Nối kết với chúng tôi

Chuyện người cầm bút

Dịch giả Nguyễn Tiến Văn: Đừng học ngôn ngữ vì vụ lợi!

Việt Nam phải coi vấn đề dịch là quốc sách.

Đăng từ

on

Những năm gần đây, với sự ra đời của các công ty truyền thông tư nhân như: Nhã Nam, Bách Việt, Chibooks… tình hình dịch và xuất bản văn học thế giới được cải thiện. Tuy nhiên, cũng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập trong việc dịch các tác phẩm, các công trình nghiên cứu của thế giới sang tiếng Việt và ngược lại. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với dịch giả, nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Văn về vấn đề này.

Ông nghĩ như thế nào khi có một bộ phận người Việt Nam suy nghĩ rằng đọc nhiều sách văn học nước ngoài là vọng ngoại, chỉ cần đọc văn học trong nước đã đủ?

Bây giờ, các học sinh, sinh viên học trong những cuốn sách giáo khoa, hay là cả khái niệm trong đầu óc của mọi người thì vẫn là học ngoại ngữ. Tờ tạp chí chuyên môn nhất cũng lấy tên là: Văn học nước ngoài. Theo tôi, cái đó là dở vì đặt vấn đề trong ngoài. Trong khi 200 năm trước, Goethe lại chủ trì không có văn học nước ngoài, nước trong, chỉ có văn học thế giới. Vậy thì chúng ta phải dùng khái niệm văn học thế giới (VHTG). Một người lớn lên trong thời đại toàn cầu hóa phải hiểu đó là văn học của toàn nhân loại, là di sản của thế giới nói chung.

Ông bắt đầu tiếp xúc với VHTG từ khi nào?

Đầu tiên tôi học chữ Nho để đọc được thơ Đường, Tam quốc chí diễn nghĩa. Sau đó tôi học tiếng Anh, Pháp để đọc qua các tác phẩm đương đại mà chưa được dịch.

Tiếp xúc với VHTG sớm, đọc nhiều tác phẩm VHTG như thế, có bao giờ ông cảm thấy bị mất cân bằng trong tư tưởng giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa thế giới không?

Tôi không cảm thấy như thế. Vì tôi đọc nhiều tác phẩm VHTG nhưng có may mắn công việc của tôi lại là một dịch giả. Khi chuyển nó sang tiếng Việt tôi thấy tâm hồn mình lại gần gũi với văn hóa Việt Nam. Sắp tới đây, một tác phẩm của William Faulkner mà tôi mới dịch sẽ được xuất bản.

Ông có thể cho biết những dịch giả nào ở Việt Nam hiện tại mà ông cảm thấy rằng tác phẩm dịch của họ được đầu tư nghiêm túc, kĩ lưỡng?

Muốn biết dịch giả nào chuyện nghiệp thì phải tốn công so bản gốc với bản họ đã dịch. Cái đó thì phải làm việc cẩn thận. Nhưng theo ý kiến cá nhân, tôi nghĩ một trong những người làm việc nghiêm túc là Lê Anh Minh với cuốn Trung Quốc triết học sử. Ông rành chữ Nho để đọc bản gốc của Phùng Hữu Lan. Ông rành cả tiếng Anh để đọc bản dịch của Derk Bodde – người học trò của Phùng Hữu Lan. Ông đọc hai bản dịch và so sánh, có điểm khác biệt nào thi ghi chú thích.

Còn hai người nữa thì tôi không có khả năng để đối chiếu với bản gốc nhưng tôi cũng rất quí vì đó là tài liệu quan trọng. Ví dụ Phạm Vĩnh Cư dịch Siêu lý tình yêu của Vladimir Soloviev. Ông dịch từ bản tiếng Nga. Đây là tác phẩm về triết học, thần học quan trọng nhất trong 1000 năm nay của Nga.

Ngoài ra, còn có cô Nguyễn Hồng Nhung dịch một nhà luận văn và tư tưởng hàng đầu của Hungary bây giờ là Béla Hamvas. Ông viết rất nhiều luận văn về văn học, triết học. Hiện bây giờ, các bản dịch của Hồng Nhung đăng trên những trang web văn học như: Tiền Vệ, Da Màu…

So với các nước trên thế giới, ông có suy nghĩ gì về chính sách hỗ trợ của chính phủ cho việc dịch các tác phẩm trong nước sang tiếng nước ngoài để phổ biến rộng rãi hơn ở Việt Nam thời điểm hiện tại?

Trên thế giới, những nước lớn lại không có chế độ ưu đãi cho các dịch giả dịch tác phẩm của họ sang tiếng nước ngoài. Những nước càng nhỏ trên thế giới, vì ngôn ngữ của họ ít có người sử dụng, ít có người học nên họ có chế độ đãi ngộ đặc biệt. Hungary tuy là nước nhỏ nhưng rất quí các dịch giả. Họ lập nhà dịch thuật để nếu ai có ý hướng dịch văn học Hungary thì có thể đến đó để làm việc. Hungary sẵn sàng cung cấp không phải là xa hoa nhưng đủ để làm việc. Trước đây năm 1980, tôi có đọc một tập sách của Hội nhà văn Hungary có tên: “Ngôn ngữ nhỏ, văn học lớn”. Ngôn ngữ nhỏ là bởi vì có mấy triệu người dùng thôi nhưng văn học lớn là nếu như chia theo đầu người thì giải Nobel ở Hungary là nhiều nhất.

Một nước khác, cũng rất nhỏ ở châu Âu nhưng có chương trình dịch thuật hàng đầu thế giới là Hà Lan. Ở Hà Lan có những nhà xuất bản đứng đầu trên thế giới về tầm mức xuất bản. Tôi lấy ví dụ: một cuốn từ điển về ngữ nguyên của tiếng Anh lớn nhất thế giới lại là do Hà Lan xuất bản. Đó là cuốn A Comprehensive Etymological Dictionary of the English Language của Ernest Klein. Các nước lớn vẫn có thể in được nhưng họ lại không in. Theo tôi nghĩ có một lí do như thế này: suốt trong thời kì chiến tranh lạnh, vì những cuốn sách in ở Mỹ không được nhập vào các nước Xã hội chủ nghĩa, Hà Lan thì không bị vướng mắc. Vậy nên, chính những nước nhỏ trong lúc đó lại đắc địa. Những cuốn sách về khoa học, có nghiên cứu về tư tưởng mà không dính tới màu sắc chính trị thì những nước nhỏ như vậy đóng được vai trò.

Ở Đông Nam Á, từ năm 1990 Singapore đóng một vai trò rất quan trọng. Tất cả những công trình khoa học của viện Nobel đều được nhà xuất bản World Scientific Publishing ở Singapore phát hành. Singapore tài trợ cho chương trình đó và sự thật thì nó kiếm lời không được bao nhiêu cả nhưng để xuất bản thì những người trí thức ở Singapore phải ngồi nghiên cứu, biên tập. Đây là một công việc phức tạp, đòi hỏi sự kĩ lưỡng rất cao.

Tôi nghĩ, người Việt Nam chúng ta phải suy nghĩ về ưu thế của những quốc gia nhỏ, những ngôn ngữ nhỏ như Hungary, Hà Lan, Thụy Điển… và học hỏi những nước này. Hiện nay ở Việt Nam có quỹ Phan Châu Trinh về dịch thuật đang dần xây nên một tủ sách về học thuật. Ngoài ra, chúng ta cũng chưa có nhiều chính sách hỗ trợ cho các dịch giả nước ngoài trong việc dịch các tác phẩm Việt Nam ra thứ tiếng của họ.

Theo ông, dịch thuật ở Việt Nam hiện tại đang gặp phải những vấn đề gì?

Dịch thuật không phải là công việc chỉ dịch một lần là xong mà phải dịch đi, dịch lại nhiều lần. Mỗi một thế hệ có một bản dịch riêng. Ví dụ trên thế giới, để đọc William Faulkner người ta phải có Companion to Faulkner, hay là James Joyce thì phải có James Joyce’s Dictionary. Người ta phải tra từ điển để hiểu vì đó không phải là tiếng Anh mà tất cả mọi người đều có thể hiểu. Trung Quốc bây giờ cũng ra từ điển cho từng tác gia lớn. Việt Nam chỉ mới ra duy nhất từ điển về Truyện Kiều. Nhưng tôi cho rằng đó cũng là một điều tốt rồi. Nó là công trình của Đào Duy Anh, sau này là Phan Ngọc.

Việt Nam vừa mới qua chiến tranh, kinh tế còn yếu kém, chúng ta chưa có những dịch giả chuyên. Trên thế giới, mỗi một tác giả có dịch giả chuyên dịch về họ. Ví dụ tác giả người Ý Umberto Eco có một dịch giả chuyên dịch sang tiếng Anh cho ông là William Weaver. Người dịch giả tiếp cận với tác giả, có gì thắc mắc hai bên trao đổi. Như vậy, mới dịch chính xác được. Dịch giả ở Việt Nam thì hiện chưa có điều kiện đó mà chỉ mới làm việc trên văn bản. Vì vậy, chuyện dịch sai, hiểu sai vẫn thường xuyên xảy ra. Chúng ta chưa đi vào chuyên nghiệp được.

Như vậy, để khắc phục tình trạng đó, trước mắt chúng ta cần phải làm những công việc gì trong điều kiện hiện tại cho phép? Ngoài ra, nhìn từ bài học của các nước trên thế giới ông thấy chúng ta có thể học hỏi được điều gì ở họ?

Thứ nhất, Việt Nam phải coi vấn đề dịch là quốc sách. Bởi vì tất cả các sách căn bản của thế giới chúng ta vẫn chưa dịch. Nhật Bản đã làm việc này từ thế kỉ 19. Hàn Quốc đã làm từ mấy chục năm nay rồi. Một sinh viên Nhật bước chân lên giảng đường đại học, những tác phẩm triết học, khoa học, văn học… trên thế giới họ đều có thể đọc ngay bằng tiếng Nhật. Nếu chúng ta không lo việc này thì trong một thời gian ngắn, sinh viên Việt Nam không thể so sánh được với sinh viên các nước trong khu vực chứ chưa nói thế giới. Malaysia đã thành lập 5 trường đại học giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh, có thể mời các giáo sư nổi tiếng trên thế giới giảng dạy ngay lập tức. Và sinh viên đó học xong có thể đi ra khắp thế giới tiếp thu, ngay khi học lại có thể tiếp cận với toàn bộ các tác phẩm văn học cũng như tác phẩm khoa học của thế giới. Nếu không coi dịch là quốc sách, chúng ta sẽ vẫn cứ chậm.

Thứ hai, với việc học ngôn ngữ trên thế giới thì chúng ta phải bắt chước những nước như Hà Lan, Hungary, Thụy Điển, Na-Uy, Hàn Quốc… Đương nhiên, một trí thức là phải rành ít nhất một thứ tiếng phổ thông trên thế giới. Ở Hàn Quốc người ta coi tiếng Nhật Bản là ngôn ngữ thứ nhì bắt buộc phải học. Trước đây, Nhật Bản cai trị Hàn Quốc 50 năm từ năm 1895 cho đến năm 1945 rất tàn ác. Lúc đó, tất cả các trường không được dạy tiếng Hàn mà phải dạy tiếng Nhật. Người Hàn Quốc từng rất hận thù người Nhật. Nhưng dù hận như thế nào, Hàn Quốc cũng học hỏi Nhật Bản vì đó là xứ hấp thu rất nhiều những canh tân đổi mới của phương Tây. Bây giờ Hàn Quốc có chừng trên 1 triệu người lúc trước bị bắt qua Nhật để làm lao động cũng như là lính thợ Việt Nam mà sang Pháp. Những người đó đã ở Nhật 60, 70 năm nay rồi nhưng vẫn không vào quốc tịch Nhật và chuyển tiền, kĩ thuật, học thuật về cho Hàn Quốc. Đó là cả một nguồn năng lượng trí tuệ kinh khủng. Trong khi Việt Nam đến năm 1915 mới bãi bỏ chế độ khoa cử nhưng bây giờ đếm số người có thể đọc được các tác phẩm Trung Quốc là trên đầu ngón tay. Rồi Pháp lại ở Việt Nam đến 100 năm, đào tạo biết bao nhiêu trí thức hàng đầu nhưng bây giờ chúng ta lại bỏ không học tiếng Pháp nữa. Từ đó, cho thấy rằng chúng ta đã từng học ngôn ngữ không phải vì yêu quí trí thức, yêu quí văn hóa mà đã học vì mục đích rất vụ lợi: để đi làm cho các công ty của nước đô hộ lúc đó kiếm tiền. Chính vì vậy mà nó không được tiếp tục duy trì sau khi các nước đô hộ ta đầu hàng. Tôi cho rằng ở điểm này chúng ta nên học hỏi người Hàn Quốc.

Hết.

Fretto Frek 

viết bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Trần Tiễn Cao Đăng: Tôi là con người được nhào nặn bằng nỗi buồn

Đăng từ

on

Người đăng

Trần Tiễn Cao Đăng – dịch giả của những tác phẩm nổi tiếng như Biên niên ký chim vặn dây cót, Mãi đừng xa tôi, Nếu một đêm đông có người lữ khách… đã trở lại vai trò nhà văn với tập truyện ngắn Những gặp gỡ không thể được công ty sách Tao Đàn phát hành.

Vì sao anh đặt tiêu đề tập truyện ngắn mới nhất là Những gặp gỡ không thể có? Đây có phải là tựa đề đầu tiên anh nghĩ ra cho tập truyện này hay trước đó còn có những lựa chọn khác, anh có thể chia sẻ vì sao cuối cùng anh lại chọn tiêu đề này?

Nhan đề này đến một cách tự nhiên, và khi nó đến, tôi cảm thấy không thể khác được. Bởi vì các truyện trong tập, không truyện nào có cái nhan đề đủ “sức nặng” như thế.

Được biết ban đầu Những gặp gỡ không thể có còn có thêm một tiêu đề phụ là “Chuyện kể lúc cận kề tận thế”, vì sao cuối cùng anh quyết định bỏ tiêu đề này?

Tôi bỏ nó đi bởi vì xét thấy, với khuôn khổ các truyện trong tập này, “Chuyện kể lúc cận kề tận thế” là một cái áo hơi quá rộng. Thật ra, “Chuyện kể lúc cận kề tận thế” là một tiêu đề liên quan đến một dự đồ lớn hơn của tôi. Có thể tôi sẽ dùng lại nó ở một chỗ khác – có thể là nhan đề cho một tập truyện khác hoặc một tiểu thuyết.

Bốn truyện trong Những gặp gỡ không thể có đều có chung bầu không khí buồn khi cái đẹp bị đối xử thô bạo, một dự cảm về tận thế; khi viết, anh có ý thức ngay từ đầu là sẽ xây dựng một bầu không khí chung như thế để tạo sự thống nhất cho toàn tập truyện hay đây là một sự ngẫu nhiên do tiềm thức chi phối?

Chỉ đến khi tập hợp các truyện viết rải rác vào những lúc khác nhau vào cùng một tập dựa trên vài cái chung giữa chúng, tôi mới dần dần nhận ra rằng, bên cạnh những cái chung khác, chúng đều bao hàm một dự cảm về tận thế. Đó là do tâm thế xuyên suốt của tôi, hay là do “tiềm thức chi phối” như bạn nói. Giả như tôi làm vậy một cách chủ ý, tỉnh táo, có tính toán, tôi không chắc rằng hiệu quả cuối cùng sẽ mạnh hơn.

Có người xếp tập truyện mới này vào dòng fantasy, có phải thể loại này cũng là dòng truyện anh nhắm đến cho Những gặp gỡ không thể có ngay từ khi viết?

Viết ra tác phẩm là việc của nhà văn, xếp loại tác phẩm là việc của nhà làm sách và nhà phê bình. Tuy nhiên, nhìn lại tác phẩm của mình với con mắt của người ngoài, tôi không cảm thấy gọi chúng bằng cái tên “fantasy” là phù hợp – hẳn cũng giống như bạn không thể dùng từ fantasy để phân loại Hóa thân của Kafka vậy. Nhưng dù sao đi nữa, điều đó chẳng quan trọng – quan trọng là niềm tin của người viết vào tính chân thực của câu chuyện anh kể, bất kể nó “phi thực” đến đâu.

Các truyện trong Những gặp gỡ không thể có đều kết thúc bằng cái chết – khi thì cái chết được nói rõ, khi thì được ám gợi, nhưng nhìn chung đều là sự kết thúc. Có phải anh đang quá bi quan về thế giới?

Chingiz Aitmatov, nhà văn người Kyrgystan thuộc Liên Xô cũ mà nhiều người thuộc thế hệ 6X, 7X hẳn từng đọc và yêu mến, có nói (đại ý): “Tôi là con người được nhào nặn bằng nỗi buồn.” Câu ấy hẳn tôi có thể dùng để nói về mình. Chẳng phải là tôi không thích vui cười – tôi rất thích truyện tiếu lâm và thỉnh thoảng xem các show hài trên truyền hình. Tuy nhiên, với tôi, cái hài không bao giờ có nổi chiều sâu như cái bi – trừ khi đó là cái hài để tự giễu mình. Bên cạnh đó, có lẽ là tôi hay suy nghĩ nhiều hơn người khác về bản chất phù du của mọi vật và mọi sự.

Nếu có người nói văn của anh toàn thoát ly hiện thực, hình như anh là người dùng văn chương để trốn tránh những vấn đề gai góc của cuộc sống thực tế, thì anh sẽ nói gì?

Chúng ta đã qua từ lâu cái thời nhà văn chỉ được khuyến khích viết về thành tích và đời sống của quần chúng công nông binh, và chúng ta nên chóng vượt qua cái thời nhà văn chỉ được thừa nhận nếu họ viết về “những vấn đề gai góc của đời sống thực tế”. Những nền văn chương thực sự trưởng thành là những nền văn chương phong phú, phồn phức giống như bản thân loài người.

Mặt khác, điều thú vị là khá nhiều người mặc nhiên cho rằng nếu tác phẩm của nhà văn “toàn là chuyện ở đâu đâu” thì trong cuộc sống hằng ngày ông/bà ta cũng là một người luôn ở trên mây. Dường như theo họ trên đời không thể có một người chỉ viết những truyện tình đẹp đẽ ở một xứ tưởng tượng nào đó và đồng thời là một nhà hoạt động xã hội tích cực.

Văn của anh có cảm giác như văn Tây – anh chịu ảnh hưởng phương Tây nhiều quá, nên người đọc Việt khó tìm thấy sự đồng cảm. Điều này có phải xuất phát từ việc các tác phẩm anh dịch hầu hết đều là văn học phương Tây? Ngay cả một tác giả phương Đông mà anh từng dịch là Murakami Haruki cũng là một người viết rất Tây. Anh có bao giờ nảy ra ý định dịch một tác phẩm văn học phương Đông thuần túy hoặc làm cách nào đó để văn của anh có sự pha trộn tỉ lệ Đông – Tây hài hòa hơn không?

Hồi đang học đại học, tôi dịch Cố đô của Kawabata từ bản tiếng Nga (một bản dịch thuần túy vì yêu tác phẩm, chưa từng được xuất bản). Khi tôi bắt đầu thực sự đến với văn chương vào khoảng 7-8 tuổi, một trong những nhà văn đầu tiên tôi đọc và “phải lòng” cho đến tận bây giờ là Akutagawa. Hẳn bạn sẽ đồng ý với tôi rằng đó là hai trong số những nhà văn “Nhật Bản” nhất.

Nếu bạn đã đọc hết Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian, chắc hẳn bạn có gặp ở đó những đoạn, những chương khiến bạn có cảm giác mạnh mẽ rằng người viết ra chúng không thể nào là một người Mỹ hoặc người Pháp; y chỉ có thể là một người Việt.

Mặt khác, nghĩ kỹ bạn sẽ thấy, quan niệm cho rằng “nhà văn Việt thì phải viết thứ văn gần gũi với người Việt” chính là một trong rất nhiều vòng kim cô trói chặt nhà văn Việt từ trước tới nay.

Kể cả nếu tôi đồng ý với ai đó rằng văn của một tác giả Việt nhất thiết phải có ít nhiều “tính Việt”, thì chúng ta vẫn phải nhìn thấu một điều rằng “tính Việt” hay “dân tộc tính” không phải là cái gì đó nhất thành bất biến. Nếu nó thực sự có sức sống, nó sẽ như một sinh thể, trường tồn, phát triển, mở rộng, tự làm mới, tiến hóa. Những tác phẩm như của tôi là một phần của sự mở rộng, tự làm mới, tiến hóa đó.

Được biết, anh rất thích phim kinh dị. Những cảnh bạo lực trong truyện của anh, đặc biệt là cảnh hồn ma xuất hiện trong truyện “Nhớ mãi một giờ yêu đương nàng đã trao tôi”, có phải là ảnh hưởng hay được gợi cảm hứng từ phim kinh dị? Cùng với trinh thám, kinh dị vẫn là một thể loại thường bị đánh giá thấp trong địa hạt văn chương, vậy anh đã từng có ý định viết truyện kinh dị thuần túy chưa? Hoặc là nảy ra ý định làm một cuộc cải tiến khiến mọi người có cái nhìn mới về thể loại kinh dị như cách Paul Auster đã làm với thể loại trinh thám?

Tôi không chắc rằng Tibor trong “Nhớ mãi một giờ yêu đương nàng đã trao tôi” là một hồn ma (cười). Đó cũng có thể là một người (sống) có tài phá khóa như thần chứ. Đúng là y có nói đến “nằm dưới mộ”, nhưng có thể đó chỉ là một cách nói.

Tuy nhiên, đúng là tôi thích phim kinh dị, cũng như thích phim khoa học giả tưởng và phim hành động võ thuật. Tôi chưa từng nghĩ đến chuyện viết truyện kinh dị “thuần túy” hoặc kinh dị “cách tân”, tuy nhiên, bất cứ cái gì thuộc về con người đều có thể là chất liệu văn chương của tôi vào một lúc nào đó. Và cái kinh dị, nỗi sợ và đồng thời sự háo hức muốn biết cái kinh dị, nó là một thứ “xưa như Trái đất” thuộc về con người.

Có người cho rằng nhà văn chỉ nên viết về những gì mình biết rõ. Văn của anh thì bao quát những bối cảnh trải rộng nhiều nước, nhiều thực tại khác nhau. Anh nghĩ sao về điều này? Và khi viết về những nơi chưa từng đặt chân đến, anh sử dụng phương pháp nào để tưởng tượng và miêu tả chi tiết? Chẳng hạn, khi James Hadley Chase. một nhà văn Anh, viết tiểu thuyết hình sự You’ve Got It Coming (đã dịch sang tiếng Việt với tiêu đề Dã tràng xe cát) với bối cảnh đặt tại Mỹ, ông đã dựa vào những công cụ như từ điển bách khoa, bản đồ du lịch chi tiết, du ký nước Mỹ, từ điển tiếng lóng Mỹ… Anh có dùng những công cụ tương tự như thế không khi viết truyện có bối cảnh nước ngoài?

Margaret Mitchell, tác giả tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió, sinh năm 1900, mất năm 1949. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của bà có bối cảnh cuộc Nội chiến Mỹ từ 1861 đến 1865. Lev Tolstoy sinh năm 1828, mất năm 1910. Tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình của ông diễn ra trong thời kỳ cuộc kháng chiến của nước Nga chống quân đội Napoléon vào các năm 1805 và 1812. Nếu như quan niệm “nhà văn chỉ nên viết về những gì mình đã trực tiếp nhìn thấy/kinh qua và bởi vậy biết rõ” là thước đo vàng cho chất lượng văn chương, thì hai cuốn tiểu thuyết nói trên là đồ bỏ – vì chúng chỉ là chuyện bịa tạc vô giá trị.

Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian (xuất bản 2016) là tiểu thuyết đầu tay của anh nhưng tập truyện ngắn đầu tay của anh không phải là Những gặp gỡ không thể có mà là Baroque và ẩn hoa (xuất bản 2005). Như vậy là có sự gián đoạn khá dài nếu tính từ tập truyện ngắn đầu tiên đến tiểu thuyết đầu tiên, và nếu tính khoảng cách giữa hai tập truyện ngắn thì thời gian gián đoạn lên đến 13 năm. Vì sao anh lại có sự gián đoạn này?

Từ 2005 đến 2006 là khoảng thời gian tôi tạm ngưng viết, để tìm đường đi đúng nhất cho mình. Baroque và ẩn hoa về cơ bản là tập truyện “hiện thực” thuần khiết, và tôi sớm nhận ra rằng đó không phải là chỗ mạnh của tôi. Cuối 2006, tôi bắt tay viết cuốn tiểu thuyết “thực sự” đầu tiên của mình, với nhan đề (tạm đặt) là Cospolist Nổi Loạn mà đến nay chưa hoàn tất vì một số lý do. Có thể coi đó là mốc đánh dấu “bước ngoặt” trong đời văn của tôi – từ đó trở đi, tôi không còn hoài nghi về con đường của mình.

Life Navigator 25… thật ra được khởi đầu muộn hơn Cospolist Nổi Loạn, vào năm 2010, và hoàn tất vào năm 2014. Những gặp gỡ… thì gồm những truyện được viết rải rác trong một thời gian dài, từ trước 2010 cho đến sau 2014. Như vậy, thật ra, sự gián đoạn của tôi không phải trong 13 năm mà ngắn hơn nhiều. Về cơ bản, suốt trong nhiều năm qua, tôi không ngừng viết.

Hết.

Kodaki thực hiện phỏng vấn.
Theo Style-Republik.

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Một cuộc phỏng vấn với cây đại thụ làng văn, J.M. Coetzee

Đăng từ

on

Người đăng

Khi tiểu thuyết gia người Nam Phi J.M. Coetzee giảng dạy tại Đại học Buffalo giai đoạn 1968-1971, viễn kiến trở thành một trong những tiểu thuyết gia nổi tiếng nhất thế giới là ngoài sức tưởng tượng, thậm chí với cả chính ông. Là tiến sĩ tốt nghiệp từ Đại học Texas với luận văn về Samuel Beckett, ông đã giảng dạy các khóa về thơ Anh, hùng biện, dịch thuật, và tất nhiên, là về cả Beckett.

Ông chưa từng xuất bản tác phẩm hư cấu.

Những tiểu thuyết muộn

Vào thời điểm then chốt, ông thấy mình bị lôi kéo vào những phong trào sinh viên tự phát. Mùa xuân năm 1970, các hoạt động chống chiến tranh đã buộc cảnh sát ập vào khuôn viên Đại học Buffalo nơi các sinh viên bị đánh. Coetzee là một trong số 45 giảng viên chiếm giữ Hội trường Hayes để phản đối và rồi bị bắt vì tội xâm phạm trái phép. Cùng ông cố thủ là một số giảng viên, gồm nhà thơ kỳ cựu sau này của Hoa Kỳ – Robert Hass, và tiểu thuyết gia tương lai Raymond Federman.

Là một công dân nước ngoài, vị trí của Coetzee ở Hoa Kỳ trở nên khó kiểm soát về mặt pháp lý (sau biến cố trên – ND). Sau khi bị từ chối cấp thẻ xanh, ông quay về Nam Phi đầy biến động và bi thảm vẫn nằm dưới sự cai trị của hệ thống phân biệt chủng tộc tàn bạo.

Tuy nhiên, Coetzee đã bắt đầu sự nghiệp sáng tác tại Buffalo, nơi ông viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên – Dusklands – được xuất bản sau đó vào năm 1974. Đó là cuốn sách về sự phân mảnh của chính ông, bao gồm hai truyện vừa (novella): The narrative of Jacobus Coetzee (tạm dịch Tường thuật của Jacobus Coetzee) viết về một người định cư Hà Lan vào thế kỷ 18, và Vietnam Project viết về một nhà lý luận “Bình định” điên rồ đang làm việc cho quân đội Mỹ. Cả hai đều là chuyện kể về Đế quốc và những tổn thất Nhân loại mà nó gây ra cho cả phe thực dân và nhân dân nước thuộc địa.

Ấn phẩm trên đánh dấu khởi đầu của sự nghiệp văn học lừng lẫy mà tiếp sau là In the Heart of the Country (Giữa miền đất ấy, 1977), Waiting for the Barbarians (Đợi bọn mọi, 1980), Life and Times of Michael K. (Cuộc sống và thời đại của Michael K., 1983) – tác phẩm mang lại cho Coetzee giải Booker đầu tiên, hạng mục tiểu thuyết hay nhất được xuất bản ở Anh và Ireland.

Năm 1986, ông cho in Foe – một bản viết lại tác phẩm Robinson Crusoe của Defoe từ góc nhìn của người phụ nữ kết hôn trên đảo với Crusoe (trong tác phẩm của mình ông đổi nhân vật thành Cruso) và nhân vật Friday. Rồi đến Age of Iron (Thời đồ sắt, 1990), The Master of St. Petersburg (tạm dịch Bậc thầy St. Petersburg, 1994) – một tiểu thuyết hư cấu về cuộc đời của Fyodor Dostoevsky, The Lives of Animals (tạm dịch Cuộc sống các loài vật, 1999) và Disgrace (Ruồng bỏ, 2000) – cuốn sách giúp ông giành giải Booker lần thứ hai.

Ông cũng viết một cuốn sách về kiểm duyệt, một tập hợp các tiểu luận văn học có tựa Doubling the Point (tạm dịch Nhân đôi quan điểm) và một cuốn hồi ký giả tưởng nhiều tập Scenes from Provincial Life (Những cảnh đời tỉnh lẻ).

Sự phong phú và không ngừng đào sâu trí tưởng tượng của Coetzee cũng đi vào huyền thoại như những tác phẩm giá trị của ông. Và mặc dù văn chương ông có phạm vi rộng về chủ đề và tâm trạng; tất cả đều gây chú ý bằng lối văn xuôi sắt nét và mạnh mẽ như kim cương. Và mặc dù từ chối đem chính trị vào trong trang viết dưới bất kỳ hình thức nào, Coetzee cũng đồng thời không quay lưng lại với các vấn đề khó nói về mặt đạo đức, như việc bạo lực trục xuất nông dân da trắng khỏi đất đai của họ ở Nam Phi bởi những kẻ cướp bóc, là cốt truyện trung tâm của cuốn Ruồng bỏ.

Như thể còn chưa hết, Coetzee cũng trở thành nhà phê bình thường trực cho tờ New York Review of Books từ đầu những năm 1980, đôi khi là bình luận toàn bộ tác phẩm của một số nhà văn chọn lọc khác.

Sự hiện diện chói ngời

Coetzee tự viết tên mình lên sân khấu văn chương thế giới như một sự hiện diện chói lòa. Tháng trước tôi đã thực hiện cuộc phỏng vấn với Coetzee qua e-mail. Các câu hỏi chuyển dịch từ những ngày còn ở Buffalo đến những bài phê bình đáng chú ý cho tờ New York Review, cũng như một số tiểu thuyết và hồi ký gần đây nhất của ông.

Q. Ông rời Buffalo năm 1971 để trở về Nam Phi. Khi rời đi, ông không được biết như một tiểu thuyết gia, và Dusklands – cuốn tiểu thuyết đầu tay đã được xuất bản tại Johannesburg năm 1974. Có phải ông đã viết cuốn đó khi còn ở Buffalo? Liệu có phải cuốn sách là một phần lý do ông rời đi? Rằng cần phải gần gũi hơn với cuộc sống và phong cảnh đang hình thành trong trí tưởng tượng của ông?

Coetzee. Tôi bắt đầu viết Dusklands năm 1970, khi tôi ở Buffalo. Nhưng sự ra đi của tôi không liên quan gì đến yêu cầu xoay quanh việc viết lách.

Q. Ông có từng bị vỡ mộng khi ở Mỹ? Năm 1971 là cao trào Chiến tranh Việt Nam và cuộc nổi dậy các phong trào trong nước chống lại nó, và ông còn là một trong số 45 cá nhân ở Buffalo bấy giờ, tháng Ba năm 1970.

Coetzee. Lý do cho sự ra đi của tôi trần tục hơn. Sau khi bị bắt, tình trạng pháp lý của tôi với tư cách là người nước ngoài ở Hoa Kỳ – và tình trạng pháp lý của vợ và con tôi cũng vậy – đơn giản là không giải quyết được.

Những vấn đề xúc cảm

Q. Một số khía cạnh của chính trị Nam Phi chỉ được cảm nhận mập mờ tại Hoa Kỳ. Một là phong trào trục xuất trở thành trọng tâm trong cuốn Ruồng bỏ, trong đó người nông dân da trắng bị đuổi khỏi trang trại của họ một cách bạo lực bởi những kẻ cướp bóc. Trong Ruồng bỏ, cuộc tấn công trang trại dường như là tự phát. Tại nước láng giềng Zimbabwe của ông, nông dân da trắng hiện phải bỏ trắng tài sản của họ theo lệnh của nhà nước. Liệu có thể hình dung rằng các vụ trục xuất quy mô lớn, do chính quyền áp đặt kiểu-Zimbabwe, có thể xảy ra ở Nam Phi?

Coetzee. Có thể hình dung được nhưng nó không có khả năng xảy ra. Quyền sở hữu đất đai là một vấn đề mang tính cảm xúc, trong bản tính Nam Phi hay Zimbabwe; nhưng trong giới chính trị Nam Phi, không tồn tại thái độ khinh bỉ với pháp quyền như điều đang thịnh hành ở Zimbabwe của Mugabe.

Tận hưởng sự ngẫu nhiên

Q. Chuyển sang những bình luận của ông cho tờ New York Review. Ông khởi điểm bằng việc viết về các nhà văn và vấn đề rất gần gũi với ông, như chính trị Nam Phi, văn học Anh. Nhưng các bài tiểu luận sau đó đã bắt đầu chuyển hướng vào các nhà văn quốc tế, như Robert Musil và Naguib Mahfouz. Liệu đây có phải nỗ lực của ông để dự phần mình vào cuộc đối thoại rộng mở với văn chương thế giới hay là khám phá của tờ New York Review rằng ông có khả năng đảm nhận và nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp văn học?

Coetzee. Tôi đã là một người nghe đài (radio) từ khi tôi bắt đầu nhớ được. (Bây giờ tôi đang nói về âm nhạc.) Tôi thích thú việc không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo, điệu Mahler hoặc gypsy hoặc Hildegard của Bingen. Tôi thích sự ngẫu nhiên. Tôi thích nó hơn việc cố tình chọn nhạc hoặc đưa CD vào máy nghe nhạc. Nó rất giống với công việc ở tờ New York Review. Tôi thích nhìn thấy những gì mới trên kệ, những gì họ sẽ đề xuất tiếp theo. Nó cũng chắc chắn không phải một phần của dự án tầm cỡ nào đó.

Thói quen tâm trí

Q. Kết nối điều này với Tuổi trẻ, cuốn tiểu thuyết gần đây nhất của ông dưới dạng hồi ký, người đọc bắt gặp nhân vật chính John (những khi anh ta không cảm thấy lạc lõng hay đau khổ), anh đang rèn luyện trí tuệ cho những nhiệm vụ to lớn, như đọc toàn bộ sự nghiệp của các nhà văn, đơn cử như của Ford Madox Ford. Có phải chúng ta đang thấy John phát triển một thói quen tâm trí – hấp thụ toàn bộ sự nghiệp một cá nhân nào đó – mà sau này sẽ trở nên hữu dụng những lúc cần thiết với anh, hoặc là với chính ông?

Coetzee. Chà, John muốn trở thành một nghệ sĩ; và với tư cách là một nghệ sĩ tập sự, điều đó có nghĩa anh ta không chỉ tìm cách làm sao để viết được thơ mà còn tìm cách để hiểu các nghệ sĩ sống thế nào, cách họ xoay sở để có được sự lãng mạn, đam mê và hứng thú trong cuộc sống (hay ít nhất, theo các tin đồn là vậy). Ngoài thế ra thì tôi sẽ không diễn dịch quá nhiều từ việc, như cách bạn nói, đi đọc toàn bộ sự nghiệp của các nhà văn. Đúng là với nhiều người rằng, một khi họ quan tâm đến một nhà văn cụ thể nào, họ liền đọc mọi thứ của anh ta (hoặc cô ta) mà họ có thể tiếp cận.

Q. Một lần nữa, nghĩ về cuốn Tuổi trẻ, tôi thấy John đang chống lại chủ nghĩa địa phương hẹp hòi (parochialism) thường thấy trong văn học Anh (hoặc cả trong âm nhạc và nghệ thuật Anh) để ủng hộ các dòng chảy lớn hơn của văn hóa thế giới: Joseph Brodsky, Zbigniew Herbert, Pablo Neruda, Dostoevsky và Beckett; các bộ phim của Antonioni, Bergman, Satyajit Ray; bức tranh của Motherwell, âm nhạc của Bach. Có phải sự thất vọng của John trước nước Anh đã mở cánh cửa bước vào phần còn lại của thế giới?

Coetzee: Không phải thế. Mặc dù được giáo dục từ thuộc địa, anh ta nhận thấy khi đến Anh, sở thích của anh ta rộng mở và cập nhật hơn so với những người trị vì hòn đảo nhỏ hẹp ấy. Nhưng nước Anh đầu những năm 1960 đã bắt đầu vươn ra không ngừng hướng tới thế giới rộng lớn hơn.

Q: Khi tôi đọc cuốn sách này, bất chấp tình trạng khốn khổ của John, thập niên 1960 ở London dường như là những năm tốt lành, khi anh tiếp thu và thấm nhuần văn hóa như một miếng bọt biển, thậm chí đó có thể là vì sự khốn khổ trước đó. Có phải tôi đang hiểu đúng không?

Coetzee. Vâng, là thế, dù tôi không chắc sự khốn khổ có phải là trạng thái tâm trí đúng đắn để tiếp thu những văn hóa mới ấy không.

Những nhà văn giống ông

Q. Ông từng bày tỏ sự quan tâm dành cho V.S. Naipaul: ông đã điểm cuốn Half a Life cho tờ New York Review. Giống như chính ông, Naipaul từ thuộc địa đến Anh, nhưng dường như anh ta thích ứng dễ dàng hơn. Liệu có bao giờ ông nghĩ về bản thân mình và Naipaul như khi cầm gương soi hình phản chiếu của nhau? Như chia sẻ bất cứ điều gì khác ngoài cảnh huống chung của hai người: rằng cả hai đều đến từ tiền đồn Đế quốc Anh để đi tìm tiếng nói và xác định được vị thế của mình?

Coetzee. Đó là sai lầm phổ biến, nếu bạn tha thứ cho câu nói này của tôi, khi nghĩ rằng các nhà văn quan tâm nhất đến những ai giống họ, hoặc thậm chí nghĩ rằng các nhà văn quan tâm nhiều đến những người cùng thời. Sự quan tâm của tôi đối với Naipaul không quá sâu, và tôi chắc rằng điều tương tự cũng đúng với anh ấy. Khi bàn về nước Anh, tôi chỉ ở đó một vài năm và chưa bao giờ nghĩ mình sẽ quay lại; trong khi Naipaul chọn định cư ở đó. Định cư là một từ có sức nặng trong chính trị hậu thuộc địa, và việc Naipaul quyết định điều đó và thích nghi với mẫu quốc (như các danh xưng Squire Naipaul, Ngài Vidia Naipaul, v.v) là một hành động mà anh ta hoàn toàn nhận thức được sức nặng lịch sử của nó.

Q: Theo những gì tôi được biết, bắt đầu từ năm 2004, Giải Booker sẽ được mở rộng cho các nhà văn người Mỹ cũng như khối thịnh vượng chung, nơi các nhà văn Ireland hội đủ điều kiện. Ông có suy nghĩ gì về điều này?

Coetzee. Nếu những gì anh nói là đúng, tôi rất vui mừng. Lý do loại trừ các nhà văn Mỹ liên quan nhiều hơn đến cấu trúc của ngành xuất bản, liên quan đến thế giới nói tiếng Anh được chia thành hai “lãnh thổ”: một là London, phần còn lại là New York; hơn là các vấn đề về nguyên tắc.

Hết.

Ngô Thuận Phát lược dịch.

Bài viết gốc được Mark Shechner thực hiện, đăng tại The Buffalo News

Ảnh đầu bài: New Statesman

Đọc bài viết

Chuyện người cầm bút

Điều cần thiết là “Phép thuật”: Lời khuyên viết lách từ Haruki Murakami

Ngoài ra: Tài năng, Tập trung, và Sức bền

Đăng từ

on

Người đăng

WHAT’S NEEDED IS MAGIC: WRITING ADVICE FROM HARUKI MURAKAMI
Emily Temple

Bài viết gốc được đăng ngày 14 tháng Một năm 2019, kỷ niệm sinh nhật 70 tuổi của nhà văn Haruki Murakami.

Nếu bạn tin được điều này, thì tiểu thuyết gia người Nhật, người cuồng mèo và là nhà biên niên sử dị hợm Haruki Murakami đã tròn 70 tuổi vào cuối tuần này. 70! Nhưng tôi cho rằng chúng ta nên tin vào điều đó, vì bất chấp ma thuật sáng tạo tươi trẻ trong văn chương của ông, vị tác giả bán chạy quốc tế đã cho ra đời 14 tiểu thuyết cùng vài truyện ngắn ngoại hạng, và không ngoa khi nói ông là một trong những nhà văn đương đại nổi tiếng nhất thế giới. Để chúc mừng sinh nhật ông, và như là món quà cho những ai hy vọng sẽ trở thành một nhà văn như Murakami ở tuổi 70, tôi đã thu thập vài lời khuyên viết lách hữu ích nhất của ông ấy dưới đây.

Đọc.

Tôi nghĩ thử thách đầu tiên đối với người tham vọng thở trành tiểu thuyết gia là việc đọc hàng tấn tiểu thuyết. Xin lỗi khi bắt đầu bằng một nhận định thông thường như thế, nhưng chẳng có cách rèn giũa nào thiết yếu hơn cả. Để viết một cuốn tiểu thuyết, trước hết bạn phải hiểu được, ở mức độ vật lý, cách chúng được khớp nối lại với nhau… Điều đặc biệt quan trọng là kinh qua càng nhiều tiểu thuyết càng tốt trong khi bạn còn trẻ. Tất cả mọi thứ nằm trong tầm với của bạn – những cuốn tiểu thuyết vĩ đại, những cuốn tiểu thuyết không-mấy-vĩ đại, những tiểu thuyết dở tệ, đó chẳng phải là vấn đề (không hề!) miễn là bạn tiếp tục đọc. Hấp thu càng nhiều câu chuyện càng tốt trong khả năng bạn có thể. Trình diện bản thân trước các tác phẩm tuyệt vời. Với các tác phẩm xoàng xĩnh cũng vậy. Đây là nhiệm vụ tối quan trọng của bạn.

– trích từ tiểu luận “Vậy tôi sẽ viết về điều gì đây?” của Murakami năm 2015, bản dịch của Ted Goossen

Nắm lấy những từ ngữ cũ và làm mới chúng lần nữa.

Một trong những nghệ sĩ piano jazz ưa thích mọi thời đại của tôi là Thelonious Monk. Một lần, khi ai đó hỏi làm thế nào ông có thể khiến chiếc piano phát ra âm thanh đặc biệt nhất định, Monk chỉ vào những phím đàn và nói: “Nó không thể tạo thêm nốt nhạc mới mẻ nào. Khi anh nhìn vào phím đàn, mọi nốt nhạc đã ở sẵn đó. Nhưng nếu rót đủ ý nghĩa vào trong nốt nhạc, chúng sẽ ngân vang theo cách khác nhau. Anh phải lựa chọn những nốt anh thực sự muốn!”

Tôi thường nhớ lại những từ này khi đang viết, và tự nhủ bản thân, “Đúng thế. Không có từ nào mới. Việc của chúng ta là đem lại những ý nghĩa mới và âm bội đặc biệt cho những từ hết sức thông thường.” Tôi thấy yên lòng với ý nghĩ này. Điều đó có nghĩa là những khoảng không rộng mở, vô danh vẫn đang ẩn nấp phía trước chúng ta, những vùng đất màu mỡ vẫn đang chờ ta đào xới.

– trích từ tiều luận “Sứ giả Jazz” của Murakami năm 2007

Giải thích rõ ràng.

[Khi viết,] Tôi có một số ý tưởng và ghép từng mảnh lại với nhau. Đó là cốt truyện. Rồi tôi diễn giải cốt truyện cho độc giả. Anh phải rất tử tế khi giảng giải điều gì đó. Nếu anh nghĩ, Ổn thôi; tôi biết điều đó, thì thật là kiêu ngạo. Ngôn từ đơn giản và ẩn dụ, phúng dụ tốt. Vậy, đó là những gì mà tôi làm. Tôi giải thích rất chi li và tỏ tường.  

– trong một bài phỏng vấn với John Wray cho tờ The Paris Review năm 2004

Chia sẻ những giấc mơ của bạn.

Mơ mộng là chuyện thường ngày của các tiểu thuyết gia, nhưng sẻ chia giấc mơ còn là nhiệm vụ quan trọng hơn đối với chúng tôi. Ta không thể là tiểu thuyết gia mà không có ý thức chia sẻ điều gì.

– trích diễn từ nhận Giải thưởng Catalunya quốc tế của Murakami năm 2011

Viết để khám phá.

Bản thân tôi, khi viết, không hề hay biết ai đã làm việc đó. Độc giả và tôi bình đẳng. Khi bắt đầu viết một câu chuyện, tôi chẳng hề biết cái kết và cũng không rõ chuyện gì xảy đến kế tiếp. Nếu ban đầu xảy ra một vụ mưu sát, tôi không biết ai là kẻ sát nhân. Tôi viết sách bởi vì tôi muốn tìm ra. Nếu tôi biết ai là hung thủ, thì câu chuyện được viết ra sẽ chẳng vì mục đích gì.

– trong một bài phỏng vấn với John Wray cho tờ The Paris Review năm 2004

Tích trữ mọi thứ để đưa vào tiểu thuyết của bạn.

Bạn có nhớ phân cảnh trong bộ phim E.T. của Steven Spielberg nơi E.T. lắp ráp một thiết bị dẫn truyền từ đống phế liệu mà cậu lôi ra khỏi gara của mình? Có một cái dù, một cái đèn chân đế, mấy cái bình rồi chảo, máy ghi âm – tôi xem bộ phim đã lâu, vì vậy tôi không thể nhớ hết mọi thứ, song cậu xoay xở để ghép tất cả những đồ gia dụng lại với nhau theo một phương thức để rốt cuộc tạo thành cỗ máy kỳ cục hoạt động đủ tốt để liên lạc với hành tinh quê nhà cách xa hàng ngàn năm ánh sáng của mình. Tôi đã nhận được cú hích lớn từ phân cảnh đó khi xem trong rạp, nhưng giờ đây tôi nhận ra rằng việc gắn kết một cuốn tiểu thuyết hay cũng gần giống như vậy. Thành tố chủ chốt không phải là chất lượng của chất liệu – thứ ta cần là phép thuật. Nếu phép thuật hiện diện, những vấn đề ngày thường căn bản nhất và ngôn ngữ đơn sơ nhất cũng có thể biến thành một thiết bị vi tế đáng kinh ngạc.

Tuy vậy, trước hết và quan trọng nhất, là những gì chất đống trong gara của bạn. Phép thuật không thể vận hành nếu gara trống trơn. Bạn phải thu thập nhiều thứ linh tinh để dùng nếu và khi E.T. mời gọi!

– trích từ tiểu luận “Vậy tôi sẽ viết về điều gì đây?” của Murakami năm 2015, bản dịch của Ted Goossen

Những vòng lặp hữu ích.

Khi ở chế độ viết tiểu thuyết, tôi dậy lúc bốn giờ sáng và làm việc từ năm đến sáu tiếng. Buổi chiều, tôi chạy mười cây số hoặc bơi một ngàn năm trăm mét (hoặc làm cả hai), sau đó tôi đọc một ít và nghe chút nhạc. Tôi đi ngủ lúc chín giờ tối. Tôi giữ thói quen này mỗi ngày mà không thay đổi. Sự lặp lại bản thân nó trở thành điều quan trọng; nó là một dạng thôi miên. Tôi thôi miên chính mình để đạt tới cảnh giới ý thức sâu hơn. Nhưng để giữ được sự lặp lại như vậy trong một thời gian dài – từ sáu tháng đến một năm – thì đòi hỏi một sức mạnh thể chất và tinh thần đủ tốt. Theo lẽ đó, viết một cuốn tiểu thuyết dài tựa như huấn luyện sinh tồn. Thể lực cũng cần thiết giống như sự nhạy cảm nghệ thuật.

– trong một bài phỏng vấn với John Wray cho tờ The Paris Review năm 2004

Tập trung vào một điều tại một thời điểm.

Nếu tôi được hỏi phẩm chất quan trọng nhất kế tiếp [sau tài năng] của một tiểu thuyết gia là gì, thì cũng dễ thôi: tập trung – khả năng tập trung tất cả tài năng có hạn của bạn vào bất cứ điều gì quan trọng ngay tại thời điểm ấy. Nếu không tập trung, bạn không thể hoàn thành bất cứ điều gì có giá trị, trong khi, nếu bạn có thể tập trung hiệu quả, bạn sẽ có thể bù đắp cho một tài năng chập chờn hay thậm chí là sự thiếu vắng tài năng… Ngay cả một tiểu thuyết gia đầy tài năng và đầu óc ngập tràn những ý tưởng mới mẻ tuyệt vời cũng có khi chẳng thể viết ra được một cái gì nếu, ví dụ, anh ta đang chịu nhiều đau đớn vì cái răng sâu.

– trích Tôi nói gì khi nói về chạy bộ

Mặc dù tôi viết các bài tiểu luận đan xen với các tác phẩm hư cấu, trừ khi hoàn cảnh bắt buộc nếu không thì, tôi tránh làm bất cứ việc gì khác khi đang viết một cuốn tiểu thuyết… Cố nhiên, chẳng có quy tắc nào nói rằng cùng một chất liệu thì không thể sử dụng cho một bài tiểu luận và một câu chuyện, nhưng tôi nhận thấy rằng việc đúp lên như vậy làm suy yếu tiểu thuyết của tôi theo cách nào đó.

– trích từ tiểu luận “Vậy tôi sẽ viết về điều gì đây?” của Murakami năm 2015, bản dịch của Ted Goossen

Vun đắp sức bền.

Sau tập trung, điều quan trọng nhất kế tiếp đối với một tiểu thuyết gia là, thật rõ ràng, sức bền. Nếu bạn tập trung viết ba hoặc bốn giờ một ngày và cảm thấy mỏi mệt sau một tuần, bạn sẽ không thể viết một tác phẩm dài. Điều cần thiết cho một nhà văn viết tiểu thuyết – ít nhất là cho ai đó mong muốn viết một tiểu thuyết – là nghị lực để tập trung mỗi ngày trong nửa năm, hay một năm, hay hai năm.

– trích Tôi nói gì khi nói về chạy bộ

Thử nghiệm với ngôn ngữ

Đặc quyền vốn thuộc về tất cả các nhà văn là thử nghiệm khả năng của ngôn ngữ theo mọi cách họ có thể tưởng tượng ra – mà nếu không có tinh thần phiêu lưu đó, không điều gì mới mẻ có thể ra đời.

– trích “Sự ra đời của cuốn tiểu thuyết bên bàn ăn của tôi”, bản dịch của Ted Goossen năm 2015

Hãy tự tin.

Điều quan trọng nhất là sự tự tin. Bạn phải tin rằng bạn có khả năng kể chuyện, để nhắm vào huyết mạch, để làm cho các mảnh của câu đố khớp nối với nhau. Nếu không có sự tự tin đó, bạn chẳng đi đến đâu. Nó giống như quyền anh. Khi bạn thượng đài, bạn không thể leo ra trở lại. Bạn phải chiến đấu cho đến khi trận đấu kết thúc.

– trích từ một bài giảng năm 1992 tại Berkeley, cũng được chép trong Haruki Murakami và Âm nhạc trong Ngôn từ của Jay Rubin

Viết từ phe của quả trứng.

[Đây] là điều mà tôi luôn giữ trong tâm trí khi viết tiểu thuyết. Tôi chưa bao giờ đi xa đến mức viết nó lên một tờ giấy và dán nó lên tường: Thay vào đó, nó được khắc lên bức tường tâm trí tôi, và đại ý nó là thế này:

“Khi chọn giữa một bức tường cao, vững chắc và một quả trứng đập vào nó, tôi sẽ luôn đứng về phe quả trứng.”

Vâng, dù cho bức tường có thể đúng và quả trứng có thể sai thế nào chăng nữa, tôi sẽ  đứng cùng quả trứng. Ai đó khác sẽ phán xét cái gì đúng và cái gì sai; có lẽ thời gian hay lịch sử sẽ định đoạt. Giả nếu có một tiểu thuyết gia, vì lẽ nào đó, đã viết các tác phẩm mà đứng về phía bức tường, thì những tác phẩm như vậy sẽ có giá trị gì chăng?

– trích diễn từ nhận Giải thưởng Jerusalem của Murakami năm 2009

Quan sát thế giới của bạn.

Suy ngẫm về những gì bạn thấy. Tuy nhiên hãy nhớ rằng, ngẫm không phải để vội vàng định đoạt cái nào đúng cái nào sai hay ưu nhược điểm của những việc, những người mà bạn đang quan sát. Cố gắng dùng ý thức kiềm chế những xét đoán về giá trị – đừng vội kết luận. Cố gắng kiềm chế một cách có ý thức những đánh giá giá trị. Điều quan trọng không phải là đi đến kết luận rõ ràng mà là vẫn giữ được các chi tiết cụ thể của một tình huống nhất định… Tôi cố gắng giữ lại một hình ảnh hoàn chỉnh nhất có thể của cảnh tôi đã quan sát, người tôi đã gặp, trải nghiệm mà tôi đã kinh qua, xem nó như là một “mẫu” độc nhất, một ca kiểm thử. Tôi có thể trở lại và ngắm nhìn nó sau này, khi cảm xúc của tôi đã lắng xuống và khung cảnh bớt bức bách hơn, lần này dò xét nó từ nhiều góc độ khác nhau. Cuối cùng, nếu và khi dường như điều đó là cần thiết, thì tôi có thể tự mình rút ra kết luận.

– trích từ tiểu luận “Vậy tôi sẽ viết về điều gì đây?” của Murakami năm 2015, bản dịch của Ted Goossen

Cố đừng làm tổn thương bất kỳ ai.

Tôi luôn giữ trong tâm trí để mà “không có mũi bút nào quá sắc bén” khi tôi viết. Tôi chọn lời sao cho ít người bị tổn thương nhất, nhưng điều đó cũng khó đạt được. Bất kể thứ gì được viết ra, đều có khả năng làm tổn thương hoặc xúc phạm ai đó. Giữ tất cả những điều ấy trong tâm trí, tôi cố gắng hết sức để viết ra gì đó mà không làm tổn thương bất kỳ ai. Đây là một phẩm hạnh mà mỗi nhà văn nên làm theo. 

– trích chuyên mục tư vấn của Murakami năm 2015

Đưa độc giả của bạn vào một cuộc hành trình.

Khi tôi viết Cuộc săn cừu hoang, tôi đã tin chắc rằng một câu chuyện, một monogatari, không phải là thứ bạn tạo ra. Nó là một thứ gì đó mà bạn kéo ra từ bản thân. Câu chuyện đã ở đó, bên trong bạn. Bạn không thể tạo nên nó, bạn chỉ có thể mang nó ra. Điều này đúng với tôi, ít nhất thì: đó là câu chuyện tự phát. Với tôi, một câu chuyện là phương tiện đưa độc giả đến nơi nào đó. Bất cứ thông tin nào bạn cố truyền đạt, bất cứ điều gì mà bạn cố dẫn dắt cảm xúc người đọc hướng về, thì điều đầu tiên bạn phải làm là đưa độc giả vào trong phương tiện. Và phương tiện – câu chuyện – monogatari – phải có sức mạnh khiến mọi người tin tưởng. Trên tất cả, đó là những điều kiện mà câu chuyện phải đáp ứng.

– trích từ một bài giảng năm 1992 tại Berkeley, cũng được chép trong Haruki Murakami và Âm nhạc trong Ngôn từ của Jay Rubin

Viết để làm sáng tỏ con người.

Tôi chỉ có một lý do để viết tiểu thuyết, và đó là vạch trần phẩm giá của tâm hồn cá nhân và chiếu ánh sáng lên nó. Mục đích của một câu chuyện là gióng lên hồi chuông báo động, để giữ ánh sáng được tôi rèn trên Hệ Thống nhằm ngăn nó quấn lấy tâm hồn ta vào lưới nhện để rồi làm mất đi phẩm giá. Tôi hoàn toàn tin rằng đó chính là công việc của tiểu thuyết gia, nhằm tiếp tục cố gắng soi tỏ tính độc nhất trong tâm hồn mỗi cá nhân bằng cách viết nên những câu chuyện – những câu chuyện về sự sống và cái chết, những câu chuyện tình yêu, những câu chuyện khiến con người ta khóc than và run lên vì sợ hãi và rung lên bởi tiếng cười. Đó là lý do tại sao chúng ta tiếp tục, ngày qua ngày, bịa ra những điều hư cấu với sự nghiêm túc tuyệt đối.

– trích diễn từ nhận Giải thưởng Jerusalem của Murakami năm 2009

Dù gì đi chăng nữa, tất cả phải bắt đầu bằng tài năng…

Trong mọi cuộc phỏng vấn, tôi luôn được hỏi phẩm chất quan trọng nhất một tiểu thuyết gia phải có là gì. Câu trả lời hiển nhiên: tài năng. Cho dù bạn nhiệt tình và nỗ lực viết lách như thế nào chăng nữa, nếu bạn hoàn toàn thiếu vắng tài năng văn chương, bạn có thể quên đi việc trở thành một tiểu thuyết gia. Đây phần nhiều là điều kiện tiên quyết hơn là một phẩm chất cần thiết. Nếu bạn không có nhiên liệu, ngay cả chiếc xe tốt nhất cũng không thể chạy.

– trích Tôi nói gì khi nói về chạy bộ

Viết lách tương tự như khi cố gắng tán tỉnh một người phụ nữ. Có nhiều thứ phải luyện tập, song đa phần là thiên phú. Dù sao thì, chúc may mắn.

– trích chuyên mục tư vấn của Murakami năm 2015

… trừ khi bạn làm việc thật chăm chỉ!

Những nhà văn được ban phước với tài năng thiên bẩm có thể viết rất dễ dàng, bất kể những việc họ làm – hay không làm. Giống như nước từ dòng suối thiên nhiên, các câu văn cũng trào ra như thế, và với rất ít hay chẳng cần nỗ lực, các nhà văn này vẫn có thể hoàn thành một tác phẩm. Thật không may, tôi không nằm trong số này. Tôi phải đập liên hồi vào một tảng đá với cái đục và đào một cái hố sâu trước khi tôi có thể xác định được nguồn sáng tạo của mình. Mỗi khi bắt đầu tiểu thuyết mới, tôi phải nạo ra một hố khác. Song, khi đã duy trì nếp sống này trong nhiều năm, tôi trở nên sành sỏi, cả về kỹ thuật lẫn thể chất, trong việc mở những hố trên đá và định vị các mạch nước mới. Ngay khi tôi nhận thấy một nguồn đang cạn dần, tôi chuyển sang nguồn khác. Nếu những người dựa vào một dòng suối tài năng tự nhiên đột ngột thấy nguồn của họ cạn kiệt, thì họ sẽ gặp rắc rối.

Nói cách khác, hãy đối mặt với sự thật: cuộc sống về cơ bản là không công bằng. Nhưng, ngay cả trong tình thế bất công, tôi nghĩ vẫn khả thi khi tìm kiếm một kiểu công bằng.

– trích từ tiểu luận “Tiểu thuyết gia đang chạy” của Murakami năm 2008, bản dịch của Philip Gabriel

Hết.

3V dịch.

Bài gốc được thực hiện bởi Emily Templet, đăng tại Literary Hub.

Xem tất cả những bài viết của 3V tại đây.


Muôn màu của Haruki Murakami





Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!