Nối kết với chúng tôi

Top sách hay

4 quyển sách có từ khóa: Môi trường, Xanh, Thức tỉnh

Với ba từ khóa “môi trường”, “xanh”, “thức tỉnh”, các thành viên Bookish Squad sẽ tư vấn cho các bạn độc giả quyển sách hay ho nào?

Published

on

1. Biển – Lão già mê đọc truyện tình

Sau khi đã trót say đắm với Chuyện con mèo dạy hải âu bay, Biển không do dự đọc luôn quyển Lão già mê đọc truyện tình. Tựa sách khơi gợi nơi Biển rất nhiều tò mò. Thoạt tiên cứ nghĩ đó là một quyển tiểu thuyết tình cảm mờ nhạt nhưng vì hình con báo trên bìa nên Biển tự tin mua. Càng đọc, Biển càng sửng sốt và xúc động với nội dung sách. Dù đã đọc lại lần thứ hai, kết cuộc câu truyện vẫn khiến Biển phải rưng rưng nước mắt.

“Lão già” trong truyện là một ông lão tên Antonio José Bolívar Proano, khoảng 70 tuổi, vì những lý do không vui vẻ gì mà đã rời bỏ cuộc sống trong cộng đồng người da trắng để phiêu bạt giang hồ. Lão trải qua quãng thời gian ngắn bình yên làm bạn với tộc người thổ dân Shuar, sau đó tiếp tục sống một mình nơi túp lều ở vùng đất El Dilio gần rừng già Amazon. Mỗi khi chuyến tàu Sucre của thực dân khai hoang đến, hàng hóa đem theo là rượu bia và muối, tàu ra đi với những bao tải chuối xanh và hạt cà phê. Chỉ có duy nhất một vị nha sĩ chữa răng cho cả thủy thủ trên tàu và cư dân trên đất liền. Cai quản vùng đất là một gã thị trưởng béo mập, vô dụng và ngu ngốc. Khi một trong số bọn khai hoang giết chết bầy mèo rừng con, cả vùng đất phải đối mặt với sự báo thù dữ dội của mèo mẹ. Với vốn liếng lăn lộn nơi núi rừng của lão Antonio, thị trưởng ép lão phải tìm giết con mèo rừng để trả lại bình an cho dân cư nơi đó.

Móc khóa “Tree of Life” do Biển tự uốn bằng dây đồng. Đá màu xuất xứ từ dãy núi Himalaya.

Tác giả Luis Sepúlveda là người hoạt động tích cực trong phong trào chống chủ nghĩa độc tài. Lão già mê đọc truyện tình được truyền cảm hứng từ chuyến đi bảy tháng do UNESCO tổ chức nhằm đánh giá ảnh hưởng của quá trình thực dân hóa tới đời sống của thổ dân Shuar vùng Amazon. Có lẽ xuất phát từ sự tò mò của phần còn lại của thế giới đối với cuộc sống của các bộ tộc da màu ở sâu trong vùng rừng núi, những nét văn hóa châu Mỹ Latin và những kỹ năng sinh tồn nơi hoang dã được đề cập trong sách rất cuốn hút độc giả. Quyển sách này đã đoạt giải thưởng văn học danh giá Tigre Juan của Tây Ban Nha.

Ngoài nhân vật chính rất thú vị, truyện này còn một nhân vật phụ đáng chú ý không kém là bác sĩ Robicundo Loachamín. Có lẽ tính cách của vị nha sĩ này phản ánh phần nào sự căm ghét của tác giả đối với chính trường. Theo bác này thì răng đau, răng sâu và (chắc là) tất cả những nỗi khổ khác trong cuộc sống đều là lỗi của (tất cả các) chính phủ. Tuy mạnh miệng và sỗ sàng nhưng bác Robicundo là một người tử tế, biết điều, có lòng nhân ái, thường xuyên đem sách cho lão già Antonio đọc.

Quyển sách này cũng giúp độc giả thấu hiểu được cảm giác buồn bã oan khuất của người thổ dân bản địa trước sự xâm lăng chuyên quyền và ngược ngạo của bọn thực dân đi khai hoang, sự hoảng hốt đau đớn của các sinh vật khi bị thô bạo tước đi môi trường sống. Lần đầu đọc Lão già mê đọc truyện tình, Biển khóc khi đọc kết truyện; lần hai đọc lại quyển này, Biển cảm thấy ngậm ngùi suốt vì nhớ đến vụ cháy rừng Amazon gần đây. Hành tinh này chưa đủ tổn thương, chưa đủ thiệt hại hay sao mà con người vẫn thản nhiên đốt rừng, giết cá voi và thải hàng triệu tấn nhựa ra môi trường. Không có điều gì là vĩnh cữu, kể cả mặt đất chúng ta đang đứng. Nếu con người không được cảnh tỉnh và dừng lại kịp thời thì sự hủy hoại và hậu quả phải nhận là không thể tưởng tượng nổi.

Tuy không thuộc thể loại trinh thám nhưng tác phẩm không hề thiếu yếu tố phiêu lưu mạo hiểm. Độc giả sẽ thấy bức xúc, bồn chồn với cảnh súng ống bị sử dụng một cách vô tội vạ, sẽ căng thẳng với những chuyến săn đuổi đầy nguy hiểm chốn rừng thiêng nước độc. Bên cạnh những trường đoạn đánh động cảm xúc, người đọc cũng phải trầm trồ thán phục trước khả năng tả cảnh của tác giả Luis Sepúlveda. Trải nghiệm thực tế từ những chuyến lữ hành đã được ông đưa vào sách một cách đậm nét nghệ thuật: “Bất thình lình, hàng triệu chiếc kim bạc chọc thủng vòm lá dày của rừng già, tạo thành vùng ánh sáng rực rỡ trên mọi bề mặt chúng rơi xuống. Lão đang ở ngay dưới khoảng trống của trời và hoa mắt trước phản chiếu của ánh mặt trời trên đám lá ẩm ướt. Lão dụi mắt nguyền rủa, và, bị bao bọc bởi hàng trăm chiếc cầu vồng chóng hiện chóng tàn, lão vội vã bỏ đi trước khi cơn bốc hơi đáng sợ bắt đầu”.

Một điểm thú vị trong truyện là “uống rượu mạnh giúp diệt ký sinh trùng trong bụng”. Tư tưởng đầy chất “Tết Đoan Ngọ” này có vẻ giống nhau ở mọi nền văn hóa, từ Việt Nam đến Nhật rồi sang cả El Dilio. Đọc cuốn này cũng biết thêm rằng loài trăn lớn ở Nam Mỹ có biệt danh là “con nghiền xương”, vì nó sẽ quấn quanh, nghiền nát và từ từ tiêu hóa con mồi bằng một quá trình thảm khốc và tốc độ chậm rãi khủng khiếp.

Sau Chuyện con mèo dạy hải âu bayLão già mê đọc truyện tình, Nhã Nam cũng xuất bản thêm khá nhiều truyện thiếu nhi của tác giả này, tuy vậy đối với Biển thì hai cuốn “hải âu bay” và “lão già” là hấp dẫn nhất. Chúng đều là những quyển sách rất đáng đọc, có giá trị nhân văn sâu sắc, khơi gợi tình thương và ý muốn bảo vệ thiên nhiên nơi người đọc. Bốn năm sau khi Biển đọc “lão già”, quyển này được tái bản với bìa sách giữ nguyên phong cách tối giản đẹp hoàn hảo. Sẽ thật thiếu sót nếu không kể đến công lao của dịch giả đã chuyển ngữ quyển này một cách chỉn chu, truyền tải được nội dung, cảm xúc và khiếu hài hước tinh tế của tác giả. Có những câu chuyện sẽ khiến người đọc không thể rời mắt từ những dòng đầu tiên đến những trang cuối cùng; Lão già mê đọc truyện tình là một quyển sách như vậy.

2. Trần Thị Thúy Diễm – Hoa hồng sa mạc

Luis Sepúlveda được nhiều độc giả yêu quý bởi những tác phẩm giàu tính nhân văn như Chuyện con mèo dạy hải âu bay, Chuyện con ốc sên muốn biết tại sao nó chậm chạp,… Nhưng theo đánh giá chủ quan, tôi thích thú nhất là cuốn Hoa hồng sa mạc. Bởi ở đó, tôi bắt gặp sắc màu của nhân văn, làn gió của ngôn từ, và đặc biệt là sự phong phú của tri thức.

Đến với tác phẩm, đầu tiên, ta sẽ mãn nhãn với ngôn từ, cách liên tưởng, ví von đầy mê hoặc. Đó là thứ gió thuận làm cánh buồm căng phồng, rướn thân trắng giong ra biển chữ phía trước. Tác giả đã phết thêm sự long lanh cho những con chữ giàu sức gợi “Màn đêm đang ép mọng nước trái cây, đánh thức đam mê ở côn trùng, làm dịu nỗi bất an của chim chóc, làm mát da lũ bò sát, truyền lệnh nhảy múa cho đám đom đóm”… Nơi biển chữ ấy, ta mê mẩn với vẻ đẹp của thiên nhiên, núi, rừng, trầm trồ trước sự kì vĩ, đa dạng sinh học chưa kịp bị con người tàn phá với bàn tay nhơ nhuốc tội lỗi và tính hám lợi. Phép tả thực cùng sự thích thú, tình yêu thiên nhiên đã tạo nên những bức tranh tuyệt bích. Tôi say sưa trong từng đoạn văn như thế này “Trên những thân cây nổi lập lờ mặt nước, lũ rùa mời gọi nhàn tản ngắm nhìn hai mươi nghìn loài bướm của rừng Manu, bởi nơi đây là mảnh đất của sắc màu, và không chỉ có loài bướm làm minh chứng mà còn có theobroma, một loại phong lan đỏ tươi, phát lân quang lúc hoàng hôn… hoặc như môi nàng hôn phu, một loại phong lan khác màu xanh biển toả hương vani. Ta còn thấy hương sắc trong từng Manu khơi gợi vị giác như hương sắc của trái tabernamontana mời gọi khách khát nước uống múi nước mọng màu cam và thơm mát của mình”.

Song song đó là nỗi đau xót, là cái trừng mắt lên án của nhà văn trước những hành động huỷ hoại thiên nhiên như tên quý tộc lập dị Fitzcarraldo dấn thân vào rừng sâu để tàn phá cây cối, rồi sự kiện xây dựng nhà máy thuỷ điện ở Laponia lấy đi bao diện tích rừng, nạn huỷ diệt tài nguyên rừng của vùng Patagonia thuộc Chile dưới tay những công ty gỗ Nhật Bản… Những sự kiện được dẫn ra khiến ai cũng phẫn nộ. Đặc biệt trong giai đoạn môi trường đang kêu cứu thảm thiết như hiện nay thì cuốn sách càng có ý nghĩa hơn nữa.

Đan xen đó còn có những câu chuyện của những người bạn, những con người chẳng ai để ý đến được vinh dự đặt chân lên những trang viết của Luis. Mỗi người có một câu chuyện riêng làm ông lay động. Ông xâu chuỗi lại để những số phận nhỏ bé ấy không bị lãng quên. Biết đâu họ còn là điển hình cho những phận người trong cuộc sống này? Tính nhân văn cứ như thế tự nhiên lấp lánh như ánh sáng đàn đom đóm đêm, lung linh, huyền ảo và đẹp vô cùng.

Đặc biệt, cuốn sách tuy mỏng nhưng giá trị lại lớn bởi những kiến thức nhà văn đem lại. Những tên người, những địa danh, những khuynh hướng chính trị… mà ông dẫn ra đã đủ khẳng định vốn tri thức phong phú và sự mày mò, tìm hiểu của một danh nhân.

Bìa sách xanh mát thật sự phù hợp với chủ đề thiên nhiên xanh và con người mãi xanh mà Luis Sepúlveda chuyển tải đến người đọc. Và cuối cùng, tác phẩm còn đề cập đến một hiện tượng thú vị có thật: Sa mạc Atacama ở Chile là một trong những nơi khô cằn nhất trên thế giới sau khi được tắm mát trong những cơn mưa bỗng chốc biến thành biển hoa nở rộ, ngập tràn sắc hồng tươi thắm.

3. Khanh Dang – Lối sống tối giản của người Nhật

Có liên quan không giữa lối sống tối giản và bảo vệ môi trường?

Đầu tiên, mời các bạn cùng lướt qua một chút về giải pháp 3R nhé. Reduce – Reuse – Recycle nghĩa tiếng Việt là Tiết giảm – Tái sử dụng –Tái chế (3T). Đây là giải pháp đã và đang chứng minh hiệu quả tuyệt vời tại nhiều quốc gia trên thế giới trong phát triển kinh tế – xã hội nói chung và bảo vệ môi trường nói riêng.

Trong 3R ấy, Reduce – Tiết giảm được đưa lên hàng đầu. Ở đây, tôi xin được phân tích với ý nghĩa gần chúng ta hơn cả: mua sắm ít đi. Bạn có biết, thực phẩm và thời trang được xếp vào top những ngành gây ô nhiễm môi trường hàng đầu trên thế giới. Một chiếc quần/ áo có thể không tốn nhiều tiền của bạn; bạn nghĩ rằng chỉ mặc một vài lần rồi bỏ. Hoặc bạn nấu thừa mứa thức ăn rồi đổ đi. Vấn đề môi trường ở đây không chỉ là việc cái quần, áo, đồ ăn thừa ấy đi đâu, về đâu mà bạn đã lãng phí rất nhiều tài nguyên để tạo ra sản phẩm, đồ ăn đó. Tôi không có quyền khuyên can bạn hay tác động vào việc bạn tiêu tiền như thế nào, hoặc đối xử với đồ ăn, đồ đạc của bạn ra sao, tôi chỉ dám gợi ý đến một lối sống mà ở đó, việc tồn tại của chúng ta hạn chế đến mức tối đa áp lực lên sinh thái.

Trở lại cuốn sách Lối sống tối giản của người Nhật, đây là một cuốn sách mà tôi đánh giá rất thú vị và hữu ích. “Lối sống tối giản là cách sống cắt giảm vật dụng xuống còn mức tối thiểu. Và cùng với cuộc sống ít đồ đạc, ta có thể để tâm nhiều hơn tới hạnh phúc, đó chính là chủ đề của cuốn sách này”. Điều tôi chưa thấm được ở cuốn sách này là sự đề cao, thần thánh hóa sự tối giản, tối giản gần như tuyệt đối và mình nghĩ, điều đó không phù hợp với bản thân, cũng có thể không phù hợp với đa số bạn đọc. Thế nhưng không vì thế mà cuốn sách mất đi giá trị. Đọc cuốn sách, tôi khám phá ra nhiều điều mà trước giờ tôi chưa từng để ý về đồ đạc về sự cảm nhận hạnh phúc.

Để cân bằng được nhu cầu của bản thân và việc Tiết giảm, chỉ cần bạn đặt câu hỏi cho bản thân mình trước khi mua sắm: “Điều đó có thật sự cần thiết không?” Chỉ như vậy thôi, tôi nghĩ, chúng ta sẽ cùng nhau tạo ra nhiều điều bất ngờ và giá trị cho cuộc sống. Điểm hay nhất ở cuốn sách này là cuốn sách không chỉ nêu vấn đề về việc tối giản đồ đạc mà còn giúp người đọc nhận ra tầm quan trọng của việc lựa chọn, thanh lọc các mối quan hệ cũng như lối sống của mình, để ta sống trọn vẹn và tận hưởng những khoảnh khắc của cuộc sống.

4. Anna Tran – Trở về nơi hoang dã

Trở về nơi hoang dã của bạn Trang Nguyễn (do Nhã Nam phát hành) chính là cuốn sách đã thức tỉnh mình về vấn đề bảo vệ môi trường và động vật hoang dã khi sự phát triển của loài người đã, đang và sẽ đe dọa đến chính cuộc sống của con người, tương lai của thế hệ sau. Chính sự phát triển các nhu cầu, càng tân tiến, hiện đại bao nhiêu, chúng ta càng hủy diệt sự sống của chính chúng ta bấy nhiêu. Không chỉ có vậy, chúng ta còn cướp đi môi trường sống của các loài động vật khác. Nhưng lại mâu thuẫn khi chúng ta muốn tìm về với thiên nhiên, hòa mình với thiên nhiên, muốn cho con cái chúng ta thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên, trong khi chúng ta lại đang hủy hoại Trái đất từng ngày. Một thực tế đáng buồn khi đọc xong cuốn sách, đó chính là nếu muốn bảo vệ Trái đất này, bảo vệ các loài động vật thì chỉ trừ khi không có sự hiện diện của con người.

Tuy nhiên, vượt lên trên những suy nghĩ, những trăn trở đó, Trở về nơi hoang dã sẽ là một cuốn sách đem đến cho người đọc kiến thức quý giá về môi trường, về vấn đề tuyệt chủng, bảo vệ động vật hoang dã, vấn nạn buôn bán trái phép động vật,… qua hành trình năm năm theo đuổi đam mê của Trang Nguyễn – một nhà bảo tồn động vật hoang dã. Cuốn sách sẽ là một bộ phim ngắn dài đúng 365 trang đi từ ước mơ thuở bé được khám phá thế giới hoang dã ở Madagascar, lời hứa với bạn gấu bị nhốt để lấy mật, đến những chuyến đi xuyên suốt các vùng đất để nghiên cứu về động vật, với đầy đủ những cung bậc của cảm xúc. Đó là khát khao, cháy bỏng của cô gái nhỏ bé quyết tâm thực hiện ước mơ của mình; đó là tinh thần quả cảm và quyết đoán khi đương đầu với những tên tội phạm săn bắn trái phép động vật hoang dã; đó là sự mạnh mẽ, kiên cường chiến đấu với bệnh ung thư khi du học xa nhà; và đó còn là tình yêu thắm thiết với thiên nhiên, với động vật.

Trở về nơi hoang dã là cuốn sách đã thức tỉnh và mở đầu cho hành trình tìm kiếm, đọc, theo dõi, cập nhật và chia sẻ các kiến thức về môi trường của mình. Đúng như tên của cuốn sách, sau khi đọc, bạn sẽ thật sự muốn trở về với hoang dã, với thiên nhiên đất mẹ. Bởi vì suy cho cùng, chúng ta chỉ tìm thấy được bình yên khi hòa với đất trời. Ở góc độ của người chuẩn bị làm mẹ khi đọc cuốn sách này, ngoài việc tăng nhận thức về bảo vệ Trái đất thân yêu, mình còn được biết thêm nhiều kiến thức mới để truyền đạt cho con, hành động nào đúng – sai đối với môi trường, với các loài động vật. Cuốn sách chắc chắn sẽ khiến bạn đọc phải “ồ, à” vì những điều hoàn toàn, những kiến thức rất khoa học nhưng lại rất dễ tiếp thu.


Biệt Đội Mọt Sách (BOOKISH SQUAD) là ngôi nhà nhỏ của hơn 3.000 con người đáng yêu, hằng ngày chia sẻ về chuyện sách, chuyện đọc và vô số những nỗi niềm dở khóc dở cười, với những review sách muôn màu muôn dạng, từ những tác phẩm đoạt giải Pulitzer, Man Booker, Nobel danh giá,… đến những tác phẩm thiếu nhi kinh điển, truyện trinh thám kinh dị hết hồn,… cùng những minigame để các bạn đọ sức thi tài giật sách.

Bạn đã sẵn sàng để hòa mình vào không khí vừa nghiêm túc, vừa ngọt ngào, vừa mặn mòi này chưa? Còn ngại gì không nhấn #JOIN nhỉ?


Những bài viết có cùng chủ đề môi trường & thiên nhiên




Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Top sách hay

“Lối thoát” mùa dịch: Các nhà văn đọc gì?

Published

on

Từ Hilary Mantel đến Kazuo Ishiguro, từ Curtis Sittenfeld đến Sebastian Barry: các tác gia nổi tiếng đọc gì để tìm kiếm chút an ủi giữa mùa dịch?

1. Kazuo Ishiguro

Tác giả của Mãi đừng xa tôi, Cảnh đồi mờ xám, Dạ khúc, Gã khổng lồ ngủ quên.

The Fortnight in September (Trong hai tuần tháng Chín) của RC Sherriff là cuốn tiểu thuyết tuyệt vời nhất, cho tôi niềm tin tích cực nhất mà tôi có thể nghĩ ra ngay bây giờ. Được xuất bản vào năm 1931, đây là cuốn tiểu thuyết tinh tế và sắc sảo, kể về một gia đình trung lưu bình thường đến từ phía nam London đang chuẩn bị đi du lịch và tận hưởng kỳ nghỉ hè khiêm tốn của họ ở Bognor Regis. Ở một cấp độ hoàn toàn không quá kịch tính, Sherriff đã điều chỉnh tiêu chuẩn của chúng ta khi đánh giá về những gì hứng khởi hay chán ngán, tận đến khi ta hoàn toàn thấu hiểu được những thăng trầm cảm xúc của gia đình này. Sherriff không kẻ cả, ông cũng không cố tán tụng họ quá lố. Ông tôn trọng họ vì những lý do hoàn toàn chính đáng – vì sự đứng đắn bản năng họ dành cho nhau và dành cho những người họ gặp; và cho cả cách thức họ hành động như một gia đình hạnh phúc một cách vô tư lự – có lẽ là vô thức, bất chấp sự bất an và thất vọng tồn tại trong lòng mỗi người. Kỳ nghỉ tuyệt vời bên bờ biển nước Anh vào thời vàng son và những phẩm giá đẹp đẽ được tìm thấy trong cuộc sống hàng ngày hiếm khi nào được ghi lại một cách tinh tế hơn thế.

2. Hilary Mantel

Tác giả của Lâu đài sói.

Những phụ nữ áo đen (The Women in Black) không phải là một tiêu đề tươi vui gì mấy. Những nhân vật trong cuốn tiểu thuyết này không phải đang để tang; họ là những nữ nhân viên bán hàng trong cửa tiệm bách hóa những năm 1950 ở Sydney. Cuốn sách là câu chuyện về sự trưởng thành. Như cách một trong những nhân vật chia sẻ với ta: “Một cô gái thông minh là điều tuyệt vời nhất của Đấng tạo hóa.” Tác giả cuốn sách qua đời năm 2006, và những năm tháng ẩn dật cuối đời của bà đã bị bệnh tật tàn phá, nhưng bà vẫn gắng gượng, thông minh và hài hước, bà có thể viết về tuổi trẻ với sự ngọt ngào xuyên thấu tâm can mà không có chút điềm gở tang tóc nào. Cuốn sách này như viên ngọc quý – là một trong số ít ỏi những cuốn sách tôi biết sẽ mang đến niềm vui trong từng câu chữ, hoàn toàn không có sự hiện diện của thói thao túng cảm xúc hay đa cảm và ủy mị.

3. Mark Haddon

Tác giả của Bí ẩn con chó lúc nửa đêm Bùm.

Tôi không tìm kiếm sự an ủi từ tiểu thuyết, thay vào đó, tôi chủ yếu xem phim truyền hình và phim tài liệu. Trong những thời điểm đặc biệt khó khăn, tôi tìm đến thuốc an thần và một playlist “khẩn cấp” trên iTunes. Tôi đọc tiểu thuyết để kích thích trí tưởng tượng, để hiểu biết về cuộc đời và suy nghĩ khác, để tìm thấy ngôn ngữ được sử dụng theo những cách thức lý thú mới. Tuy nhiên, tôi dễ mềm lòng với tiểu thuyết thời Victoria. Các cốt truyện vừa cường điệu mà vừa êm ái, các cú pháp và nhịp điệu – ngôn ngữ được viết bởi những người có nhiều thời gian để viết, dành cho những độc giả có nhiều thời gian để đọc, hoặc thực sự nghe. Eliot, Dickens, Gaskell, Brontës, Wilkie Collins, Trollope… ai cũng được ngoại trừ Đồi gió hú (tại sao chúng ta bị cuốn hút quá lâu bởi một kẻ lạm dụng tình dục thích siết cổ chó?). Tôi vừa bắt đầu đọc Bí mật của quý bà Audley (Lady Audley’s Secret) của Mary Elizabeth Braddon, và cho đến nay rõ ràng tôi vẫn rất vừa ý.

4. Curtis Sittenfeld

Tác giả của Phu nhân nước Mỹ (American Wife) Rodham – Sẽ ra sao nếu Hillary đã rời bỏ Bill Clinton? (Rodham: What If Hillary Hadn’t Married Bill).

Alice Munro luôn là nhà văn yêu thích của tôi kể từ lần đầu tiên tôi đọc một tập truyện của bà hồi 30 năm trước, khi tôi còn là một thiếu nữ. Một cách tuần tự, đôi khi thứ gì đó trong cuộc sống nhắc nhở tôi về những câu chuyện của bà, và tôi lập tức đọc lại chúng. Khi đó, tôi đã bị ấn tượng bởi sự phong phú trong cốt truyện và sự phức tạp của các nhân vật, của cảm xúc và của các mối quan hệ giữa họ. Mặc dù các truyện ngắn của bà không phải một dạng tự-nâng-cao-tinh-thần, nhưng sự sáng suốt của chúng bằng cách nào đó làm tôi yên tâm. Hơn một lần tôi từng nghĩ: Nếu tôi bắt đầu mỗi ngày bằng cách đọc một câu chuyện của Alice Munro thay vì nhìn vào Twitter, tôi sẽ tốt hơn rất nhiều. Nhưng có một sự thật rằng: Tôi chưa từng thử. Nhưng có lẽ rồi cuối cùng tôi sẽ làm được. Trong khi đó, không có giờ nào trong ngày là không phù hợp cho việc đọc một câu chuyện của Munro, và không có câu chuyện nào của Munro là không hợp lí cả. Thế sao không bắt đầu với Ghét, thân, thương, yêu, cưới?

5. David Mitchell

Tác giả của Bản đồ mây, Đồng hồ xương và sắp tới là Utopia Avenue.

Bộ ba ngời sáng Eagle of the Ninth (Đại bàng của lữ đoàn 9) của Rosemary Sutcliff lấy bối cảnh vùng Anh thuộc La Mã thời cổ, đều hướng về một điểm chung. Tại sao tôi lại nói bộ ba này thú vị? Đầu tiên, Sutcliff là một nhà văn với sự thấu hiểu thời đại xuất sắc theo chủ nghĩa cổ điển, có đôi mắt của một nhà thơ khi ngắm nhìn thiên nhiên, và khả năng phán đoán tình tiết quỷ quái. Các tiểu thuyết thuộc thể loại này không thể không thú vị được. Thứ hai, bộ ba ca ngợi khả năng chịu đựng và chống lại tình huống khắc nghiệt của con người. Sutcliff đã sử dụng hình tượng chiếc xe lăn, và hình tượng anh hùng của bà đi kèm với những khiếm khuyết để chiến thắng của họ trở nên hoành tráng hơn. Thứ ba, những cuốn sách lấy bối cảnh thời cổ đại luôn khôi phục niềm tin của tôi vào sự trường tồn của nhân loại. Đại dịch, thiếu thốn, những kẻ gây rối trên ngai vàng và lo sợ tận thế không có gì mới. Tuy nhiên, mặt trời sẽ luôn soi sáng. Khi Covid-19 chỉ còn là quá vãng, bạn có thể đến Reading Museum để thăm Đại bàng Silchester bằng đồng đã truyền cảm hứng cho những cuốn sách bậc thầy này. Nó tồn tại từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên và duy trì quyền lực một cách tuyệt đối.

6. Sebastian Barry

Tác giả của Bên kia những ngày kết thúc (Days Without End) Hàng ngàn mặt trăng (A Thousand Moons).

Thật kỳ lạ khi vẫn còn một cuốn sách phù hợp cho thời điểm này, mặc dù nó đã được viết cách đây 2.000 năm. Suy tưởng của Marcus Aurelius bằng cách nào đó rất hiện đại, và chắc chắn phù hợp ngay cả lúc này. Thật vậy, ông đã cảnh báo việc chống lại những tham chiếu vô ích cả về quá khứ lẫn tương lai, ông luôn cố gắng giữ thăng bằng trong hiện tại. Ngoài ra, ông khuyên chúng ta không nên chống lại bất hạnh, mà nên sử dụng bản thân và tất cả những gì vốn có để đương đầu với chúng. Tôi không biết ông có hiện thực hóa những lời ông khuyên được không. Trong suốt những năm tại vị của mình với tư cách một hoàng đế La Mã, bệnh dịch đã bùng phát qua khắp đế chế. Triết lý của ông về những rắc rối luôn không thay đổi; chúng như những dấu chỉ của sự sống. Các vũ khí chống lại chúng là điều nhã nhặn và lòng trắc ẩn, là thực hiện những gì đáng thuộc về mình. Sự thoải mái của Aurelius nằm ở sự chắc chắn và bình tĩnh, và khi đọc, các dòng chữ ấy như đang thì thầm vào tai bạn. Nếu ông có một hậu duệ, đó chỉ có thể là Churchill.

Hết.

minh. lược dịch.

Bài viết gốc được đăng tại The Guardian. Ảnh minh họa đầu bài: Lehel Kovács.

*

Có thể bạn sẽ thích?



Đọc bài viết

Top sách hay

10 tác phẩm xuất sắc viết về Chiến tranh thế giới thứ hai

Published

on

Bookish xin giới thiệu với độc giả 10 tác phẩm văn học và tác phẩm phi hư cấu bàn về Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945). Những cuốn sách dưới đây viết từ nhiều góc nhìn khác nhau: người dân thường trốn chạy khỏi đói khổ và bom đạn chiến tranh, cộng đồng Do Thái phải chật vật tồn tại trước nguy cơ bị diệt chủng, những người lính Phe Đồng minh sống sót sau cuộc chiến với chấn thương tâm lý nặng nề, hoặc thậm chí là lời thú tội của chính những “kẻ thủ ác” Đức quốc xã. Hi vọng với những tác phẩm này, bạn sẽ hình dung ra bức tranh toàn diện nhất về một cuộc chiến, tuy chỉ kéo dài sáu năm một ngày, nhưng có quy mô rộng lớn và gây nhiều tàn phá nhất trong lịch sử nhân loại.

1. Sự trỗi dậy và suy tàn của Đế chế thứ ba (Lịch sử Đức quốc xã) (William L. Shirer)

Câu chuyện khủng khiếp nhất về nước Đức của Hitler được kể lại với nhiều cảm xúc trong nghiên cứu bậc thầy.

Sự trỗi dậy và suy tàn của Đế chế thứ ba là bản tường thuật chi tiết về nước Đức dưới sự cai trị của Adolf Hitler và Đảng Quốc xã. William L. Shirer đã nghiên cứu kĩ lưỡng về sự ra đời của Đế chế thứ ba ở Đức, con đường dẫn đến quyền lực tuyệt đối của Đảng Quốc xã, diễn biến của Chiến tranh thế giới thứ hai và sự thất bại của Phát xít Đức. Ông đã có cơ hội quan sát, tường thuật cuộc sống của Đức Quốc xã từ năm 1925 khi làm phóng viên tác nghiệp ở đây, tiếp cận các nhà lãnh đạo Đức Quốc xã hàng đầu. Sau chiến tranh, ông tham dự các phiên tòa xử tội phạm chiến tranh. Shirer đã bỏ ra 5 năm rưỡi để rà soát từng đống tài liệu, trong đó có nhật kí của các quan chức cùng hàng loạt các quân lệnh và thư mật. Từ những nguồn này và cũng từ thông tin tự thu thập ở Đức và châu Âu trong hơn bốn thập kỷ, ông đã tổng hợp nên một thiên niên sử nhân loại.

Từ khi được xuất bản năm 1960, nghiên cứu bất hủ của William L. Shirer về đế chế của Hitler đã được ngợi ca rộng khắp như hồ sơ cuối cùng về thời khắc đen tối của thế kỷ XX. Cùng với hàng triệu bản in được phát hành trên toàn cầu, Sự trỗi dậy và suy tàn của Đế chế thứ ba là một trong những công trình nghiên cứu lịch sử quan trọng nhất, nói về một trong những giai đoạn u ám nhất của lịch sử loài người.

2. Bẫy-22 (Joseph Heller)

Trên một hòn đảo ngoài khơi nước Ý thời Thế chiến thứ hai có một liên đoàn không quân Mỹ. Một trong số lãnh đạo của họ là đại tá Cathcart, kẻ khao khát muốn gây ấn tượng với cấp trên bằng cách ép lính đi ném bom mỗi lúc một nhiều hơn. Nhân vật chính của chúng ta, Yossarian, mỗi lần đủ chỉ tiêu giải nhiệm thì lại phải đối mặt với chỉ tiêu mới. Trước sự chết chóc kinh hoàng của cuộc đại chiến, tất cả những gì y mong muốn là toàn mạng trở về. Nhưng mỗi khi chỉ tiêu ra trận tăng lên, xác suất sống sót của y lại giảm xuống. Y không có cách nào thoát ra, bởi ở đó có một cái bẫy. Bẫy-22.

Thứ logic vừa giản dị vừa điên rồ của Bẫy-22 chi phối suốt ngót 600 trang sách với hàng chục nhân vật, qua chiến trường qua đạn bom, qua bệnh viện quân y và nhà bếp hậu cần, qua tướng lĩnh và lính tráng, qua cả những số phận tan nát và những kẻ trục lợi từ chiến tranh. Sự điên rồ chảy qua mọi đối thoại, sự ngớ ngẩn thấm đẫm mọi nhân vật, cho tới tận cú nhảy kết cục cuối cùng. Bộ mặt của chiến tranh hiện ra khủng khiếp trong sự nực cười, phi lý. Bẫy-22 hài hước một cách trần trụi, một cách dữ dội, một cách cay đắng, một cách man rợ, nhưng những ai có thể chịu đựng được nó thì hẳn sẽ không thể nào lãng quên.

3. Kinh cầu nguyện Kaddis dành cho đứa trẻ không ra đời (Kertész Imre)

Tiểu thuyết Kinh cầu Kaddis dành cho đứa trẻ không ra đời được giới phê bình và độc giả đánh giá là một trong những kiệt tác văn học Hungary – kể cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện – trong thập kỷ đầu tiên, khi Hungary trở lại thành một xã hội dân chủ. Tác giả Kertész Imre nhận giải Nobel Văn chương năm 2002, là giải Nobel đầu tiên trong bộ sưu tập giải Nobel danh giá của xứ sở này.

Câu chuyện mở ra khi một nhà văn, một người sống sót sau nạn diệt chủng người Do Thái thời Đức quốc xã, giải thích cho bạn rằng: ông không thể sinh ra một đứa trẻ trong một thế giới mà nạn diệt chủng đó đã xảy ra và có thể xảy ra lần nữa. Dõi theo câu chuyện phức tạp, chúng ta nhận thấy vô số thất vọng của người kể chuyện: sự nghiệp văn chương không thành công, hôn nhân thất bại, gia đình mới và con cái của người vợ cũ – những đứa trẻ có thể là con mình. Như một lời cầu nguyện, các ý tưởng trong Kinh cầu Kaddis dành cho đứa trẻ không ra đời nối tiếp, dàn trải theo một nhịp điệu nhịp nhàng. Đó không chỉ là câu chuyện bi kịch của một người đàn ông mà còn là lịch sử bi thương của cả dân tộc Do Thái.

4. Max – Bi kịch của “chủng tộc thượng đẳng” (Sarah Cohen-Scali)

“Mong ước đầu đời của tôi là được sinh ra vào ngày 20 tháng Tư, vì đó là sinh nhật của Quốc trưởng. Nếu tôi sinh ra vào ngày 20 tháng Tư thì tôi sẽ được các vị Thánh của người Đức ban phước lành và người ta sẽ coi tôi như là đứa con đầu lòng của chủng người thượng đẳng, người Aryan. Đây là chủng người từ nay sẽ thống trị thế giới. Tôi là đứa trẻ của tương lai. Đứa trẻ được hình thành không có tình yêu. Không Chúa Trời. Không luật pháp. Không gì khác ngoài sức mạnh và sự vĩ cuồng. Heil Hitler!”

Max – Bi kịch của “chủng tộc thượng đẳng” hé lộ những sự thật lịch sử đầy ám ảnh về chương trình Lebensborn do Thống chế Himmler khởi xướng. Trong đó, Max – cùng rất nhiều đứa trẻ khác – được lên kế hoạch phôi thai để tạo ra người Aryan hoàn hảo, với chiều cao hoàn hảo, cân nặng hoàn hảo, tóc vàng mắt xanh hoàn hảo và trí lực hoàn hảo. Một cuộc sống được lên kế hoạch sẵn, được điều chỉnh dựa trên các thông số cụ thể đã thiết lập từ trước nhằm tạo ra các đại diện thuần chủng của chủng người Aryan, thế hệ trẻ lí tưởng phụng sự cho sứ mệnh phục hưng nước Đức và sau đó là châu Âu nằm dưới sự chiếm đóng của Đế chế.

Tác phẩm đã đạt mười hai giải thưởng tại Pháp, được dịch sang tiếng Anh, Tây Ban Nha và được độc giả trên khắp thế giới đón nhận.

5. Lò sát sinh số 5 (Kurt Vonnegut)

Với Lò sát sinh số 5, Kurt Vonnegut đưa người đọc lần theo cuộc đời của Billy Pilgrim – một anh lính Mỹ đi qua Thế chiến thứ hai rồi trở thành một bác sĩ đo thị lực vào thời bình. Những mảnh ghép cuộc đời anh ta lần lần hé lộ qua những cuộc du hành xuyên thời gian dường như đột ngột và ngẫu nhiên xảy đến với Billy Pilgrim, tạo thành bức tranh thân phận con người trong một cuộc chiến tranh lố bịch và điên rồ với những chấn thương chỉ có thể được nói đến bằng giọng điệu báng bổ và cười cợt.

Pha trộn giữa tự thuật và hư cấu, giữa phản chiến và khoa học viễn tưởng, giữa cảm giác hư vô và buồn cười nôn ruột, Lò sát sinh số 5 – tác phẩm được xem là lớn nhất của Kurt Vonnegut – là biên bản độc nhất vô nhị về Thế chiến thứ hai, nơi con người bị sự vô nghĩa nghiền nát. Xuất bản năm 1969, cuốn sách phản chiến đầy sức mạnh này đã sớm trở thành sách gối đầu giường của những người Mỹ phản đối chiến tranh Việt Nam bấy giờ.

6. Hai người đàn bà (Alberto Moravia)

Hai người đàn bà là tiểu thuyết nổi tiếng của văn hào Ý Alberto Moravia, xoay quanh một người phụ nữ cố gắng bảo vệ cô con gái nhỏ khỏi sự khủng khiếp của chiến tranh. Cesira là một bà góa, chủ một cửa hiệu bán thực phẩm ở Rome trong Thế chiến thứ hai, nuôi dạy cô con gái mười hai tuổi sùng đạo, Rosetta. Sau vụ ném bom Rome của quân Đồng minh, hai mẹ con đã chạy trốn đến Ciociaria, một vùng núi ở miền Trung nước Ý.
Sau khi quân Đồng minh chiếm được Rome, hai mẹ con tìm cách trở về nhà. Trên đường về, cô con gái bị lính Maroc trong quân đội Đồng minh xâm hại. Cô gái thay đổi tâm tính hoàn toàn, trở nên xa cách với mẹ và không còn là một đứa trẻ ngây thơ.

Tác phẩm đã khắc họa sinh động số phận con người và mối quan hệ giữa họ trong chiến tranh. Trong cảnh đói khổ và bom đạn của Thế chiến thứ hai, giữa lằn ranh sống chết, đã xuất hiện những sự lưu manh, ti tiện để trục lợi, tội ác nhưng cũng có tình người cảm động. Đây là tư tưởng và phong cách xuyên suốt của Alberto Moravia. Cái phông văn hóa được đặt trên cái nền đói khổ, hiểm nguy của Thế chiến thứ hai, với sự khốc liệt của nó làm méo mó nhân cách con người. Nhưng cuối cùng, cái bản chất người, sự nhân bản vẫn chiến thắng.

7. Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ (Svetlana Alexievich)

Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ, tác phẩm của tác giả đoạt giải Nobel Văn chương 2015 Svetlana Alexievich, là bản dịch đầy đủ nhất từ trước tới nay, không cắt gọt, không kiểm duyệt của chính tác giả do dịch giả Nguyên Ngọc dịch mới hoàn toàn. Có một cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai mà bạn chưa từng nghe nói tới, những câu chuyện chưa bao giờ được đưa ra ánh sáng, những số phận gắn liền với chiến tranh, đã được tác giả tái hiện lại một cách chân thực nhất, đầy đủ nhất trong cuốn sách.

Đây là tác phẩm lệch giữa hai bờ vực: một nửa là văn chương, một nửa là báo chí. Nó giống như tuyển tập những câu chuyện đi trên dấu vết của đời sống nội tâm và ghi âm lại tâm hồn của những người phụ nữ trở về sau Thế chiến thứ hai, nơi cuộc chiến của những người phụ nữ có ngôn ngữ riêng của nó. Không phải lịch sử chiến tranh hay lịch sử nước nhà mà là lịch sử của những con người bình thường với cuộc sống bình thường, thời đại họ bị xô vào những biến cố khổng lồ.

8. Danh sách của Schindler (Thomas Keneally)

Trong bóng đen khủng khiếp của các trại diệt chủng thời Đệ nhị Thế chiến, có một nhà công nghiệp Đức đã trở thành cứu tinh của người Do Thái. Oskar Schindler, con người ham lạc thú, kẻ còn lâu mới được coi là mẫu mực, cũng đồng thời là kẻ đã mạo hiểm cả mạng sống của mình để bảo vệ những đồng loại khác chủng tộc mà nếu không có ông thì hẳn đã kết thúc cuộc đời trong lò thiêu.

Danh sách của Schindler đã kể một câu chuyện có thật khác thường như vậy, một câu chuyện tự nó đã có thể làm người đọc choáng váng mà không cần đến một phương tiện văn chương cầu kỳ nào. Nó có thể làm ta khóc, như bộ phim kinh điển dựng từ chính nó của Steven Spielberg đã làm cho hàng triệu người khóc, nhưng trên hết nó làm ta hiểu hơn về những gì đã xảy ra, những sự kiện, những con số, những chân dung chi tiết hơn của cả nạn nhân, thủ phạm và người cứu nạn. Holocaust là một chương lịch sử kinh hoàng gần như nằm ngoài tưởng tượng của loài người tỉnh táo. Nhưng những câu chuyện như Danh sách của Schindler chính là tia hy vọng trấn an, rằng ngay cả trong hố sâu tuyệt vọng nhất của lịch sử vẫn luôn có một cá nhân nào đó nhận ra và dám làm điều đúng đắn, rằng nhân tính sẽ thắng dù cho có bị thử thách khốc liệt ra sao.

9. Chương trình nghị sự (Éric Vuillard)

“Chúng ta chất vấn Lịch sử, chúng ta khẳng định Lịch sử có lẽ đã buộc các diễn viên chính trong những dằn vặt của chúng ta phải tạo dáng. Chúng ta sẽ không bao giờ thấy ống quần dơ bẩn, khăn bàn ngả vàng, cuống séc, vết cà phê…”

Phát xít Đức nổi tiếng là có một đội quân thần tốc, hiện đại và bất khả chiến bại. Nhưng phía sau những chiến công đầu tiên chúng giành được lại là một loạt các vụ mặc cả, các âm mưu lợi ích tầm thường, hèn hạ và những sự cố lố bịch, nực cười. Trong Chương trình nghị sự, cuốn tiểu thuyết súc tích và sắc sảo thuật lại vụ sát nhập Áo vào Đức, Éric Vuillard để cái thô kệch và bi thảm không ngừng đan xen hòng làm sáng tỏ, thông qua lối viết chính xác và mỉa mai, “vẻ dính dáp của những mưu mẹo và những trò bịp bợm vốn tạo nên Lịch sử.” Câu chuyện lịch sử này, ngắn gọn, đanh thép, tung hứng với các liên kết chính trị và kinh tế, hẳn rồi, song đặc biệt cũng kể lại tất cả những điều đó bằng thái độ xấc xược tài tình, tìm kiếm khía cạnh nực cười và phi lý, để rốt cuộc, phơi bày toàn bộ mưu ma chước quỷ ẩn mình dưới những chiếc mũ kê pi.

Tờ Le Monde (Pháp) đã nhận định: “Luồn lách vào hậu trường các sự kiện lịch sử, và giúp người đọc thấy được mặt trái của sân khấu, tiết lộ phần bí mật thô kệch, ngu ngốc, ngẫu nhiên, muộn phiền và/hoặc hèn hạ, dẫn đến điều đó… Đó chính là phương pháp Vuillard.”

10. Kẻ trộm sách (Markus Zusak)

Chọn một đề tài tưởng như đã có quá nhiều cây bút đào xới nhưng Markus Zusak vẫn gây bất ngờ cho người đọc. Người kể chuyện trong tác phẩm này là Thần Chết – một “gương mặt” quen thuộc của chiến tranh, gắn liền với cái chết, với sự bi thương, sự tăm tối. Nhưng câu chuyện mà thần chết kể ra, về sự dữ dội của những gì con người gây ra đối với chính đồng loại của họ thì đến ngay cả Thần Chết cũng phải rùng mình. Lật giở những trang sách, người đọc như bước vào cuộc trò chuyện với Thần Chết, một nhân vật có khiếu hài hước, với một lời cảnh báo nho nhỏ đầy hóm hỉnh ngay khi mở đầu câu chuyện rằng “Bạn sẽ chết”. Đây là một câu chuyện với quá nhiều cái chết nhưng cũng đầy ắp tình yêu thương và thấm đẫm tính nhân văn.

Dù vậy, nội dung chính của câu chuyện không lột tả những cảnh chiến trường đẫm máu của Thế chiến thứ hai, những cảnh giết chóc man rợ. Đây là câu chuyện về Liesel, cô bé gái mồ côi được làm con nuôi tại phố Thiên Đàng thuộc thành phố Munich. Chính tại thị trấn nhỏ nghèo nàn với vẻ ngoài bình yên của những trận đá bóng của trẻ con, những phi vụ ăn trộm nho nhỏ của đám trẻ đói khát, tình bạn tuyệt đẹp của Liesel và cậu bé Rudy đầy cá tính… đã toát lên không khí của nước Đức căng thẳng đầy những xung đột – một nước Đức đang trải qua một trong những giai đoạn kinh hoàng nhất của lịch sử nhân loại. Từ cuộc sống nghèo tại phố Thiên Đàng nhỏ bé, Liesel đã chứng kiến sự tàn khốc của cuộc chiến, sự man rợ đến rùng mình của chế độ phát xít đối với những người Do Thái vô tội. Tuy nhiên, đâu đó vẫn có những con người như Hans Hubermann lén lút giấu trong nhà mình một thanh niên Do Thái trước sự truy lùng của chế độ Đức quốc xã. Thần Chết phải thốt lên: “Tôi nhìn thấy sự xấu xí và vẻ đẹp của họ, và tôi tự hỏi rằng làm sao mà một thứ như vậy lại có thể mang cả hai thuộc tính này.”

Hết.

Đọc bài viết

Top sách hay

7 cuốn sách về những gia đình “cá biệt”

7 cuốn sách sau đây sẽ trả lời câu hỏi: liệu một gia đình hạnh phúc có hoàn hảo không, và ngược lại, có phải một gia đình hoàn hảo chắc chắn sẽ đạt được hạnh phúc?

Published

on

1. Những đốm lửa lưu lạc: Một bà mẹ đơn thân da màu ở thế đối lập với một gia đình trung lưu hoàn hảo da trắng

Những đốm lửa lưu lạc là cuốn tiểu thuyết thứ hai của nữ nhà văn người Mỹ gốc Hoa Celeste Ng, được tạp chí Time bầu chọn là một trong 10 tác phẩm hư cấu xuất sắc nhất thập kỷ. Bối cảnh cuốn sách đặt tại Shaker Heights, một vùng ngoại ô cấp tiến và yên bình, mọi thứ đều tuân theo trật tự định sẵn – từ cách bố trí các con đường quanh co, màu sắc của những ngôi nhà, đến sự sung túc, thịnh vượng của cư dân trong vùng. Không ai hiểu rõ điều ấy như Elena Richardson. Thế nhưng, sự xuất hiện của người mẹ đơn thân da màu Mia Warren cùng cô con gái tuổi teen Pearl đã làm thay đổi cuộc sống của gia đình Richardson, gây xáo trộn cộng đồng vốn nề nếp đến từng chi tiết này.

Một câu chuyện xúc động về sự gắn kết mãnh liệt của tình mẫu tử, sức nặng của những bí mật, bản chất của nghệ thuật và tính đồng nhất trong một cộng đồng, như những ngọn lửa âm ỉ ủ trong vẻ ngoài tĩnh lặng, cứ chực chờ bùng cháy.

Những đốm lửa lưu lạc đã được Hulu chuyển thể thành series phim truyền hình với sự diễn xuất của nữ diễn viên kỳ cựu Reese Witherspoon và Kerry Washington.

2. Về nhà với mẹ: Khi con gái dắt… bạn gái về nhà sống chung

Vấp phải khó khăn tài chính ngoài ý muốn, Green phải dọn về sống chung với mẹ. Nhưng cô không về một mình mà còn dẫn theo một bạn gái khác, cũng là người yêu của mình trong suốt bảy năm qua. Ba người – hai thế hệ với tư tưởng và nhân sinh quan khác biệt sâu sắc liệu có thể chung sống yên bình dưới một mái nhà khi những nỗ lực tìm kiếm một mẫu số chung đôi lúc mang lại nhiều tổn thương hơn là hòa giải?

Về nhà với mẹ, được viết bởi ngòi bút trưởng thành đáng ngạc nhiên của tác giả trẻ Hyejin Kim, đã tinh tế chạm tới những khía cạnh mang tính thời đại đồng thời soi tỏ những góc nhìn mới mẻ về gia đình, đặc biệt về mối quan hệ mẹ và con gái.

3. Ngôi nhà vui vẻ: Một bà mẹ đơn thân và ba cô con gái mang ba họ cha khác nhau

Sau Yêu người tử tù, Gong Ji Young quay trở lại cùng với cách viết chân thực, mạnh mẽ và sáng tạo, lần này qua tác phẩm Ngôi nhà vui vẻ, được lấy cảm hứng từ chính cuộc đời của mình qua nhân vật cô gái Wi Nyeong mười tám tuổi. Và người đọc sẽ cảm nhận được tình cảm gia đình ấm áp dù không trọn vẹn qua lời của một người mẹ đơn thân nuôi ba đứa con mang ba họ cha khác nhau.

“Con gái yêu quý của mẹ, hãy bước đi trên con đường con đã chọn. Me sẽ ở lại nơi đây. Tuổi hai mươi của con phải khác tuổi hai mươi của mẹ. Hãy tin vào những nguyện cầu của mẹ và bước về phía trước. Đừng quên niềm đau sẽ là bài học giúp con khôn lớn. Hãy sống hết mình cho cuộc đời phía trước nhé con! Và mẹ sẽ trao cho con chiếc chìa khoá vàng bằng tình yêu thương của mẹ. Con hãy dùng nó để mở cánh cửa của thế giới, thế giới của riêng con…” (trích Ngôi nhà vui vẻ)

4. Gia đình trộm cắp: Những xó xỉnh nằm ở rìa xã hội không được ánh sáng chiếu đến

Được chuyển thể từ bộ phim cùng tên của tác giả Kore-eda Hirokazu giành giải Cành cọ vàng tại LHP Cannes lần thứ 71, Gia đình trộm cắp là cuốn tiểu thuyết thuộc thể loại tâm lý xã hội đã làm xúc động hàng triệu trái tim trên toàn thế giới.

Vào một đêm mùa đông lạnh giá, Osamu và đứa con trai Shota vừa ăn cắp khỏi một tiệm tạp hóa gần nhà thì tình cờ gặp một bé gái bốn tuổi đang sắp chết cóng trên ban công. Hắn quyết định mang cô bé về nhà mình mà không suy nghĩ quá nhiều. Cuốn tiểu thuyết về một gia đình kì quái được tạo thành bởi những mảnh đời phiêu dạt nằm bên ngoài xã hội, không được ánh sáng chiếu tới.

Một người đàn ông ở tuổi trung niên chỉ biết dạy những đứa trẻ ăn cắp, sống vạ vật không đi làm. Một người phụ nữ bị ám ảnh bởi quá khứ bất hạnh yêu thương những đứa trẻ không thuộc về mình. Một cô gái bỏ nhà ra đi sống nương tựa vào một bà già chỉ sống bởi trợ cấp từ chồng cũ và tống tiền gia đình của chồng. Và hai đứa trẻ “bị bắt cóc”, không đi học, không được dạy dỗ tử tế, coi việc ăn cắp là tất nhiên. Họ không phải vợ chồng, cha mẹ con cái, nhưng họ lại là một gia đình, sống với nhau bởi những ràng buộc nằm ngoài mối ràng buộc ruột thịt.

5. Người cha im lặng: Câu chuyện về một thế hệ “chuối vàng ruột trắng”

Người cha im lặng là thiên tự truyện mà tác giả là một thiếu nữ Việt Nam lớn lên và trưởng thành ở Pháp. Thế hệ cha mẹ cô lưu lạc xứ người, làm lại cuộc đời với bàn tay trắng; họ đã vượt qua những trở ngại để cải thiện đời sống tinh thần cũng như vật chất. Mục đích sống của họ là để các con lớn lên và thành công ở xứ người. Nhưng đời sống quá nhiều dị biệt và rào cản đã tạo nhiều xung khắc trong gia đình. Thế hệ mà Ðoàn Bùi gọi là “đầu gà đít vịt”, ám chỉ hai đứa con gái lai Âu-Á – thế hệ “chuối” mà Ðoàn Bùi là đại diện. Ðây là cách so sánh để chỉ những đứa con châu Á sinh ra tại Pháp, bên ngoài thì vàng như vỏ chuối nhưng bên trong thì ruột trắng, là những Việt Kiều Pháp mang phong cách hoàn toàn Pháp trừ mỗi khuôn mặt và một chút giáo dục theo Á Ðông.

Trong gia đình của Ðoàn Bùi che giấu những bí mật “động trời”. Cô sinh năm 1974 nên có những điều mà cô không biết và có thể sẽ đi vào quên lãng vĩnh viễn nếu cha cô không bị tai biến mạch máu não và ngậm ngùi sống trong câm lặng khi tuổi đời mới 68 tuổi. Cô lúc nào cũng suy nghĩ về chân dung của cha mình, một người rất gần gũi mà cũng rất xa cách và dường như không thể hiểu thấu.

6. Người mẹ lang thang: Hành trình đi khắp nước Nhật để nhận nuôi con của bà mẹ mạnh mẽ

Người mẹ lang thang là một trong những tiểu thuyết về mẹ cảm động nhất của văn học Nhật Bản, được hàng triệu bạn trẻ xứ sở hoa anh đào truyền tay nhau. Cuốn sách viết về Hiromi, một người phụ nữ đã đi khắp nước Nhật và trở thành “mẹ nuôi” của những đứa trẻ kém may mắn trong cuộc sống. Cô đã chăm sóc những đứa trẻ chỉ có bố mà thiếu vắng tình yêu của mẹ, những ông bố thường xuyên vắng nhà dài ngày hay những đứa trẻ bị mẹ ngược đãi và bỏ nhà đi.

Hành trình của Hiromi kéo dài từ khi cô 20 tuổi đến năm 40 tuổi. Dù là thời gian ở cùng chăm sóc những đứa trẻ khác nhau, có đứa vài tháng, cũng có đứa tận vài năm nhưng cô vẫn cố gắng coi chúng như con ruột của mình và khi những đứa trẻ đã cứng cáp, gia đình ổn định, khi “dịch vụ” của cô không còn cần thiết nữa, cô lặng lẽ bỏ đi. Với sự tận tụy, hết lòng yêu thương những đứa trẻ ấy, Hiromi đã để lại trong tâm trí những đứa trẻ hình ảnh về một người mẹ đích thực và những kỉ niệm gia đình ấm áp trong quãng thời gian ngắn ngủi sống cùng cô.

7. Ba ơi, mình đi đâu? Người cha của hai đứa trẻ tật nguyền

Ba ơi, mình đi đâu? là một câu chuyện về Jean-Louis Fournier trong suốt cuộc đời làm cha của mình. Uất hận, than trách cuộc đời, nổi điên lên hay buồn bã,… cũng không thể làm khác đi sự hiện diện của hai cậu bé luôn uống thuốc an thần mỗi ngày để yên lặng. Những đứa trẻ mắt nhìn không rõ, tai điếc, chân khoèo, lưng gù, xương yếu. Một đứa chỉ biết nhắc đi nhắc lại một câu hỏi “Ba ơi, mình đi đâu?” Một đứa suốt ngày nghĩ mình là một động cơ nên cứ kêu “brừm, brừm”. Sống trong thế giới ấy, người cha cần phải làm thế nào?

Ông, Jean-Louis Fournier không giấu giếm những phút quẫn trí mình đã từng nốc rượu rồi phóng xe như điên để mong một tai nạn sẽ ập đến, từng có ý định vứt những đứa con ra ngoài cửa sổ. Ông chưa bao giờ nhận mình là một thiên thần để chịu đựng từng ấy nỗi niềm tan nát. Song người cha ấy không gục ngã. Hay nói đúng hơn hai đứa trẻ tật nguyền thúc giục ông cần phải vượt qua. Đó là cách người cha nhìn vào những thử thách khắc nghiệt bằng một cặp mắt khác. Đó là sự hài hước trong những điều cay đắng. Ông thấy các con mình không phải đi học, không phải nghe giảng, không phải làm bài kiểm tra, không phải chịu phạt. Ông nhìn thấy mình nhờ con được phóng những chiếc xe lớn, tránh được việc nộp phạt, có tiền từ trợ cấp tật nguyền của con, không phải lo lắng về định hướng nghề nghiệp tương lai.

Ba ơi, mình đi đâu? là một câu chuyện buồn và hơn cả nỗi buồn nhưng lại không thấm đẫm nước mắt. Cuốn sách khiến người đọc cảm thấy đau nhói mọi nơi song không vùi sâu trong ủy mị.

Hết.

Đọc bài viết

Cafe sáng