trường hợp Rachid, dường như đồng thời là sự suy tôn hình tượng những người phụ nữ, khi ông không ngại đứng dưới lập trường của người đàn ông cất lên tiếng nói đầy tính nữ.

Một cách cụ thể và đầy tỏ tường như trong Cho xem đùi nào Leila, những hành động trẻ con của “tôi” như Ngồi phơi đầu dưới mặt trời đổ lửa, tóc đẫm dầu ôliu, một ngày 21 tháng 6, một ngày chủ nhật, 10 giờ sáng (giờ mùa hè ở Beyrouth) để phản đối việc người cha lục tuần mong muốn kết hôn vì sợ cô đơn. Còn hơn cả thế, người cha ấy cũng không thua kém đứa con của mình, “Cha tôi mãi là một đứa trẻ cần được chăm chút, bảo vệ, và chúng tôi, những đứa con của ông, luôn có trách nhiệm phải lo lắng cho ông. […] Ông hành xử hệt như con thú động dục tuy bên ngoài ai cũng nghĩ là một người già trầm tĩnh”. Rachid điềm tĩnh khi nói về những nhân vật đàn ông của mình. Ông xây dựng họ như những bản photocopy di truyền, trong mối quan hệ cha – con như sự tiếp nối thời đại không bao giờ ngưng. Không những thế, ở Con miu cái của nàng Sikirida, Redouan và cha của cậu cũng trùng hợp thay – cùng làm phụ nữ mang thai để rồi biến mất. Đàn ông trong hai cuốn sách của ông là một sinh vật (có lẽ) thèm khát đến kỳ động dục, suy nghĩ nhiều hơn ở giữa hai chân thay vì trí não – có lẽ cũng là một điểm mỉa mai khác nữa.

Không những thế, ở đây, cái giả hình tính đực cũng được đưa ra như thứ ngụy biện cho những nghịch lý của một xã hội mà những điều luật được diễn dịch bởi giới đàn ông. Trong Ly hôn tuổi lên 10, cô bé Nojoud từng giải thích cảnh ngộ chính mình như sau: “Không chỉ hắn làm hại em, mà cả gia đình em, gia đình của riêng em cũng bảo vệ hắn. Tất cả những điều đó chỉ vì một vấn đề… Vấn đề gì nhỉ? Vấn đề danh dự!”. Danh dự là thứ làm nên cốt cách của họ, danh dự đúc kết trong chính con dao jambia của xã hội Yemen, danh dự khiến cha bán con, như má Adiba còn Amal thì bị ruồng bỏ. Danh dự không hơn một thứ hảo danh mà dòng giống đực dùng để che đi chính cái bất lực của bản thân mình. Danh dự được người phụ nữ cảm nhận và gào thét lên trong nỗi tù đày của thân phận mình.

Ở đó đàn ông từ chối lấy người phụ nữ đã trao cho anh trinh tiết của mình hay từ bỏ người từng yêu chỉ vì khác biệt tôn giáo, danh tiếng hay gia đình. Cuộc sống của bốn cô gái được Rajaa khắc họa trong chính cái khuôn mực thước ấy. Ở đó dù cho thế nào thì người đàn ông cũng phải dũng mãnh để khi lên giường “nếu không dũng mãnh được như ngựa giống thỉ tôi thà chết còn hơn! Tôi không thể nào chấp nhận người ta nghi ngờ nam tính của tôi, thà giết chết tôi đi!” Nực cười một kiểu, chính những giả hình ấy lại được phát hiện bởi cô gái trẻ sau hai mối tình đứng lên làm lại từ đầu không cần ai khác, chứ không phải bởi nhà hiền triết, một người suy tư hay một ai khác đấu tranh cho quyền phụ nữ “Dù có sự khác biệt lớn về tuổi tác – họ đều được đúc từ cùng một khuôn thôi: thụ động và yếu đuối. Họ là nô lệ của những hủ tục và truyền thống lâu đời cực kỳ bảo thủ dù đầu óc được học hành khai sáng của họ giả vờ bác bỏ những điều đó! Đó là cái khuôn đúc ra tất cả đàn ông ở cái xã hội này. Họ chỉ là những con tốt mà gia đình họ di chuyển trên bàn cờ thôi”.

Và phụ nữ, họ còn nhận ra rất nhiều điều khác.

Sự vươn lên của tính nữ

Tình dục, tự do – hai khía cạnh được nhắc đến như sự vươn lên của vương triều phụ nữ trong cuốn sách này. Rachid một cách tài tình mở toang cách cửa sức sống của người phụ nữ trong nền xã hội rối ren. Ông phá bỏ gông cùm, đánh tan bài xích, vượt lên trên hết bằng lối ra của một nhân tố ít được nhắc đến nhất từ trước đến nay, một thứ thiêng liêng, chỉ một với một, hết sức kín đáo và hoàn toàn riêng tư – sex. Rachid xây dựng cốt truyện châm biếm như cách xây dựng nội dung, ở đó ông đi theo kiểu 1) bùng binh và 2) đường song song mở ra hai hướng. Với Cho xem đùi nào Leila, đó là kiểu bùng binh quan hệ mà không nghi ngờ gì nữa, là bí mật lớn nhất và cũng là cái hài hước nhất của toàn tác phẩm. Hai cặp nhân vật, Z – Leila, tôi – cha tôi xoay qua xoay lại như một vòng tròn. Bốn người bọn họ được giữ với nhau không những chỉ bằng từ trường trái đất, mà còn là bởi những cuộc làm tình. Cả bốn người họ, nếu như được viết ra giấy để rồi bắt cặp, không trừ cả đến giới tính thì đều ít nhất làm tình với nhau một lần (chỉ trừ một cặp cha – con). Thế nhưng dù thế, ta dễ nhận ra, sex trong văn chương Rachid không mang ý nghĩa thô bỉ, mà nó lại còn hàm chứa nhiều điều hơn thế.

Vốn dĩ xã hội Hồi giáo mà người ta biết là nơi nghiêm khắc trong những việc này. Bằng áo burqa, bằng khăn hijab; tín đồ Hồi giáo ngăn ngừa những cơn khơi gợi dục tính một cách như thế. Thế nhưng, trong tác phẩm mình, Rachid mở rộng vấn đề ấy một cách không biên giới – không tuổi tác, không giới tính, không quan hệ, không giai tầng. Xét vào bối cảnh, sex trong thế giới Hồi giáo được ông mang vào như lưỡi của một chiếc kéo, cả hai cắm phập vào nhau và dĩ nhiên, cùng cười vào nhau, cùng phản ánh nhau. Ở đó ta thấy đời sống sôi động của người phụ nữ, khi ra đường có thể là những cái chai di động do burqa quá rộng, nhưng khi lên giường họ hoàn toàn là một sinh thể rất khác, nồng nàn, ẩn chứa và vỡ tung ra. Tình dục đối với họ, cũng như những người khác, đơn thuần là một hành động giản đơn, một hành động tự nhiên như ăn, uống, chạy nhảy hay bơi lội. Họ sống ở đó và được là mình, họ là người, và chính những hành động ấy mới chính là họ, hành động của một con người và cư xử như một con người.            

Nếu Cho xem đùi nào Leila là cách khai thác yếu tố bùng binh, thì Con miu cái của nàng Sikirida là kiểu đường thẳng mở ra hai hướng, giao nhau duy nhất ở niềm ham muốn. Phụ nữ trong văn chương của ông là người có gout, dẫu cho hoàn hảo hay khiếm khuyết, xinh đẹp hay xấu xa. Sikirida – một ả ngoại quốc không hơn không kém, không tính chung thủy, không phải tầng lớp cao sang; thế nhưng luôn luôn ham muốn làm tình với đàn ông trẻ, trẻ hơn cả mình, dẫu cho chỉ trong một không gian nhỏ của nhà vệ sinh với con trai người bán rau. Trong khi đó, Amal – cô bé chỉ mới cấp 3, giàu có, xinh đẹp nhưng lại khuyết tật không thể đi được – lại dần tìm được cảm hứng sau cuộc làm tình với Redouan – kẻ hiến thân mà như cô nói, chỉ thích đàn ông học thức, thông minh và hơn cả mình. Rõ ràng ta thấy, phụ nữ trong các tác phẩm ông không những tìm về chính mình, mà họ còn tự do để được lựa chọn. Họ thể hiện tính nữ của mình trong cuộc làm tình, họ cho thấy sự kiểm soát bản thân trong việc chọn ai để thi hành điều đó.

Rachid đập tan ảo tưởng kiểm soát phụ nữ của đàn ông một cách như thế. Không xây dựng hình ảnh phụ nữ dáng dấp anh hùng; ông chỉ đơn giản cho thấy vai trò chủ động của họ trong hành động cấm ở nơi họ sống. Phụ nữ từ đó vươn lên, mở tung bản ngã và được là mình. Chính ở điều này tính văn chương của Rachid được bộc lộ, vì không như người khác dễ dàng sa ngã vào cái thô bỉ mỹ học mang danh tình dục; ông mượn nó để làm phương tiện phát ngôn của mình, một cách gián tiếp nhưng đầy sức mạnh. Ngoài ra, hình tượng được ông sử dụng: từ con miu cái – như cách phụ nữ bộc lộ bản tính cho đến cái đùi của Leila – như đại diện cho vẻ đẹp tính nữ. Con miu cái dẫu bị Sikirida từ bỏ, mang xa đến đâu cuối cùng vẫn sẽ trở về như ám chỉ nói, phụ nữ dẫu bị ngăn cách đến mức độ nào, bản tính vẫn dẫn họ về và làm lại mình. Z – người phụ nữ xấu xí không ai thèm lấy, tuôn lệ nước mắt khi nhìn thấy chiếc đùi Leila – một biểu trưng cho cái đẹp, cho tính nữ mà cô không hề có – đã ngầm ý rằng, phụ nữ có thể không đẹp hoặc không hoàn hảo; nhưng tính nữ vượt xa hơn thế, nó là bản chất, nó là bản ngã, mà chính thông qua việc khao khát có một đứa con, tính nữ đè chết cái đẹp: “Ông ấy bố thí tôi được làm vợ ông ấy bởi vì tôi quá xấu. Nhưng ông ấy không thể ngăn cản tôi có thai”.

Và trực tiếp hơn, Khuôn mặt bị đánh cắp của Latifa sẽ là gì nếu không phải là tiếng kêu tự do của những con người áp bức quá lâu? Ở đó, Taliban triệt tiêu phụ nữ. Họ giam phụ nữ trong chiếc burqa phùng phình và lưới mắt cáo để che ánh mắt. Ở đó, phụ nữ không được khám bệnh còn bác sỹ nữ không được hành nghề. Đó đều là những phương thức không phải giam cầm, mà đó là cách bọn chúng tiêu diệt phụ nữ Afganistan. Tương tự như thế, xã hội Yemen giết chết những người phụ nữ trong cuộc hôn phối mà những bé gái lên 9 lên 10 còn chưa biết được thế nào để trở thành vợ, thành mẹ, để thành đàn bà chỉ vì hai tiếng danh dự của gia đình mình. Thế nhưng, họ là những phụ nữ không cam chịu. Nojoud đứng lên ly hôn khi mới 10 tuổi mặc cho những thành kiến xã hội còn đó, Latifa đến Pháp như cách cất lên tiếng nói cho phụ nữ Afganistan để rồi sẽ mãi sống cái tên giả, bởi những cực đoan nơi quê nhà luôn chờ đón cô bằng một cái chết không hề báo trước. Họ mạnh mẽ, quyết tâm, kiên trì để sống đời sống mình, dù bước ra từ văn chương hay ngoài đời thực, họ là những người sẽ luôn và sống đúng với mình, với những gì cuộc sống cho phép.

Kết

Bằng chất hài hước vốn có của mình, Rachid El-Daif đã khắc họa một cách thành công tính nữ trong sex – một cách tinh tế và đầy sức mạnh. Trong khi đó, Rajaa Alsanea khơi gợi cách phụ nữ hiện đại vượt lên chính những danh xưng người khác gán chết cho mình – họ tân tiến, học thức, làm chủ bản thân. Nojoud và Latifa như bằng chứng sống cho sức mạnh phụ nữ; họ mạnh mẽ, vươn mình và không chần chứ bất cứ một ngưỡng vọng nào. Từ châm biếm, hòa nhã, phức tạp đến chân thật mà không kiểu cách, những cuốn sách này một cách mạnh mẽ mở toang cánh cửa đóng kín từ lâu của xã hội Hồi giáo, từ đó cho thấy sức mạnh của người phụ nữ. Thế giới đã thay đổi. Hoặc phụ nữ bao giờ cũng thế mà ta không biết.

Hết.

minh.


Nữ tính trong văn chương



Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Pedro Páramo: Tác phẩm viết về và viết bởi cái chết

Pedro Páramo là tác phẩm viết về và viết bởi cái chết. Một cách tài tình sau khi đi một vòng xuyên suốt toàn bộ tiểu thuyết, ta nhận thấy tất cả những nhân vật trong này, dù già trẻ lớn bé, xuất hiện nhiều hay chỉ trong một khung cảnh, tất cả đều đã chết.

Đăng từ

on

Người đăng

“Thực tình họ đã quá ồn ĩ vì một người chết của gia đình rồi. Nếu là người thân của họ thì có lẽ họ sẽ chẳng khóc lóc thảm thiết đến như thế đâu”.

Mexico và vẻ đẹp tràn đầy năng lượng của mình từng đến với tôi thông qua văn chương cũng như phim ảnh. Nếu phim ảnh là Coco với cảm xúc và sự tươi trẻ, là Roma với những gam màu trắng đen của thói đời lên xuống; thì Mexico trong văn chương của Jack Kerouac là những ngày rong ruổi tuổi trẻ, là mảnh đất của hoang dại, là khát khao được thoát khỏi chiếc lồng ngột ngạt của mực thước xã hội. Và Mexico thì còn gì nữa? Là lễ hội của phông nền văn hóa, là Carlos Fuentes với Nàng Aura từng đọc khi 19 20, và thật lòng mà nói, là chẳng hiểu gì. Nhưng như một nhân duyên tình cờ, nhờ yêu thích Jorge Amado mà tôi tạt ngang Márquez trong cơn đồng mộng, và ở một truyện ngắn được in trong quyển Tuyển truyện ngắn (mà tôi không thể nhớ tên), ông đã nói: “Tôi có thể kể xuôi toàn bộ tác phẩm này từ đầu đến cuối rồi lại kể ngược từ cuối lên đầu”. Cứ thế Pedro Páramo đến với tôi qua dây chuyền nền văn chương Mỹ Latin, và quả thật, Márquez đã một lần nữa đóng vai Jorge Amado khi cho thấy cái nhìn cực kì quái lạ vào sâu trong Juan Rulfo – một trong những nhà văn mà tôi vô cùng đồng tình, vĩ đại nhất văn chương Mexico.

Pedro Páramo xoay quanh câu chuyện về một chàng trai đi tìm cha, nhưng tiểu thuyết này cũng không thoát ra khỏi cái đặc trưng của văn chương Mỹ Latin nói chung và Mexico nói riêng của thời kỳ này. Đọc sâu vào Pedro Páramo ta vẫn thấy đâu đó là hình dáng của tên độc tài, là đời sống áp bức, là khởi nghĩa nổi dậy, là sự giằng xé nội tâm đi tìm bản chất của người. Tất cả viết trong phông nền đậm màu hiện thực kỳ ảo dưới ngôi kể từ nhiều góc nhìn, không – thời gian được cắt ra từng lớp và xếp chồng lên nhau. Từ Alejo Carpentier đến García Márquez, từ Jorge Amado đến Carlos Fuentes, và nay là Juan Rulfo; tất cả những ngòi bút ấy đều mang trong mình sứ mệnh văn chương để kể câu chuyện trong những huyễn hoặc viễn tưởng khó mà nghĩ đến. Và Pedro Páramo dường như là tiểu thuyết đầu tiên (mà tôi từng đọc qua) căn chỉnh và hài hòa đầy đủ các yếu tố này.

Những vấn đề châu Mỹ

Pedro Páramo là nhân vật được chọn trở thành tiêu đề cho tiểu thuyết này, nhưng y không hẳn là nhân vật chính. Từ Pedro Páramo, Juan Rulfo tỏa ra những con đường văn chương thông qua các nhân vật gắn kết dù ít hay nhiều nhưng đều có quan hệ nào đó với y. Với Pedro Páramo, Juan Rulfo đã khắc họa một cách thân quen hình ảnh tên cường hào địa chủ điển hình cho tầng lớp bóc lột ở xã hội Mexico thời bấy giờ, mà ta có thể nhìn thấy sự tương đồng với Horácio của Amado trong Đất dữ hay người bà bất lương của Erendira trong truyện ngắn cùng tên của Márquez. Tên địa chủ ấy cũng như những mẫu hình khác: hung tợn, dữ dằn; nhưng trái lại, lại si mê một tình yêu không thể có được. Tuy tài sản, đất đai, quyền hành dường như nắm được mọi thứ trong tay nhưng nhìn chung, y và những người như y lại có đời sống bất hạnh.

Say mê Susana – người phụ nữ ốm yếu suy kiệt dần sau cái chết của cha mình, mất đi người con duy nhất thừa nhận – Miguel bởi chính bức tường mình đã xây nên sau cuộc nhảy ngựa, cộng thêm là sự trỗi dậy của cách mạng chống địa chủ; tất cả làm cho cuộc sống của Pedro Páramo xoay vần trong cơn bão chớm đến. Từ một người khinh thị luật pháp, rằng: “Ô hay, luật pháp nào kia, hở Fulgor. Luật pháp từ đây trở về sau này sẽ do chúng ta làm nên”; nay sớm nhận ra sự trừng phạt đang đến gần: “Chúng ta sống trên miền đất nhờ đấng Toàn năng sản đủ thứ. Nhưng tất cả các thứ quả sản ra ở đây đều chua. Chúng ta bị kết tội chỉ được hưởng những quả chua đó”. Rồi cuối cùng là cái chết tan tành của y vào trong hư vô về lại tro bụi.

Juan Rulfo khắc họa Pedro Páramo một cách tài tình, không phải tuýp người nóng nảy dễ kích động đâm giết chém thuê như Horácio của Amado, mà thay vào đó, y là kiểu người nham hiểm và mang trong mình đầy đủ đường đi nước bước hệt như nhân vật Quốc trưởng được lấy mẫu chung từ phần lớn những tên độc tài của khu vực Nón phương Nam, mà Porfirio Díaz là đại diện chính, của Alejo Carpentier trong Sự tráo trở của phương pháp. Như thể khi đối đầu với lực lượng cách mạng, y đã dùng El Tilcuate như lá chắn cho mình; hay khi phải trả nợ cho nhà Preciado, y đã nghĩ ra cách cưới Dolores để không kéo dài thêm khoảng nợ trong khi bản thân chẳng yêu thích gì cô. Việc xây dựng một nhân vật táo bạo và có chiều sâu như thế làm nổi bật lên trên hình tượng của con người ấy, tuy là văn chương nhưng dường như không quá xa vời cuộc sống thực tại của đất nước này.  

Bên cạnh nhân vật chính là chủ đồn điền Media Luna, Juan Rulfo cũng khéo léo đồng thời cho thấy cuộc sống của con người dưới thời khắc ấy, và cùng đó, vạch rõ cho người đọc thấy chế độ độc tài có thể biến đổi con người ta đến mức độ nào. Những nhân vật trong câu chuyện đáng thương này có thể kể đến như mẹ của người kể chuyện – Dolores, như cha xứ Renteria, người cô Eduviges, anh chàng bị mất hết ruộng đất Toribio Aldrete, người đàn bà cất lên tiếng nói từ dưới nấm mồ Dorotea,… tất cả được Juan Rulfo xây dựng như quần thể của những phê phán bất công cất lên từ dưới lòng đất. Pedro Páramo là cuốn tiểu thuyết phức tạp và đòi hỏi sự tập trung gần như cao độ của người đọc mặc cho một thời lượng vô cùng khiêm tốn, bởi nhẽ, nó được cấu thành hầu hết nhờ những chồng chồng lớp lớp của câu chuyện, cạnh đó, là sợi dây quan hệ giữa mỗi nhân vật trong câu chuyện này. Đôi khi họ quen biết rõ nhau, nhưng cũng đôi khi họ chẳng quan hệ gì và góp phần vào đây chỉ như chút hương thoáng qua, nhưng cần thiết. Juan Rulfo một cách chậm rãi kể tuần tự câu chuyện, đôi khi đảo ngược thời gian, và từ trong đám lộn xộn những bi kịch ấy, ta nhận ra cuộc sống dưới thời khắc cũ có thể mong manh đến mức độ nào.

Dolores, vì một khát khao hạnh phúc làm cho mù mờ con mắt bởi tuổi thanh xuân, người từng nói rằng:”Ôi hạnh phúc! Ôi hạnh phúc! Cám ơn Thượng đế đã cho con don Pedro […] Dẫu rằng có bị ruồng bỏ con cũng cam lòng” đến cuối cùng vẫn phải căm phẫn người đàn ông ấy, vì bỏ bà đi, và quyết nhờ đứa con trai duy nhất lấy lại những thứ đã mất. Dorotea, người bị ám ảnh bởi ước mơ có một đứa con, cuối cùng cũng phải tan rã trong hầm mộ nghe tiếng thầm thì. Ông bà Donis, ngọn nguồn tương đồng của Trăm năm cô đơn, khi là hôn phối cận huyết, là tự dằn vặt bản thân và phải phủ khăn ăn lên mặt để tránh sự kết tội của Chúa như khi ăn món sẻ nướng Ambelopoulia: “Tôi chỉ mãi mãi ở trong nhà này kể từ khi ông ta đã biến tôi từ em gái thành người vợ của ông ấy. Kể từ độ ấy tôi chỉ ở trong nhà vì tôi ngại dân chúng nhìn thấy mình”. Hay như Toribio Aldrete, người mất hết ruộng đất bởi những luật lệ về quyền dụng ích do chính Pedro Páramo gây ra, đã phải kết thúc cuộc sống bằng cái chết thốt ra như lời tuyên ngôn: “Người ta nói rằng sức mạnh ở phía sau ta”, và hồn ma ấy vẫn vất vưởng trong căn phòng kia hàng trăm năm trời, chưa bao giờ mất đi chính bởi xung động bất công còn mãi trường tồn.

Nhưng trên hết, nằm trên những mưu mô của con người như phương cách tồn tại trong lòng xã hội nhiễu nhương của những tên độc tài, vấn đề tôn giáo và đức tin – ngọn nguồn về bản chất con người, luôn được đưa ra như chút manh mún cuối cùng của đạo đức tàn suy. Ở đây xuất hiện nhân vật cha xứ Renteria, người luôn bị dằn vặt bởi sứ mệnh và cuộc sống phía trước. Ông từng phân vân khi đến tha tội cho Miguel, người đã giết anh ông, cưỡng hiếp cháu gái ông; nhưng vì sức mạnh của 25 đồng bạc, dường như nó khiến ông phải ngã mũ rồi nằm khóc trong kho chứa đồ Thánh vì sự bất lương của bản thân mình. Trong khi đó, việc xá tội cho bà Eduviges bởi việc tìm đến cái chết một cách tự thân lại không thể, dù đó chỉ là một, hai hay một trăm từ lặp lại vô nghĩa, nhưng nếu không có tiền để cầu kinh Thánh Gregor, thì cái chết ấy sẽ phải xuống địa ngục mà không có bất cứ một sự xá tội nào: Cái gì đã bắt đức cha từ chối tha lỗi khi việc nói ra một từ, hai từ, hay một trăm từ là một việc dễ dàng nếu như những từ này đích thực cần thiết cho việc cứu giúp một linh hồn. Đức cha đã biết gì về thiên đường và địa ngục? Tuy nhiên, đức cha, do hòa mình vào trong một làng không tên tuổi, đã biết chắc những ai là người đáng được lên thiên đường. […] Ta đang duyệt lại các tên Thánh như thể ta nhìn thấy những con dê cái đang nhảy ra”.

Xã hội lúc ấy làm con người ta hoài nghi về chính bản thân mình, họ tự vấn bản thân về giá trị của sự sống – cái chết, bởi mỗi kết cục trên cuộc đời này đều có tính tương đối, như một câu nói mở đầu tiểu thuyết: “Bò lên hay trườn xuống hoàn toàn phụ thuộc vào người đang đi trên nó”. Không khó nhận ra khi trong tiểu thuyết này, Juan Rulfo dùng rất nhiều những đối ngẫu trong suy nghĩ, đối thoại để khắc họa nên cái chông chênh của xã hội lúc ấy. Một ví dụ như sau, về cái chết, giữa một bên là người bà thủa ấu thời của Pedro Páramo – người vẫn còn sống, và một bên là của Dorotea – người đàn bà lắng nghe tiếng thì thầm của những xác chết – như mình: “Tất cả đều được hoàn thiện trong cái chết có Thượng đế làm nhân chứng nhân. Người ta chỉ chết khi muốn chết chứ không phải do Thượng đế sắp đặt” Hiển nhiên cuộc sống mang theo nó công việc. Cái duy nhất khiến chân tay người ta hoạt động là niềm tin rằng khi nhắm mắt xuôi tay sẽ được mang từ nơi này đến nơi khác. Nhưng khi người ta chết rồi thì một cánh cửa đã khép bước họ lại và chỉ mở ra cho họ một cánh cửa dẫn đến địa ngục, đã thế thì chẳng nên sinh ra trong cõi đời này làm gì”.

Juan Rulfo dùng chính sự đối ngẫu như thế làm con người ta bỗng chốc nhận ra cái chông chênh của bản thân mình. Nhưng dù ở khía cạnh nào đi nữa, Pedro Páramo một cách thẳng thừng cho thấy giá trị của con người có thể bé nhỏ đến mức độ nào. Họ nhỏ bé không những trước tạo hóa bao la, bất lực trước sự sống, cái chết; mà còn vỡ vụn bởi chèn ép hạ bệ thời cuộc, bởi quyền lực tập trung vào tay địa chủ. Juan Rulfo dùng Juan Preciado như lời khẳng định về hiện thực lúc ấy, ông không viết những dòng này bằng từ ngữ của thì hiện tại hay tương lai, mà sự xuất hiện dưới nấm mồ của Juan hay Dorotea như lời tái khẳng định cho ngày hôm nay. Cuối cùng rồi thì, như Carlos Fuentes viết trong Nàng Aura: Họ muốn chúng tôi sống đơn lẻ […] Bởi lẽ theo lời họ, cô đơn là điều cần thiết để đạt được sự thánh thiện”.

Phong cách nghệ thuật thân quen

Ảnh: radionica.rocks

Dịch giả Nguyễn Trung Đức trong bài giới thiệu quyển sách đã nói rằng, nếu Alejo Carpentier là người mở đường cho chủ nghĩa hiện thực kỳ ảo vào trong văn chương Mỹ Latin, thì Juan Rulfo – theo tôi, chính là người nắm được trào lưu văn chương ấy một cách xuất sắc. Và rõ ràng đúng là như thế. Với Pedro Páramo và thời điểm ra đời của nó, dường như đây là cuốn tiểu thuyết kỳ lạ, độc đáo và cách tân mới lạ so với trào lưu văn học theo khuynh hướng cách mạng trước đó. Pedro Páramo không hẳn cách ly hẳn so với khuynh hướng tiền tố, ta dễ thấy việc xây dựng hình tượng tên địa chủ và cao trào cách mạng nổi dậy vẫn mang đậm hệ tư tưởng cách mạng, thế nhưng việc xây dựng tiểu thuyết trong không khí lạ lẫm của văn chương mới là điều làm nên sức hút của tác phẩm này.

Pedro Páramo là tác phẩm viết về và viết bởi cái chết. Một cách tài tình sau khi đi một vòng xuyên suốt toàn bộ tiểu thuyết, ta nhận thấy tất cả những nhân vật trong này, dù già trẻ lớn bé, xuất hiện nhiều hay chỉ trong một khung cảnh, tất cả đều đã chết. Mở đầu tiểu thuyết, Juan Rulfo gài cắm người đọc vào con đường đi xuống mãi không có gió, để gắn hồn ma quanh quẩn vào trong văn chương, tiếng động làm thành một tiếng nói chung. Nếu ở Nàng Aura, Carlos Fuentes dùng âm thanh như cách khuếch tán nỗi sợ vào trong người đọc, khi đó là tiếng mèo gào, tiếng vấy sột soạt; còn Jorge Amado là tiếng kêu của các loài vật, là tiếng thét gào vĩnh biệt của chú ếch khi bị rắn độc nuốt; thì với Pedro Páramo, đó là âm thanh của im lặng, của mưa, của tiếng nện gót trên đá lót đường, của vó ngựa đường xa, của góa phụ than khóc, của tiếng rì rầm không bao giờ ngơi nghỉ: “Tôi lại nghĩ rằng nếu như tôi chỉ nghe thấy cái thanh tịnh là vì tôi chưa quen với cái thanh tịnh hoặc cũng có thể là đầu tôi chứa đầy tiếng ồn và tiếng nói”. Chính âm thanh được tả bằng không gian phẳng của ngòi bút ít nhiều trở thành những tạp âm trắng quẩn quanh trong tai người đọc, ám ảnh và đau xót để rồi hiển nhiên thay vì là Pedro Páramo, tên đầu tiên của tiểu thuyết này đáng ra lại là Los murmullos – Những lời thì thầm.

Juan Rulfo dùng một cách dày đặc những chi tiết hiện thực kì ảo, không như Márquez hay Carpentier chỉ như chấm phá trong lòng hiện thực. Chính không gian u huyền đến từng khoảng không của Pedro Páramo dường như là yếu tố chính làm nên một tiểu thuyết hay, không một cận trên hay giới hạn nào, và có lẽ bởi chính lối viết mới mẻ ấy, tự bản thân nó đặt ra chuẩn mới cho tiểu thuyết Mexico nói riêng và châu Mỹ Latin nói chung. Sau gần một thập kỉ tiếp nối, văn chương Mexico mới chứng kiến thêm một cây bút cá tính tương tự Juan Rulfo đã từng, và đó là Carlos Fuentes. Đọc Nàng Aura (rất tiếc đây là tác phẩm duy nhất của ông được chuyển ngữ) và Pedro Páramo, ta thấy nhiều sự tương đồng. Nếu Nàng Aura tràn ngập những khoảng không tối tăm, những âm thanh u huyền, không có gì rõ ràng hay cụ thể, chỉ là tiếng động, là trống rỗng; thì Pedro Páramo cũng tương tự thế. Nhưng một cách rõ ràng, Pedro Páramo đã thoát ra khỏi những lớp văn chương dày đặc để sống đời thực tại riêng mình, nhưng âu đó cũng là điều bình thường, bởi những thúc đẩy thời đại, bởi văn chương và vai trò của nó thay đổi từng thời kỳ, dưới nhiều góc nhìn.

Nếu quy kết ngôi nhà mà chàng nghiên cứu lịch sử ở trong những ngày chìm vào mộng mị với Aura và không gian mà Juan Preciado và Dorotea dưới những nấm mồ; ta thấy khoảng không của 2 tiểu thuyết này là một. Từ không gian đen thẫm chỉ có vài ngọn nến mỏng manh le lóm, giá trị con người được dần hiện ra. Nếu Nàng Aura tập trung nhiều vào tình cảnh con người, vào cảnh ngộ cô độc của mỗi cá thể trên cuộc đời này; thì Pedro Páramo và thời thế của nó cho thấy cả một quãng dài số phận. Những nhân vật mà Juan Rulfo mang vào tiểu thuyết này không nhiều, nhưng cũng không thể nói là ít; ít nhiều nó gây cho người đọc nhầm lẫn hay ngộ nhận. Nhưng nếu để bỏ một nhân vật hay tổ khúc nào đó đi, tất cả sẽ lại dẫn hướng về khuynh hướng lụn bại domino của toàn cuốn sách.

Thể như đôi tình nhân trong một đêm hè, họ không dính dáng quá nhiều tới cốt truyện chung, nhưng qua đó, ta thấy con người dù cho những đè nén của chế độ độc tài, họ vẫn trân trọng tình cảm dành cho nhau. Hay như anh em nhà Doris, họ là sự ngột ngạt của thời đại, là những lỗi lầm tự mình cảm thấy nhưng bất lực không thoát ra được. Ngoài ra, ở nhân vật luật sư Gerardo Trujillo là sự xuống cấp xã hội, sự xem thường tri thức, và là cái vô vọng của tầng lớp ấy dưới đế chế thống trị. Thêm vào đó, Damiana Cisneros – người giúp việc nhà cho Pedro Páramo, luôn dồn nén trong mình thứ tình cảm thiếu thời một lần bỏ lỡ, và sau này để bù đắp cho thiếu sót ấy, trở thành người dắt gái cho Pedro và đến xưng tội với cha Renteria trong tình cảnh say rượu như một vòng lẩn quẩn. Dù lớn hay bé, nội tại hay ngoại hàm, những nhân vật này của Juan Rulfo đã làm nên sự gắn kết cảnh tình chặt chẽ, một mặt cho thấy câu chuyện của bản thân mình, mặt kia cho thấy xã hội lúc ấy đã biến chuyển ra sao. Do đó hoàn toàn đồng tình khi cho rằng Pedro Páramo đã thoát ra khỏi những ước lệ văn học, mà nó quá ước lệ để trở nên phơi bày hiện thực một cách trần trụi nhất trong khi ước lệ vừa phải khó mà làm được.

Để nhớ lại cái bao trùm tiểu thuyết này, chẳng phải anh chàng sử gia của Nàng Aura đã sống trong căn phòng thông với ánh sáng khí trời đối lập hoàn toàn với khoảng không đen ngòm nơi bà Consuelo sống; và cũng chẳng phải trong Pedro Páramo, mọi âm thanh tự nhiên đều được gói gọn trong lớp vỏ của địa ngục cứ đi xuống mãi? Juan Rulfo đã sắp đặt 2 khía cạnh tối – sáng, trắng – đen rất gần nhau, nhưng để bước qua được khoảng không ấy, là cả sự nhập nhằng của văn chương, là cơn tự vấn bản thân trong mỗi nhân vật. Pedro Páramo mang rất ít trong mình câu chuyện của những tự vấn lương tâm cá nhân, nhưng nó là áng sử thi cho thấy lửa trên bình nguyên châu Mỹ có thể sáng rực đến mức độ nào. Với Pedro Páramo, phong cách đặc trưng của văn chương Mỹ Latin lần đầu tiên bừng sáng và đánh mạnh vào trong tâm thức người đọc, và Juan Rulfo chứ không ai khác – trở thành huyền thoại trong những cây viết của khu vực nói tiếng Tây Ban Nha, một lần và mãi mãi như thế.

Hết.

Ngô Thuận Phát

Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!