Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Ngôn tình & Đam mỹ: Khi độc giả trở thành dịch giả

Văn học mạng: thực sự có giá trị hay chỉ là trào lưu?

Đăng từ

on

Khoảng nhiều năm trở lại đây, dòng sách văn học lãng mạn mới của Trung Quốc xuất hiện nhiều trên kệ sách dành cho giới trẻ Việt Nam, mang tên văn học ngôn tình và đam mỹ. Hàng loạt đầu sách viết về tình yêu cùng những diễn biến tâm lý phức tạp khi đối mặt với tình yêu và cuộc sống hiện đại của thanh thiếu niên được xuất bản rầm rộ. Ít ai biết rằng nguồn gốc dẫn đến cơn sốt xuất bản này đến từ văn học mạng – nơi hàng nghìn bạn trẻ tự edit (tạm dịch là biên tập) tác phẩm nguyên bản tiếng Trung sang tiếng Việt dù không biết một chữ tiếng Trung nào, với mong muốn chia sẻ niềm đam mê đọc sách của mình đến với mọi người.

Thiếu sách đọc, độc giả tự làm dịch giả

Ngôn tình là sách viết về tình yêu giữa nam và nữ, đam mỹ viết về tình yêu giữa nam và nam. Một editor (người biên tập) biệt danh Nguyệt Cầm cho biết: “Ban đầu mình cũng chỉ là độc giả thôi, mình tìm đọc các tác phẩm ngôn tình và đam mỹ có sẵn trên mạng, cảm thấy rất thích thú và phù hợp với cảm xúc của bản thân. Sau đó mình tìm hiểu và phát hiện ra có nhiều bộ truyện hay mà chưa có ai edit sang tiếng Việt nên mình rất muốn làm. Mục đích chỉ là muốn chia sẻ câu chuyện hay ấy đến với nhiều người.” Từ đó, bạn bắt đầu các bước tìm hiểu trở thành một editor. Công việc edit một tác phẩm ngôn tình, đam mỹ Trung Quốc sang tiếng Việt là một quá trình đòi hỏi sự tỉ mỉ và kiên nhẫn, vì hầu như các editor đều không biết tiếng Trung. Cũng vì lí do này mà các bạn tự gọi mình là người biên tập chứ không phải dịch giả.

Một editor trước hết phải tìm được bản thảo gốc bằng tiếng Trung của cuốn truyện mình muốn biên tập. Sau đó phải cài phần mềm Quick Translator – một phần mềm dịch từ tiếng Trung sang tiếng Việt vào máy, và thả bản thảo gốc vào phần mềm này để cho ra một văn bản tiếng Việt. Tuy nhiên văn bản dịch thô này có câu cú, ngữ pháp và ngôn từ rất lộn xộn. Lúc này người biên tập mới thực sự làm việc của mình là sắp xếp lại câu chữ của tác phẩm sao cho đúng nhất, thuần Việt nhất và chứa đựng rõ nét nhất văn phong của tác giả. Có một số trang web chứa nguồn bản thảo đã được Quick Translator dịch sẵn như tangthuvien.net, vnsharing.net v.v… editor chỉ việc vào đây lấy truyện về biên tập. “Trung bình khoảng vài ngày biên tập sẽ hoàn thành một chương truyện, còn tùy vào chương truyện ngắn hay dài và người biên tập chăm chỉ hay không nữa kia,” một editor khác tên Hạnh Như cho biết. Khi được hỏi động lực nào giúp các bạn chăm chú biên tập phi lợi nhuận như vậy, cả hai bạn đều cho biết hoàn toàn vì tình cảm yêu mến đơn thuần dành cho văn học mạng. Ngoài ra, yếu tố thiếu nhạy cảm của các nhà xuất bản khi không bắt kịp dòng chảy của văn học các nước cũng là một lí do khiến các bạn trẻ “tự mình dịch lấy” sách hay để đọc. Đây hoàn toàn là việc dấn thân vào một thế giới “văn học edit” mới vì dù không biết một chữ tiếng Trung nào, độc giả cũng có thể trở thành dịch giả.

Văn học edit phát triển mạnh mẽ với hàng nghìn editor đã đánh động cho các nhà xuất bản Việt Nam, và đó là lí do khiến hàng trăm đầu sách ngôn tình, đam mỹ xuất hiện ồ ạt trên kệ sách như Anh có thích nước Mỹ không?, Hẹn đẹp như mơ, Này những phong hoa tuyết nguyệt v.v… Đây là nguồn tìm kiếm sách hay mà các nhà xuất bản ngôn tình, đam mỹ thường “tham khảo và thử phản ứng của độc giả trước khi quyết định mua bản quyền về dịch lại, xuất bản ra thị trường,” đại diện Công ty Cổ phần Sách Bách Việt cho biết. Nói cách khác, văn học mạng đã dẫn đường cho ngôn tình, đam mỹ bước vào xuất bản nước ta.

Văn học mạng: thực sự có giá trị hay chỉ là trào lưu?

Các editor và các độc giả đều tự nhận định rằng ngôn tình và đam mỹ chỉ mang tính chất giải trí. Chúng là những câu chuyện nhẹ nhàng với văn phong giản dị, đôi khi hơi mơ mộng nhưng cũng chứa đựng nhiều bài học sâu sắc về cuộc đời, lại dễ khiến người đọc đồng cảm và giúp họ phần nào giải tỏa được cảm xúc của bản thân. Vì giá trị đó, một lợi ích không thể chối cãi của phong trào này là thúc đẩy lòng ham mê đọc sách trong giới trẻ và giúp nền văn học mạng phát triển. Nền văn học nước ta nhìn chung buồn tẻ vì người trẻ không hề đọc sách, thay vào đó họ đi cafe, xem phim, lướt web mua sắm… Việc những câu chuyện hay, giản dị, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người đến với nhiều độc giả sẽ khơi gợi ở họ hứng thú với sách và năng động hơn là biên tập sách.

Không chỉ vậy, nó còn giúp cho không ít người trẻ bắt đầu mày mò việc tự sáng tác truyện. Lê Thị Phượng Nhung, admin một diễn đàn có hoạt động tự sáng tác truyện sôi nổi cho biết: “Mình bắt đầu có hứng thú viết truyện từ sau khi đọc ngôn tình. Sau những lúc làm việc mệt mỏi, đối mặt với xã hội hiện thực thì ngôn tình nhẹ nhàng giúp mình thư thả hơn nhiều, có thêm niềm tin rằng vẫn còn có người tốt đang chờ đợi mình phía trước.” Cô cho biết việc yêu thích tiểu thuyết ngôn tình, đam mỹ… đã giúp mình có kiên nhẫn hơn trong việc sáng tác truyện dài: cứ mỗi ngày sau giờ làm, cô đều viết và mất khoảng một tuần cho một chương truyện chừng 10 trang A4. Đến nay, Nhung đã hoàn thành hơn 20 chương truyện. Quỳnh Vy, sinh viên năm cuối trường Đại học Mở – một tác giả được nhiều bạn trẻ yêu thích lại cho rằng điểm hấp dẫn ở thể loại tiểu thuyết này là “lời thoại và những đoạn đặc tả nội tâm dễ khiến người đọc đồng cảm với thực tế và dễ đi vào lòng người”. Tuy nhiên, cô cũng tự nhận ra những ảnh hưởng không tích cực khi đọc quá nhiều ngôn tình: “Ảnh hưởng đầu tiên là thế giới và tình yêu trong phần nhiều truyện đều quá đẹp, khi đọc xong hầu như ai cũng có cảm giác lâng lâng mơ mộng, với tầm lớn như mình thì đủ lý trí để kiểm soát nhưng một số các em nhỏ hơn dễ ảnh hưởng đến thế giới quan, có những ảo tưởng không thật về cuộc sống, hạn chế sự phấn đấu của cá nhân.”

Tình yêu đối với ngôn tình, đam mỹ và các hoạt động sôi nổi của các nhóm, hội, diễn đàn này phần nào giúp các bạn trẻ đam mê sáng tác hơn, đồng nghĩa với việc giúp cho văn học mạng Việt Nam có thêm yếu tố phát triển. Nguyễn Lệ Chi, Giám đốc Công ty sách Chibooks cho biết: “Việc các bạn trẻ tự edit truyện cho thấy nhu cầu đọc rất lớn đối với dòng văn học này, trong khi các nguồn xuất bản trong nước không đáp ứng kịp điều đó. Việc tự edit truyện và phát tán trên mạng cho thấy mặt tích cực là giúp độc giả nhanh chóng tiếp cận được tác phẩm hay đồng thời kích thích được hứng thú đọc sách đối với một dòng văn học nhất định. Mặt tiêu cực của việc làm này là chúng ta không thẩm định được chất lượng dịch của tác phẩm khi đến tay bạn đọc.”

Bên cạnh đó, nhiều nhóm edit vướng phải vấn đề rắc rối về tác quyền khi những tác phẩm họ edit được nhà xuất bản mua bản quyền từ chính tác giả để dịch lại và xuất bản. Tiểu Châu, một thành viên sáng lập một hội rất nổi tiếng trong cộng đồng giới trẻ tự edit truyện trên mạng cho rằng khi những nhà xuất bản đã mua bản quyền, các nhóm dịch cần phải tự giác xóa đi và ngừng phát tán bản dịch của mình trên mạng, hoặc chỉ lưu lại 20-30% nội dung để kích thích người đọc mua sách ủng hộ tác giả, ủng hộ vấn đề bản quyền.

“Văn học đam mỹ, văn học ngôn tình là hai thể loại nằm trong dòng chảy văn học lãng mạn đương đại Trung Quốc. Cả hai đều có nguồn gốc phát triển là văn học mạng. Ngôn tình là những chuyện kể  viết về tình yêu giữa nam và nữ, đam mỹ viết vể tình yêu giữa nam và nam. Bối cảnh và nhân vật trong hai thể loại này vô cùng đa dạng, ngoài hai bối cảnh chính là cổ đại và hiện đại còn có xuyên không (người hiện đại lạc về thời cổ đại và ngược lại), võng du (những câu chuyện phát sinh từ các trò chơi trên mạng), huyền huyễn (viết về thần tiên)… Đa số ngôn tình và đam mỹ là do các tác giả trẻ sáng tác, do đó thấm nhuần tư tưởng và tình cảm cùa thanh niên hiện đại Trung Quốc cũng như được thanh thiếu niên các nước cùng khu vực yêu mến.”

Hết.

Trang Trần – Kodaki


Bài viết cùng chủ đề


viết bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đọc bài viết

Trà chiều

Nỗi hổ thẹn trong văn học

Marina Endicott về lịch sử giáo dục cưỡng chế với những người Canada bản địa

Đăng từ

on

Người đăng

THE FUNCTION OF SHAME IN LITERATURE
Marina Endicott

Tại sao chúng ta nhớ mãi về một câu chuyện, hay một ký ức? Chúng ta thường ghi nhớ một cách tự nhiên những khung cảnh và hình ảnh ấn tượng bày ra ngay trước mắt, ghi dấu trên tảng băng nổi của ký ức. Tuy nhiên, một số khác lại ấn giấu sâu hơn trong những lớp nghĩa và sau đó, chúng mới từ từ trồi lên, như một miếng bạc cổ lấp lánh đang tự tìm cách bước ra ánh sáng. 

Đó là cái cách mà giáo viên piano thời thơ ấu của tôi kể câu chuyện của cô ấy. Những câu chuyện về tuổi thơ của mình, được chu du vòng quanh thế giới trên chiếc thuyền buồm của gia đình. Cảm giác hân hoan khi được nghe kể chuyện đến với tôi mỗi khi tôi được thưởng vì đã chơi tốt hay được dỗ dành sau mỗi lần cô giáo tức giận. Lúc tôi lười tập luyện (một việc xảy ra rất thường xuyên), việc đòi nghe kể chuyện về chiếc sừng kỳ lân biển đặt trên cây piano, hay về cây quạt Trăm Mặt1 nổi tiếng mà cha mẹ cô giáo được tặng trong chuyến hành trình trăng mật tới Trung Quốc là một cách hiệu quả để kéo dài thời gian tới lúc kết thúc buổi học.

Chân dung những con tàu được treo trên tường: con thuyền Belmont – Ánh rạng đông. Nhà của cô giáo giống như ngôi đền tôn thờ kỷ nguyên của những cánh buồm, được đong đầy những món đồ quý hiếm, những món đồ gốm sứ hay những vỏ sò vô giá, được mua hoặc thu thập trong suốt quãng thời gian phiêu lưu trên biển. Câu chuyện về đại dương của cô giáo tôi diễn ra chậm rãi theo từng nhịp tích tắc của thời gian trong căn phòng khách tối tăm, yên tĩnh.

Thế nhưng, cô giáo không kể với tôi chuyện mẹ cô đã mua một cậu bé tại vùng biển phía nam với giá 4 pao thuốc lá2. Tôi không biết về câu chuyện trên cho tới những năm 1990, khi mà (trong lúc đang mất tập trung vào công việc) tôi tra google tên cô giáo và trên màn hình máy tính hiện lên biểu tượng cái loa, vang lên ngắt quãng giọng nói quen thuộc của cô Ladd (tên của cô giáo) – một đoạn băng phỏng vấn trước khi cô mất tại Yarmouth, Nova Scotia.

Không biết bao nhiêu buổi chiều thứ ba tôi cùng cô luyện tập. Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy, người ta thường nói vậy; tuy nhiên với tôi, cô là một trong những giáo viên tuyệt vời nhất và giọng nói ấy của cô sao mà yêu thương, sao mà thân thuộc vậy.

Cho đến tôi được biết về câu chuyện của cô ấy, về chuyến hành trình trăng mật của cha mẹ cô:

“Trên hành trình cập cảng Trung Quốc… họ đã đi tới hòn đảo này và một chiếc xuồng tiến tới gần chiếc thuyền buồm. Những người trên xuồng là dân bản xứ với vẻ ngoài đáng thương và cha cho phép hai người trong số họ lên thuyền. Những thủy thủ đã thủ sẵn gậy gộc. Họ lên tàu, đi cùng họ có một cậu bé. Mẹ đã quá phấn khích và muốn cậu bé đó, bà nghĩ rằng sẽ có thêm nhiều điều thú vị cho chuyến đi. Và cha mẹ tôi đã mua cậu bé đó với 4 pao thuốc lá. Cậu bé không hiểu gì cả. Khi cậu thấy chiếc cầu thang, cậu ngồi cúi gằm đầu xuống và khoanh tay qua đầu gối. Và đương nhiên, cậu bé cũng không biết cách cư xử! Cậu cần được dạy dỗ.”

Mẹ của cô giáo dạy cho cậu bé đọc và viết tiếng Anh cùng một chút tiếng Latin; đầu bếp trên thuyền dạy cậu chữ tượng hình Trung Quốc. Cậu bé hẳn là một học sinh tiếp thu nhanh. Thật khó để nhớ chính xác cậu đã ở trên con tàu bao lâu – khoảng một năm; đoạn ghi âm chỉ nói rằng ở Thượng Hải, cậu bị cảm lạnh và bệnh tình trở nên nghiêm trọng hơn khi đi qua Horn. Khi họ tới New York, cậu bé đã nhiễm bệnh lao.

“Cậu bé ao ước có một quả dừa. Cha tôi cập cảng ở New York và tìm thấy một quả. Cậu bé chết vì bệnh lao, khi vẫn ôm chặt lấy quả dừa của cậu.”

Lắng nghe câu chuyện buồn này qua lời kể của cô Ladd thật sự là một cú sốc, hay là không: giọng đọc bình thản của cô dường như không cho rằng hành động của cha mẹ cô là sai trái, không có bi kịch nào ở đây – như thể cô chỉ kể câu chuyện về một con thú cưng mà họ từng nuôi.

Tài năng, quyết đoán nhưng mù quáng và ngạo mạn3, cô Ladd là sản phẩm của quá trình giáo dục và trưởng thành; mẹ cô ấy cũng thế, không có gì phải bàn cãi. Tôi cũng vậy. Câu chuyện đó khiến tôi cảm thấy xấu hổ, ẩn trong đó là mối tương đồng giữa tôi và những người đã bắt cóc cậu bé và để mặc cậu ấy chết.

Điều này thật sự quá quen thuộc. Nó khiến tôi cảm thấy hổ thẹn khi tôi sống với tư cách là một người Canada da trắng, hổ thẹn với những sai lầm mà lịch sử đã gây ra cho các em bé người bản địa.

*

Ở Canada, chúng tôi phải vật lộn nhiều năm để phơi bày và chấp nhận lịch sử của những trường học nội trú. Trong những hiệp ước ban đầu giữa người Canada bản địa và Hoàng gia (Chính phủ, hầu hết là người của Nữ hoàng Elizabeth), những lời lẽ được ghi ra thật ấm áp, pha trộn giữa niềm tin và tình yêu thương; các tù trưởng ký tên đã bị thuyết phục bởi niềm tin về sự quan tâm như từ mẫu của Nữ hoàng dành cho họ, bởi những hiểu biết và sự kính trọng mà các vị sĩ quan đàm phán dành cho Nữ hoàng. Thật khó để diễn tả chính xác nội dung hiệp ước, vì những chủ trương thể hiện qua ngôn ngữ yêu thương ấy bị xem thường bởi chính phủ Canada, cả khi đó tới tận bây giờ.

Một trong những thỏa thuận bị phá vỡ là trẻ em sẽ được hưởng sự giáo dục “bất cứ khi nào người da đỏ trong khu vực mong muốn được đi học”4 tại bất cứ trường học nào trong khu vực đó. Nhưng thay vì để họ được quyền lựa chọn, chính phủ Canada đã tập trung các em bé bản địa và giam giữ ép buộc tất cả trong những ngôi trường nội trú cách rất xa khu vực bộ lạc của bọn trẻ.

Đây là sự thực, theo ngài John A. Macdonald (nói trước Nghị viện năm 1883), việc phá vỡ nguồn gốc văn hóa và bản sắc của những đứa trẻ sẽ khiến chúng có những thói quen và phương thức suy nghĩ của người da trắng. Hệ thống trường học nội trú tại Canada đã tồn tại hơn 100 năm, và sự ảnh hưởng của nó đã tàn phá nhiều thế hệ.

Câu chuyện của cô Ladd ám ảnh tôi, như một vết sẹo bên dưới da. Tôi cố kiềm nén nó, rất thận trọng khi đối mặt với một câu chuyện nhiều đau buồn mà cũng quá nhiều sai trái. Và tôi không tin tưởng vào cái kết với “quả dừa” như thế.

Một vài năm sau, tôi tới New Zealand cùng với Tổ chức Thịnh vượng chung dành cho các nhà văn để phát biểu và làm hội thảo tại Tonga. Trong chuyến thăm, tôi đã gặp hàng trăm học sinh và làm quen với một vài em. Câu chuyện của cô Ladd một lần nữa hiện ra trong tâm trí tôi và lần này sẽ thật là hèn nhát nếu tiếp tục không nghĩ về nó.

Tháng trước, tôi có đọc câu chuyện về sáu cậu bé người Tonga bị bỏ mặc trên đảo ‘Ata trong 15 tháng vào năm 1965 – những đứa trẻ hoàn toàn không phải là “những Chúa ruồi trong đời thật”, như cái cách tờ báo The Guardian đã đặt tiêu đề. Những cậu bé Tonga này biết cách tồn tại ngay cả trong môi trường khắc nghiệt nhất, không có nước như đảo ‘Ata. Không giống Piggy và những người bạn, chúng hiện thực hóa định nghĩa về nền văn minh của Margaret Mead5 bằng cách cố định xương và băng bó thành công cho một cậu bạn bị gãy chân.

Sự sụp đổ của nền văn minh được xây dựng trong Chúa ruồi không hề xuất hiện trong cuộc sinh tồn của các cậu bé Tonga – điều này vốn là một giả định sai lầm. Bất cứ ai kể lại một câu truyện đều dựa trên những trải nghiệm của cá nhân, và đây là lý do quan trọng tại sao bạn không nên độc chiếm cái micro, không nên cố chiếm hữu mạch truyện: câu chuyện sẽ hay hơn nếu được tự kể bởi chủ nhân của chúng.

Thế mà, ôi thế mà, tôi lại bị thúc đẩy để kể về câu chuyện của Kay (chị gái của cậu bé người bản địa được mua với giá 4 pao thuốc bởi gia đình cô Ladd) và người em trai đã bị mua hay bị chiếm đoạt của cô, để kiểm chứng thông qua thực tế hoang đường về lý do một người phụ nữ tốt bụng (theo định nghĩa truyền thống) quyết định cướp đoạt cậu bé ấy khỏi gia đình, khỏi ngôi nhà của cậu; phải chăng những chuẩn mực đạo đức trong Kinh thánh hay niềm khát khao làm mẹ đột ngột thúc đẩy bà cướp đoạt một đứa trẻ với niềm tin mù quáng rằng bà đang thực hiện một hành động nhân từ. Với chủng tộc, giới tính, niềm tin và bổn phận làm mẹ của mình, có thể tôi sẽ làm một điều giống hệt nếu được sinh ra vào một thời điểm khác.

Tôi chọn nhìn vào đôi mắt của hai người phụ nữ, một già, một trẻ; một người phấn khích vì sự ngộ nhận đúng đắn trong hành động của mình, người còn lại bối rối vô định với những cảm giác về sự sai trái, tủi hổ. Tôi muốn phản bác lại những luận điểm của trường học nội trú – luận điểm vì tương lai tốt đẹp của lũ trẻ, vì những ý định tốt đẹp và nhân từ, và bởi giáo dục là cần thiết – để kiểm chứng những lý lẽ của người da trắng, những người tự nhận mình nhân từ và để bác bỏ chúng.

Đó là sai lầm nghiêm trọng, không thể tha thứ khi mang một đứa trẻ ra khỏi gia đình và đưa chúng tới những trường nội trú. Để tới được kết luận này, như tôi đã cố gắng, không thể có sự bao dung. Chỉ có sự bù đắp và hòa giải.

Sự hòa giải là như thế nào? Đối với Kay, hòa giải có nghĩa là đặt mọi thứ trở lại nơi chúng được tìm thấy. Thật cẩn thận sửa chữa lại những điều bị vi phạm. Cô ấy nghĩ vậy vì hai lý do: cô ấy hiểu được cô ấy cần phải hành động và cô ấy còn trẻ, còn ngây thơ. Có thể tôi cũng thế: nhưng tôi chắc chắn rằng chúng ta phải làm gì đó. Nó sẽ không bao giờ đủ nếu chúng ta chỉ ngồi im trong sự xấu hổ mà không hành động vì một điều tốt đẹp hơn.

Một hành động mà tôi cho rằng sẽ hữu ích là xem xét các sự kiện được cho là lịch sử. Một trong những giả định sai lầm của tôi, khi bắt đầu viết cuốn sách này, đó là cho rằng những ghi chép lịch sử này có cơ sở vững chắc. Đó quả là một cú sốc cần thiết để tôi nhận ra, dù muộn màng, rằng “ghi chép lịch sử” chẳng có gì hơn những ý kiến cá nhân của hai hoặc ba người, và chẳng có cơ sở nào cả.

Ngay cả khi chúng ta nhìn lại thời điểm khi mà cậu bé bị đem ra trao đổi với thuốc lá, chẳng có ai giải thích được làm sao người dân bản địa họ hiểu và diễn dịch giao dịch đó, làm sao họ có thể giải thích nó bởi rào cản ngôn ngữ và phong tục địa phương – và cả những khái niệm cơ bản về một cuộc trao đổi.

Ký ức là một nguyên liệu quan trọng cho những câu chuyện hư cấu, nhưng nó có thể bị thay đổi. Ký ức của tôi về phòng khách của cô Ladd, về hai cây đàn piano được bao quanh bởi những di vật vô giá và hào nhoáng, bởi sự im lặng và âm nhạc, đã bị ghi đè lên bởi vẻ đẹp nguyên thủy của vùng Thái Bình Dương và bởi những cậu bé Tonga mà tôi được gặp, được chào hỏi và được cười đùa cùng. Khi viết những tiểu thuyết lịch sử, nếu không được trải nghiệm thực tế, chúng ta có thể tạo ra ký ức không chỉ bằng những văn bản (nhật ký, ghi chú, thư từ, danh sách hay hải trình của thuyền) mà còn bằng cách lắp ráp những chi tiết nhỏ có ý nghĩa: những bức ảnh hay bức vẽ, bản thiết kế, quần áo, các mảnh vụn từ thân cây, tủ chén hay gác mái của các căn nhà cổ.

Ở một khía cạnh nào đó, câu chuyện của cô Ladd đã thật sự thuộc về tôi, vì tôi biết rõ những món hiện vật của cô ấy, nhờ bảy năm thời gian ngồi trong phòng khách của cô, hay nhìn chằm chằm vào chiếc sừng kỳ lân biển trong khi cô Ladd đang say mê với câu chuyện mà tôi đã cố gắng kéo dài hết mức có thể, để tránh phải học nhạc Barcarolle6, thể loại mà tôi chưa từng tập luyện bao giờ.

Cuốn sách của tác giả: Hành trình trên chiếc thuyền Ánh Rạng Đông

Hết.

Bún Cứng dịch

Bài viết gốc được thực hiện bởi Marina Endicott, đăng tại Literary Hub

Chú thích:

  1. Nguyên văn “Hundred Faces” – Nhăc tới nghệ thuật Biến diện/thay mặt nạ vốn rất nổi tiếng của Trung Quốc.
  2. Khoảng 2kg.
  3. Nguyên văn “superior” – Dịch giả hiểu là sự tự cho mình là bề trên, là đẳng cấp cao hơn bình thường.
  4. Nguyên văn “whenever the Indians of the reserve shall desire it” – trích trong quy tắc số 6 trong hiệp ước giữa người bản địa Canada, bao gồm người da đỏ Anh điêng, và Hoàng gia năm 1876; quy định về quyền được đi học của người dân bản xứ
  5. Margaret Mead (1901-1978) – nhà nhân chủng học nổi tiếng người Mỹ, nổi tiếng với nhiều nghiên cứu, nhiều học thuyết về nhân chủng học, văn hóa.
  6. Một phong cách nhạc dân ca hay được hát bởi những người chèo thuyền đáy bằng tại Venice, Ý.

Đọc bài viết

Trà chiều

Ba bước đơn giản để luận bàn về một tác phẩm văn chương theo kiểu nouveau riche

Đăng từ

on

Người đăng

Cả thế giới đang hướng về một thế giới với những binh đoàn hợp chủng quốc nouveau riche ngang tàn và bạo sát và giương cờ khởi nghĩa. Họ quét qua những nẻo đường miễn là nơi đó có tri thức, họ đánh sập những hệ thống giáo điều và nghiên cứu dài lâu của Friedrich Nietzsche, Martin Heidegger,… để thốt lên những điều thâm sâu, có khi vô lý nhưng rất thuyết phục (với đại đa số chúng ta, nên họ được tung hê ở mọi nơi mọi lúc, nhất là trên phiếc-búc lúc chờ trà hãm), về cuộc đời, về tồn tại và lời nào là hiện sinh lời đó. Lời nào là thấy cảm động đến tận tâm can lời đó, khiến ai nấy cũng đều vỗ tay thán ngạc không thôi, ai nấy cũng đều thấy mình cần phải làm gì đó để sánh vai với những đại nouveau riche đó. Thế là họ quên thân cống hiến cho đội quân bằng những triết lý và lời lẽ riêng (mới lượm lặt được) của mình như ngày ấy sử ta viết ông Nguyễn Trãi dâng Bình Ngô sách, còn bây giờ họ không cần nhiều nhời như thế, chỉ cần like, share, subscribe là đã thật dụng công rồi. Những diễn ngôn của họ làm lay động hàng triệu thính giả (nhất là những nouveau riche khác) bằng cách như thế đấy, điều mà Carl Jung có mãi thăm dò trong tiềm thức hay Albert Camus tìm hết đời mình xem liệu cuộc đời vô lý đến chừng nào thì cũng chẳng thế nào có được số lượng tín đồ hùng cường đến thế.

Đến đây, có lẽ quý vị độc giả không hiểu rằng liệu tên nhãi tác giả đang huyên thuyên về cái gì thế này, nươ-vồ rít-che là gì mà ghê gớm? Có phải là tên một bọn buôn thịt bán người lai phối cùng hội giải cứu niềm tin đổ vỡ tuổi mười nhăm hay không. Thưa rằng, chẳng được huy hoàng như thế. “Nouveau riche” tiếng Pháp dịch ra tiếng ta chỉ một tầng lớp quý tộc mới nổi với xuất thân là nhà nghèo, nhờ các biến chuyển xã hội thời đại mà giàu có lên. Hiểu nôm na, một cái thùng rỗng, một ông-nghè-chưa-đỗ-đã-đe-hàng-tổng, một trưởng giả, một nhân vật hát dở tuồng lâu. Nghe có vẻ chướng tai gai mắt, thế thì tại sao nhiều người lại cố gắng đi theo dòng chảy của nouveau riche đến như vậy? Câu trả lời nằm trong chính định nghĩa mà tôi đã sơ sài kể cùng quý bạn, những biến chuyển thời đại. Ta đang sống trong một thời đại tri thức kiệt cùng, tri thức khắp mọi nơi nài nỉ người tri nhận, tri thức có mặt trong tất cả những gì quý bạn thấy, ăn, ngửi, thậm chí là cảm giác sâu thẳm nhất trong con người của chúng ta, từ thời hang đá ở lùm đến ở skycraperspenthouse. Ta được “văn học” và văn hóa đại chúng quét qua người từng giây từng phút, tâm hồn ta rộn rã và tràn ngập tiếng chim ca như thi sĩ Tố Hữu. “Văn học” đó đến với ta dưới nhiều dạng thức: những tản mạn, tùy bút, tùy tiện bút, bán phóng sự bán tự sự,… của những nhân vật thành đạt post lên trang cá nhân của mình, những chia sẻ tuổi thầm kín của một cô ca sỹ nhạc dance về nhân sinh quan, của một f-boy về hoa và nhà chùa. Điều đó kết nối những tâm hồn nhạy cảm với nhau, trên cái sân chơi cyber-world, với ước muốn đem những cảm xúc riêng tư của mình sục sạo tìm những tâm hồn đồng điệu (nếu đồng điệu hãy like, thả tim, bình luận). Làm nouveau riche đồng nghĩa với việc hóa bản thân mình thành một tập đoàn tảo lục hùng mạnh, chăm chút cho sự thông minh có hạn của nhau, cùng nhau thỏa mãn với kiến thức của mình, đặc biệt, phù phiếm cảm xúc cùng với nhau.

Bao nhiêu đặc quyền của việc trở thành một nouveau riche tôi chỉ nói được có thế, trong dung lượng của bài. Vậy, nếu đủ mẫn cán và dụng công, quý bạn sẽ có cơ hội trở thành một quý tộc mới ngay trong những status tới trên wall nhà mình. Sau đây, trong khuôn khổ của một trang tin về sách báo chí, tôi xin mạn phép giới thiệu những bí quyết vỡ lòng để trở thành một nhân vật bất hủ trong thời đại hôm nay chỉ với những phương pháp viết luận những tác phẩm văn chương (điểm sách, review sách, PR sách, tham gia thi cảm thụ sách,… thậm chí rất hữu dụng để viết nghị luận văn học trong chương trình phổ thông từ lớp 6 đến lớp 12) mà bạn có thể áp dụng ngay trong lần tới.

1. Trích dẫn những tác phẩm – tác giả thật hàn lâm và xa rời chủ đề

Đừng bao giờ quên rằng, cách để mọi người biết mình là một nouveau riche qua những bài luận là có những kiến thức thâm sâu và uyên bác bậc nhất về văn học, nền văn học, tác giả, phong cách sáng tác,… Nhưng chẳng có ai dư dả thời gian để tới nghe bạn trình chiếu powerpoint về Vladimir Nabokov hay một cái ông đã chết lẩu lâu. Trích dẫn không ngừng nghỉ vào trong bài viết của quý bạn là một giải pháp toàn vẹn cả đôi đường. Nhiều khi bạn không cần đọc Ulysses để trích dẫn James Joyce, hãy search chúng, và đặt cốt truyện cùng những chương văn xuôi cách điệu và sáng tạo của văn hào Ireland kia vào trong bài của bạn. Thật sáng tạo và nhiều tri thức làm sao! Bạn đã tạo ra trong tác phẩm của bạn những gương mặt có máu có me trong làng văn và chắc chắn ai ai cũng ngưỡng mộ, dù phần lớn, sẽ tra xem đó là ai, ngoài tác phẩm được trích còn có gì, hoặc tra thêm bút pháp, rút gọn nhất có thể, vừa thời gian uống một cốc latte.

Cũng đừng ngần ngại rằng liệu những tác phẩm mà quý bạn đem vào thực sự nó có giúp ích, nâng cao hay thậm chí, chỉ là minh hoạ cho chủ đề, cuốn sách bạn đang nói về hay không. Tin tôi rằng, nếu ngoan tay một tí, tất cả những cuốn sách trong cuộc đời này đều liên quan tới nhau, đều là những câu chuyện phiếm không đầu không cuối góp trong một lần nhiều chuyện trong chợ lúc giã giề. Hãy dùng Paulo Coelho mà nói về Finnegans Wake (nhân tiện, thì Happy Bloomsday!), một người thật mainstream và một văn nhân thập cổ lai hi chẳng ai thèm đọc ư? Chẳng sao cả.

Hãy sưu tập những cái tên nổi tiếng ngay bây giờ để trích dẫn vào bài viết của mình, dù chỉ sẽ dùng như là những cái tên sau ngàn dấu phẩy liệt kê để dẫn nhập vào tác giả mà mình muốn nói. Giả dụ, Mỹ-La tinh sao có thể bỏ qua Jorge Luis Borges, Gabriel Garcia Marquez. Đông Âu làm sao quên László Krasznahorkai, Bruno Schulz,… Ứng với đó, Borges có Cuốn sách cát, Khu vườn những lối đi phân nhánh, Mê hồn trận; Marquez làm sao quên Trăm năm cô đơn, Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, Tình yêu thời thổ tả; László Krasznahorkai rối rắm với Nỗi buồn kháng cự (thêm phim của Bela Tarr nữa thì còn gì bằng), Chiến tranh và chiến tranh trong khi Schulz có Những cửa hiệu quếPhố cá sấu.

Nhưng hãy chú ý rằng, đừng bao giờ đem những cái tên mà những người khác đã đem vào hàng trăm lần rồi, nhưng cũng đừng vận công vào những nhà văn chẳng có ai biết. Ernest Hemingway, Lev Tolstoy, Honore de Balzac, Truyện Kiều, Vội vàng là lựa chọn phù hợp, nhưng không phải lúc nào cũng an toàn.

2. Rước cho mình một giọng văn như nhà phê bình chán đời và khó tính

Dù quý bạn khó tính hay không khó tính, dù quý bạn có nhìn đời bằng màu hồng hay màu mực, khi muốn tỏ ra là một người giàu kinh nghiệm, hãy tỏ ra khó nhằn. Tại sao lại như thế, việc tung hê ai đó một cách sỗ sàng thường được gán cho vài tính từ hạ bệ kinh khủng đối với người viết: bợ đít, níu váy,… Và dĩ nhiên các nhà nouveau riche không hề thích thú làm gì việc đó. Nên dù khi đối mặt với một trang văn không tì vết và hợp gu đến lạ lùng (đó là tôi khi đọc Friedrich Durrenmatt) thì đừng có mà suồng sã khen một cách tới tấp. Hãy học cách Joseph Conrad giải mã chậm và ẩn ý, bằng việc phân tích một cách lớp lang: tổng, phân, tích, kết. Hãy chê bai thứ gì đó, ví dụ chê đời sống tình dục và phàm ăn tục uống của ông Balzac khi chẳng còn gì để chê (hoặc sợ chê sai), hoặc nếu khó khăn để bới móc, hãy lôi ai đó vào, và chê bai chép miệng, như một người bạn thân thiết biết rõ từng tính nết của gã ta (nhà văn, nhà thơ,…).

3. Dùng những ngôn ngữ lạ lùng

Đó không phải là những dạng thức teencode vung vãi trên từng dòng tin nhắn của quý bạn trên mạng xã hội khi muốn người khác nhìn bạn với tất cả sự dễ thương và hóm hỉnh, đó chính là những thuật ngữ khoa học chính cống và rất mang sức đánh động. Dù có hơi khó khăn để nhớ vì rối rắm, hãy rước cho mình những câu từ quý phái để làm một nhà bình phẩm chính cống: sự nới lỏng tổ chức (looseness of association), hiện thực thậm phồn (hyperreality), rễ chùm (rhizone),… Có vô vàn thuật ngữ sang trọng để quý bạn cho vào trong bài viết của chính mình để mà tô điểm. Dù đó là một công trình nghiên cứu rất cật lực và từ ngữ mang nhiều sắc thái và luận đề, hãy cứ bỏ nó vào một tình tiết hay nghệ thuật nào đó bất kỳ, vì thật may mắn làm sao, tất cả những ngôn từ, bình dân đến bác học, mới phù phiếm và tự do vận động đến bất ngờ. Một số cuốn sách nên đọc với lượng từ khổng lồ để sưu tầm là Văn học hậu hiện đại (Lê Huy Bắc), Cấu trúc thơ (Thụy Khuê), Triết học của tự do (Nikolai Alexandrovich Berdyaev),…

Không chỉ thế, thật ấn tượng làm sao nếu bạn đã đọc bản gốc của tác phẩm và trích nó lại bằng chính ngôn ngữ của nó. Thậm chí trích luôn D. H Lawrence, T.S Eliot hay Charles Dickens bằng tiếng Pháp thì chẳng ai phàn nàn gì, mà chỉ thấy ôi, sao mà giỏi thế!

Có rất nhiều bí kíp để thực hành làm một nouveau riche đúng điệu qua từng lời nói và bài viết của bạn, về văn học nói riêng và cuộc đời nói riêng. Việc mua những cuốn sách của Paul Valery hay Wittgestein và chẳng hiểu gì thật là trác tuyệt, việc cặp kè Franz Kafka và thảo luận liên hồi về kafkaesque, iceberg theory, lost generation,… mới hiểu biết làm sao, việc coi Bắt trẻ đồng xanh (J. D. Salinger) và Bay trên tổ chim cúc cu (Ken Kesey) là tuyên ngôn đi tìm chính mình của quý bạn thật sâu sắc nhường nào. Đó là lúc bạn đã trở thành một nouveau riche vang dội.

(Bài viết vận dụng những bí kíp chia sẻ, dù tác giả chẳng mặn mà gì mấy.)

Hết.

Gia Bin


Xem tất cả những bài viết của Gia Bin tại đây.


Đọc bài viết

Trà chiều

Thật tâm mà nói, cổ tích là một dạng tiểu thuyết trinh thám

Khám phá thế giới tăm tối và dị dạng trong những câu chuyện cổ tích kinh điển.

Đăng từ

on

Người đăng

FAIRY TALES ARE REALLY JUST HARD-BOILED CRIME
Steph Post

Những điều tồi tệ vẫn luôn xảy ra trong truyện cổ tích. Cho người tốt. Cho kẻ xấu. Cho bọn rồng, lũ phù thủy, các cô công chúa và những đứa trẻ bẳn tính. Thông thường, những câu chuyện này sẽ có kết cục viên mãn: chàng trai lấy cô gái, cô gái trả được thù, vương quốc bỗng choàng tỉnh, người nông dân không bị xơi tái mà tiếp tục sống cuộc đời khốn khổ của mình. Nhưng để có được cái kết đầy viên mãn trên, trước tiên một số tội ác phải diễn ra. Đó có thể là sự bội phản đầy tính sử thi, chẳng hạn như ngoại tình hay tội giết trẻ con; nhưng cũng có thể là những tội nhỏ: xâm nhập trái phép, trộm cắp vặt hay các hành vi gây rối trật tự. Và sau đó là những kẻ biến thái, những trường hợp loạn dâm với súc vật, ái tử thi và những thứ tương tự như thế.

Tiểu thuyết trinh thám thời nay không thể so bì với sự tài tình, tàn bạo và đơn giản chỉ là kỳ quái của những hành vi phạm tội trong các câu chuyện cổ tích thời xưa. Hơn thế, cổ tích thường tàn nhẫn. Tiểu thuyết trinh thám hiện đại độc chiếm tình thế nước đôi về mặt đạo đức, trong khi cổ tích không hề có chút nhân từ với kẻ ác và cũng không ban phát sự cứu chuộc. Khoan dung không phải là điều thường thấy trong dòng văn học này, và thậm chí nàng hầu gái tử tế nhất – một khi đã lột xác thành công chúa – thì cũng chẳng ngại ngần loại bỏ bà mẹ kế độc ác của mình.

Gạt sang một bên các bà tiên đỡ đầu, những chú yêu tinh tốt bụng, những cái cây ma thuật và bộ xương biết hát, tất cả những gì còn lại là một loạt các tội ác tàn nhẫn như thể chúng ra đời từ tiểu thuyết của Raymond Chandler hay Patricia Highsmith, của Agatha Christie hay Michael Connelly và những tác giả tương tự. Dưới đây là một trong số những câu chuyện yêu thích mà tôi thu thập từ khắp thế giới.

“Cô con gái giết chết cả nhà bằng hộp sọ rực lửa nhưng không bị bỏ tù

Gần đây, tôi đã khám phá ra gia tài cổ tích dân gian xứ Slavic và bị ám ảnh bởi những câu chuyện về Baba Yaga. Trong số đó, phổ biến nhất là câu chuyện Nàng Vasilisa xinh đẹp. Trung thành với khuôn mẫu cổ tích, Vasilisa là người tuyệt đẹp, cần cù và là cái gai trong mắt nhân vật mẹ kế và con gái riêng của mụ. Họ cố trù dập nàng bằng cách sai nàng đến nhà Baba Yaga, mụ phù thủy trong rừng sâu, để tìm một ngọn đèn. Vasilisa hoàn hảo đến mức Baba Yaga không thể làm gì được nàng, và thay vì hãm hại bằng cách nhai ngấu nghiến nàng, bà đã gửi nàng trở về nhà cùng với một hộp sọ đầy lửa. Khi Vasilisa chìa “ngọn đèn” như người mẹ kế yêu cầu, nó đã thiêu sống mụ ta và cả hai đứa con gái riêng, thiêu rụi luôn cả ngôi nhà. Mặc dù vậy, giống như cách Daenerys Targaryen đã thoát khỏi giàn hỏa thiêu với rồng thiêng, Vasilisa sống sót qua trận hỏa hoạn, bình an vô sự và cuối cùng kết hôn với một vị vua.

“Đứa trẻ bị bỏ rơi giết một bà già bằng cách nướng sống bà ta”

Tất nhiên, đây là câu chuyện Hansel và Gretel từ tuyển tập truyện kể của anh em nhà Grimm. Câu chuyện này có tất cả mọi thứ: từ người mẹ kế ác độc, những đứa trẻ bị vứt bỏ rồi vì lòng tham mà lạc trong rừng, ngôi nhà làm từ bánh kẹo ăn được, và mụ phù thủy không-được-sáng-trí-lắm cuối cùng cũng bị trừng trị. Trong truyện cổ tích, phụ nữ ít khi nhận được tiếng thơm; họ thường bị phán xét là thụ động, một thứ huân chương vô tri để nam giới rước về nhà, và thường thì phán xét trên là đúng. Nhưng những cô gái chưa kết hôn lại có một số lượng đáng kinh ngạc những ý tưởng. Họ sống sót nhờ trí thông minh, và Hansel và Gretel là ví dụ hoàn hảo cho sự xảo quyệt của những cô gái trong truyện cổ tích. Trong khi Hansel bị nhốt trong cũi chờ vỗ béo cho bữa ăn tối của mụ phù thủy, Gretel đã lừa được mụ vào trong lò, nơi mụ bị thiêu cháy thành than ngay lập tức. Gretel có những ngày đầy hạnh phúc trong ngôi nhà đầy kẹo.

“Nàng công chúa mất ngai lợi dụng ngựa chết để trả thù tình địch”

Sẽ rất khó để chọn ra câu chuyện cổ tích Grimm nào được tôi yêu thích nhất, vì có đến hơn hai trăm lựa chọn, nhưng nếu bắt buộc phải lựa chọn, tôi sẽ chọn Cô gái chăn ngỗng (The Goose Girl). Nó vừa bệnh hoạn lại vừa kỳ dị đến đáng sợ, và chắc chắn không phù hợp cho trẻ em. Chứng tự hại, lời tiên tri bằng giọt máu, con ngựa bị chặt đầu và các hình thức tra tấn thời trung cổ đầy rẫy từ đầu đến cuối. Nó là một câu chuyện quanh co, nhưng về bản chất, nó kể lại những thử thách của một nàng công chúa bị ả hầu gái ép buộc phải đổi chỗ với ả trên đường đến lễ cưới của mình. Vua cha bị lừa, nàng công chúa thật cuối cùng biến thành người chăn ngỗng và tâm sự với một cái đầu ngựa đã chết. Bất ngờ thay, cái đầu ngựa đáp lời cô và cuối cùng tiết lộ về kế hoạch đào mỏ của ả hầu. Sau đó, ả công chúa giả mắc mưu nhà vua và vô tình chọn hình phạt cho chính mình – bị lột trần truồng, bị nhồi vào một cái thùng rượu đính đầy đinh và lăn lông lốc xuống một ngọn đồi – trong khi đó nàng công chúa thật nhận lấy vị trí xứng đáng của mình và trở thành nữ hoàng của vương quốc. Nếu đây không phải là một câu chuyện lá cải phù hợp với một cuốn tiểu thuyết trinh phám, thì tôi không còn biết nó còn có thể là gì nữa.

“Tay nghiện cờ bạc tham gia bắt cóc trẻ con với gã khổng lồ đáng sợ

Trong truyền thuyết của người Nepal, Gurumapa là một gã khổng lồ nanh nọc gớm ghiếc, thu thập những đứa trẻ không vâng lời cha mẹ. Trong câu chuyện Kesh Chandra, ta bắt gặp một lão già bị đuổi khỏi nhà chị gái mình sau khi lão không thể ngừng đánh bạc, đến mức lão đánh cắp dao nĩa của bà để bán và nuôi thói quen đánh bạc. Lão lang thang ở Kathmandu một thời gian, cho đến khi một vài con chim bồ câu thương hại và biến chất thải của chúng thành vàng. Cái loài chim này vốn khoái ị nên dĩ nhiên, có rất nhiều vàng. Kesh trở nên tham lam và đòi hỏi phải có tất cả số vàng trước mắt. Ông ta thuyết phục Gurumapa – một gã khổng lồ hung dữ, chuyên ăn thịt người đang tình cờ lang thang gần đó – khiêng tất cả chỗ vàng hộ lão và hứa sẽ tổ chức cho y một bữa tiệc thịnh soạn. Kesh Chandra cũng nói với người khổng lồ rằng y được phép bắt cóc bất cứ đứa trẻ bất tuân nào trong làng. Kẻ nghiện cờ bạc ấy được Gurumapa cho vào nhà và sống trong căn gác mái khổng lồ, miễn là lão đặt điều cho những bậc cha mẹ trong làng khi bọn trẻ đi học và không trở về. Đó là một giao kèo không tưởng và hai bọn ấy trở thành cặp đôi hoàn hảo: Kesh tha hồ tận hưởng đống vàng và thói nghiện cờ bạc, trong khi Gurumapa đánh chén đám trẻ con thỏa thê.

“Bà mẹ tự tử sau khi con gái riêng được ban phước bởi những cái đầu biết nói, thất vọng về chính đứa con ruột của mình

Chết vì tự tử là tội ác thực sự duy nhất trong câu chuyện kỳ ​​lạ Ba cái đầu bên giếng nước (The Three Heads of the Well), nhưng trong thời đại hiện nay, khi tồn tại rất nhiều bậc cha mẹ quá tham vọng, tôi nghĩ câu chuyện này vừa thích hợp mà vừa lạ lùng đến khoái chá. Đúng như dự đoán, trong câu chuyện có một vị Vua cha, một bà mẹ kế, một cô em kế và dĩ nhiên là một cô con gái với bà mẹ đã mất – cô sẽ bước chân hòa nhập với thế giới để tìm kiếm vận may, tránh xa khỏi cái gia đình phiền toái này. Cô đối xử tử tế với một ông lão, và để đáp lại ân huệ này, ông khuyên cô đến thăm một cái giếng nơi có ba cái đầu, vâng, đang chờ đợi ai đó gội đầu chải tóc cho. Sau khi làm đúng như thế, ba cái đầu ban cho cô những món quà kì diệu: sắc đẹp, giọng nói tuyệt vời và ngôi vị hoàng hậu. Khi rời khỏi giếng, cô tình cờ chạm mặt đứa Vua xứ khác. Bị quyến rũ bởi vẻ đẹp và giọng nói của cô, chàng ngay lập tức kết hôn với cô. Bấy giờ, người mẹ kế khi nghe tin này đã gửi con gái của mình đi và đinh ninh rằng cô ta sẽ phù hợp với đức Vua hơn. Cô gái này tuy thế lại thô lỗ với ông già và ba cái đầu; từ đó họ khiến cho cô bị hủi, giọng nói khiếp đảm và kết hôn với một anh thợ sửa giày. Người mẹ kế tị hiềm khi nghe tin này liền phát điên và cuối cùng treo cổ tự vẫn. Câu chuyện kết thúc với việc Vua cha ăn mừng cái chết của người vợ tàn độc và sự xấu xí của con gái riêng. Eo ôi.

“Người đàn ông ăn cắp vịt, mọc lông và bỗng dưng thích bị ngược”

Câu chuyện kỳ lạ này đến từ Trung Quốc, ngắn gọn và xoay quanh một tội ác đơn giản. Trong Tên trộm vịt (Theft of a Duck), một người đàn ông đã ăn cắp một con vịt từ người nông dân nọ. Sáng hôm sau, y thức dậy và phát hiện ra mình đã mọc lông khắp người trong đêm. Nó ngứa kinh khủng nhưng trong đêm kế tiếp, y mơ thấy mình sẽ được cứu rỗi nếu y sang nhà người nông dân và nhờ anh ta gọi mình bằng từ ngữ miêu tả đúng những gì y đã làm: một “tên trộm bẩn thỉu”. Ngày hôm sau, y đến gặp người nông dân và cố gắng lừa anh gọi một người hàng xóm khác là một “tên trộm bẩn thỉu”. Thế nhưng mánh lới này thất bại vì người nông dân không muốn trở nên xấu tính như vậy. Cuối cùng, gần như tuyệt vọng, tên trộm xé áo phô ra lông vũ và cầu xin người nông dân gọi anh ta là một tên trộm bẩn thỉu. Người nông dân là một người tốt, thương hại và mắng mỏ cho đến khi đám lông biến mất.

“Kẻ mắc chứng nói dối phản bội cha, trở thành nạn nhân của nạn buôn người và giả chết

Pinocchio. Khi còn là một đứa trẻ, tôi không chắc giữa PinocchioDumbo, bộ phim Disney nào làm tôi kinh hoàng hơn. Tôi nghĩ tôi đã cố ý xóa bỏ phần lớn ký ức về phiên bản của Disney, nhưng khi trưởng thành và đọc nguyên bản tiểu thuyết dài kỳ Pinocchio, tôi mới nhận ra rằng câu chuyện cổ tích Ý này thực sự đáng lo ngại đến mức nào. Chúng ta đều biết cốt truyện cơ bản từ bản hoạt hình: con rối gỗ, người cha tốt bụng, nàng tiên xanh và dế Jiminy, những mong muốn hão huyền. Nhưng sau đó, tôi lại thấy Pinocchio nói dối, giết chết chú-dế-kiêm-người-dẫn-đường, chạy trốn khỏi nhà, bị lừa và nhốt vào một chương trình múa rối kỳ cục tại một “hòn đảo khoái lạc”, bị một con cá voi nuốt chửng, phát hiện ra người cha từng bị cá voi nuốt chửng, cuối cùng chết và sau đó sống lại như một bé trai thực sự. Và đó là phiên bản của Disney! Trong bản gốc, Pinocchio thậm chí còn giống một tên đần hơn. Con rối độc ác không chỉ nói dối, lừa gạt, lừa đảo; mà còn hành hạ động vật, bạo hành thể xác Geppeto, và là một thằng khốn toàn diện – ngay cả khi mọi người tiếp tục cho hắn cơ hội lần hai. Pinocchio sau chót là kẻ trơ tráo: giả chết, chơi trò con rối để có được sự đồng cảm, đam mê mọi thứ từ uống rượu đến đánh bạc để lừa những con rối khác. Nói tóm lại, Pinocchio là hỏa ngục của tội ác và tội lỗi. Nhưng đặc biệt là cuối cùng, Pinocchio hoàn toàn không phải chịu hậu quả cho những hành vi của mình.

*

Và sau đó, ta còn có có Bạch Tuyết và bảy chú lùn (hiếp dâm), Rapunzel (giam giữ trái phép), Công chúa ngủ trong rừng (đột nhập và xâm nhập), Râu xanh (giết người hàng loạt), Cô bé quàng khăn đỏ (bạo hành động vật), Chàng rể tương lai (ăn thịt đồng loại) và Cây đỗ tùng (lạm dụng trẻ em) – và tất cả đều chỉ giới hạn trong những câu chuyện của anh em nhà Grimm. Hỡi các nhà văn, nếu bạn có bao giờ cần cảm hứng cho cốt truyện trinh thám thì không cần tìm đâu xa ngoài những câu chuyện cổ tích mà tất cả chúng ta đều lớn lên cùng. Tất cả những tội ác muốn có sẽ luôn ở đó, ngay sau những cái kết hạnh phúc viên mãn nhất.

Hết.

minh. dịch

Bản gốc được thực hiện bởi Steph Post và đăng tại CrimeReads.


Những bài viết có cùng chủ đề cổ tích




Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!