Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Từ Sách đến Phim: Ring (1998)

The Ring và sự trì hoãn suốt 10 năm.

Published

on

tặng South

The Ring và sự trì hoãn suốt 10 năm

Ring (1998) là phim tôi đã luôn muốn xem nhưng không có can đảm để xem một mình. Tôi vẫn còn nhớ vào mùa hè năm lớp 10 hay 11, hoặc thậm chí có thể là năm cấp 2, một người bạn đã rủ tôi xem phim The Ring (2002) phiên bản của Mĩ vì bạn ấy không dám xem phim này một mình. Một buổi chiều tối nào đó, tôi đã qua nhà bạn ấy và thưởng thức bộ phim này trên máy tính của bạn. Tôi nhớ rằng lúc đó mình đã rất hoảng sợ. Tôi thường xuyên la hét và đoạn cuối phim kinh điển làm tôi thót tim. Nhưng cảm giác khi đó là dù rất sợ nhưng thấy đã, có một chút gì đó hưng phấn khi đã vượt qua được cả bộ phim.

Tuy vậy, khi về nhà một mình, tối đó tôi đã mất ngủ. Và tôi bị ám ảnh bởi bộ phim gần hai, ba tháng sau đó. Tôi thấy sợ khi đứng trước bất kì chiếc tivi màu đen nào chưa được bật lên. Thậm chí, điều buồn cười hơn là tôi còn rất sợ những vòng tròn mà khi ấy, tôi lại đang học hình học ở trường, phải sử dụng compa và giải toán với hình tròn rất nhiều. Thế là tôi cố gắng giải quyết những bài toán hình học ngay khi còn ở trường để về nhà chỉ làm toán số học. Lỡ như có hôm nào không kịp giải một bài toán hình nào đó có liên quan đến hình tròn, đến lúc tối về nhà mới làm, tôi sẽ cảm thấy lạnh run gáy ở phía sau khi bắt đầu dùng compa xoay đường tròn, tôi thường xuyên phải quay đầu ra sau để kiểm chứng nỗi sợ hãi của mình.

Tôi rất yêu toán học và nỗi ám ảnh The Ring đã đem lại cho tôi có nguy cơ khiến tôi không thể tập trung giải quyết những bài toán phức tạp liên quan đến hình tròn. Khoảng thời gian ấy, tôi đã phải luôn tự động viên mình liên tục bằng câu nói của Hamlet trong đầu: “Con ma đáng sợ nhất chính là trí tưởng tượng của con người.” Dần dần, tôi lại quen với hình tròn và có thể giải toán bình thường. Nhưng đó là cả khoảng thời gian dài ám ảnh đến mức đến bây giờ, sau rất nhiều năm, tôi vẫn còn nhớ được ngày ấy mình đã bị nỗi sợ đó ảnh hưởng đến cuộc sống như thế nào.

Sau đó, tôi có tìm hiểu và biết được bản The Ring của Mĩ chỉ là bản làm lại từ Ring – hay Ringu theo cách đọc tiếng Anh của người Nhật. Rất nhiều người nói với tôi rằng bản Ring (1998) mới là đỉnh cao của nỗi sợ hãi, The Ring của Mĩ so ra chẳng là gì so với bản gốc, rằng khi xem The Ring thì họ không sợ nhưng xem Ring họ lại rất sợ. Nhận xét này khiến tôi trì hoãn việc xem Ring đến tận 10 năm trời. Và có lẽ, tôi sẽ không bao giờ có thể xem Ring nếu như không có sự trợ giúp của bạn tôi. Tôi muốn cảm ơn bạn rất nhiều vì đã giúp tôi mở chiếc hộp Pandora khiến tôi luôn lấn cấn bấy lâu nay trong lòng để rồi khi mở ra, tôi nhận thấy bên trong chiếc hộp đó, không chỉ có những thứ ghê sợ mà người ta vẫn thường nói, không chỉ có tai họa và tai họa; bên trong chiếc hộp đó còn có tình người, sự ấm áp mà tôi đã không ngờ tới.

Cảm xúc của tôi ngay khi vừa xem xong Ring không phải là nỗi sợ hãi tràn ngập mà là… chưng hửng. Tôi chưng hửng vì hóa ra phim không đáng sợ như tôi đã hình dung suốt 10 năm qua. Thậm chí, tôi còn có cảm giác ngược lại với rất nhiều người là Ring của Nhật không đáng sợ bằng The Ring của Mĩ. Nghe có vẻ vô lí nhưng sự thật là thế. Ring không khiến tôi la hét nhiều, tim đập nhanh, tay chảy mồ hôi lạnh, mắt chỉ muốn nhắm lại ở một số phân đoạn như bản The Ring của Mĩ. Tôi tự hỏi rằng có phải nguyên nhân là do tôi đã xem bản của Mĩ trước nên biết hết nội dung và không còn sợ do hồi hộp khi xem bản của Nhật nữa? Hay là do tôi đã chờ đợi một dịp để xem phim này quá lâu nên nỗi sợ hãi về phim mà tôi tưởng tượng trong đầu qua năm tháng đã lớn hơn rất nhiều so với nỗi sợ thực tế trong phim? Hoặc là tôi đã bị những hình ảnh đáng sợ nhất trong Ring ám ảnh quá đủ sau khi xem xong The Ring? Dù vậy, tôi không hề cảm thấy thất vọng khi bộ phim không khiến tôi sợ hãi như mong đợi bởi tôi đã tìm ra được những vẻ đẹp khác trong phim. Chính vì lí do đó, trong bài viết này, tôi sẽ không viết nhiều về nỗi sợ hãi Ring đã mang lại cho tôi, tôi sẽ viết về những vẻ đẹp khác mà mình đã tìm thấy khi xem phiên bản gốc của Nhật.

Cảnh báo: Bài viết tiết lộ một số tình tiết quan trọng của phim.

Những tình cảm ấm áp trong thế giới đáng sợ

Ring mở đầu bằng phân cảnh có Takeuchi Yuko (Tomoko) trò chuyện cùng một người bạn về việc cô đã xem một cuốn băng kì lạ. Phân cảnh này khiến tôi rất phấn khích vì nghĩ rằng Yuko đóng vai chính nhưng hóa ra lại không phải, nàng đã chết ngay sau đó. Việc này là do tôi bị nhầm lẫn thông tin, không hiểu sao tôi luôn có cảm giác Yuko đóng vai chính trong phim này. Nhưng Ring là một trong những phim đầu tiên nàng đóng, khi ấy nàng chỉ mới 18 tuổi, tôi được nhìn thấy khuôn mặt nàng thời còn trẻ, nàng thật đáng yêu. Tuy nhiên, sự tiếc nuối của tôi cũng không kéo dài bởi ngay sau đó là sự xuất hiện của Reiko – nhân vật chính trong phim do Matsushima Nanako thủ diễn. Lần đầu tiên nhìn khuôn mặt nàng trên khung hình tôi đã ngỡ ngàng bởi nàng quá đẹp. Tôi tự nhủ tại sao mình có thể không biết đến một diễn viên Nhật xinh đẹp như thế này? Sau khi xem xong Ring, tôi đã tìm kiếm thông tin và biết được hóa ra nàng là diễn viên chính trong Kaseifu no Mita – một trong những phim truyền hình có rating cao nhất ở Nhật với tập cuối đạt mốc rating đến 40%. Trong Ring, đôi lúc Nanako diễn hơi cường điệu ở một số đoạn như sợ hãi hay lo lắng cho Yoichi. Tuy vậy, xét trên mặt bằng chung của phim thì nàng diễn khá ổn.

Bây giờ, tôi sẽ bàn đến điều khiến tôi bất ngờ nhất trong Ring. Đó chính là Hiroyuki Sanada, anh thủ vai Ryuji – chồng cũ của Reiko trong Ring. Hiroyuki không phải là gương mặt xa lạ với tôi. Trước Ring, tôi đã xem những phim anh đóng như: 47 Ronin, The Wolverine, Speed Racer… Đó là những vai diễn của anh sau Ring và tôi đã không có nhiều ấn tượng với anh từ những phim này. Chính vì thế, khi xem Ring – phim anh đóng nhiều năm trước đó, tôi cảm thấy rất bất ngờ với diễn xuất và sắc thái anh đã tạo ra cho nhân vật. Chưa bao giờ, tôi lại thích một nhân vật nam trong phim đến thế kể từ sau nhân vật Sakutaro do Kusanagi Tsuyoshi thủ diễn trong 1778 Stories of Me And My Wife. Nhân vật Ryuji trong Ring do Hiroyuki diễn toát ra thần thái điềm đạm, bình tĩnh, ít nói nhưng chân thành và đáng tin cậy. Lần đầu tiên khi anh xuất hiện, tôi đã nghĩ sao anh có vẻ lạnh nhạt với vợ cũ như thế, anh nghe chuyện của Reiko với thái độ bề ngoài dường như thờ ơ. Thế nhưng, anh lẳng lặng xem hết cuộn băng nguyền rủa đó, anh bảo Reiko chép ra một bản để mình tự nghiên cứu, anh xem thật kĩ cuộn băng ở nhà, trả đi trả lại những đoạn cần lưu ý, bình tĩnh phân tích giọng nói mang ngữ âm địa phương và những chữ Hán hiện trên màn hình đúng như phong cách một giáo viên toán học. Anh luôn có mặt lúc Reiko cần đến, anh lúc nào cũng mang lại cho tôi cảm giác an toàn, vững chãi. Tình yêu của anh là như thế. Không nói nhiều, chỉ lẳng lặng hành động. Trong Ring, có hai cảnh anh làm tôi xao xuyến: cảnh anh ngồi trên thuyền với Reiko, khi cô hoảng sợ, anh đã ôm cô vào lòng; cảnh anh không hề sợ hãi, bình tĩnh trèo xuống giếng để tát cạn nước, tìm xác của Sadako, khi anh thấy Reiko có dấu hiệu mệt và cô ngất xỉu, anh đã động viên cô, nói cô phải nghĩ đến Yoichi. Tôi đã suy nghĩ một người đàn ông tuyệt vời như thế tại sao Reiko lại li dị? Nhưng rồi, tôi không khó khăn lắm để tìm ra câu trả lời. Tôi nghĩ rằng có lẽ nguyên nhân là do năng lực đặc biệt anh sở hữu và chính sự trầm tĩnh, ít nói của anh khiến Reiko đôi khi không hiểu được anh đang nghĩ gì, cô khổ sở vì không thể cảm nhận tình yêu của anh một cách rõ ràng. Có lẽ là như thế. Tôi đã rất mong cùng với việc tìm hiểu về Sadako và cách phá giải lời nguyền, Ring sẽ phần nào hé lộ sâu hơn về mối quan hệ giữa Ryuji và Reiko. Nhưng cuối cùng, phim không nói rõ nguyên nhân họ li dị cũng như họ đã yêu nhau như thế nào. Tuy vậy, với bấy nhiêu việc mà Ryuji làm cho Reiko, thậm chí đến cuối cùng việc anh hi sinh vì cô đã đủ khiến tôi cảm nhận tình yêu của anh, khiến tôi thấy rằng Ring không chỉ là một phim kinh dị, Ring còn có một chủ đề nữa là tình yêu – điều tôi đã không cảm nhận được khi xem bản The Ring của Mĩ.

Tôi luôn hi vọng rằng sau khi đã cùng nhau vượt qua một chuyện kinh khủng như thế, Ryuji và Reiko sẽ quay lại với nhau. Thế nhưng, cái chết của anh đã chấm dứt tất cả. Thậm chí trước khi anh chết, tôi đã biết được hai người không thể quay lại với nhau qua chi tiết anh nhìn tấm bảng ghi bài giải toán học mà cô học trò đã cố tình sửa sai rồi mỉm cười và sửa lại cho đúng. Dường như trong khoảng thời gian anh li dị với Reiko, anh đã nảy sinh mối quan hệ với người học trò ấy. Khi anh chết, người học trò khóc rất nhiều. Tôi không giận anh vì đã tiến thêm một bước bởi anh là người quá cô độc, anh thậm chí còn bị chính con trai của mình lẩn tránh. Chỉ là, tôi buồn một chút vì cuộc sống vẫn luôn cứ tiếp diễn. Nhưng Ryuji không bỏ đi hoàn toàn. Anh vẫn ở bên Reiko. Anh tiếp tục soi sáng vấn đề nàng hoang mang ngay cả khi đã qua đời.

Ring không chỉ có tình cảm giữa vợ và chồng, giữa mẹ và con, phim còn có tình người. Phân cảnh Reiko xuống giếng tìm xác Sadako trong tuyệt vọng để rồi khi phát hiện ra mái tóc và bộ xương khô, cô đã khóc rất nhiều. Cảnh cận quay bộ xương khô của Sadako với dòng nước chảy ra từ trong hốc mắt khi ấy đã khiến tôi thấy buồn thương cho Sadako nhiều hơn là giận dữ. Cái ác của Sadako là cái ác có lí do. Chính cha ruột của cô đã giết cô, bỏ mặc cô đến chết ở giếng sâu hoang lạnh này. Không một ai phát hiện ra và cứu cô. Cô đã chết dần chết mòn dưới giếng. Ta làm sao có thể trách cô được khi cô đem lòng thù ghét loài người, muốn giết càng nhiều người càng tốt? Những dòng nước chảy ra từ hốc mắt ấy như thể Sadako đang khóc. Và Reiko đã ôm cô vào lòng. Như một người mẹ. Như một người bạn. Như một người muốn cứu chuộc lại lỗi lầm của con người. Tôi đã cảm nhận được sự ấm áp ở phân cảnh đó. Nhưng Sadako không cảm nhận được. Bấy nhiêu đó không đủ để nguôi đi lòng thù hận trong cô. Cô vẫn tiếp tục giết người, tội ác vẫn tiếp tục diễn ra. Cảnh cuối phim Ring như một sự thỏa hiệp của Reiko trước cái ác để cứu con mình khiến thông điệp phim càng trở nên mạnh mẽ hơn. Đôi khi, chúng ta sẵn sàng phạm tội ác vì nghĩ rằng mình có lí do chính đáng. Và cái ác đã cứ tiếp diễn rồi nhân rộng lên theo cách như thế.

Ở đoạn đầu của phim, Ring liên tục đánh lừa khán giả về nhân vật chính thực sự. Ngay từ những phân cảnh đầu tiên, người xem dễ có cảm giác Tomoko là nhân vật chính, cô sẽ tự mình hóa giải lời nguyền. Nhưng rồi, cô chết ngay sau khi vừa xuất hiện vài phút. Và Reiko xuất hiện. Reiko thực sự là nhân vật chính của phim nhưng sau đó nàng lại nhờ đến sự giúp đỡ của Ryuji. Kể từ khi Ryuji xuất hiện, ta lại có cảm giác anh mới là nhân vật chính vì Reiko khá thụ động, cô hoàn toàn dựa dẫm vào anh. Nhưng ở những phân đoạn sau cùng, Reiko lại là người chủ động/hay bị buộc phải chủ động để giải quyết vấn đề. Như vậy, cô quả thực là nhân vật chính. Tuy nhiên, tôi vẫn cứ có cảm giác lẽ ra Ryuji mới là nhân vật chính.

Ring của Nakata

Điều khiến tôi không sợ Ring của Nhật bằng The Ring của Mĩ là phiên bản của Nhật không cố gắng dọa ma khán giả chỉ vào ban đêm. Thông thường, một phim kinh dị sẽ tập trung thời lượng vào ban đêm – thời điểm được cho rằng linh hồn ma quỷ hoạt động nhiều nhất để kể chuyện, tạo sự sợ hãi cho khán giả. Những phim kinh dị mà tôi đã xem có thời lượng nghiêng hẳn về ban đêm chiếm đến mức khoảng 80%, trong khi những cảnh ban ngày có lẽ chỉ vào khoảng 20%. Nhưng Ring thì không như thế. Thời gian câu chuyện diễn ra trong Ring dường như chia đều cho cả ngày và đêm. Ring không khiến người xem hoảng sợ bằng cách cho Sadako thoắt ẩn thoắt hiện để dọa ma trong bóng tối, thậm chí cảnh gây sợ hãi quan trọng nhất của Ring còn diễn ra vào ban ngày với ánh nắng chói chang hắt bên ngoài khung cửa sổ. Ngược lại, Ring chủ yếu dùng thủ pháp time bomb để tạo cảm giác hồi hộp cho khán giả với những mốc thời điểm đếm ngược mà Reiko sẽ chết, Ryuji sẽ chết, Yoichi sẽ chết. Làm phim kinh dị nhưng lại không lạm dụng đến máu me, bóng tối, những cảnh gây sợ hãi kinh điển – tôi cho rằng đây là những điểm nổi bật đáng khen của đạo diễn Hideo Nakata. Ring dưới bàn tay của Nakata giống như phim trinh thám có pha yếu tố tình cảm, siêu nhiên huyền bí nhiều hơn là kinh dị thuần túy. Tôi rất thích cách Nakata xử lí cảnh Reiko ở dưới giếng. Tôi nhớ rằng trong phiên bản Mĩ, đạo diễn Gore Verbinski đã cố xử lí cảnh này theo hướng ghê rợn hơn và những đoạn hồi tưởng trước đó về cuộc đời Sadako thì cũng đầy cảnh máu me. Nhưng Nakata không xử lí như thế. Cái kinh sợ của Ring sạch sẽ và gợn lạnh. Chính vì vậy, dù Ring của Nakata không khiến tôi sợ bằng The Ring của Verbinski nhưng tôi lại thích phiên bản của Nakata hơn.

Điểm đánh giá: 7.5/10

Hết.

Kodaki


Có thể bạn sẽ thích?




Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Phân loại 22 kiểu độc giả thường gặp: Bạn thuộc kiểu nào? (phần 1)

Càng nhiều cuốn sách tồn tại, thì càng có rất kiểu yêu sách (hoặc thậm chí là ghét sách) được bộc lộ từ phía độc giả. Bạn sẽ thuộc kiểu nào?

Published

on

WHAT KIND OF BOOK READER ARE YOU? A DIAGNOSTICS GUIDE
Jen Doll

Tạp chí The New Yorker đã đúc kết ra một loạt những kiểu mẫu độc giả, trong đó Mark O’Connell đã thú nhận thói quen đọc sách có phần ngẫu hứng của mình: Anh không bao giờ đọc hết cuốn sách; anh là “một người đọc lang chạ”, một kẻ thường bỏ dở sách giữa chừng. “Lý do tôi không thể đọc hết một cuốn sách không phải vì tôi lười đọc sách, mà ngược lại, tôi rất rất thích đọc sách. Tôi không thể nói không với sách. Giả sử tôi đang đọc một cuốn tiểu thuyết mình thích. Rồi tôi đi vào cửa hàng sách và bắt gặp một chủ đề thu hút, thế là tôi mua cuốn sách ấy. Tôi bắt đầu đọc cuốn sách mới trên chuyến xe bus về nhà tối hôm đó, và đó là khoảnh khắc cuộc tình với cuốn sách đầu tiên đi vào dĩ vãng. Tôi chắc chắn rằng mình đã dồn hết tâm trí cho mối quan hệ với cuốn sách mà tôi đang đọc, nhưng tôi cũng không thể ngăn cản bản thân theo đuổi một niềm vui mới bất chợt hiện lên trong đầu. Có lẽ đó chỉ là lời bao biện cho việc thừa nhận bản thân là một kẻ đọc lang chạ, kẻ luôn khao khát mọi thứ gói gọn trong bìa sách đầy bụi.”

Càng nhiều cuốn sách tồn tại, thì càng có rất kiểu yêu sách (hoặc thậm chí là ghét sách) được bộc lộ từ phía độc giả. Bạn sẽ thuộc kiểu nào?

1. Kiểu độc giả cau có.

Ôi, bạn. Bạn cứ giả vờ là một tay độc giả cộc cằn khó tánh, nhưng thật ra bạn đang đọc ngấu nghiến cuốn sách đó, chỉ là theo một cách khác biệt mà thôi. Bạn thích cuốn sách đó nhiều như bạn ghét nó vậy, có khi thích lại chiếm phần hơn. Rồi bạn phàn nàn rằng tác giả không thể ghép hai câu lại với nhau một cách tử tế hay đoạn giữa cuốn sách đừng nên lan man như vậy hay nút thắt câu chuyện thật nhạt nhẽo? Một con voi ở màn 3? Mấy nhân vật này được khắc họa tệ hại đến nực cười! Thế này mà cũng gọi là kết luận? Ma cà rồng, thật sao? Nếu bạn là một độc giả cau có, bạn sẽ đọc ngấu nghiến đoạn bạn ghét cho đến từng chữ cuối cùng, và ắt hẳn bạn sẽ gập cuốn sách đó lại rồi ném bay nó đi với cảm giác ngập tràn thỏa mãn. Có lẽ bản thân bạn cũng là một tiểu thuyết gia nhiều tham vọng nhưng cũng đầy bất mãn.

Gợi ý cho bạn: Chạng vạng; Năm mươi sắc thái; hay bất cứ đứa con tinh thần mới nhất của những tiểu thuyết gia nổi tiếng dính liền với những lời quảng cáo bị thổi phồng.

2. Kiểu độc giả bài bản.

Chậm rãi và từ tốn chiến thắng cuộc đua, bạn đọc thân mến. Bạn sẽ là con rùa, đối nghịch với con thỏ - là kiểu độc giả ngẫu hứng thường bị phân tâm giữa chừng. Khi bạn đã mua một cuốn sách, bạn sẽ đọc nó. Bạn mua cuốn khác, bạn đọc nó. Hoặc bạn mượn một cuốn sách từ thư viện. Bạn đọc nó, rồi bạn mang trả, và mượn một cuốn khác mà bạn sẽ đọc. Bạn có thể không nhớ mình bắt đầu từ đâu, cuốn sách đầu tiên như thế nào, và bạn cũng không biết khi nào mình sẽ dừng lại. Nhưng quan trọng là, bạn sẽ hoàn thành từng cuốn sách một, bài bản và hợp lý, cho tận tới lúc đọc xong. Có thể bạn đã từng bỏ dở một cuốn sách, nhưng chỉ khi có lý do chính đáng; tuy vậy việc này vẫn khiến bạn có cảm giác rất không thoải mái, nên đâu đó bạn sẽ trở lại đọc cho xong. Bạn rất giỏi giải đố, và là người đáng tin cậy nhất trong số mọi người xung quanh.

Gợi ý cho bạn: Không có gợi ý nào hết, cuốn nào rồi bạn cũng sẽ đọc xong thôi.

3. Kiểu độc giả phá hoại.

Có phải nhà bạn rải đầy những cuốn sách chỗ này, chỗ kia, các trang sách thì bị lật tung, bìa sách thì gập lại, gáy sách thì gãy đôi, các phần của cuốn sách bị bung ra hai bên? Bạn là một kẻ tàn phá sách, nhưng bạn cũng yêu sách nhiều như vậy. Nhân vật phản ánh linh hồn của bạn là Lennie trong Của chuột và người. Bạn chỉ muốn ôm lấy cuốn sách, siết chặt lấy chúng, bạn yêu sách vô cùng và thực sự không nhận ra mình đang làm tổn thương cuốn sách. Và rồi bạn có một cuốn sách bìa mềm bị bong ra một mảng lớn, hay một ấn bản gốc bị nhúng nước trong bồn tắm. Bạn mang cuốn sách đi phơi nắng và các trang sách bị phai mờ không còn gì nữa. Nhưng bạn vẫn giữ lấy chúng, bởi vì đó là sách - thứ mà bạn yêu quý vô cùng.

Gợi ý cho bạn: Cuốn nào cũng được, miễn là bạn mua một chiếc Kindle.

4. Kiểu độc giả dồn nén[1] loại 1.

Bạn chắc chắn là một người yêu sách, và khi bạn bước vào một cửa hàng sách hay bất cứ nơi nào có sách, bạn sẽ không thể kiềm chế nổi mình và sẽ mua một hay mua thật nhiều. Khi bạn về tới nhà, bạn sẽ để chúng sang một bên, thường rất cẩn thận, như thể chúng là vật phẩm nghệ thuật; bạn trưng bày chúng trên giá sách hay đặt chúng ở cạnh giường ngủ, ngay trong tầm mắt bạn mỗi khi bạn quay sang nhìn. Nhưng bạn thật sự rất bận rộn, và một ngày, một tuần hay một tháng trôi qua trước khi bạn thực sự lật mở một trong những cuốn sách đó ra. Không phải bạn thiếu cố gắng! Khi bạn cuối cùng cũng chạm vào cuốn sách, bạn sẽ vô cùng phấn khích bởi tất cả những kiến thức, những tận cùng cảm xúc, sự hài hước và chất lượng văn chương tồn tại trong cuốn sách sẽ được bạn hoàn toàn hiểu rõ, và bạn sẽ cảm thấy ngạc nhiên khi phải đợi quá lâu để mở nó ra.

Gợi ý cho bạn: Những người theo chủ nghĩa bất toàn của Tom Rachman, Cô dâu công chúa của William Goldman, Lolita của Nabokov, ‎Anne tóc đỏ dưới Chái nhà xanh của Lucy Maud Montgomery.

5. Kiểu độc giả dồn nén loại 2.

Bạn không phải là người yêu sách. Bạn mua sách chỉ để khoe khoang. Nếu bạn là người giàu có, bạn có cả một thư viện ốp gỗ gụ cho mục đích này. Vì bạn không muốn lãng phí thời gian cho sách, nên chúng tôi sẽ không lãng phí thời gian thảo luận về bạn, nhưng nếu bạn cầm một cuốn sách lên đọc và yêu thích chúng, bạn có thể coi như mình đã khỏi bệnh.

Gợi ý cho bạn: Gatsby vĩ đại, Kiêu hãnh và định kiến, Anh chàng Hobbit, Cuốn theo chiều gió, Nếp gấp thời gianBiên niên sử xứ Narnia.

6. Kiểu nghiện sách thuần túy.

Hơn cả việc đọc, bạn yêu những cuốn sách của mình. Những cuốn sách cũ, mùi hương của chúng, những trang giấy ố vàng đầy vết gấp; những cuốn mới, thơm phức, sống động khi bạn lướt tay qua một chồng sách ở hiệu sách. Bạn thích những cuốn sách rao bán trên đường phố nhiều như những ấn phẩm đầu tiên có chữ ký; bạn thích sê ri “Hiệu thuốc” bìa mềm, bạn thích những cuốn bìa cứng mới được ra mắt, bạn thích tất cả. Đơn giản, bạn yêu sách. Với bạn, sách là sự hiện diện của cái đẹp, và bạn sẽ không bao giờ làm tổn thương chúng với bất kỳ giá nào.

Gợi ý cho bạn: Bất cứ gì bạn có thể chạm tay vào. Ôi Chúa ơi, nó thật tuyệt phải không nào?

7. Kẻ ghét đọc.

Bạn là phiên bản sách của những người thường tuyên bố “tôi không bao giờ xem tivi! Nhà tôi còn chẳng có tivi!” Bạn không bao giờ đọc sách, vì bạn thấy chúng dài lê thê. Bạn coi một bài viết trên blog cũng là quá dài, và luôn viết các bình luận có nội dung “TLDR - Dài quá, không đọc” để thể hiện điều gì đó ngắn gọn mà vẫn có ý nghĩa. Thật không may, bạn là một quý ngài hay một quý bà đã cự tuyệt quá nhiều, và bạn có nỗi bất an sâu sắc với việc đọc sách dẫn tới sự vô vị khi bạn nhìn vào một cuốn sách. Cầm lấy một cuốn sách – một cuốn ngắn, bắt đầu từ ý nhỏ - và mở nó ra, rồi để cho mắt bạn được dừng lại ở đó trong một vài khoảnh khắc yên tĩnh. Bạn sẽ thấy bản thân mình thay đổi, bởi vì cuộc sống mà không đọc sách là một cuộc sống buồn tẻ.

Gợi ý cho bạn: Để bắt đầu, hãy thử những cuốn truyện tranh ngắn, tiểu thuyết hình ảnh, và truyện tranh liên quan đến những chủ đề mà bình thường bạn vẫn quan tâm trên tivi.

8. Kiểu độc giả bất chấp.

Bạn là một người trưởng thành nhưng thích đọc sách dành cho người trẻ tuổi[2] hay sách thiếu nhi, hoặc bạn là một đứa trẻ thích đọc sách cho người trưởng thành. Cuối cùng cũng có một vị trí dành cho bạn trong xã hội. Sự tồn tại của bạn được thừa nhận sau nhiều năm, bạn không còn cảm thấy xấu hổ vì thói quen đọc sách lạ đời của mình. Thay vào đó, bạn đắm mình trong sự săn đuổi những trang blog về sách và cảm thấy như một phần của biệt đội tiên phong. Bạn không còn bị kiểm soát bởi những đề mục, bạn là một nhà tư tưởng tự do. Khi bạn còn học tiểu học, một thủ thư nói với bạn rằng cuốn sách đó “quá già” với bạn. Bạn đọc nó bất chấp và không có chuyện bạn dừng lại.

Gợi ý cho bạn: Với trẻ em, các tác giả Dickens, Fitzgerald, Salinger, Vonnegut, Harper Lee. Với người lớn, các tác giả Collins, Rowling, Alexie, Chbosky, Lowry.

9. Kiểu độc giả đa-zi-năng.

Đây là một cách ví von thú vị khi thú nhận mình là một độc giả ngẫu hứng; nói bạn không đọc hết cuốn sách là sai rồi. Thay vào đó, bạn sở hữu phong cách đọc sách đầy tính híp-pi hoang dã, yêu thích không ràng buộc hoặc điều gì đó tương tự. Bạn có thể bắt đầu một ngày mới với vài trang của tác giả này, sau đó đọc một chủ đề hoàn toàn khác trên tàu điện ngầm; rồi khi bạn đi làm về, bạn lại đọc một cuốn khác. Lúc bạn chuẩn bị lên giường đi ngủ, tương tự, bạn lại chọn một cuốn mới, và cứ như vậy, khi thống kê chỗ sách bạn đọc, bạn sẽ thấy bản thân có thể làm được nhiều việc[3] trong cùng một lúc. Có bao giờ bạn nhầm lẫn giữa các nhân vật hay các cú twist? Bạn có chú ý nhiều hơn tới một số cuốn sách không? Có thể. Vấn đề là, bạn không sẵn sàng để cam kết với chỉ một cuốn sách, nhưng bạn vẫn có thể xuất sắc “cưa cẩm” tất cả các cuốn sách bạn đọc.

Gợi ý cho bạn: Tuyển tập truyện ngắn và bộ sưu tập các tiểu luận, tiểu thuyết.

10. Kiểu độc giả mơ ngủ.

Bạn có cảm thấy thời gian duy nhất để đọc sách là trước khi đi ngủ? Bạn mang cuốn sách lên giường cùng bạn và nằm thật thoải mái, cuốn sách trông thật quyến rũ, nhưng bạn lại chẳng thể mở mắt ra được, và rồi kết thúc câu chuyện, bạn thức dậy lúc 3 giờ sáng với cuốn sách úp lên mặt và bóng đèn thì chưa tắt? Đừng kể với ai nhé; nếu bạn may mắn, sẽ chẳng có ai ở đó mà chứng kiến sự ngại ngùng của bạn, cứu rỗi những nhân vật trong sách suýt chút nữa đã trở thành bạn thân của bạn.

Gợi ý cho bạn: Đọc bất cứ gì bạn thích, chỉ là hãy ngồi thẳng trên ghế – trừ khi bạn lại thích ngủ với cuốn sách úp trên mặt.

-Còn tiếp-

Chú thích:

  1. Delayed onset – Ý nói sự trì hoãn trước khi bắt đầu làm gì đó, nhưng khi đã làm thì rất phấn khích, mãnh liệt.
  2. Y.A. – Young Adult
  3. Nguyên tác Irons in the fire – Thành ngữ, chỉ người có thể làm tốt nhiều việc trong cùng một lúc.

Bún Cứng dịch.

Bài gốc được thực hiện bởi Jen Doll, đăng tại The Atlantic.
Ảnh đầu bài: Fragonard, The Reader

*

Muôn kiểu đọc sách




Đọc bài viết

Trà chiều

Đọc lang chạ

Published

on

Trong bữa ăn trưa khoảng một tháng trước, một người bạn hỏi xem gần đây tôi có đọc cuốn sách hay nào không. Sau một thoáng cân nhắc, tôi đã hào hứng quảng bá cho cuốn tiểu thuyết Rời khỏi nhà ga Atocha của Ben Lerner. Anh bạn của tôi ưng thuận và hứa sẽ tìm đọc thử. “Tôi sẽ cho cậu mượn cuốn của tôi,” tôi bảo, “Nhưng mà tôi chưa đọc xong cuốn đó. Thực ra một vài tuần trước, tôi đã ngừng đọc nên chỉ mới xong được khoảng hai phần ba. Tôi nghĩ mình nên quay lại đọc tiếp.” Anh bạn tôi nheo mắt lại, nhìn tôi đầy hoài nghi. Chắc anh cảm thấy khó hiểu lắm. Nếu đó là một cuốn sách hay và tương đối ngắn (chỉ có 180 trang), sao tôi lại bỏ dở chứ? Một câu hỏi tuyệt vời, có khi là vô cùng cần thiết, nhưng tôi không có lấy một câu trả lời. Bỏ dở sách là một thói quen của tôi, và là một thói quen mà càng ngày tôi càng không thể tự mình dừng lại. Khi tôi đọc một cuốn sách - được khoảng một nửa cuốn - và rồi, ngay cả khi tôi thích nó, tôi vẫn bỏ nó xuống để ưu tiên làm một việc gì đó khác. Anh bạn tôi lắc đầu ngán ngẩm, với chút gì đó thất vọng, rồi lại hướng sự chú ý tới món burrito.

Thói quen đọc sách này đã được tôi tự nhận ra từ vài năm trước, nhưng đây là lần đầu tiên tôi thú nhận nó với bất kỳ ai. Tôi lo lắng rằng biết đâu đây là triệu chứng của một số thiếu hụt nhân cách nghiêm trọng hoặc là một kiểu suy nhược trí tuệ trầm trọng. Trên chiếc bàn cạnh giường ngủ, có cả một chồng sách bìa mềm đặt bấp bênh đang nhìn tôi và chế giễu cái tính lăng nhăng trong việc đọc sách của tôi. Lý do tôi không thể đọc hết một cuốn sách không phải vì tôi lười đọc sách, mà ngược lại, tôi thích đọc sách rất rất nhiều. Tôi không thể nói không với sách. Giả sử tôi đang đọc một cuốn tiểu thuyết và hoàn toàn yêu thích nó. Rồi tôi đi vào cửa hàng sách và bắt gặp một chủ đề thu hút, thế là tôi mua cuốn sách ấy. Tôi bắt đầu đọc cuốn sách mới trên chuyến xe bus về nhà tối hôm đó, và đó là khoảnh khắc cuộc tình với cuốn sách đầu tiên đi vào dĩ vãng. Tôi chắc chắn rằng mình đã dồn hết tâm trí cho mối quan hệ với cuốn sách mà tôi đang đọc, nhưng tôi cũng không thể ngăn bản thân theo đuổi bất kỳ một niềm vui mới nào bất chợt hiện lên trong đầu. Có lẽ đó chỉ là lời bao biện cho việc thừa nhận bản thân là một kẻ đọc sách lang chạ, kẻ luôn khao khát mọi thứ gói gọn trong bìa sách đầy bụi.

Ngày xưa tôi không hẳn như thế. Tôi đã từng đọc xong rất nhiều cuốn sách. Không phải vì tôi bị ràng buộc bởi nghĩa vụ hay cam kết; chỉ là lúc ấy tôi không thường bồn chồn như bây giờ. Nếu tôi thích một cuốn sách, tôi sẽ kiên trì đọc hết; nếu không, tôi sẽ đặt nó xuống. Tuy nhiên, cái ranh giới giữa đọc tiếp hay không ngày càng nhạt nhòa. Vấn đề này phần nào bắt nguồn từ một số nguyên nhân khá phổ biến hiện nay: hội chứng rối loạn giảm khả năng tập trung tác động đến khá nhiều người đang sử dụng Internet. Trong hơn một thập kỷ vừa qua, khá nhiều người trong số chúng ta đang tự đào tạo bản thân để nhìn vào văn bản (hoặc không nhìn vào chúng) bằng những cách khác nhau. Bạn kích chuột vào một đường link dẫn tới một bài viết mà ai đó đã đăng trên Twitter hay Facebook. Thi thoảng bài viết đó sẽ hấp dẫn bạn và khiến bạn đọc cho tới hết; thi thoảng thì không và bạn sẽ đi làm việc khác. Tôi nhận ra rằng ngay cả khi bài viết đó thực sự hấp dẫn tôi, tôi vẫn kích chuột vào chỗ khác khi bị phân tâm bởi một đường link hay video khác được nhúng trong bài, hay bởi một mẩu tin hấp dẫn và ngớ ngẩn trên một thanh công cụ lấp lánh nào đó. Tôi không bảo rằng Internet đã cướp mất khả năng tập trung của tôi khi cần, mà đúng hơn là việc dùng hàng giờ đồng hồ online mỗi ngày khiến cho tôi bình thường hóa việc thi thoảng lại thoáng mất tập trung vì một đoạn văn bản ngẫu nhiên mà tôi gặp trên mạng. Thi thoảng tôi vẫn sẽ đọc hết sách, nhưng đó là những cuốn sách mà tôi đã nhận lời viết bài bình, hoặc đang dạy trên lớp hoặc là liên quan tới vấn đề cần thiết cho câu chuyện tôi đang viết.

Vì vậy, cái sự lăng nhăng này làm tôi lo lắng; tôi vẫn thường cảm thấy mình là một độc giả tồi tệ, một độc giả không trung thành, một tay chơi văn học liều lĩnh. Nhưng tôi thường tự bào chữa cho mình rằng việc áp đặt một loại cấm đoán đọc sách mới trong khi chưa hoàn thành sách cũ sẽ làm cho tôi đọc ít sách hơn. Chắc chắn tôi sẽ trở thành một người đọc có phương pháp và có trật tự hơn, nhưng sẽ mất đi tính đa dạng và phong phú. Một đoạn xuất hiện trong cuốn sách Cuộc đời của Samuel Johnson của Boswell – một cuốn sách mà tôi chưa bao giờ đọc xong – trong đó Johnson đã đưa ra một lời nhận xét ngắn gọn thú vị về vấn đề nên hay không đọc hết một cuốn sách đang đọc dở. “Điều này”, anh ấy nói, “Thật là một lời khuyên kỳ lạ; nó giống như việc khi bạn muốn thân thiết với một ai đó, bạn sẽ phải kè kè với người ta suốt đời. Một cuốn sách có thể hay chẳng vì lý do gì cả, hoặc chỉ có một lượng giá trị nhất định; liệu chúng ta có nên đọc hết tất cả không?” Chà, khi ta diễn giải như vậy, thì câu trả lời là không. Hãy luôn cảm thấy yên tâm vì tiến sỹ Johnson luôn ở bên bạn, và anh ấy đã chỉ ra một điều tuyệt vời – rằng chẳng ai nên nghĩ rằng cuốn sách ta đang đọc sẽ tạo nên mối liên kết mật thiết với chính ta, thực tế nó chỉ như một quan hệ xã giao thông thường – tuy nhiên cái tính cách của tôi cũng chỉ được giải thích một nửa theo cách này.

Có một cuốn sách tôi mới đọc xong gần đây, khiến cho tôi suy ngẫm về cái nghịch lý khi mà một số tác phẩm văn học có thể làm cân bằng thói quen của tôi bằng cách hòa hợp với nó. Đó là cuốn Minima Moralia của nhà triết học người Đức Theodor Adorno. Adorno đã viết nên những văn bản quyến rũ kỳ lạ trong thời gian bị lưu đày tại Mỹ trong hai năm cuối Thế chiến thứ hai và trong thời gian trải qua những hậu quả mà nó để lại. Về cơ bản, cuốn sách là tập hợp một trăm năm mươi ba bài luận và các câu châm ngôn ngắn từ chủ đề này sang chủ đề khác, và mỗi nội dung sâu sắc đó hiếm khi kéo dài quá một trang rưỡi.

Minima Moralia giống như một tác phẩm văn học hiện đại thời kỳ cuối, tựa như lý luận văn hóa Mác-xít, và theo một cách hiển nhiên, sự rời rạc của nó phản ánh một thế giới bị tàn phá mà buộc Adorno phải trốn chạy. (Phụ đề cuốn sách, Những phản chiếu từ cuộc đời bị tàn phá, gợi ý một chút đến định nghĩa của Proust về văn học như một “tấm gương phản ánh cuộc sống”, nhưng có vẻ như chiếc gương giờ đây đã bị thu nhỏ lại thành một tập hợp lởm chởm của những mảnh vụn lấp lánh, phản chiếu càng sinh động một nền văn hóa bị tổn thương.) Cuốn sách bao gồm nhiều lĩnh vực rộng lớn từ văn hóa, chính trị tới triết học trong hai trăm bốn mươi bảy chương: phân tích tâm lý học, đôi dép lê, chủ nghĩa phát xít, tình yêu, nhà hàng và khách sạn, sáo ngữ, lòng tham vô độ của xã hội với văn hóa và sự xuất hiện tinh vi của những món đồ chơi thay thế cho các trò chơi dân gian. Không phải lúc nào cũng dễ đọc – một vài bài luận chỉ bắt đầu phát huy hết ý nghĩa của chúng sau lần đọc thứ hai hoặc ba – nhưng chúng vẫn chứa đầy những điều đáng kinh ngạc được viết dưới dạng văn xuôi đẹp tuyệt vời (hoàn toàn không theo những tiêu chuẩn văn bản triết học thế kỷ XX). Có những đoạn trong Minima Moralia mà tôi yêu thích vô cùng, tới mức tôi đọc đi đọc lại với hy vọng ghi nhớ từng câu chữ. Ví dụ như đoạn này, như đang thôi miên độc giả, khiến họ thấy hiện thực hóa một khái niệm mơ hồ trở nên đầy sống động, thực tế:

Tỉnh dậy giữa giấc mơ, dù tốt hay xấu, cũng khiến người ta cảm thấy thất vọng, bị lừa dối về những điều tuyệt vời nhất trong cuộc sống. Nhưng những giấc mơ đẹp, khiến người ta thỏa mãn, thật ra rất hiếm, theo lời của Schubert, như một giai điệu ngọt ngào. Ngay cả giấc mơ đẹp đẽ nhất cũng khác biệt hoàn toàn so với thực tế, chúng ta nên nhận thức rằng những gì nó mang lại chỉ là ảo ảnh. Đây chính là lý do tại sao những giấc mơ đó lại dễ bị tàn lụi.

Trong một số bài luận, Adorno quay lại xem xét một số nghi vấn nhất định để giải quyết chúng từ những góc độ mới, nhưng thường thì không, do ông ấy không muốn nấn ná quá lâu tại những gì đã viết. Đối với một độc giả lăng nhăng như tôi, vẻ đẹp từ một cuốn sách kiểu này là cách mà nó đung đưa theo nhịp điệu bất thường từ sự chú ý của tôi.

Gần như tôi thích những lóe sáng bất chợt trong suy nghĩ của Adorno và bố cục rõ ràng trong từng đoạn văn của ông ấy, tôi thích cái cảm giác căng thẳng tột độ khi suy đoán về những gì sẽ xảy ra tiếp theo trong cuốn sách này. Tới một đoạn được ông ấy nhấn mạnh, “Trong phân tích tâm lý, không có gì là sự thật ngoại trừ sự phóng đại,” và thậm chí trước khi bạn có đủ thời gian để chiêm nghiệm về tính đúng đắn của đánh giá đó, ông ấy sẽ nói tiếp với bạn, ngay trong câu tiếp theo, một vài điều chả có mấy liên quan nhưng cũng khiến người ta chú ý như thế: “Chúng ta có thể biết ngay được chúng ta có đang hạnh phúc hay không bằng cách lắng nghe âm thanh của gió. Nó đang cảnh báo một người đàn ông bất hạnh về ngôi nhà mỏng manh của anh ta, ám ảnh anh ta trong giấc ngủ mơ màng và những cơn ác mộng. Đối với một người đàn ông đang hạnh phúc, nó lại là sự an tâm với cảm giác được bảo vệ: tiếng gió hú dữ dội chỉ chứng minh rằng cơn gió đó không còn khiến anh ta sợ hãi nữa.”

Theo cách nào đó, có một bí ẩn đầy hấp dẫn dành cho tôi nằm trong một cuốn sách giống như Minima Moralia, khiến cho tôi duy trì sự chú ý trong khi một cuốn tiểu thuyết có cốt truyện tuyến tính hoặc câu chuyện phi hư cấu không thể. Nhưng theo một cách khác, điều đó có vẻ hoàn toàn hợp lý: Adorno liên tục bỏ dở một dòng trong sự mơ hồ để viết tiếp một dòng khác, và thế là, sự thay đổi thất thường ấy khiến cuốn sách trông như một mạng lưới đan xen, có thể tốt hơn hoặc tệ hơn, nhưng lại hoàn toàn ăn nhập với thói quen đọc sách của tôi. Tôi cũng đã có những trải nghiệm tương tự với những cuốn sách theo phong cách rời rạc như vậy — Quyển sách của nỗi băn khoăn của Fernando Pessoa, Lịch sử ngắn về sự điêu tàn của Emil Cioran, Dự án Arcades của Walter Benjamin (một mê cung rộng lớn mà tôi đã từng lang thang trong vài năm qua) — nhưng chính Minima Moralia mới hấp dẫn tôi theo một cách nghịch lý nhất. Và tôi không chắc mình sẽ yêu thích cuốn sách đến thế nếu không phải vì sự ngẫu hứng của tôi. Đó vẫn là một vấn đề tôi muốn xử lý, sự ngẫu hứng này — có lẽ bằng cách đọc một phần ba cuốn sách nào đó viết về cách kiểm soát sự chú ý trong thời đại mất tập trung — nhưng cũng có những khoảnh khắc thoáng qua mà sự ngẫu hứng này không phải là một điều quá tồi tệ.

Hết.

Bún Cứng dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Mark O’Connell, đăng tại The New Yorker.

*

Có thể bạn sẽ thích?




Đọc bài viết

Trà chiều

Địa phương chó

Hay những điều thú vị xung quanh chuyện ăn thịt chó.

Published

on

Người châu Âu có nhiều đồng cỏ nên chuyên về nuôi bò, cừu, và dê. Chó khỏe, chạy nhanh, khôn ngoan, có thể giúp chủ rất nhiều trong việc lùa đàn thú về trại hay săn tìm những con thú đi lạc. Do nhiều năm tiếp xúc với chủ nhân nên tình cảm thân thiết giữa thú và người phát triển. Thế nhưng, luật bảo vệ súc vật nói chung và chó nói riêng chưa chắc đã nhân từ, và người ăn thịt chó không hẳn là người dã man.

Từ năm 1986, người Đức cấm bán hay ăn thịt chó. Tuy nhiên, vào những năm có chiến tranh hay thiếu thốn, thịt chó lại được bán công khai. Từ năm 1898 cho đến năm 1925, The New York Times nhiều lần đăng tin dân Đức bán và ăn thịt chó. Những bài báo này làm tôi tự hỏi liệu đây có phải là một hình thức người Mỹ kỳ thị người Đức vì họ là phe đối nghịch với Hoa Kỳ. Năm 1933 cho đến năm 1938, đảng Đức quốc xã cho ban hành bộ luật bảo vệ thú vật soạn thảo rất quy mô. Bộ luật này bao gồm luật sát sanh theo phép Kosher, luật cấm săn bắn, luật chuyên chở thú vật từ nơi này đến nơi khác bằng xe hay tàu hỏa. Arnol Arluke và Boria Sax cho rằng Nazi soạn bộ luật này với âm mưu sẽ xem loài người như súc vật chứ không xem súc vật như con người1.

Ở Hoa Kỳ, chữ dog được dùng để chỉ sausage (thịt dồi, xúc xích). Vào năm 1845, người ta phát hiện trong thịt dồi có pha lẫn thịt chó, từ đó phát xuất chữ hot dog. Việc bắt trộm chó không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác, Nhật Bản và Hoa Kỳ chẳng hạn. Trong những năm người ta vẫn dùng phương pháp vivisection (mổ động vật có xương sống lúc đang sống để quan sát hoạt động nội tạng của động vật khi vẫn đang tiếp nhận tín hiệu từ não bộ), chó thường bị bắt trộm đem bán cho các phòng thí nghiệm. Năm 1891, ở tiểu bang Indiana, môn thuốc dùng để trị bệnh lao phổi là thịt chó.

Người ta có đủ thứ niềm tin để lý luận ăn thịt chó là cần thiết. Người Ba Lan dùng mỡ chó để trị bệnh. Người Trung Quốc tin là trong thịt chó có vị thuốc, mùa đông ăn thịt chó làm ấm người. Ngược lại, người Hàn Quốc tin rằng ăn thịt chó có thể điều tiết nhiệt độ trong người, hoặc giải nhiệt. Họ ăn thịt chó nhiều nhất vào ba ngày nóng nhất trong năm.

Đa số người Nam Hàn không ăn thịt chó, nhưng có một số ít người có quan niệm chọn món ăn là quyền tự do cá nhân. Năm 1984, họ cấm bán thịt chó nhưng không kiểm soát nghiêm ngặt ngoại trừ lúc tổ chức Thế Vận Hội ở Seoul. Tháng 03.2008, một nhóm người vận động đòi được quyền công khai bán thịt chó, mở nhà hàng thịt chó nhưng không được chấp thuận. Loại chó người Nam Hàn nuôi để ăn thịt là loại chó đặc biệt thuộc giống Nureongi hay Hwangu, không phải thú cưng.

Người miền Bắc Việt Nam ăn thịt chó nhiều hơn người miền Nam. Người ta tin rằng ăn thịt chó sẽ được cường dương và giải xui, nhất là vào dịp cuối năm và cuối tháng âm lịch. Một con chó độ 20 kí có thể bán được giá tương đương với một tháng lương trung bình của công nhân, vì thế chó ở Việt Nam thường hay bị trộm. Không có tài liệu để kiểm chứng cụ thể nhưng có tin rằng giới Công giáo thường hay ăn thịt chó nhất là vào dịp Giáng sinh. Tôi, người viết bài này, nghĩ rằng rất có thể đây là sự biến thể của nghi thức tế lễ từ thời xa xưa của người Celtic sống ở Anh đến Việt Nam theo các nhà truyền giáo. Người ta thường tế lễ bằng dê và cừu, nhưng sang đến Việt Nam thì dê và cừu biến thành nai đồng quê.

Do ảnh hưởng của Phật giáo, Thiền giáo, và Thần đạo, người Nhật không ăn thịt chó. Tuy nhiên, thịt chó rất phổ biến ở Nhật Bản mãi cho đến năm 675 sau Công nguyên, khi hoàng đế Temmu ra lệnh cấm ăn thịt chó từ tháng 4 cho đến tháng 9. Vị Hoàng đế này ra trận thường xuyên, khi đi đánh giặc ông thường mang theo con chó. Ông cho rằng ăn thịt chó sẽ mang sự xui xẻo đến cho ông.

Bạn đọc thích xem phim, đọc truyện thế nào cũng biết đến tác phẩm Hachiko, dựa trên câu chuyện có thật và đẹp như huyền thoại. Chủ của Hachiko là giáo sư dạy ở đại học Tokyo. Hằng ngày Hachiko theo chủ ra nhà ga Shibuya đưa ông đi làm và buổi chiều ra nhà ga đón ông về. Ông đột ngột qua đời trong lúc giảng bài (vì thế không về bằng tàu hỏa). Hachiko đợi chủ ở nhà ga hằng ngày cho đến khi qua đời, nhất định không rời nhà ga này dù vợ con của ông giáo sư tìm cách đưa chó về và dời chỗ ở. Phim này về sau được quay lại bởi đạo diễn Lasstrom và diễn viên là Richard Gere. Người ta ngưỡng mộ Hachiko đến độ đúc tượng đồng con chó này.

Tượng Hachiko - chú chó đợi chờ
Ảnh: japanistry.com

Phim làm tôi tưởng tượng tất cả đàn ông Nhật đều đẹp trai và yêu chó như Gere vì thế hơi ngỡ ngàng khi thấy người Nhật nhập cảng thịt chó nhiều hơn thịt bò. Sau khi người Nhật đầu hàng vào năm 1945, toàn nước Nhật chỉ còn lại 16 con chó giống Akita. Đây là loại chó săn, mõm ngắn, tai vểnh, lông dày, sống ở miền bắc của Nhật (nơi gọi là xứ tuyết), rất khôn ngoan và trung thành. Vào những năm chiến tranh khi thực phẩm khan hiếm, chính quyền và quân đội Nhật kêu gọi toàn dân bán chó và nộp chó để phục vụ trong chiến tranh. Để thuyết phục người dân, tượng chó Hachiko bị hạ xuống và đem giấu đi. Bộ da chó được dùng làm lớp lót bên trong áo khoác của quân phục. Ai có chó mà không chia sẻ thịt với láng giềng bị xem là ích kỷ. Trong thời gian này chó thường bị ăn trộm hay bắt cóc2.

Thông tin rằng có người ăn trộm một con chó hai lần để đem bán cho người ta giết lấy thịt khiến dân cư mạng bàn tán và chia thành hai phái, một bên đòi giết tên trộm, bên kia kêu lên dù gì cũng không thể lấy mạng người để trả thù cho chó. Chó có quý hơn mạng người hay không? Chó không biết nói nên mình không biết câu trả lời của nó. Giữa loài người, dù bạn đứng ở phía nào, nếu là một người có lòng nhân, trả lời câu hỏi này thế nào cũng có chút áy náy xót xa. Dĩ nhiên, tôi không đồng tình với chuyện giết người đòi mạng, nhưng trộm chó là một hành động sai lầm cần phải được xét xử bằng pháp luật. Sự giận dữ của đám đông đòi xử tử người trộm chó có thể là một cách biểu lộ là người dân không còn tin tưởng vào pháp luật của chính quyền đương nhiệm. Mức độ trừng phạt phải xứng đáng với tội phạm, nhưng như thế nào thì xứng đáng? Giá một con chó bằng một tháng lương, phạt tiền gấp đôi cộng thêm phí tổn tòa án. Mấy thằng trộm ấy làm gì có tiền mà phạt. Nhà tù ở đâu có nhiều đủ để chứa và nuôi cơm mấy tên trộm chó chứ. Ngay cả ở Hoa Kỳ, tội hành hạ súc vật cũng khó được xử lý theo đúng luật pháp vì không đủ tiền và nhân lực. Xử chuyện người còn không xuể ai hơi sức đâu mà quan tâm đến chuyện chó.

Tóm lại, không chỉ nước nghèo mới ăn thịt chó. Hàn Quốc và Nhật Bản là hai nước giàu mạnh về kỹ nghệ, và Nhật có truyền thống văn hóa lễ độ bậc nhất thế giới cũng tiêu thụ thịt chó. Năm 2008, Nhật nhập cảng 5 tấn thịt chó từ Trung Quốc trong khi chỉ mua vào 4,714 tấn thịt bò. Người Mỹ không ăn thịt chó nhưng không có quyền áp đặt lên các quốc gia khác quyền tự do ăn uống. Người Việt ăn thịt chó không vì người Hàn, người Nhật, hay người Trung ăn và cũng không ngừng ăn thịt chó bởi vì bắt chước người Tây phương. Cái ý tưởng nuôi chó như nuôi cừu dê heo bò lấy thịt ở Việt Nam sẽ là một ý tưởng hay, hoặc là một hình thức kinh doanh đắc lợi. Loài người quan niệm thú vật sinh ra là để phục vụ con người. Người ta giết gấu lấy lông lấy mật lấy tay, giết voi giết tê giác lấy ngà, giết trăn và cá sấu lấy da lấy thịt. Thú vật là một kỹ nghệ lớn, chẳng những nuôi sống mà có khi còn đưa loài người đến chỗ giàu có và đầy quyền lực. Ngay cả khi yêu thú vật người ta cũng vô tình hành hạ thú vật như nhốt chim trong lồng, thiến chó thiến mèo để đoạn sản, thậm chí có người còn thuê bác sĩ thú y rút móng mèo để khỏi cào phá nệm ghế nệm giường, giết chó hoang để tránh trường hợp chó bị bệnh điên và cắn người.

Sau khi ngâm cứu loạt bài về thịt chó này tôi cũng hiểu rõ tôi hơn. Nếu thật sự yêu thú vật thì người ta nên ăn chay. Tôi không ăn chay vì vẫn còn thích ăn thịt. Tôi chưa hề ăn thịt chó nên không biết thịt chó ngon như thế nào. Có được thử món chân lợn giả cầy nhưng không thấy hấp dẫn lắm. Không thể nào biết được trước khi lâm chung tôi lại không gào thét đòi ăn một miếng thịt chó giống như một nhân vật ni cô suốt đời ăn chay lại đòi nước mắm trước khi qua đời. Với tôi, một chàng trai ôm con chó nhỏ trên tay, hay cúi người rót nước vào cái đĩa cầm trên tay cho chó uống, thấy đáng mến hơn là nhìn thấy những người mặt đỏ lựng hô hào hò hét “dzô, dzô” trước đĩa thịt chó và mắm tôm. Nếu tôi đi ngang một cửa hàng thịt chó, gia vị thơm lừng, và tôi đang đói meo thì có thể tôi sẽ cầm lòng không đậu. Bạn đọc đến đây sẽ cười bảo rằng tôi là người ba phải, nhiều trang chữ chẳng đưa đến một kết luận nào, hay đứng hẳn về phía nào.

Thế viết bài này để làm gì? Để thỏa mãn tính tò mò, để biết vì sao người ta ăn hay không ăn thịt chó. Biết để làm gì. Chẳng làm gì cả. Biết thôi, bộ chẳng đủ hay sao?

Hết.

Nguyễn Thị Hải Hà

Chú thích:

  1. Theo Wikipedia.
  2. Sherrill, Martha, “Dog Man” – An Uncommon Life on a Farwaway Mountain, New York, The Penguin Press.
Đọc bài viết

Cafe sáng