Nối kết với chúng tôi

Top sách hay

Vĩnh biệt thi sĩ Du Tử Lê

Bất cứ độc giả nào từng rung động với thơ Du Tử Lê hay từng nhẩm hát “Hãy nói về cuộc đời, khi tôi không còn nữa…” đều bàng hoàng khi nghe tin ông đột ngột qua đời sau một giấc ngủ ngắn vào tối ngày 7.10 vừa qua.

Published

on

Phương Nam và Bookish xin cúi đầu vĩnh biệt ông và xin gửi lời chia buồn sâu sắc đến gia quyến nhà thơ, cũng như những độc giả yêu quý thơ ông ở khắp nơi trên thế giới. Tin rằng mối tình sâu nặng của ông với văn chương, với tình yêu, với quê hương sẽ còn sống mãi trong lòng độc giả. Những người yêu thơ, yêu nhau, yêu xứ sở sẽ tiếp tục đọc thơ ông, hát những bản nhạc phổ thơ ông và nhớ về ông.

Một tâm hồn đã ra đi, chúng ta ở lại, để “Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời”.

Bookish trân trọng điểm lại những tác phẩm nổi bật của tác giả Du Tử Lê, như lời chia tay với một tâm hồn thi sĩ, một con người cống hiến cả đời mình cho văn học và thơ ca.

1. Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời

Ngoài tư cách nhà thơ nổi tiếng, Du Tử Lê còn được biết đến là một cây bút truyện ngắn, tùy bút khá đặc sắc của văn chương Sài Gòn trước 1975; là một chân dung đáng chú ý của dòng chảy văn học Việt Nam ly hương. Hầu hết những tùy bút trong tập Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời được tác giả viết ở dạng bán-hồi-ký, phản ảnh ít nhiều phần đời riêng, tựa tác giả soi gương, nhìn lại cuộc lữ hành nhân sinh chìm nổi gập ghềnh, khi ông đã bước vào tuổi 70, ở xứ người.

Tuy không sắp xếp theo thứ tự thời gian, nhưng các tùy bút vẫn có chung mạch chảy giữa đời thường và văn chương. Giữa mất – còn. Giữa hạnh phúc – khổ đau… Giữa sống – chết của một đồng tiền hai mặt.

2. Trên ngọn tình sầu

Với thơ tiếng Việt, Du Tử Lê là một tên tuổi, một thương hiệu được bảo chứng và được yêu mến rộng rãi. Điều này có thể do thơ ông có nhiều bài được phổ nhạc thành công. Âm nhạc đã góp một phần bảo toàn thơ Du Tử Lê trong vùng ký ức nhiều thế hệ. Nhưng nếu không có đôi cánh của âm nhạc thì sao?

Không có đôi cánh của âm nhạc thì thơ Du Tử Lê vẫn bay trên những đường chân trời, bay trên những vực tình và bay trên những năm tháng đời người. Đấy gần như là điều chắc chắn. Bởi Du Tử Lê là một-người-thơ, một giọng tình thăm thẳm nhưng khuất lặng, hay một người viết ngụ ngôn tình nơi biển đời vang động.

Thơ Du Tử Lê là sự kết hợp giữa tính tự sự và chất trữ tình. Nói một cách nào đó, thơ Du Tử Lê là một giọng tình bay trên những đỉnh sầu của đời người.

“…tôi èo uột từ những ngày cả gió

con dế buồn tự tử giữa đêm sương

bầy sẻ cũ cũng qua đời lặng lẽ

ngọn me xưa già khọm tiếc thương hờ

em ở đó bờ sông còn ấm cát

con sóng tình vỗ mãi một âm quên.”

3. Với nhau, một ngày nào

Với nhau, một ngày nào ra mắt vào cuối năm 1974, bản in đầu tiên do Nhà xuất bản Ngạn Ngữ của cố nhạc sĩ Anh Việt Thu xuất bản. Tuy thời gian xuất hiện không được bao lâu do những biến thiên của lịch sử, nhưng cuốn tiểu thuyết của tác giả Du Tử Lê đã nhanh chóng được nhiều bạn đọc yêu mến, nâng niu.

Nội dung cuốn sách kể lại một câu chuyện tình buồn, đầy những tâm tư khắc khoải trên từng trang viết. Một cô gái yêu một người đàn ông đã có gia đình và sống hết mình cho tình yêu đó, nhưng lại phải nhận một kết cục vô cùng đau đớn và buồn thảm. Những trang viết rất thật, rất đời làm cho câu chuyện thấm sâu vào người đọc. Bối cảnh Sài Gòn – Đà Lạt cũng làm cuốn tiểu thuyết trở nên gần gũi, cảm thấy như mỗi người đều có một chút gì trong câu chuyện đó.

Tuy tác phẩm này ra đời đã lâu, nhưng những bi kịch trong đó thì không hề cũ. Những cảm xúc và xung đột trong tình yêu, gia đình, bè bạn đều là những chuyện chúng ta có thể gặp mỗi ngày mà không hề xa lạ. Và bối cảnh trong truyện, những chuyến xe đò, những quán cà phê, chuyện cơm áo, cảnh đôi tình nhân đi chung trên xe máy… tất cả đều rất Việt Nam, rất Sài Gòn.

4. Giữ đời cho nhau

Vẫn với một tâm hồn đa cảm, duy tình và phóng khoáng, những trang văn của Du Tử Lê đã trổ ngõ mà chảy vào trái tim người cùng thời, cùng cảnh ngộ, khơi gợi những giá trị thiện lành, nhân cảm trong một đời sống, một lịch sử quá nhiều bất trắc.

Tuyển tùy bút Giữ đời cho nhau là tập hợp 10 bài tùy bút trong quyển Mùa hoa móng tay do Tạp chí Văn, ấn hành năm 1972 và 16 bài tùy bút mới được tác giả viết sau này, trong đó, bài mới nhất (Những “địa đạo” đêm Sài Gòn xưa) được viết vào đầu 2018.

Phía sau những nhân vật dù cụ thể hay phiếm chỉ, các tùy bút của Du Tử Lê đều tỏa ra một thứ ánh sáng của tin yêu, một sự gắn bó tốt đẹp, một tinh thần cởi mở và niềm tín thác vào nhân gian không toan tính. Những tùy bút giàu mỹ cảm đó, bên cạnh những bài thơ lãng mạn và giàu suy tư của ông đã hướng đến một sự nhất quán tinh tế, lạ lùng.

Nhưng nếu những bài thơ thơ gói gọn trong một giới hạn với đặc thù ngôn ngữ và nhạc tính riêng, thì tùy bút cho phép Du Tử Lê có không gian để diễn giải và triển khai một cách tự do các ấn tượng cá nhân phía sau mỗi tình tiết. Sự tự do của một người viết giữ được lửa ấm của trái tim tự tại mà chan hòa.

5. Khúc Thụy Du

Khúc Thụy Du là tập thơ đánh dấu sự trở lại của tiếng thơ Du Tử Lê. 50 bài thơ tình, thơ thế sự đã được phổ nhạc, rất phổ biến của Du Tử Lê trong nửa thế kỷ qua đã được tuyển chọn trong tập thơ này với một sự sàng lọc kỹ lưỡng của chính tác giả và những người làm sách tâm huyết.

Thơ Du Tử Lê, loài thơ được tạo nên bởi phẩm tính thi sĩ mạnh mẽ tới mức, chúng dẫu có mang những khuôn thức, thì nội tại cũng luôn quẫy đạp để tìm cái vô hạn; xác chữ dẫu có khoác vào khái niệm thì cũng chỉ để hướng tới cái tình ý ngoài lời. Và trên đơn vị bài thơ, dẫu được xác định tọa độ bằng những hệ tứ xuyên suốt thì đó cũng chỉ là những tọa độ hư ảo. Những bài thơ tụng ca nhân tình, quê xứ, yêu đương trong tập thơ này đã là chất men phiêu lãng cất cánh thành ca từ trong những sáng tác nổi tiếng của các nhạc sĩ tài hoa: Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Anh Bằng, Đăng Khánh, Trần Duy Đức…

Tập thơ gói lại rất nhiều sáng tác nổi tiếng của Du Tử Lê: Khúc Thụy Du, Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển, Ta tiếc thiên đường mới lập xong, Người từ phương Đông qua,… và cập nhật sáng tác mới nhất của ông: Nuôi người, trang sách thơm. Thơ Du Tử Lê sống động, khiêm cung và bao dung trong lòng công chúng, hóa giải trước muôn trùng định kiến, bay trên những đứt gãy thế cuộc lẫn đời riêng.

6. Chúng ta, những con đường

Thế giới tàn nghiệt nhưng vẫn bảo tồn chốn rất mực riêng tư cho thi ca nương náu. Mà đâu chỉ nương náu. Thi ca còn trổ ra những bóng râm tươi mát, ủi an loài chim thiên di trú ngụ sau những sải cánh tả tơi dặm trường.

Du Tử Lê, ông vẫn làm thơ, sống thơ. Thơ ông như loài thiên di hát về đường bay sinh tử ly hương đã qua, về những cái chết thảng thốt giữa không trung trên hành trình tìm nắng ấm và cả bóng hình lung linh trong niềm tín thác sẽ mang theo về cõi thiên thu… Đây là tập thơ của một thi sĩ miền Nam còn đang miệt mài trên chuyến di thê.

Tiểu sử tác giả:

Du Tử Lê, tên thật là Lê Cự Phách. Sinh 1942 tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, miền Bắc Việt Nam, là một nhà thơ Việt Nam.

Ông làm thơ từ rất sớm, khi đang còn học tại trường tiểu học Hàng Vôi tại Hà Nội. Sau khi di cư vào Sài Gòn, Du Tử Lê bắt đầu sáng tác nhiều tác phẩm dưới nhiều bút hiệu khác nhau. Bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức lần đầu tiên vào năm 1958 cho bài Bến tâm hồn, đăng trên tạp chí Mai. Du Tử Lê từng là sĩ quan thuộc Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, cựu phóng viên chiến trường, thư ký tòa soạn cuối cùng của nguyệt san Tiền phong (một tạp chí của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa), và là giáo sư dạy giờ cho một số trường trung học Sài Gòn. Năm 1973 tại Sài Gòn, ông được trao Giải thưởng Văn chương Toàn quốc, bộ môn Thơ với tác phẩm Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972.

Ban Biên Tập

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Top sách hay

“Lối thoát” mùa dịch: Các nhà văn đọc gì?

Published

on

Từ Hilary Mantel đến Kazuo Ishiguro, từ Curtis Sittenfeld đến Sebastian Barry: các tác gia nổi tiếng đọc gì để tìm kiếm chút an ủi giữa mùa dịch?

1. Kazuo Ishiguro

Tác giả của Mãi đừng xa tôi, Cảnh đồi mờ xám, Dạ khúc, Gã khổng lồ ngủ quên.

The Fortnight in September (Trong hai tuần tháng Chín) của RC Sherriff là cuốn tiểu thuyết tuyệt vời nhất, cho tôi niềm tin tích cực nhất mà tôi có thể nghĩ ra ngay bây giờ. Được xuất bản vào năm 1931, đây là cuốn tiểu thuyết tinh tế và sắc sảo, kể về một gia đình trung lưu bình thường đến từ phía nam London đang chuẩn bị đi du lịch và tận hưởng kỳ nghỉ hè khiêm tốn của họ ở Bognor Regis. Ở một cấp độ hoàn toàn không quá kịch tính, Sherriff đã điều chỉnh tiêu chuẩn của chúng ta khi đánh giá về những gì hứng khởi hay chán ngán, tận đến khi ta hoàn toàn thấu hiểu được những thăng trầm cảm xúc của gia đình này. Sherriff không kẻ cả, ông cũng không cố tán tụng họ quá lố. Ông tôn trọng họ vì những lý do hoàn toàn chính đáng – vì sự đứng đắn bản năng họ dành cho nhau và dành cho những người họ gặp; và cho cả cách thức họ hành động như một gia đình hạnh phúc một cách vô tư lự – có lẽ là vô thức, bất chấp sự bất an và thất vọng tồn tại trong lòng mỗi người. Kỳ nghỉ tuyệt vời bên bờ biển nước Anh vào thời vàng son và những phẩm giá đẹp đẽ được tìm thấy trong cuộc sống hàng ngày hiếm khi nào được ghi lại một cách tinh tế hơn thế.

2. Hilary Mantel

Tác giả của Lâu đài sói.

Những phụ nữ áo đen (The Women in Black) không phải là một tiêu đề tươi vui gì mấy. Những nhân vật trong cuốn tiểu thuyết này không phải đang để tang; họ là những nữ nhân viên bán hàng trong cửa tiệm bách hóa những năm 1950 ở Sydney. Cuốn sách là câu chuyện về sự trưởng thành. Như cách một trong những nhân vật chia sẻ với ta: “Một cô gái thông minh là điều tuyệt vời nhất của Đấng tạo hóa.” Tác giả cuốn sách qua đời năm 2006, và những năm tháng ẩn dật cuối đời của bà đã bị bệnh tật tàn phá, nhưng bà vẫn gắng gượng, thông minh và hài hước, bà có thể viết về tuổi trẻ với sự ngọt ngào xuyên thấu tâm can mà không có chút điềm gở tang tóc nào. Cuốn sách này như viên ngọc quý – là một trong số ít ỏi những cuốn sách tôi biết sẽ mang đến niềm vui trong từng câu chữ, hoàn toàn không có sự hiện diện của thói thao túng cảm xúc hay đa cảm và ủy mị.

3. Mark Haddon

Tác giả của Bí ẩn con chó lúc nửa đêm Bùm.

Tôi không tìm kiếm sự an ủi từ tiểu thuyết, thay vào đó, tôi chủ yếu xem phim truyền hình và phim tài liệu. Trong những thời điểm đặc biệt khó khăn, tôi tìm đến thuốc an thần và một playlist “khẩn cấp” trên iTunes. Tôi đọc tiểu thuyết để kích thích trí tưởng tượng, để hiểu biết về cuộc đời và suy nghĩ khác, để tìm thấy ngôn ngữ được sử dụng theo những cách thức lý thú mới. Tuy nhiên, tôi dễ mềm lòng với tiểu thuyết thời Victoria. Các cốt truyện vừa cường điệu mà vừa êm ái, các cú pháp và nhịp điệu – ngôn ngữ được viết bởi những người có nhiều thời gian để viết, dành cho những độc giả có nhiều thời gian để đọc, hoặc thực sự nghe. Eliot, Dickens, Gaskell, Brontës, Wilkie Collins, Trollope… ai cũng được ngoại trừ Đồi gió hú (tại sao chúng ta bị cuốn hút quá lâu bởi một kẻ lạm dụng tình dục thích siết cổ chó?). Tôi vừa bắt đầu đọc Bí mật của quý bà Audley (Lady Audley’s Secret) của Mary Elizabeth Braddon, và cho đến nay rõ ràng tôi vẫn rất vừa ý.

4. Curtis Sittenfeld

Tác giả của Phu nhân nước Mỹ (American Wife) Rodham – Sẽ ra sao nếu Hillary đã rời bỏ Bill Clinton? (Rodham: What If Hillary Hadn’t Married Bill).

Alice Munro luôn là nhà văn yêu thích của tôi kể từ lần đầu tiên tôi đọc một tập truyện của bà hồi 30 năm trước, khi tôi còn là một thiếu nữ. Một cách tuần tự, đôi khi thứ gì đó trong cuộc sống nhắc nhở tôi về những câu chuyện của bà, và tôi lập tức đọc lại chúng. Khi đó, tôi đã bị ấn tượng bởi sự phong phú trong cốt truyện và sự phức tạp của các nhân vật, của cảm xúc và của các mối quan hệ giữa họ. Mặc dù các truyện ngắn của bà không phải một dạng tự-nâng-cao-tinh-thần, nhưng sự sáng suốt của chúng bằng cách nào đó làm tôi yên tâm. Hơn một lần tôi từng nghĩ: Nếu tôi bắt đầu mỗi ngày bằng cách đọc một câu chuyện của Alice Munro thay vì nhìn vào Twitter, tôi sẽ tốt hơn rất nhiều. Nhưng có một sự thật rằng: Tôi chưa từng thử. Nhưng có lẽ rồi cuối cùng tôi sẽ làm được. Trong khi đó, không có giờ nào trong ngày là không phù hợp cho việc đọc một câu chuyện của Munro, và không có câu chuyện nào của Munro là không hợp lí cả. Thế sao không bắt đầu với Ghét, thân, thương, yêu, cưới?

5. David Mitchell

Tác giả của Bản đồ mây, Đồng hồ xương và sắp tới là Utopia Avenue.

Bộ ba ngời sáng Eagle of the Ninth (Đại bàng của lữ đoàn 9) của Rosemary Sutcliff lấy bối cảnh vùng Anh thuộc La Mã thời cổ, đều hướng về một điểm chung. Tại sao tôi lại nói bộ ba này thú vị? Đầu tiên, Sutcliff là một nhà văn với sự thấu hiểu thời đại xuất sắc theo chủ nghĩa cổ điển, có đôi mắt của một nhà thơ khi ngắm nhìn thiên nhiên, và khả năng phán đoán tình tiết quỷ quái. Các tiểu thuyết thuộc thể loại này không thể không thú vị được. Thứ hai, bộ ba ca ngợi khả năng chịu đựng và chống lại tình huống khắc nghiệt của con người. Sutcliff đã sử dụng hình tượng chiếc xe lăn, và hình tượng anh hùng của bà đi kèm với những khiếm khuyết để chiến thắng của họ trở nên hoành tráng hơn. Thứ ba, những cuốn sách lấy bối cảnh thời cổ đại luôn khôi phục niềm tin của tôi vào sự trường tồn của nhân loại. Đại dịch, thiếu thốn, những kẻ gây rối trên ngai vàng và lo sợ tận thế không có gì mới. Tuy nhiên, mặt trời sẽ luôn soi sáng. Khi Covid-19 chỉ còn là quá vãng, bạn có thể đến Reading Museum để thăm Đại bàng Silchester bằng đồng đã truyền cảm hứng cho những cuốn sách bậc thầy này. Nó tồn tại từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên và duy trì quyền lực một cách tuyệt đối.

6. Sebastian Barry

Tác giả của Bên kia những ngày kết thúc (Days Without End) Hàng ngàn mặt trăng (A Thousand Moons).

Thật kỳ lạ khi vẫn còn một cuốn sách phù hợp cho thời điểm này, mặc dù nó đã được viết cách đây 2.000 năm. Suy tưởng của Marcus Aurelius bằng cách nào đó rất hiện đại, và chắc chắn phù hợp ngay cả lúc này. Thật vậy, ông đã cảnh báo việc chống lại những tham chiếu vô ích cả về quá khứ lẫn tương lai, ông luôn cố gắng giữ thăng bằng trong hiện tại. Ngoài ra, ông khuyên chúng ta không nên chống lại bất hạnh, mà nên sử dụng bản thân và tất cả những gì vốn có để đương đầu với chúng. Tôi không biết ông có hiện thực hóa những lời ông khuyên được không. Trong suốt những năm tại vị của mình với tư cách một hoàng đế La Mã, bệnh dịch đã bùng phát qua khắp đế chế. Triết lý của ông về những rắc rối luôn không thay đổi; chúng như những dấu chỉ của sự sống. Các vũ khí chống lại chúng là điều nhã nhặn và lòng trắc ẩn, là thực hiện những gì đáng thuộc về mình. Sự thoải mái của Aurelius nằm ở sự chắc chắn và bình tĩnh, và khi đọc, các dòng chữ ấy như đang thì thầm vào tai bạn. Nếu ông có một hậu duệ, đó chỉ có thể là Churchill.

Hết.

minh. lược dịch.

Bài viết gốc được đăng tại The Guardian. Ảnh minh họa đầu bài: Lehel Kovács.

*

Có thể bạn sẽ thích?



Đọc bài viết

Top sách hay

10 tác phẩm xuất sắc viết về Chiến tranh thế giới thứ hai

Published

on

Bookish xin giới thiệu với độc giả 10 tác phẩm văn học và tác phẩm phi hư cấu bàn về Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945). Những cuốn sách dưới đây viết từ nhiều góc nhìn khác nhau: người dân thường trốn chạy khỏi đói khổ và bom đạn chiến tranh, cộng đồng Do Thái phải chật vật tồn tại trước nguy cơ bị diệt chủng, những người lính Phe Đồng minh sống sót sau cuộc chiến với chấn thương tâm lý nặng nề, hoặc thậm chí là lời thú tội của chính những “kẻ thủ ác” Đức quốc xã. Hi vọng với những tác phẩm này, bạn sẽ hình dung ra bức tranh toàn diện nhất về một cuộc chiến, tuy chỉ kéo dài sáu năm một ngày, nhưng có quy mô rộng lớn và gây nhiều tàn phá nhất trong lịch sử nhân loại.

1. Sự trỗi dậy và suy tàn của Đế chế thứ ba (Lịch sử Đức quốc xã) (William L. Shirer)

Câu chuyện khủng khiếp nhất về nước Đức của Hitler được kể lại với nhiều cảm xúc trong nghiên cứu bậc thầy.

Sự trỗi dậy và suy tàn của Đế chế thứ ba là bản tường thuật chi tiết về nước Đức dưới sự cai trị của Adolf Hitler và Đảng Quốc xã. William L. Shirer đã nghiên cứu kĩ lưỡng về sự ra đời của Đế chế thứ ba ở Đức, con đường dẫn đến quyền lực tuyệt đối của Đảng Quốc xã, diễn biến của Chiến tranh thế giới thứ hai và sự thất bại của Phát xít Đức. Ông đã có cơ hội quan sát, tường thuật cuộc sống của Đức Quốc xã từ năm 1925 khi làm phóng viên tác nghiệp ở đây, tiếp cận các nhà lãnh đạo Đức Quốc xã hàng đầu. Sau chiến tranh, ông tham dự các phiên tòa xử tội phạm chiến tranh. Shirer đã bỏ ra 5 năm rưỡi để rà soát từng đống tài liệu, trong đó có nhật kí của các quan chức cùng hàng loạt các quân lệnh và thư mật. Từ những nguồn này và cũng từ thông tin tự thu thập ở Đức và châu Âu trong hơn bốn thập kỷ, ông đã tổng hợp nên một thiên niên sử nhân loại.

Từ khi được xuất bản năm 1960, nghiên cứu bất hủ của William L. Shirer về đế chế của Hitler đã được ngợi ca rộng khắp như hồ sơ cuối cùng về thời khắc đen tối của thế kỷ XX. Cùng với hàng triệu bản in được phát hành trên toàn cầu, Sự trỗi dậy và suy tàn của Đế chế thứ ba là một trong những công trình nghiên cứu lịch sử quan trọng nhất, nói về một trong những giai đoạn u ám nhất của lịch sử loài người.

2. Bẫy-22 (Joseph Heller)

Trên một hòn đảo ngoài khơi nước Ý thời Thế chiến thứ hai có một liên đoàn không quân Mỹ. Một trong số lãnh đạo của họ là đại tá Cathcart, kẻ khao khát muốn gây ấn tượng với cấp trên bằng cách ép lính đi ném bom mỗi lúc một nhiều hơn. Nhân vật chính của chúng ta, Yossarian, mỗi lần đủ chỉ tiêu giải nhiệm thì lại phải đối mặt với chỉ tiêu mới. Trước sự chết chóc kinh hoàng của cuộc đại chiến, tất cả những gì y mong muốn là toàn mạng trở về. Nhưng mỗi khi chỉ tiêu ra trận tăng lên, xác suất sống sót của y lại giảm xuống. Y không có cách nào thoát ra, bởi ở đó có một cái bẫy. Bẫy-22.

Thứ logic vừa giản dị vừa điên rồ của Bẫy-22 chi phối suốt ngót 600 trang sách với hàng chục nhân vật, qua chiến trường qua đạn bom, qua bệnh viện quân y và nhà bếp hậu cần, qua tướng lĩnh và lính tráng, qua cả những số phận tan nát và những kẻ trục lợi từ chiến tranh. Sự điên rồ chảy qua mọi đối thoại, sự ngớ ngẩn thấm đẫm mọi nhân vật, cho tới tận cú nhảy kết cục cuối cùng. Bộ mặt của chiến tranh hiện ra khủng khiếp trong sự nực cười, phi lý. Bẫy-22 hài hước một cách trần trụi, một cách dữ dội, một cách cay đắng, một cách man rợ, nhưng những ai có thể chịu đựng được nó thì hẳn sẽ không thể nào lãng quên.

3. Kinh cầu nguyện Kaddis dành cho đứa trẻ không ra đời (Kertész Imre)

Tiểu thuyết Kinh cầu Kaddis dành cho đứa trẻ không ra đời được giới phê bình và độc giả đánh giá là một trong những kiệt tác văn học Hungary – kể cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện – trong thập kỷ đầu tiên, khi Hungary trở lại thành một xã hội dân chủ. Tác giả Kertész Imre nhận giải Nobel Văn chương năm 2002, là giải Nobel đầu tiên trong bộ sưu tập giải Nobel danh giá của xứ sở này.

Câu chuyện mở ra khi một nhà văn, một người sống sót sau nạn diệt chủng người Do Thái thời Đức quốc xã, giải thích cho bạn rằng: ông không thể sinh ra một đứa trẻ trong một thế giới mà nạn diệt chủng đó đã xảy ra và có thể xảy ra lần nữa. Dõi theo câu chuyện phức tạp, chúng ta nhận thấy vô số thất vọng của người kể chuyện: sự nghiệp văn chương không thành công, hôn nhân thất bại, gia đình mới và con cái của người vợ cũ – những đứa trẻ có thể là con mình. Như một lời cầu nguyện, các ý tưởng trong Kinh cầu Kaddis dành cho đứa trẻ không ra đời nối tiếp, dàn trải theo một nhịp điệu nhịp nhàng. Đó không chỉ là câu chuyện bi kịch của một người đàn ông mà còn là lịch sử bi thương của cả dân tộc Do Thái.

4. Max – Bi kịch của “chủng tộc thượng đẳng” (Sarah Cohen-Scali)

“Mong ước đầu đời của tôi là được sinh ra vào ngày 20 tháng Tư, vì đó là sinh nhật của Quốc trưởng. Nếu tôi sinh ra vào ngày 20 tháng Tư thì tôi sẽ được các vị Thánh của người Đức ban phước lành và người ta sẽ coi tôi như là đứa con đầu lòng của chủng người thượng đẳng, người Aryan. Đây là chủng người từ nay sẽ thống trị thế giới. Tôi là đứa trẻ của tương lai. Đứa trẻ được hình thành không có tình yêu. Không Chúa Trời. Không luật pháp. Không gì khác ngoài sức mạnh và sự vĩ cuồng. Heil Hitler!”

Max – Bi kịch của “chủng tộc thượng đẳng” hé lộ những sự thật lịch sử đầy ám ảnh về chương trình Lebensborn do Thống chế Himmler khởi xướng. Trong đó, Max – cùng rất nhiều đứa trẻ khác – được lên kế hoạch phôi thai để tạo ra người Aryan hoàn hảo, với chiều cao hoàn hảo, cân nặng hoàn hảo, tóc vàng mắt xanh hoàn hảo và trí lực hoàn hảo. Một cuộc sống được lên kế hoạch sẵn, được điều chỉnh dựa trên các thông số cụ thể đã thiết lập từ trước nhằm tạo ra các đại diện thuần chủng của chủng người Aryan, thế hệ trẻ lí tưởng phụng sự cho sứ mệnh phục hưng nước Đức và sau đó là châu Âu nằm dưới sự chiếm đóng của Đế chế.

Tác phẩm đã đạt mười hai giải thưởng tại Pháp, được dịch sang tiếng Anh, Tây Ban Nha và được độc giả trên khắp thế giới đón nhận.

5. Lò sát sinh số 5 (Kurt Vonnegut)

Với Lò sát sinh số 5, Kurt Vonnegut đưa người đọc lần theo cuộc đời của Billy Pilgrim – một anh lính Mỹ đi qua Thế chiến thứ hai rồi trở thành một bác sĩ đo thị lực vào thời bình. Những mảnh ghép cuộc đời anh ta lần lần hé lộ qua những cuộc du hành xuyên thời gian dường như đột ngột và ngẫu nhiên xảy đến với Billy Pilgrim, tạo thành bức tranh thân phận con người trong một cuộc chiến tranh lố bịch và điên rồ với những chấn thương chỉ có thể được nói đến bằng giọng điệu báng bổ và cười cợt.

Pha trộn giữa tự thuật và hư cấu, giữa phản chiến và khoa học viễn tưởng, giữa cảm giác hư vô và buồn cười nôn ruột, Lò sát sinh số 5 – tác phẩm được xem là lớn nhất của Kurt Vonnegut – là biên bản độc nhất vô nhị về Thế chiến thứ hai, nơi con người bị sự vô nghĩa nghiền nát. Xuất bản năm 1969, cuốn sách phản chiến đầy sức mạnh này đã sớm trở thành sách gối đầu giường của những người Mỹ phản đối chiến tranh Việt Nam bấy giờ.

6. Hai người đàn bà (Alberto Moravia)

Hai người đàn bà là tiểu thuyết nổi tiếng của văn hào Ý Alberto Moravia, xoay quanh một người phụ nữ cố gắng bảo vệ cô con gái nhỏ khỏi sự khủng khiếp của chiến tranh. Cesira là một bà góa, chủ một cửa hiệu bán thực phẩm ở Rome trong Thế chiến thứ hai, nuôi dạy cô con gái mười hai tuổi sùng đạo, Rosetta. Sau vụ ném bom Rome của quân Đồng minh, hai mẹ con đã chạy trốn đến Ciociaria, một vùng núi ở miền Trung nước Ý.
Sau khi quân Đồng minh chiếm được Rome, hai mẹ con tìm cách trở về nhà. Trên đường về, cô con gái bị lính Maroc trong quân đội Đồng minh xâm hại. Cô gái thay đổi tâm tính hoàn toàn, trở nên xa cách với mẹ và không còn là một đứa trẻ ngây thơ.

Tác phẩm đã khắc họa sinh động số phận con người và mối quan hệ giữa họ trong chiến tranh. Trong cảnh đói khổ và bom đạn của Thế chiến thứ hai, giữa lằn ranh sống chết, đã xuất hiện những sự lưu manh, ti tiện để trục lợi, tội ác nhưng cũng có tình người cảm động. Đây là tư tưởng và phong cách xuyên suốt của Alberto Moravia. Cái phông văn hóa được đặt trên cái nền đói khổ, hiểm nguy của Thế chiến thứ hai, với sự khốc liệt của nó làm méo mó nhân cách con người. Nhưng cuối cùng, cái bản chất người, sự nhân bản vẫn chiến thắng.

7. Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ (Svetlana Alexievich)

Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ, tác phẩm của tác giả đoạt giải Nobel Văn chương 2015 Svetlana Alexievich, là bản dịch đầy đủ nhất từ trước tới nay, không cắt gọt, không kiểm duyệt của chính tác giả do dịch giả Nguyên Ngọc dịch mới hoàn toàn. Có một cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai mà bạn chưa từng nghe nói tới, những câu chuyện chưa bao giờ được đưa ra ánh sáng, những số phận gắn liền với chiến tranh, đã được tác giả tái hiện lại một cách chân thực nhất, đầy đủ nhất trong cuốn sách.

Đây là tác phẩm lệch giữa hai bờ vực: một nửa là văn chương, một nửa là báo chí. Nó giống như tuyển tập những câu chuyện đi trên dấu vết của đời sống nội tâm và ghi âm lại tâm hồn của những người phụ nữ trở về sau Thế chiến thứ hai, nơi cuộc chiến của những người phụ nữ có ngôn ngữ riêng của nó. Không phải lịch sử chiến tranh hay lịch sử nước nhà mà là lịch sử của những con người bình thường với cuộc sống bình thường, thời đại họ bị xô vào những biến cố khổng lồ.

8. Danh sách của Schindler (Thomas Keneally)

Trong bóng đen khủng khiếp của các trại diệt chủng thời Đệ nhị Thế chiến, có một nhà công nghiệp Đức đã trở thành cứu tinh của người Do Thái. Oskar Schindler, con người ham lạc thú, kẻ còn lâu mới được coi là mẫu mực, cũng đồng thời là kẻ đã mạo hiểm cả mạng sống của mình để bảo vệ những đồng loại khác chủng tộc mà nếu không có ông thì hẳn đã kết thúc cuộc đời trong lò thiêu.

Danh sách của Schindler đã kể một câu chuyện có thật khác thường như vậy, một câu chuyện tự nó đã có thể làm người đọc choáng váng mà không cần đến một phương tiện văn chương cầu kỳ nào. Nó có thể làm ta khóc, như bộ phim kinh điển dựng từ chính nó của Steven Spielberg đã làm cho hàng triệu người khóc, nhưng trên hết nó làm ta hiểu hơn về những gì đã xảy ra, những sự kiện, những con số, những chân dung chi tiết hơn của cả nạn nhân, thủ phạm và người cứu nạn. Holocaust là một chương lịch sử kinh hoàng gần như nằm ngoài tưởng tượng của loài người tỉnh táo. Nhưng những câu chuyện như Danh sách của Schindler chính là tia hy vọng trấn an, rằng ngay cả trong hố sâu tuyệt vọng nhất của lịch sử vẫn luôn có một cá nhân nào đó nhận ra và dám làm điều đúng đắn, rằng nhân tính sẽ thắng dù cho có bị thử thách khốc liệt ra sao.

9. Chương trình nghị sự (Éric Vuillard)

“Chúng ta chất vấn Lịch sử, chúng ta khẳng định Lịch sử có lẽ đã buộc các diễn viên chính trong những dằn vặt của chúng ta phải tạo dáng. Chúng ta sẽ không bao giờ thấy ống quần dơ bẩn, khăn bàn ngả vàng, cuống séc, vết cà phê…”

Phát xít Đức nổi tiếng là có một đội quân thần tốc, hiện đại và bất khả chiến bại. Nhưng phía sau những chiến công đầu tiên chúng giành được lại là một loạt các vụ mặc cả, các âm mưu lợi ích tầm thường, hèn hạ và những sự cố lố bịch, nực cười. Trong Chương trình nghị sự, cuốn tiểu thuyết súc tích và sắc sảo thuật lại vụ sát nhập Áo vào Đức, Éric Vuillard để cái thô kệch và bi thảm không ngừng đan xen hòng làm sáng tỏ, thông qua lối viết chính xác và mỉa mai, “vẻ dính dáp của những mưu mẹo và những trò bịp bợm vốn tạo nên Lịch sử.” Câu chuyện lịch sử này, ngắn gọn, đanh thép, tung hứng với các liên kết chính trị và kinh tế, hẳn rồi, song đặc biệt cũng kể lại tất cả những điều đó bằng thái độ xấc xược tài tình, tìm kiếm khía cạnh nực cười và phi lý, để rốt cuộc, phơi bày toàn bộ mưu ma chước quỷ ẩn mình dưới những chiếc mũ kê pi.

Tờ Le Monde (Pháp) đã nhận định: “Luồn lách vào hậu trường các sự kiện lịch sử, và giúp người đọc thấy được mặt trái của sân khấu, tiết lộ phần bí mật thô kệch, ngu ngốc, ngẫu nhiên, muộn phiền và/hoặc hèn hạ, dẫn đến điều đó… Đó chính là phương pháp Vuillard.”

10. Kẻ trộm sách (Markus Zusak)

Chọn một đề tài tưởng như đã có quá nhiều cây bút đào xới nhưng Markus Zusak vẫn gây bất ngờ cho người đọc. Người kể chuyện trong tác phẩm này là Thần Chết – một “gương mặt” quen thuộc của chiến tranh, gắn liền với cái chết, với sự bi thương, sự tăm tối. Nhưng câu chuyện mà thần chết kể ra, về sự dữ dội của những gì con người gây ra đối với chính đồng loại của họ thì đến ngay cả Thần Chết cũng phải rùng mình. Lật giở những trang sách, người đọc như bước vào cuộc trò chuyện với Thần Chết, một nhân vật có khiếu hài hước, với một lời cảnh báo nho nhỏ đầy hóm hỉnh ngay khi mở đầu câu chuyện rằng “Bạn sẽ chết”. Đây là một câu chuyện với quá nhiều cái chết nhưng cũng đầy ắp tình yêu thương và thấm đẫm tính nhân văn.

Dù vậy, nội dung chính của câu chuyện không lột tả những cảnh chiến trường đẫm máu của Thế chiến thứ hai, những cảnh giết chóc man rợ. Đây là câu chuyện về Liesel, cô bé gái mồ côi được làm con nuôi tại phố Thiên Đàng thuộc thành phố Munich. Chính tại thị trấn nhỏ nghèo nàn với vẻ ngoài bình yên của những trận đá bóng của trẻ con, những phi vụ ăn trộm nho nhỏ của đám trẻ đói khát, tình bạn tuyệt đẹp của Liesel và cậu bé Rudy đầy cá tính… đã toát lên không khí của nước Đức căng thẳng đầy những xung đột – một nước Đức đang trải qua một trong những giai đoạn kinh hoàng nhất của lịch sử nhân loại. Từ cuộc sống nghèo tại phố Thiên Đàng nhỏ bé, Liesel đã chứng kiến sự tàn khốc của cuộc chiến, sự man rợ đến rùng mình của chế độ phát xít đối với những người Do Thái vô tội. Tuy nhiên, đâu đó vẫn có những con người như Hans Hubermann lén lút giấu trong nhà mình một thanh niên Do Thái trước sự truy lùng của chế độ Đức quốc xã. Thần Chết phải thốt lên: “Tôi nhìn thấy sự xấu xí và vẻ đẹp của họ, và tôi tự hỏi rằng làm sao mà một thứ như vậy lại có thể mang cả hai thuộc tính này.”

Hết.

Đọc bài viết

Top sách hay

7 cuốn sách về những gia đình “cá biệt”

7 cuốn sách sau đây sẽ trả lời câu hỏi: liệu một gia đình hạnh phúc có hoàn hảo không, và ngược lại, có phải một gia đình hoàn hảo chắc chắn sẽ đạt được hạnh phúc?

Published

on

1. Những đốm lửa lưu lạc: Một bà mẹ đơn thân da màu ở thế đối lập với một gia đình trung lưu hoàn hảo da trắng

Những đốm lửa lưu lạc là cuốn tiểu thuyết thứ hai của nữ nhà văn người Mỹ gốc Hoa Celeste Ng, được tạp chí Time bầu chọn là một trong 10 tác phẩm hư cấu xuất sắc nhất thập kỷ. Bối cảnh cuốn sách đặt tại Shaker Heights, một vùng ngoại ô cấp tiến và yên bình, mọi thứ đều tuân theo trật tự định sẵn – từ cách bố trí các con đường quanh co, màu sắc của những ngôi nhà, đến sự sung túc, thịnh vượng của cư dân trong vùng. Không ai hiểu rõ điều ấy như Elena Richardson. Thế nhưng, sự xuất hiện của người mẹ đơn thân da màu Mia Warren cùng cô con gái tuổi teen Pearl đã làm thay đổi cuộc sống của gia đình Richardson, gây xáo trộn cộng đồng vốn nề nếp đến từng chi tiết này.

Một câu chuyện xúc động về sự gắn kết mãnh liệt của tình mẫu tử, sức nặng của những bí mật, bản chất của nghệ thuật và tính đồng nhất trong một cộng đồng, như những ngọn lửa âm ỉ ủ trong vẻ ngoài tĩnh lặng, cứ chực chờ bùng cháy.

Những đốm lửa lưu lạc đã được Hulu chuyển thể thành series phim truyền hình với sự diễn xuất của nữ diễn viên kỳ cựu Reese Witherspoon và Kerry Washington.

2. Về nhà với mẹ: Khi con gái dắt… bạn gái về nhà sống chung

Vấp phải khó khăn tài chính ngoài ý muốn, Green phải dọn về sống chung với mẹ. Nhưng cô không về một mình mà còn dẫn theo một bạn gái khác, cũng là người yêu của mình trong suốt bảy năm qua. Ba người – hai thế hệ với tư tưởng và nhân sinh quan khác biệt sâu sắc liệu có thể chung sống yên bình dưới một mái nhà khi những nỗ lực tìm kiếm một mẫu số chung đôi lúc mang lại nhiều tổn thương hơn là hòa giải?

Về nhà với mẹ, được viết bởi ngòi bút trưởng thành đáng ngạc nhiên của tác giả trẻ Hyejin Kim, đã tinh tế chạm tới những khía cạnh mang tính thời đại đồng thời soi tỏ những góc nhìn mới mẻ về gia đình, đặc biệt về mối quan hệ mẹ và con gái.

3. Ngôi nhà vui vẻ: Một bà mẹ đơn thân và ba cô con gái mang ba họ cha khác nhau

Sau Yêu người tử tù, Gong Ji Young quay trở lại cùng với cách viết chân thực, mạnh mẽ và sáng tạo, lần này qua tác phẩm Ngôi nhà vui vẻ, được lấy cảm hứng từ chính cuộc đời của mình qua nhân vật cô gái Wi Nyeong mười tám tuổi. Và người đọc sẽ cảm nhận được tình cảm gia đình ấm áp dù không trọn vẹn qua lời của một người mẹ đơn thân nuôi ba đứa con mang ba họ cha khác nhau.

“Con gái yêu quý của mẹ, hãy bước đi trên con đường con đã chọn. Me sẽ ở lại nơi đây. Tuổi hai mươi của con phải khác tuổi hai mươi của mẹ. Hãy tin vào những nguyện cầu của mẹ và bước về phía trước. Đừng quên niềm đau sẽ là bài học giúp con khôn lớn. Hãy sống hết mình cho cuộc đời phía trước nhé con! Và mẹ sẽ trao cho con chiếc chìa khoá vàng bằng tình yêu thương của mẹ. Con hãy dùng nó để mở cánh cửa của thế giới, thế giới của riêng con…” (trích Ngôi nhà vui vẻ)

4. Gia đình trộm cắp: Những xó xỉnh nằm ở rìa xã hội không được ánh sáng chiếu đến

Được chuyển thể từ bộ phim cùng tên của tác giả Kore-eda Hirokazu giành giải Cành cọ vàng tại LHP Cannes lần thứ 71, Gia đình trộm cắp là cuốn tiểu thuyết thuộc thể loại tâm lý xã hội đã làm xúc động hàng triệu trái tim trên toàn thế giới.

Vào một đêm mùa đông lạnh giá, Osamu và đứa con trai Shota vừa ăn cắp khỏi một tiệm tạp hóa gần nhà thì tình cờ gặp một bé gái bốn tuổi đang sắp chết cóng trên ban công. Hắn quyết định mang cô bé về nhà mình mà không suy nghĩ quá nhiều. Cuốn tiểu thuyết về một gia đình kì quái được tạo thành bởi những mảnh đời phiêu dạt nằm bên ngoài xã hội, không được ánh sáng chiếu tới.

Một người đàn ông ở tuổi trung niên chỉ biết dạy những đứa trẻ ăn cắp, sống vạ vật không đi làm. Một người phụ nữ bị ám ảnh bởi quá khứ bất hạnh yêu thương những đứa trẻ không thuộc về mình. Một cô gái bỏ nhà ra đi sống nương tựa vào một bà già chỉ sống bởi trợ cấp từ chồng cũ và tống tiền gia đình của chồng. Và hai đứa trẻ “bị bắt cóc”, không đi học, không được dạy dỗ tử tế, coi việc ăn cắp là tất nhiên. Họ không phải vợ chồng, cha mẹ con cái, nhưng họ lại là một gia đình, sống với nhau bởi những ràng buộc nằm ngoài mối ràng buộc ruột thịt.

5. Người cha im lặng: Câu chuyện về một thế hệ “chuối vàng ruột trắng”

Người cha im lặng là thiên tự truyện mà tác giả là một thiếu nữ Việt Nam lớn lên và trưởng thành ở Pháp. Thế hệ cha mẹ cô lưu lạc xứ người, làm lại cuộc đời với bàn tay trắng; họ đã vượt qua những trở ngại để cải thiện đời sống tinh thần cũng như vật chất. Mục đích sống của họ là để các con lớn lên và thành công ở xứ người. Nhưng đời sống quá nhiều dị biệt và rào cản đã tạo nhiều xung khắc trong gia đình. Thế hệ mà Ðoàn Bùi gọi là “đầu gà đít vịt”, ám chỉ hai đứa con gái lai Âu-Á – thế hệ “chuối” mà Ðoàn Bùi là đại diện. Ðây là cách so sánh để chỉ những đứa con châu Á sinh ra tại Pháp, bên ngoài thì vàng như vỏ chuối nhưng bên trong thì ruột trắng, là những Việt Kiều Pháp mang phong cách hoàn toàn Pháp trừ mỗi khuôn mặt và một chút giáo dục theo Á Ðông.

Trong gia đình của Ðoàn Bùi che giấu những bí mật “động trời”. Cô sinh năm 1974 nên có những điều mà cô không biết và có thể sẽ đi vào quên lãng vĩnh viễn nếu cha cô không bị tai biến mạch máu não và ngậm ngùi sống trong câm lặng khi tuổi đời mới 68 tuổi. Cô lúc nào cũng suy nghĩ về chân dung của cha mình, một người rất gần gũi mà cũng rất xa cách và dường như không thể hiểu thấu.

6. Người mẹ lang thang: Hành trình đi khắp nước Nhật để nhận nuôi con của bà mẹ mạnh mẽ

Người mẹ lang thang là một trong những tiểu thuyết về mẹ cảm động nhất của văn học Nhật Bản, được hàng triệu bạn trẻ xứ sở hoa anh đào truyền tay nhau. Cuốn sách viết về Hiromi, một người phụ nữ đã đi khắp nước Nhật và trở thành “mẹ nuôi” của những đứa trẻ kém may mắn trong cuộc sống. Cô đã chăm sóc những đứa trẻ chỉ có bố mà thiếu vắng tình yêu của mẹ, những ông bố thường xuyên vắng nhà dài ngày hay những đứa trẻ bị mẹ ngược đãi và bỏ nhà đi.

Hành trình của Hiromi kéo dài từ khi cô 20 tuổi đến năm 40 tuổi. Dù là thời gian ở cùng chăm sóc những đứa trẻ khác nhau, có đứa vài tháng, cũng có đứa tận vài năm nhưng cô vẫn cố gắng coi chúng như con ruột của mình và khi những đứa trẻ đã cứng cáp, gia đình ổn định, khi “dịch vụ” của cô không còn cần thiết nữa, cô lặng lẽ bỏ đi. Với sự tận tụy, hết lòng yêu thương những đứa trẻ ấy, Hiromi đã để lại trong tâm trí những đứa trẻ hình ảnh về một người mẹ đích thực và những kỉ niệm gia đình ấm áp trong quãng thời gian ngắn ngủi sống cùng cô.

7. Ba ơi, mình đi đâu? Người cha của hai đứa trẻ tật nguyền

Ba ơi, mình đi đâu? là một câu chuyện về Jean-Louis Fournier trong suốt cuộc đời làm cha của mình. Uất hận, than trách cuộc đời, nổi điên lên hay buồn bã,… cũng không thể làm khác đi sự hiện diện của hai cậu bé luôn uống thuốc an thần mỗi ngày để yên lặng. Những đứa trẻ mắt nhìn không rõ, tai điếc, chân khoèo, lưng gù, xương yếu. Một đứa chỉ biết nhắc đi nhắc lại một câu hỏi “Ba ơi, mình đi đâu?” Một đứa suốt ngày nghĩ mình là một động cơ nên cứ kêu “brừm, brừm”. Sống trong thế giới ấy, người cha cần phải làm thế nào?

Ông, Jean-Louis Fournier không giấu giếm những phút quẫn trí mình đã từng nốc rượu rồi phóng xe như điên để mong một tai nạn sẽ ập đến, từng có ý định vứt những đứa con ra ngoài cửa sổ. Ông chưa bao giờ nhận mình là một thiên thần để chịu đựng từng ấy nỗi niềm tan nát. Song người cha ấy không gục ngã. Hay nói đúng hơn hai đứa trẻ tật nguyền thúc giục ông cần phải vượt qua. Đó là cách người cha nhìn vào những thử thách khắc nghiệt bằng một cặp mắt khác. Đó là sự hài hước trong những điều cay đắng. Ông thấy các con mình không phải đi học, không phải nghe giảng, không phải làm bài kiểm tra, không phải chịu phạt. Ông nhìn thấy mình nhờ con được phóng những chiếc xe lớn, tránh được việc nộp phạt, có tiền từ trợ cấp tật nguyền của con, không phải lo lắng về định hướng nghề nghiệp tương lai.

Ba ơi, mình đi đâu? là một câu chuyện buồn và hơn cả nỗi buồn nhưng lại không thấm đẫm nước mắt. Cuốn sách khiến người đọc cảm thấy đau nhói mọi nơi song không vùi sâu trong ủy mị.

Hết.

Đọc bài viết

Cafe sáng