Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Khát vọng đổi đời: Kết quả của tưởng tượng hay là dự báo tương lai

Đăng từ

on

Stefan Zweig – nhà văn nổi tiếng người Áo, từ trước đến nay luôn được biết đến là một tác gia có sự phân tích tâm lý nhân vật sâu sắc ở mảng truyện ngắn. Người ta biết nhiều đến ông qua hai tác phẩm tiêu biểu: 24 giờ trong đời người đàn bàBức thư của người đàn bà không quen; thế nhưng, không chỉ ở mảng truyện ngắn, với tiểu thuyết mặc cho một số lượng khiêm tốn (chỉ hai tác phẩm cho đến khi cơn bĩ cực trào đến) Stefan Zweig cũng kịp ghi tên mình vào danh sách những tác gia viết tiếng Đức có ảnh hưởng vô cùng lớn đến thế hệ người đọc, bên cạnh những Thomas Mann, Frank Kafka hay Thomas Bernhard,… Khát vọng đổi đời là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông, được xuất bản sau 40 năm từ khi cái chết ngỡ ngàng ập đến, nhưng dư âm của nó vẫn mãi còn đó, thâm nhập len lỏi vào từng ngóc ngách đời sống, trở thành những giá trị tuy không mới nhưng chưa bao giờ cũ.

Khát vọng đổi đời là một cuốn tiểu thuyết lạ, bởi nhẽ, nó được viết ngắt quãng hai phần. Phần đầu, cuộc đời chính của nhân vật Christina Hoflehner, như một vở kịch dang dở phê phán thế giới phù hoa, nơi mọi chân giá trị bị đảo ngược. Thế nhưng sau khi câu chuyện phôi thai thành hình, Stefan Zweig lại gác bút để đó, vì như ông chia sẻ trong những bức thư còn lại “tôi rơi vào một vực thẳm sâu hoắm không sao vượt qua nổi”. Và chính sự trỗi dậy của đế chế thứ 3 khi dáng hình Hitler bao trùm lên toàn thể châu Âu, đã như cú thúc vào trong tâm trí khiến cây bút lại một lần nữa phải được cầm lên. Phần sau, trong nỗi ngậm ngùi thế nhưng lại can đảm nhất, thật thà nhất và cũng đau đớn nhất; được ông viết sau khi đã lưu vong sang London. Ở đó Ferdinand được ông xây dựng như hình tượng chính mình: một con người đã mất tất cả: quê hương, xứ sở, nguồn gốc, tên tuổi, … Tựa Sylvia Path hay Szabo Magda khi dùng thế giới quan cá nhân để viết nên Quả chuông ác mộng hay Cánh cửa, Stefan Zweig ở đây cũng bằng một sự dũng cảm tự thân khoét sâu vào nỗi đau mình, hy sinh một phần thân thể để viết nên cái vết thương đã mưng mủ của rất nhiều người mà chỉ sau một đêm cơn bão thời cuộc đã quét sạch gọn ghẽ chính họ ra khỏi mảnh sân của mình.

Nửa đầu tiểu thuyết, ông tập trung viết về thói phù phiếm của những tên đạo đức giả hưởng lợi từ cuộc chiến. Được viết vào những năm 30 khi Thế chiến thứ nhất vừa mới đi qua, trong một khung cảnh nghèo nàn của Áo thời hậu chiến, có lẽ, đói nghèo là thứ tác động nhiều đến ông bên cạnh đất nước đang từ từ đứng dậy sau cơn suy kiệt. Ở đó, Christina Hoflehner sống vật vờ như được lập trình sẵn, sở hữu trong mình cơ may khi nhờ quan hệ của ông bác mà kiếm được việc làm ở bưu điện, tuy công việc nhàm chán nhưng ít ra mỗi tháng vẫn kiếm được vài siling để gom góp vào khoản tiền lo cho người mẹ nằm liệt giường. Thế nhưng, thứ công việc ấy cũng chật vật như chính bữa ăn ngày có ngày không ở vùng nông thôn hẻo lánh. Vật vờ như một cái bóng từ 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa, rồi từ 2 giờ trưa đến 6 giờ chiều; cuộc sống của cô vẫn cứ lặp đi lặp lại đều đều như thế. Cho đến một ngày, cô được một người họ hàng mời đến chơi như cách nối lại sợi dậy ruột rà từ lâu đã đứt, và cũng chính từ đây, cô được biết thế giới thực chất là như thế nào, đáng sống ra thể làm sao.

Ở khu nghỉ dưỡng trên núi cao thuộc vùng Thụy Sỹ ấy, Christina lần đầu tiên biết thế nào là đáng sống. Ở đó cô được gặp bè lũ những người làm giàu từ cuộc chiến: có người Mỹ giàu lên nhờ buôn vũ khí, có người Pháp bỗng dưng phất lên chỉ sau một đợt đầu cơ. Ở đó cô cũng chứng kiến những cuộc vũ hội hăng say, hay khoản tiền cá cược chỉ sau 10 phút là lấy được trong khi cô phải mài lưng 4 tháng trong chính vương quốc bé tí là bưu điện của mình. Christina cũng là con người, cô ào vào thế giới ấy nhanh chóng, tận hưởng từng giây từng phút những khoảnh khắc ấy, và bỏ quên đi con người của mình ở nước Áo xa xôi cách đấy 2 lần đổi tàu. Bằng những so sánh giữa hai thế giới tưởng như không giao nhau, Stefan Zweig một cách tài tình bóc trần cái nghèo của đất nước mình, đất nước của những con người thèm thuồng. Như những bi kịch trong Đỏ và đen hay Chỉ ngu ngơ mới biết cười, thói phù hoa ở đây cũng khiến con người ta thức tỉnh, và sự thức tỉnh ấy đã không đến muộn.

Không chỉ khắc họa thói đạo đức giả của những con người ngoại quốc, Stefan Zweig cũng đồng thời khéo léo phơi trần bộ mặt của những người-con-ưu-tú của đất nước mình, mà dì Clare của Christina là một ví dụ. Sợ quá khứ trác táng của mình lại một lần nữa được đào bới lên, con người ấy nhẫn tâm cắt đứt mọi mối quan hệ. Christina từ một bình minh thiên đường bị đẩy xuống bóng tối địa ngục, như thể: “Tâm hồn tan nát, nàng chỉ cảm thấy rằng người ta đã cướp đoạt mất của nàng một cái gì đó, rằng đang từ một cô gái hạnh phúc, được niềm vui chắp cánh nàng phải trở lại thành con sâu mù lòa bò trên mặt đất”. Cũng chính từ đó, nàng trở nên khinh bỉ cái thế giới giả tạo ấy, thế giới không thật ấy. Nhưng biết làm sao, khi đó lại là một sang chấn tâm lý quá lớn. Một lần nhìn thấy để rồi nhớ nhung cả đời, Christina mang theo giấc mộng vương giả ấy vào tận đời thực, và vì đã đứng trên bước ngưỡng vọng, đâm ra cô thấy thế giới này thật đáng chán và không còn gì để sống: “Sống làm gì khi sẽ phải chết dần, chết mòn, ngày này qua ngày khác, trong khi vẫn biết rằng còn có một thế giới khác, một thế giới thực sự, rằng trong con người nàng vẫn sống một con người khác và con người ấy đang chết ngạt vì ngộ độc bởi cái thế giới đã làm cho mê mẩn tâm thần ấy”.

Phần đầu của tiểu thuyết có lẽ được Stefan Zweig kết thúc tại đây, bởi nhẽ, có viết thêm một điều gì nữa thì đó cũng là cái hiện thực tàn khốc, cái thật thà tái tê, không sao thay đổi được. Và cũng có thể chỉ từ khi làn sóng phát xít nhen nhóm thao túng toàn bộ châu Âu, chính sự kiện ấy khiến ông phải tránh sang Anh, và cũng từ đây thai nghén một nhân vật mới, Ferdinand. Một cách dễ nhận ra, ông dùng Ferdinand như chính một cách viết về bản thân, về những nỗi đau và cơn sốt thế hệ giày xéo lên mình. Nếu Christina chỉ nhận thấy những mất mát về mặt vật chất, về những công bằng mặt ngoài không trùng khớp nhau, thì Ferdinand lại đi sâu vào ngọn nguồn, về khoảng thời gian thanh niên đã mất, cuộc chiến đã mãi mang đi. Ở đó Ferdinand như một người tình cách mạng, khơi nên những nỗi đọa đầy của thời cuộc. Một mặt anh chấp nhận vì đó là những hiển nhiên, nhưng nhen nhóm ở  đó vẫn mãi là những bất lực bản thân, bởi cứ mỗi cố gắng nhô mình lên trên mặt nước hoàn cảnh, thì thời cuộc lại như thứ hắc ín đen ngòm trói chặt bước chân, kéo mãi con người xuống vực thẳm buồn sâu.

“Trong khi anh đang ngủ thì đổng tiền lại mất giá, trong khi anh đang thay đôi giày há mõm bằng đôi guốc gỗ để chạy vội ra cửa hàng thì nắm giấy bạc đã chẳng còn giá trị gì nữa, lúc nào cũng thấy người ta chạy ngược chạy xuôi, nhưng hình như chẳng kịp làm một việc gì”. Đó là hình ảnh của xã hội đương thời, là cuộc sống của những thanh niên dành cả quãng đời sôi nổi để quăng mình vào Thế chiến để rồi đau xót nhận ra đổi lại họ chẳng được thứ gì. Họ ước mơ, rồi tan biến. Họ khao khát, rồi tuyệt vọng. Họ trồi lên, nhưng đạp đổ. Tất cả kéo con người ta duy nhất vào một con đường, chết, vì sống làm gì nữa khi không còn gì có thể cứu vãn, khi cứ phải sống vật vờ như những bóng ma đợi ngày hành quyết. Như câu buông xuôi đầy bất lực của Ferdinand, rằng: “Không đâu, chúng ta đã đầu thai nhầm thế kỷ rồi”.

Bằng cuộc gặp gỡ tình cờ ở thành Vien, Christina và Ferdinand như tìm thấy nhau trong cơn khốn khổ. Một người vì những ảo danh làm cho mê mải, một người vì những khắc nghiệt đâm ra khinh thường, cả hai người họ sáp vào với nhau như cơn an ủi bản thân, như một cách sống qua ngày đoạn tháng. Cũng kể từ đây, Stefan Zweig chuyển từ công kích riêng một tầng lớp, sang cả xã hội đầy những nhiễu nhương. Ở đó là bộ máy nhà nước quan liêu, là chế độ mới vô cùng thực dụng, là những con người chấp nhận đầu hàng số phận vô cùng đáng khinh. Trong khi Stefan Zweig hay Ferdinand mãi luôn tìm một con đường vùng vẫy; thì nhà nước ấy, xã hội ấy, những người ấy, lại như chiếc tàu lướt êm đi vào chỗ chết: “Cô thử nghe mà xem, họ cười hô hố vẻ rất hài lòng, nhưng họ chỉ là những chiếc máy đang nghỉ ngơi ngày chủ nhật, những kẻ nô lệ làm mướn, không, cô cứ thử nghe mà xem, tiếng cười của họ ướt đẫm mồ hôi, sặc mùi mỡ béo và hoàn toàn bất hạnh”.

Ở đó xã hội làm bần cùng con người ta, biến họ thành tầng lớp thoái hóa, chôn chặt chính những chân rết xuống đáy xã hội. Họ vạ vật kêu van nhưng vô ích. Có ích gì đâu khi bầu không khí trùm kín đất nước đang dần thối rữa, khi cơn mưa hóa chất rơi xuống làm cháy tan tành tâm tính của mỗi người họ. Ở đó, mỗi một phản ứng diễn ra hòa vào làn sóng của những thối rửa, bốc mùi và ám vào da thịt cá thể. Như bộ phim Parasite, mỗi một người họ đều mang trong mình thứ mùi nghèo khổ, thứ mùi đọa đầy mà có thay đổi quần áo, phục sức nước hoa hay tắm gội hàng giờ cũng không gột sạch được. Vì đó là mùi hương của đất nước, của đói nghèo, của tuyệt vọng, của ngã quỵ, của chết gục: “Phải, sự nghèo đói ấy toát ra từ căn phòng nằm dưới tầng hầm, cửa mở sân sau; toát ra từ bộ quần áo không được thay đổi thường xuyên. Cái mùi ấy không thể đánh tan đi được […] Không có cách nào có thể thoát ra được, cho dù nó có được che đậy bằng chiếc mũ mới, cho dù suốt ngày có đánh rang cũng vậy – cái mùi ấy vẫn cứ bốc ra từ dạ dày”.

Chỉa mũi dùi sang một nhà nước đã quá tàn tạ, ta thấy một giọng văn hào sảng của Thomas Bernhard trong những phê phán đầy mỉa mai của Stefan Zweig: “Nhưng, bạn thân mến ạ, ở nước Áo của chúng ta mọi con đường đều cong cả”. Và đứng trước những hoàn cảnh ấy, còn lại gì ngoài cái chết vì nỗi ham thích tự do? Đến cuối, cả 2 con người họ yêu nhau, tìm đến tự do, khát khao hạnh phúc, bằng một cách hết sức thơ mộng, khẩu súng và cyanua. Như vận cuộc đời của mình vào trong tiểu thuyết, đến phút cuối đời, Stefan Zweig và người bạn gái của mình cũng chọn cái tự do như thế trong một căn phòng ở Brazil. Nhưng khác ở đây, như Erich Maria Remaque viết trong Bóng ở thiên đường: “Nếu trong buổi tối ấy ở Brazil, khi Stefan Zweig và vợ ông cùng tự vẫn, họ có thể trút bầu tâm sự với ai đó dù chỉ qua điện thoại thì thảm họa đã không xảy ra. Nhưng Zweig đã rơi vào cảnh tứ cố vô thân nơi đất khách quê người”, Christina và Ferdinand vẫn còn một con đường khác. Họ lấy lại những gì đã mất, những gì đáng lẽ từng thuộc về mình, những gì là của mình, nhất định của mình. Stefan Zweig viết trong thế đối đầu giữa lý trí vả tình cảm, giữa hình dung thực và cái ảo tưởng. Thế nhưng, ông đã không đủ can đảm để lèo lái cuộc đời mình như nhân vật chính ông đã viết ra, hoặc, ông dùng chính cái chết ấy, như cách ẩn dụ cho cái kết của tiểu thuyết này. Nói gì chăng nữa, chính số phận ông và Khát vọng đổi đời có một thứ gì đó gắn bó chặt chẽ, ông quyết định cuốn tiểu thuyết này, hay ngược lại, nó quyết định ông? Khó mà biết được, nhưng chắc một điều, cả ông và tiểu thuyết này đều là nô lệ của chính thời cuộc đang mang trên lưng.

“Nhà nước đã chỉ cho chúng ta thấy rằng chỉ trong vòng hai tuần lễ, toàn bộ số tiền của dành dụm suốt ba đời của một gia đình có thể biến thành những tờ giấy lộn […]. Thậm chí nếu như anh có giết một người nào đó, thì thử hỏi ai đã đẩy anh đến hành động ấy, ai đã huấn luyện anh để làm việc ấy? [..] Nếu chúng ta bắt buộc phải lường gạt thì ai là người chúng ta phải chịu ơn vì cái nghệ thuật ấy? Chính nhà nước – đó chính là ông thầy của chúng ta”. Những triết lý sau rốt của Stefan Zweig như lời hồi đáp mạnh bạo quăng vào thời cuộc, tương tự như Gabriel Garcia Marquez một lần từng viết trong Ngài đại tá chờ thư: “Hãy nói cho tôi nghe: trong lúc ấy chúng ta ăn bằng cái gì?’ – Ngài đại tá phải trải qua bảy mươi nhăm năm của cuộc đời ngài từng phút một để đi tới cái thời khắc nghiệt ngã này. Ngài cảm thấy nghiệt ngã, lâng lâng, kiêu ngạo khi trả lời: ‘Cứt’ “. Dù khác biệt những vùng địa lý hay khác xa những hệ tư tưởng, cả Marquez và Stefan Zweig cuối cùng cũng đã nói ra đúng thứ chủ chốt của một vấn đề, và với Khát vọng đổi đời, nó không còn đơn thuần là một khát vọng, mà nó chỉ cho ta thấy khát vọng có thể hủy hoại con người ta dữ dội đến mức độ nào, nó dìm họ xuống, không thể trồi lên.

Hết.

minh.

viết bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Những bí mật về Lehman Brothers: Từ Bavaria tới Alabama, từ đỉnh cao tới vực thẳm

Đăng từ

on

Người đăng

Đã có thời những người đam mê nghệ thuật trình diễn tại Mỹ luôn cập nhật thông tin về những vở diễn mới, ngay cả khi họ không sống ở New York hay không đủ khả năng chi trả cho những tấm vé đắt đỏ. Thay vào đó, họ “xem” chúng thông qua những kịch bản được xuất bản thành sách1. Kịch bản vở “Cái chết của người bán hàng” của tác giả Arthur Miller2, xuất bản bởi Viking Press, được lựa chọn vào câu lạc bộ những cuốn sách của tháng; hay kịch bản “Ai sợ Virginia Woolf?” của Edward Albee3 cũng kiếm bộn tiền về cho Atheneum với cả hai bản bìa cứng và bìa mềm.

Khi các nhà hát lớn đóng cửa vào tháng Ba, những buổi công chiếu của những vở kịch tiềm năng bị hoãn vô thời hạn. Một số sẽ không bao giờ xuất hiện trở lại, hoặc sẽ không bao giờ trở lại với diện mạo quen thuộc với khán giả. Một trong số đó là vở diễn “Bộ ba Lehman” của nhà viết kịch người Ý Stefano Massini, một thiên sử thi hoành tráng về hành trình đầy thăng trầm của tập đoàn Lehman Brothers.

Massini bắt đầu viết kịch bản cho “Bộ ba tác phẩm về Lehman” (The Lehman Trilogy) vào năm 2008, ngay sau khi công ty phá sản một cách nhanh chóng như tro tàn của điếu xì gà, giữa sự sụp đổ của thị trường tín dụng thế chấp với đầy những khoản nợ xấu. Lần đầu tôi được chứng kiến những tấm ảnh chụp vở diễn tại New York, một người đàn ông trong bộ vest tối màu đang chỉ trỏ trong khối văn phòng lấp lánh, tôi cho rằng vở kịch nói về sự sụp đổ kiểu “căn phòng lò hơi”4.

Đó không phải là tất cả. Vở kịch của Massini đã đi qua quá trình 160 năm lịch sử của tập đoàn, từ khi Hayum (hay chính là Henry) Lehman chuyển từ Baravia tới Alabama và gia nhập ngành kinh doanh sợi cotton. Vở kịch phiên bản Ý kéo dài tới 5 tiếng đồng hồ. Sam Mendes, đạo diễn cho vở kịch công chiếu tại London và New York, đã thu gọn lại còn 3 tiếng rưỡi.

Simon Russell Beale, Ben Miles và Adam Godley trong vở kịch “Bộ ba tác phẩm về Lehman”, về những thăng trầm của Lehman Brothers diễn tại sân khấu Park Avenue Armory ngày 27.03.2019. Ảnh được thực hiện bởi Stephanie Berger.

Bản nguyên gốc của Massini, một tiểu thuyết thơ, đã được xuất bản sang tiếng Anh lần đầu và được dịch bởi Richard Dixon5. Đó là một tác phẩm phi thường, một thứ ngôn ngữ trải dài 700 trang giấy hoàn toàn không có văn nói. Nhưng đây là sự thực, Massini hiện hữu – cái điều mà có thể cảm nhận thấy ngay từ những dòng đầu tiên của tác phẩm. Vở kịch của ông ấy diễn ra thật mạch lạc, uyển chuyển và dồn dập.

Đồng thời, như một tín hiệu, vở kịch của ông ấy xoay quanh những câu hỏi lớn: Bản chất của ba anh em nhà Lehman và hậu duệ của họ là những người hùng hay những kẻ phản diện? Có phải họ đã dẫn dụ linh hồn và thể xác người Mỹ bằng những thực nghiệm, hay họ chỉ đơn giản là những con tu hú đang đẻ trứng vào tổ của loài chim khác? Đây là một câu hỏi rất khó trả lời.

Những lời phê bình có vẻ ít phức tạp hơn. Một trong những lời phê bình chính xác nhất, được đưa ra bởi Sarah Churchwell trong bài viết trên chuyên trang New York Review of Books, bày tỏ quan điểm rằng tác phẩm của Massini vẫn che đậy việc nhà Lehman có dính dáng tới đường dây buôn bán nô lệ tại bang Alabama. Những vở diễn trong tương lai sẽ tập trung và phơi bày rõ ràng hơn vấn đề này.

Henry di cư tới New York. Khi tới nơi, ông ta

ngửi thấy sự thối rữa của thành phố New York,
bao quanh mình:
một hỗn hợp buồn nôn của thức ăn gia súc, khói bụi và mọi loài nấm mốc,
thật sự, thậm chí lỗ mũi của ông ta chẳng còn cảm nhận gì nữa,
thành phố New York mà ông hằng ao ước
trông có vẻ tồi tệ hơn cái chuồng gia súc của cha,
ở miền xa nước Đức, ở Rimpar, Bavaria.

Henry Lehman di chuyển về phía Nam, tới bang Alabama, vì một ngày mai tươi sáng hơn. Bertolt Brecht, một người Bavaria khác, chưa từng tới Alabama khi viết “Bài hát Alabama” (hay còn gọi là “Mặt trăng của Alabama”) vào những năm 19206. Người ta tự hỏi Henry mong đợi điều gì ở đó. Ông ấy tới, giống như hai người em ngay sau đó. Họ luôn tất bật, để đảm bảo nguyên vật liệu của họ là tuyệt vời nhất với mức giá hấp dẫn nhất.

Họ hoàn hảo, nếu không muốn nói, họ là hình mẫu trung gian lý tưởng trong quan niệm của người Mỹ. Họ trở thành nhà môi giới, mua sợi cotton và bán lại chúng ở đâu đó. Công việc kinh doanh của họ mở rộng sang lĩnh vực cà phê, dầu mỏ và than đá, với cả điện lực, đường sắt, sản xuất máy bay, truyện tranh, điện ảnh Hollywood và lắp ráp máy tính. Họ tham gia vào lĩnh vực ngân hàng, và thế là câu hỏi rốt cuộc họ đang làm gì ngày càng trở nên trừu tượng.

Người ta sẽ nhanh chóng đọc tới đoạn này:

Đầu tiên: khi chúng ta đang kinh doanh
mọi người đưa chúng ta tiền
và chúng ta đưa họ một cái gì đó đổi lại
Bây giờ chúng ta đã trở thành một ngân hàng
mọi người vẫn đưa chúng ta tiền
nhưng chúng ta không đưa trả lại gì nữa
Ít nhất là trong lúc này. Rồi chúng ta sẽ xem xét sau.

Tới cuối cuốn sách, việc tráo đổi nợ nần và những tính toán phức tạp khiến cho mọi người phải tự hỏi, “Ít nhất, bạn đã từng tự hỏi rằng một cái trại chăn nuôi7 như thế liệu có hợp pháp?”

“Bộ ba Lehman” trở nên sống động trên từng trang giấy nhờ có những khoảnh khắc đầy tính người: sự tán tỉnh giữa những cặp vợ chồng; vụ bê bối và lừa đảo; những nỗ lực bất chấp để leo lên tầng lớp cao hơn.

Đoạn hay nhất của vở kịch là khi nhà Lehman muốn có một xếp hạng cao hơn trong ngôi đền Manhattan8, cạnh tranh với những tập đoàn gia đình như Goldmans và Sachses – những kẻ có rất nhiều điểm chung với họ. Massini viết:

Điểm khác biệt duy nhất
vì sự thật nên được phơi bày
chính là sự thật rằng nhà Goldmans
họ kinh doanh một thứ kim loại
gọi là vàng
và họ tự hào về điều đó
nên họ dùng nó làm họ.
Vì thế, và cũng chỉ vì lý do này
họ được xếp vào dãy thứ hai
trong Ngôi đền.”
9

Gia tộc có quá nhiều sự mộng tưởng đẹp đẽ, được nhào nặn bởi những ngón tay ma thuật, nhồi nhét vào đầu những thanh niên đời sau. Họ học được cách đánh bóng tên tuổi thông qua hoạt động từ thiện. Một hình thức tẩy não trong thời gian dài dành cho những thành viên trẻ trong gia tộc.

Anh em nhà Lehman ngày càng thèm muốn những con mồi mới. Massini có một quãng nghỉ để chỉnh sửa lại một số thuật ngữ tài chính. Trước đó, những từ như “vượt trội” hay “đối thủ cạnh tranh” vốn được sử dụng, bây giờ sẽ phải nhường chỗ cho “áp đặt” và “kẻ thù”. Nhà Lehman nắm chặt lấy quyền lực của họ thông qua kiểm soát, kỷ luật và trừng phạt. Khi mà kẻ thù đã bị chinh phục, họ sẽ áp đặt trạng thái Carthage10. Thương trường đã trở thành chiến trường.

Có một sự lệch lạc kỳ dị nhưng sâu sắc trong những bộ phim được sản xuất vào thời kỳ hoàng kim, mà đa phần được nhà Lehman tài trợ. Massini cho rằng những bộ phim đó, hay những diễn viên như John Wayne, đã mãi mãi bóp méo hình tượng nam tính của người Mỹ.

“Người đàn ông nên trao những nụ hôn? Chẳng bằng nhổ toẹt,” Massini viết. “Người đàn ông thấu hiểu? Tốt hơn là anh ta nên cắn càn”. Ông bổ sung thêm: “Năm này qua năm khác, những cư xử tốt đẹp / đã bị cuốn đi bởi hàng tá bộ phim.”

Massini sử dụng một thứ ngôn ngữ tự hào hứng với chính nó, và luôn luôn có khả năng thôi miên người đọc. Tuy nhiên, trong một vài khoảnh khắc, tôi ao ước phải chi mình đang đọc một đoạn thuật ngắn về lịch sử tập đoàn này, nhưng mà, chà, những khoảnh khắc đó cũng hiếm lắm.

Anh em nhà Lehman rất giỏi những việc họ đã làm. Họ còn được ban cho nhiều may mắn. Họ có phần nào đó giống với Rosencrantz và Guildenstern trong vở kịch của Tom Stoppard, những người đã tung được mặt ngửa đồng vàng trong 157 lần liên tiếp.

Công ty nên tiếp tục tung đồng xu cho tới khi, Massini viết:

họ đã đạt được thành công
và rồi họ hối hận.

Hết.

Bún Cứng dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Dwight Garner, đăng tại The New York Times.

Chú thích:

  1. Nguyên văn không có, dịch giả bổ sung để làm rõ nghĩa cho đoạn văn.
  2. Nguyên văn: vở kịch “Death of a Saleman” của nhà viết kịch Arthur Miller người Mỹ, được công chiếu trên sân khấu Broadway vào tháng 2 năm 1949. Vở kịch đã mang lại giải Pulitzer và giải thưởng Tony cho vở chính kịch hay nhất năm 1949.
  3. Nguyên văn: vở kịch “Who’s Afraid of Virginia Woolf?” của nhà viết kịch Edward Albee, được công chiếu trên sân khấu Broadway năm 1963. Vở kịch cũng mang lại giải thưởng Tony cho vở kịch hay nhất năm 1963 và được dựng thành phim năm 1966 bởi đạo diễn Ernest Lehman.
  4. Nguyên văn: Boiler-room, từ chuyên ngành trong kinh doanh, nói về một phòng làm việc của dân bán hàng tài chính, trong đó, những tay bán hàng gọi điện cho các nhà đầu tư tiềm năng và dùng mọi cách để thuyết phục họ bất chấp thủ đoạn.
  5. Richard Dixon (1956): Dịch giả, tiểu thuyết gia rất nổi tiếng người Anh với chuyên môn sâu về văn học Ý.
  6. Ý kiến dịch giả: trong câu này, ý người viết muốn ám chỉ suy nghĩ của Henry lúc đó, chưa từng tới Alabama nhưng tưởng tượng ra những điều tốt đẹp tại đó.
  7. Nguyên văn: rodeo – theo nghĩa Mỹ, nó chỉ cuộc tập trung gia súc tại các trại chăn nuôi để đóng giấu. Ý nói nơi tập trung hỗn tạp và làm những công việc bẩn thỉu.
  8. Nguyên văn: Mahattan temple. Tại Mahattan, New York có một kiến trúc tên gọi Mahattan temple. Tuy nhiên, trong đoạn văn này, cũng có thể hiểu người viết đang nhắc đến Temple of Capitalism – ngôi đền tư bản nhắc tới nhóm những Ngân hàng và Tổ chức tài chính lớn hoạt động theo kiểu tư bản tại phố Wall, Mahattan, New York.
  9. Tác giả muốn mỉa mai về các hoạt động của những ngân hàng lớn, kinh doanh quá nhiều ngành và nhiều thủ đoạn.
  10. Thuật ngữ “Hòa bình Carthaginian” xuất hiện khi đế chế La Mã tấn công thành phố Phoenicia của Carthage, một kiểu hòa bình giả vô cùng tàn bạo khi hoàn toàn nghiền nát kẻ thù, tiêu diệt hết người cầm quyền cũ, tiêu diệt quân đội và phá hủy hoàn toàn thành phố.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đỗ Quyên đỏ trên Bình nguyên

Đăng từ

on

Người đăng

Làm sao chúng ta có thể trốn thoát? Lưới ở trên và bẫy ở dưới. Chạy là chúng ta chết.

Nhưng loài lau sậy là không hủy diệt được. Chúng không sợ mặn và sinh tồn bừa bãi. Khi tôi nghĩ chúng biến đi rồi, chúng liền quay trở lại. Chúng mọc bất kì chỗ nào. Dù đó là muối.

Văn chương châu Á từ trước đến nay phần lớn vẫn luôn gắn liền với bối cảnh lịch sử. Đó có lẽ là lý do khi đọc văn học Hàn Quốc ta sẽ bắt gặp phong trào sinh viên, đọc Iran là Cách mạng Hồi Giáo hay Ấn Độ là thời kì đầy biến động dưới thời Indira Gandhi. Cùng chung một đặc điểm đó, nhắc đến Trung Quốc, điều ấn tượng nhất có lẽ là một trong những thời kì đen tối nhất của lịch sử đất nước này – Đại Cách mạng Văn hóa, xuất hiện trong văn chương của Mạc Ngôn, của Giả Bình Ao, của Lưu Chấn Vân, của Vương Mông… Trong số những tác gia kể trên, Anchee Min với Đỗ Quyên đỏ và Tất Phi Vũ với Bình nguyên dường như là hai tác phẩm có sự tương đồng về mặt nội dung, bối cảnh và tiếng nói về một thời đoạn rất nhiều biến động. Ở đó ta thấy được rất nhiều thứ: từ cuộc sống đè nén của tầng lớp trí thức đến những âm mưu tranh giành quyền lực, để từ trong đó bản chất con người hiện ra, giá trị xuống thấp và trên hết, nhiều dạng người ngợm lần đầu được phép tung bay.

Anchee Min viết Đỗ Quyên đỏ như trải nghiệm thực của bản thân mình. Phần lớn những chi tiết trong tiểu thuyết này là cuộc đời thực của bà, từ ý nghĩa tên mình đến các anh, chị em; từ ký ức doanh trại đến khi bước chân vào hãng phim, sau đó đến Mỹ và định cư hẳn. Có thể nói, với Anchee Min, Đỗ Quyên đỏ dường như trở thành máu thịt, thành một cái ung nhọt không thể không viết. Những ký ức về thời kỳ ấy như dây thường xuân quấn quanh cổ bà, càng buông lơi chúng càng thít chặt, và có cảm giác, chỉ có viết chúng mới nới ra đem lại hơi thở. Trong khi đó, với Tất Phi Vũ, giai đoạn Đại Cách mạng Văn hóa gắn liền với tuổi thơ ông, của những đấu tranh rầm rộ và những sự thật muốn quên. Nói thế để hiểu rằng, với cùng một chủ đề, Anchee Min gắn bó máu thịt của mình vào đó, là tiếng thở dài, là lời giải tỏa cho một số phận đã bị nhấn chìm. Trong khi với Tất Phi Vũ, ông đứng đó và tái hiện hoạt cảnh của bầu không khí ông từng hít thở, không là máu thịt, nhưng ít nhiều vẫn còn lưu lại trong huyết quản ông, một sự thân quen tưởng như xa lạ.

Với hai sự gắn bó khác nhau, hai cảm quan khác nhau hướng cùng về một thời kỳ, hai tiểu thuyết cũng có những khởi đầu khác nhau. Nếu Tất Phi Vũ hướng về nông thôn, là cái nôi rất thường thấy khi được tái hiện trong văn chương của Mạc Ngôn, của Lưu Chấn Vân; thì Anchee Min lựa chọn một nơi đầy học thức và sôi nổi hơn – Thượng Hải, nơi bà sống cùng gia đình từ những ngày đầu. Ở đây, nếu Tất Phi Vũ mở ra không gian của những ruộng mạch trải ngàn, của vụ lúa – vụ mạch, của người nông dân chất phác, hiền lành nhưng cam chịu; thì Anchee Min lại tái hiện những trí thức nơi chốn phồn hoa với cơn bão chỉ vừa chớm đến. Ở điểm này, cả hai tiểu thuyết cộng hưởng vào nhau, cho thấy bộ mặt của Trung Quốc ở cả hai phía thành thị – nông thôn của một thập kỷ vô cùng biến loạn.

*

Nếu Mạc Ngôn có vùng Cao Mật, Lỗ Tấn có Vị Trang, Trương Ái Linh hay Kim Vũ Trừng có Thượng Hải, thì may thay; ở đây Tất Phi Vũ có làng họ Vương. Bao nhiêu hỉ nộ ái ố đều xoay chuyển diễn biến trong ngôi làng này. Theo chân Đoan Phương – một thanh niên mới lớn với gia cảnh phức tạp, ở cùng một nhà với bố dượng, con mẹ, con bố; anh sớm chán nản và đâm ra không có phương hướng. Đến tuổi cập kê, anh rơi vào lưới tình với Tam A, nhưng không may bị cả hai bên gia đình ngăn cấm. Tam A vì muốn chứng minh tình yêu của mình, uống thuốc sâu đóng kịch tự vẫn như Shakespears thời hiện đại. Nhưng trêu ngươi thay, trên đường đến bệnh viện lại bị truyền nhầm sôđa thay vì truyền dịch, dẫn đến cái chết tức tưởi của người con gái hết lòng vì tình.

Đoan Phương từ đây căm ghét mọi thứ, chuyển đến chuồng lợn của lão Gù, học nuôi lợn và lờ mờ nhận thức chỉ có con đường đi bộ đội, đứng vào hàng ngũ của Đảng mới là lựa chọn sáng suốt. Nhưng chướng ngại lớn nhất lại là Ngô Mạn Linh – bí thư chi bộ, người thầm thương trộm nhớ anh nhưng vì sĩ diện một hôm uống rượu đã đập đầu vái lạy cô, làm cả hai người như đứng trên hai bờ vực thẳm. Kết thúc câu chuyện cũng là lúc Ngô Mạn Linh phát bệnh dại, cắn vào Đoan Phương và nói câu cuối: “Đoan Phương, cuối cùng em cũng bắt được anh rồi!”

Còn Đỗ Quyên đỏ là câu chuyện của nhân vật “tôi” – một Hồng vệ binh từ trong trứng nước, con gái của một gia đình tri thức, đến tuổi và bị dời đến nông trường Lửa Đỏ – nơi sát biển Đông, đất không thể cấy, nước không thể uống. Từ đây, cô bắt gặp Nghiêm – đại đội trưởng của nông trường và cảm nhận được sự đồng cảm. Hai người cùng nhau đấu tranh với Lu – người ham mê quyền lực và luôn mong muốn thay thế chỗ Nghiêm. Càng ngày cả hai nhận ra tuổi trẻ, sắc đẹp và mọi thứ của họ rồi sẽ chôn vùi nơi nông trường ấy. Nhưng may mắn thay, vở kinh kịch Đỗ Quyên đỏ của Giang Thanh hay Mao phu nhân – đang tuyển diễn viên để phổ biến tinh thần Cách mạng vô sản đến đại đa số quần chúng. “Tôi” may mắn lọt vào mắt xanh của Giám sát ủy viên, trở thành tình nhân của ông, đóng vai Đỗ Quyên đỏ. Nhưng lịch sử không dừng ở đó. Đến cuối tác phẩm là lúc Mao qua đời, đế chế Giang Thanh bật gốc, cuối cùng Đỗ Quyên đỏ không được công chiếu và mãi mãi chìm sâu vào tầng tầng lớp lớp thời gian, chỉ còn lưu lại ở trong ký ức.

Dù ít hay nhiều, với cả Bình nguyênĐỗ Quyên đỏ, cả hai đã cho thấy một Trung Quốc vô cùng biến loạn dưới thời Cách mạng Văn hóa. Ở đó cuộc sống của con người bị đè nén, ngạt thở bởi những cứng nhắc gắn khung của Hồng vệ binh, của loa tuyên truyền. Những người phục vụ Cách mạng không có gì hơn là cuộc đua tranh quyền lực. Từ tận cùng tầng lớp nông dân như Đoan Phương – Hỗn Thế Ma Vương; đến cao hơn – những chỉ huy Cách mạng như Ngô Mạn Linh, như Nghiêm, như Lu. Và cao hơn hết, là Giang Thanh, là Hoa Quốc Phong, là Đặng Tiểu Bình… Một thời đoạn sản sinh đầy đủ hạng người, đa thể xúc tu của loài bạch tuộc vươn vòi vào trong nhân dân; từ đó phóng mực, tháo tua hay ngụy trang vào trong lịch sử, làm nên thời đại đen tối vô cùng muốn quên.

*

Cái ngột ngạt ấy đè nén người ta không chỉ về cái ăn, cái mặc, nơi ở, chốn về, về sự công bằng – bình đẳng; mà còn về tình cảm lứa đôi, tình yêu nhục dục. Dễ nhận thấy ở cả hai tiểu thuyết trên, Anchee Min và Tất Phi Vũ đều xây dựng sự đè nén ấy bằng ngọn lửa dục tình. Nếu ở Bình nguyên là sự dằn vặt của Ngô Mạn Linh – người “là đàn ông, chẳng phải đàn bà. Hai tay hai súng, chẳng có ngày đêm”. Cô bị gắn chết bởi cái danh bí thư chi bộ, từ đó bản năng đàn bà trong cô dường như cũng chết theo. Cô tự dối mình về vị trí, về những vai trò cô đang mang tên; nhưng trước những đêm lạnh giá, sự tò mò về thân thể hay sức nặng của Vô Lượng – chú chó cô nuôi – vẫn luôn mang đến sức nặng của người đàn ông cô hằng mong ngóng. Dẫu nhìn ở góc độ nào, tình cảm bị đèn nén của Đoan Phương – Tam A – Ngô Mạn Linh làm nên cái ngột ngạt của thời khắc ấy. Họ là con người của thời đang yêu nhưng gục ngã và tự kiềm chế nhau ngay trong bản ngã, làm nên một sự kiềm giữ vô cùng nguy hiểm, để rồi chính từ trong đó, những bi kịch câu chuyện mới dần lộ ra.

Hơn một cấp nữa, Anchee Min bằng cảm quan nhạy bén và sự tinh tế của người phụ nữ đã viết nên cái đè nén dục tính vô cùng khiêu gợi. Ở đây là mối quan hệ giữa Nghiêm và “tôi”. Hỏi họ có phải một đôi yêu nhau kiểu Carol của Patricia Highsmith không cũng thật khó trả lời. Ban đầu, “tôi” đóng vai một người đàn ông thay thế chỗ Báo để đến với Nghiêm. Nhưng sự tiếp xúc xác thịt ấy xuất phát từ rất nhiều chỗ: từ sự đè nén, từ ham muốn cá nhân, từ sự tự huyễn hoặc bản thân. Đến khi sau này, khi chứng kiến cuộc làm tình giữa Báo và Nghiêm ngay trong ngôi nhà chính mình, “tôi” mới chợt nhận ra “chị đang giết chết tình yêu của chúng tôi bằng chính bàn tay chị”. Dù đấy là cuộc tình rất khó xác định, ngay cả khi sau này “tôi” lại đến trong vòng tay của giám sát ủy viên – một người đàn ông mang nét đẹp phụ nữ; nhưng sự thật về bản chất những đụng chạm ấy vẫn còn bỏ ngõ. Chỉ biết rằng là, với cuộc tình rất khó gọi tên ấy, Anchee Min đã vẽ nên không khí ngột ngạt của giai đoạn này vô cùng tinh tế bằng những màu phim như Vương Gia Vệ, tinh tế, đẹp đẽ nhưng đầy chật chội khung hình.

Cái không khí ấy còn được biểu hiện bằng cái thiếu ăn, thiếu mặc trong Bình nguyên của Tất Phi Vũ. Họ quanh năm làm lụng một vụ mạch – một vụ lúa nhưng vẫn chưa bao giờ đủ ăn. Thóc lúa làm hết bao nhiêu đều được chở đến Uỷ ban. Nhưng Uỷ ban chính ở nơi đâu họ cũng không rõ. Còn với người thành thị, cái không khí ấy biểu hiện rõ nhất là khi họ mất đi sự bình đẳng, là khi hai chữ “trí thức” đang hại đời họ. Ở đó không còn công bằng, không có công lý: “Họ xông lên mang theo những chiếc bô đổ đầy phân lên chăn chiếu nhà tôi. Không có cảnh sát […] Hồng vệ binh bắt đầu cướp phá các ngôi nhà. Chẳng một ai đáp lại lời kêu gọi giúp đỡ của chúng tôi. Hàng xóm chỉ đứng nhìn”.

Ngoài bức tranh hiện thực cuộc sống ở nông thôn – thành thị, ngoài những đèn nén ngột ngạt cá nhân; đâu đó vẫn còn lẩn khuất là những đam mê tham vọng quyền lực, từ đó bản chất con người, giá trị con người hay nói đúng hơn từng dạng người ngợm được lúc hiển hình. Họ sống trong một thời đoạn bị giam hãm về ý thức, mọi thứ trích dẫn được lôi từ cuốn Mao tuyển mà không suy nghĩ, tính toán một cách thiệt hơn. “Họ nhảy từ các cao ốc xuống để tỏ lòng trung thành với ông Mao. Có nghĩa cái chết thể xác chẳng là gì, nhẹ như lông hồng. Chỉ khi chết vì nhân dân, cái chết đó mới nặng hơn núi”.

Từ những tham vọng hẹp hòi, bản chất tị hiềm dần dần lột sạch trút bỏ xiêm y miệng đời vẫn thường hay thấy. Vì tham vọng cá nhân mà Hỗn Thế Ma Vương có thể cưỡng hiếp Ngô Mạn Linh để rồi để lại vết thương mãi mãi trong cô, để từ đó cô nuôi Vô Lượng, cũng là nguồn cơn cho cơn bệnh dại ở phía sau cùng. Cũng vì quyền lực mà Nghiêm và Lu luôn luôn thù địch, nghĩ bao mưu kế kiếm chuốc hại nhau. Họ ở đó, nhưng đồng thời không ở đó. Họ là xác không hồn, hay hồn không xác, không ai biết rõ. Đến cuối rồi thì, Đỗ Quyên đỏ chẳng phải là vở kinh kịch của riêng Giang Thanh – là vở ca kịch tái hiện cuộc đời của bà, từ người ưu tú trở thành vô dụng trong chính quyền Mao, từ con gà đất đến cái chết thiêu rụi trở thành phượng hoàng? Nhưng loài giống đó chỉ có trong truyện cổ tích, đến cuối rồi thì, gà vẫn là gà, Giang Thanh bị bắt và Đỗ Quyên đỏ vẫn mãi chìm trong bóng tối. Nhưng cuộc đua ấy liệu có dừng lại?

*

Anchee Min và Tất Phi Vũ bằng hai hướng tiếp cận khác nhau đã cho thấy một thời biến loạn vô cùng đen tối của lịch sử Trung Quốc. Bằng cuộc sống đè nén ngột ngạt và những trò chơi vương quyền chưa đến hồi kết, cả hai tác gia cung cấp cho ta góc nhìn vào trong bản chất con người ở thời đoạn ấy. Nói như một câu của nhân vật Nghiêm, Đây là một trại điên, cái nông trường Lửa Đỏ này. Mở rộng ra hơn, Trung Quốc ở thời gian ấy là một nồi sôi với sự đè nén lên đến cùng cực. Bình nguyên từng đứng ở vị trí thứ hai trong 10 tiểu thuyết hay nhất Trung Quốc năm 2005 không hẳn là sự bất ngờ, nó còn được dịch sang cả tiếng Pháp như cách chứng minh cho giá trị mình. Anchee Min sau này còn được biết đến với bộ tiểu thuyết viết về Từ Hy, nhưng Đỗ Quyên đỏ vẫn luôn là một dấu son chói lọi rất khó thay thế trong văn nghiệp bà. Hai tác giả, hai tác phẩm và một thời đoạn đã quá đảo điên.

Hết.

Ngô Thuận Phát

*

Những cuốn sách viết về thời kỳ Đại Cách mạng Văn hóa



Đọc tất cả bài viết của Ngô Thuật Phát.


Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Người trong gương: Những siêu hình tâm trí

Trái tim cần phải tan vỡ, tâm trí phải lạc đi sau một cái nhìn, cảm xúc và trực giác thì mắc kẹt. Như thế mới có trái tim, mới có tâm hồn.

Đăng từ

on

Người đăng

Những mặt phản chiếu từ trước đến nay vẫn luôn đóng một vai trò quan trọng trong dòng chảy văn hóa. Nó không những xuất hiện đầy chuyển động trong văn chương, phim ảnh hay âm nhạc; mà ở mặt khác, với mọi lứa tuổi, những mặt phẳng này cũng chứa trong mình những bí ẩn đáng ngờ ở phía sau. Nên nhớ rằng, nếu không bước qua chiếc gương thần kì, ta đã không có một Alice ở xứ sở thần tiên; cũng càng nên nhớ rằng, nếu không soi mình dưới hồ để rồi chết vì tự yêu thái quá, thì hẳn câu chuyện về chàng Narcissus đã đổi rất khác. Và còn gì còn nữa? Nếu nhà gương ở Santa Cruz không hiện diện, ta hẳn đã không có Us đầy cảnh báo về nước Mỹ đương thời; và cũng sẽ không có một cuốn sách đầy tầng lớp ẩn chứa như Người trong gương.

Người trong gương của Will Eaves là một cuốn sách lạ kỳ, như thể nó bị bám bụi những lớp thời gian mang tính nhận thức, mà mỗi lần đọc, mỗi lần giở trang; ta lại thấy xuất hiện một góc nhìn mới, một cảm quan mới không chỉ ở phía bên ngoài, mà tận thẳm sâu bên trong ta cũng thay đổi theo. Người trong gương mỏng manh nhưng chất chứa, trần trụi nhưng thẳm sâu; Will Eaves một cách tài tình đã biến một cuốn tiểu sử cá nhân thành tiểu thuyết văn chương vô cùng cuốn hút và mạnh mẽ như thế.

Ảnh: I Love Books

Người trong gương kể về câu chuyện của nhà toán học, logic học và mật mã học Alan Turing những năm cuối đời. Mặc cho những đóng góp to lớn của ông trong việc giải mã những mật mã Đức giúp Thế chiến thứ hai rút ngắn hơn hai tháng; nhưng chỉ vì tính dục và sự hấp dẫn vô hại giữa hai người đàn ông, ông bị chính quyền Anh kết tội và buộc phải chấp nhận liệu pháp hormone nữ thay cho việc ngồi tù. Người trong gương viết về những thay đổi, biến tướng, những tưởng tượng và ngộ nhận, nỗi sợ hãi và đầy hoài nghi của Alan Turing trong những ngày này, khi mọi thứ với ông như được nhân đôi: giữa một bản thể duy nhất và nhiều bản sao ở khắp xung quanh, nhìn ngắm, theo dõi và quan sát ông. Ở đó, bằng phản ứng của thứ stilboestrol ức chế các hormone làm biến đổi cơ thể, ông chìm vào trong những giấc mơ – thực tại pha lẫn, để một lần nữa lại sống cuộc đời mình: trong gia đình bất hạnh, về cuộc tình với Christopher, người hôn phu June hay công việc giải mã và lập trình máy tính. Bằng tính siêu hình của văn chương và góc nhìn biến thể đầy biên giới của toán học, vật lý học; Will Eaves đã viết nên cuốn sách đầy mơ mộng pha lẫn, đầy ảo ảnh hoài nghi và trên hết, siêu hình đến vô nghĩa lý nhưng hợp lý cho những gì đã xảy ra với Alan Turing.

Với Người trong gương, điểm độc đáo và đặc biệt nhất mà Will Eaves đã khắc họa được chính là cuộc đấu tranh giữa bản thể Alan Turing và những cái tôi – những bản sao vẫn vần vũ trong đầu ông, nó có thể hiển hiện như một hình bóng khác trong gương, như những giọng nói, cổ máy điều khiển hay những ảo ảnh bị bẻ cong… Có cảm giác như, chỉ qua một đêm và một biến cố, căn phòng của riêng ta nơi Orlando thiếp ngủ để sáng hôm sau từ người đàn ông trở thành phụ nữ đã được tái hiện, lần này không mang danh Woolf mà là Eaves. Orlando cũng không phải nhân vật tưởng tượng, mà đó là Alan Turing – con người thật, con thú bị dồn ép đến chân tường, một bệnh nhân, một tù nhân bị đặt trong một hệ thống công lý phi logic nơi người đồng tính mang theo mình cái bóng đen u ám về hình ảnh yếu đuối của bản thân khi đi đâu cũng gặp phải chống đối và kỳ thị, của tình cảnh thảm bại cùng cực khi bị đuổi việc, của hàng quán không ai chịu bán hàng cho, còn người quen thì làm như không biết nếu lỡ gặp ngoài đường.

*

Đầu tiên trước hết là một bản sao – người trong gương. Khi tác dụng của thứ hormone chuyển đổi giới tính bắt đầu kích hoạt, cũng là khi Alan nhận thức được sự thay đổi của bản thân mình. Những giấc mơ chập chờn kéo đến trong cơn mê sảng, nơi ông và người tình Christopher với mối tình thầm kín chưa kịp nói ra – cùng nhau bơi sang sông, nơi những ngôi nhà sang trọng trồng đầy mâm xôi nhiều màu sắc. Mối tình duy nhất từ thuở thiếu thời ám ảnh Turing trong mọi chi tiết, như điểm hội tụ cho từng câu chuyện phân kì, để rồi trở đi trở lại, ta thấy những ảo ảnh chòng chành khác dường như đều tỏa ra từ bữa tối hôm ấy – trên chiếc thuyền nơi C.C.Molyneaux lặn sâu xuống đáy sông của những phế tích tráng lệ một thời. Dòng sông phải chăng là một mặt phản chiếu khác, nơi cả Molyneaux và Alan đều bị hút vào, mà hành động xuẩn ngốc trong một giây phút? Cuộc tình cô độc ấy được Will Eaves khắc họa đẹp đến mức những liên tưởng liền quy về Bệnh nhân người Anh, nơi người phi công già hồi tưởng về những phiên chợ phương Đông bên rìa sa mạc sực nức mùi hương trên chiếc giường bệnh, hay một cảnh khác, khi Elio và Oliver đạp xe trên những phiến đá lát đường xứ Ý, đẹp đẽ đến độ nao lòng.

Bây giờ anh tắm chậm lắm, vì cơ thể anh đau đớn. Da anh nhức nhối, nhưng anh cũng quen dần với cái đau nhói khi chạm vào nước và cảm giác ngượng ngùng khi thấy hình dáng của mình sao mà thay đổi, với vết thâm dưới cánh tay, dấu vết của tính đàn ông dần biến mất trong anh, với cái hông phình ra béo núc ních […] Một con người với những nỗi đau […] Rồi khi ăn, anh lại chỉ dẫn cho acid trong dạ dày mình hoạt động. Mọi thứ tác động lên anh để có được phản hồi như người ta đã lập trình và đôi khi anh không thể tưởng tượng ra cách nào để lấy lại tự chủ. Có lẽ cũng có một lần ngoại lệ, bằng cách đo lường cực đoan đáng xấu hổ của việc gợi ý cho họ một cơ chế tạm dừng. Đó có lẽ cũng là lý do vì sao khi bình minh vừa rạng và người thầy giáo (trong mơ) cũng là bác sỹ tâm lý cho Alan (đời thực) cùng người góa phụ phụ tá đến căn nhà, Alan hay Molyneaux – lúc này ta không phân biệt nổi – đã trùm cái sọ hươu trống rỗng làm một biến thể người – hươu chạy trốn ánh sáng (hay sự thật khi cơ thể đã rành rành thay đổi). Chú hươu bơi sang sông, nhưng nỗi sợ nhấn chìm nó, nó càng vùng vẫy cặp sừng tráng lệ, nó chỉ càng chìm nhanh hơn. Những giấc mơ của Alan như tiên đoán trước một điều, và như câu văn trên – một cơ chế tạm dừng – rất có thể là chất cyanua ở phía cuối đời, dù cho vô tình hay là hữu ý. Một điềm báo thâm sâu, như bầy quạ xé toạc khoảng trời mười bảy năm tuổi. Cùng tuổi với Christopher, khi ông qua đời vì bệnh lao bò.

Bố là tổng hợp của rất nhiều người, rất nhiều thứ, khác nhau, cùng một lúc […] Một cậu bé sắp chết, một người phụ nữ trẻ, một hòn đảo với nhiều quạ đen, một người đàn ông đội gạc hươu lên đầu, một con thiên nga bay lên không, một cô y tá đang giơ kim tiêm lên… Nguồn: Đặng Xuân Lương

Không chỉ hình ảnh xuất hiện ở nơi hốc mắt, những bóng ma tiếp tục ám ảnh Alan đến độ siêu hình ở nơi âm thanh và những chuyển động. Không bất ngờ khi tên gốc của cuốn sách này (Murmur – Tiếng thì thào) cũng trùng khớp với Pedro Páramo (tên ban đầu – Los murmullos – Những tiếng thì thầm). Nếu Juan Rulfo khắc họa một địa ngục nóng đến cùng cực, nơi không có gió chỉ toàn đi xuống và xung quanh không có gì hơn ngoài tạp âm trắng của tiếng gió, tiếng sỏi lạo xạo; thì trong đầu Alan Turing, một nghĩa trang nơi linh hồn chết đã đến trú ngụ. Những linh hồn này – theo đúng nghĩa đen – đều chết, vì đó là khi Alan nghi ngại có một hệ thống máy móc làm việc bên trong mình. Không đến mức thành thực như H.G. Wells hay Karel Čapek để dựng lên một thế giới nơi máy móc ngự trị, con người bị đẩy thành thứ yếu; ở đây Will Eaves dường như khắc họa chính nỗi cơ đơn cùng cực của công việc giải mã mật mã – một trong những công việc tuyệt mật – làm nỗi đau đớn chịu tội của Alan càng thêm dày xé vì không thể chia sẻ cùng ai. Alan đến một mức độ chỉ hành động theo kiểu nhị phân, giữa 0 và 1, giữa những cỗ máy do ông tạo ra và không nghi ngờ gì nữa, một ngày nào đó sẽ trở nên thống trị trên chính thế giới mà ta đang sống.

Cũng chính những ung mủ chịu quá sức căng này làm câu chuyện Bạch Tuyết và bảy chú lùn hiện về trong giấc mơ ông đầy méo mó và quá sức chịu đựng. Nơi mẹ ông – người phụ nữ pha chế thuốc độc cho người thợ săn – June – chỗ dựa cuối cùng mà ông có – để giết chết ông. Người anh cay cú về vị trí hèn kém của mình, tị hiềm vì những công việc chân tay so với trí óc mà Alan có, người mẹ không thể đồng cảm vì những tuyệt mật công việc ông không thể nói; tất cả làm toàn cõi Alan mục ruỗng đau thương, để hiện về câu chuyện cổ tích thường thức là một cuộn phim kinh dị đến rợn người. Nơi đó mọi thứ với ông đều hiểm nguy, như một bầy ong đang cố bảo vệ thành lũy của mình – nhìn sâu bên trong đầy ắp mật ngọt, nhưng để vượt qua đó là những chông gai.

*

Hình tượng thứ ba, căn phòng – nơi ngàn con mắt đang theo dõi ông. Cảnh đồi mờ xám một ngày sương giăng nào đó Alan lần đầu tiên bắt gặp hiện thân thứ hai của mình, cũng chính trong căn phòng của cuộc sống – một thể đa bội đơn, nhưng mỗi người lại trang hoàng nó nội thất khác nhau và không ai trong chúng ta nhớ được nó đến từ đâu, dù trong sâu thẳm chúng ta đều cảm nhận rằng nó chứa đựng bên trong sự thật. Căn phòng của chúng ta là tất cả với chúng ta, là cả thế giới nội lẫn ngoại tâm, là vũ trụ và là mọi khả năng có thể của tự nhiên, của cảm xúc, giai đoạn và suy nghĩ. Mở rộng ra hơn định nghĩa một căn phòng hay một chiếc lồng, bất cứ một không gian kín nào đều cho Alan cảm nhận mình bị giam cầm, là bệnh xá nơi ông đến để chịu hình phạt để sau này trừu tượng lên thành phòng phỏng vấn; thành ngôi trường cùng học với Chris để sau này một cơn hồng thủy nhấn chìm tất cả trở về tro bụi – cũng chính là nơi con quỷ lần đầu hiện ra, vươn những xúc tu, nắm lấy chú hươu đang bơi qua sông.

Căn phòng thẩm vấn nơi Alan đối mặt với con người không có nhân dạng, nơi người điều tra và cô y tá lăm le những ống tiêm thuốc, cũng là lần đầu Alan hiểu được tình trạng của bản thân mình. Căn cước của ông lần đầu lộ diện, và đó là biến số x không hơn không kém. x là nơi ngã tư, x là nụ hôn cuối, x là một chữ cái… x là bất cứ những thứ gì đã từng tồn tại hoặc không tồn tại. x sẽ không bao giờ là một hằng số, như cuộc đời ông không là đường thẳng, chúng lên chúng xuống, cuối cùng là nỗi tuyệt vọng. như lời bộc bạch ở phía sau chót: “Tôi nghĩ mình giống như biến số x trong phép toán […] Vì sao chúng ta cứ loay hoay đi giải hết phương trình này sang phương trình khác?”

Để rồi cuối cùng mọi thứ xảy ra đều có kết thúc, căn phòng hiệu trưởng nơi Alan thọc sâu bàn tay vào cuống họng y, từ đó thoái trào một con quái vật đã dần lộ diện. Bóng nước từ đâu xuất hiện dìm hết tất cả, những thứ đẹp đẽ rồi thành phế tích. Trong căn phòng nơi tầng lầu Alan nhìn thấy Christopher rời đi cùng bố mẹ cậu, cũng là khi một sức mạnh nào đó nhen nhóm trong ông, dẫn đến hành động bạo liệt thọc sâu bàn tay. Căn phòng hiệu trưởng của người đứng đầu, liệu phải ám chỉ hệ thống xã hội vô cùng phi lý? Nơi công bằng đáng lẽ hiện diện cũng là nơi thực chất quái vật ngự trị âm mưu. Tiếng thét sau cuối là tiếng nước đổ nhấn chìm tất cả như thể tia sét sau cùng lấy lại công bằng, khi quái vật bị dìm chết và mọi thứ trở thành một kỷ nguyên sơ. Nhưng ở đó, chiếc thuyền Noah liệu có chứa nổi Alan mang đi trên mình? Hay chính chiếc thuyền vào đêm trăng sáng cả hai trèo tường vào hái mâm xôi là một dấu chỉ khi Noah xuất hiện? Nhưng đáng thương thay, vẫn là mất mát, vẫn là Molyneaux lội xuống nước sâu, để mãi mãi mất đi một nửa của mình.

*

Với Người trong gương, Will Eaves một cách tài tình đã khắc họa được một Alan Turing đầy những nghi hoặc trong cơn đau đớn bởi những áp bức phi lý của xã hội Anh những năm 50 áp đặt. Câu chuyện của Alan Turing không chỉ là một và là duy nhất, mà nó còn là tiếng nói cho những quyền lợi con người đã, đang và sẽ luôn bị áp bức; là tiếng thét khi sợi xích bất công vẫn còn quấn chặt và là tiếng nói của cơn tự hoặc tìm về bản thân. Bằng tính siêu hình văn chương vô cùng độc đáo kết hợp với những biên giới toán học vô biên, Người trong gương là cuốn sách vô cùng đáng đọc, để ngẫm, để hiểu và thẩm thấu. Không hẳn là một hành trình dễ dàng cho ai vốn ngại mạo hiểm, nhưng nếu vượt qua khúc sông cùng với chú hươu chiến thắng bạch tuộc thì Người trong gương sẽ mãi còn đó, và hành trình tìm về bản thân của mỗi chúng ta có thể bắt đầu. Một tiểu thuyết văn chương vô cùng giá trị.

Hết.

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!