Nối kết với chúng tôi

Giới thiệu sách

Hai cuốn nhật ký: Sự bất chấp luân thường song hành với đạo nghĩa vợ chồng

“Tôi quyết định từ năm nay sẽ bắt đầu ghi lại tất cả những điều chưa từng dám viết vào nhật ký. Trước giờ, những việc phòng the, sinh hoạt vợ chồng, tôi thường không dám ghi chép tỉ mỉ lại, bởi e ngại vợ mình đọc trộm mà sinh tức giận…”

Đăng từ

on

Chi tiết tác phẩm

Trong thời gian chiến đấu với bệnh tật và tuổi già, Tanizaki Junichiro vẫn không ngừng sáng tác, trong đó phải kể đến những tác phẩm đặc sắc như Bản dịch mới Truyện Genji của Junichiro, Mộng phù kiều hay Hai cuốn nhật ký. Lần đầu đăng trên tạp chí Chuuō Kōron năm 1956, Hai cuốn nhật ký được trình bày qua lời kể song song của một đôi vợ chồng tuổi trung niên theo hình thức ghi chép cá nhân. Bắt đầu từ ngày mùng một tháng Giêng trong nhật ký của người chồng: “Tôi quyết định từ năm nay sẽ bắt đầu ghi lại tất cả những điều chưa từng dám viết vào nhật ký. Trước giờ, những việc phòng the, sinh hoạt vợ chồng, tôi thường không dám ghi chép tỉ mỉ lại, bởi e ngại vợ mình đọc trộm mà sinh tức giận…”, Hai cuốn nhật ký dần mở ra cánh cửa dẫn vào cuộc sống chăn gối hoan lạc của cặp đôi buổi xế tà đang loay hoay tìm đường khơi lại ngọn lửa tình ái. Một đằng là ông chồng già cũng ham lạc thú tà dâm nhưng thể trạng yếu kém dẫn đến lực bất tòng tâm, một đằng là cô vợ đã một qua một đời sinh nở nhưng vẫn hừng hực sung mãn, ham muốn mạnh mẽ đến mức phi thường. Trạng huống trớ trêu đẩy cặp đôi “đũa lệch” ấy vào bước đường phải tìm đến những thứ “thuốc kích thích” lạ lùng để thỏa mãn nhu cầu sinh lý. Cứ thế lún sâu vào bể tình hoan lạc, họ bất chấp luân thường đạo lý, bất chấp sức khỏe và cả tính mạng cho cuộc vui nhục dục nhưng kỳ diệu làm sao vẫn có thể gọi là thực thi toàn vẹn đạo làm vợ làm chồng (!).

Là người ưa thích tìm hiểu tâm lý bệnh học, Tanizaki tích cực vận dụng kiến thức để viết rất dạn dĩ về đề tài liên quan đến những khoái cảm dị thường do lệch lạc trong tính dục sinh ra. Từ sau khi tác phẩm nhan đề Akuma (Ác ma) (1926) ra đời thì Tanizaki được xem như nhà văn đại diện cho chủ nghĩa ác ma (diabolism) của Nhật Bản. Là một phong trào văn học nghệ thuật nổi lên cuối thế kỷ XIX ở châu Âu, chủ nghĩa ác ma có khuynh hướng đề cao cái đẹp ở những gì đồi bại và kỳ quái. Tương tự, Tanizaki trong hơn nửa thế kỷ đi tìm cái đẹp cũng chỉ tập trung vào “cái đẹp có vấn đề”. Ông khai thác xu hướng ngược đãi và bị ngược đãi trong Người cắt lau, Xâm mình, bái vật trong Bàn chân Fumiko, ái thú trong Con mèo, Shōzō và hai người đàn bà hay phức cảm Oedipus trong Mộng phù kiều… Bản thân Hai cuốn nhật ký, trình bày về cuộc sống tình dục của lớp người già, khi mới xuất bản cũng gây sóng gió dư luận vì bị quy kết là truyện dâm ô. Sở thích tình dục của nhân vật chính là ông giáo sư rất chi là đa dạng: vừa tôn sùng bàn chân phụ nữ, vừa khao khát nhìn ngắm thân thể trần truồng của vợ dưới ánh sáng huỳnh quang. Tuy nhiên động lực tình dục cốt yếu của ông chính là sự ghen tuông, một loại phức cảm có tên “ham muốn bắt chước” hay “ham muốn tam giác” (mimetic desire) do nhà triết học Rene Girard đề xướng. Ở đó, người A chỉ có thể nảy sinh ham muốn vật B nếu có một “người môi giới” C cũng ham muốn vật B kia. Trong Hai cuốn nhật ký, rõ ràng “người môi giới” kích thích ham muốn cô vợ ở vị giáo sư chính là anh chàng Kimura con rể tương lai, một đối thủ tình trường trẻ trung và sung mãn hơn.

“Cứ thế lún sâu vào bể tình hoan lạc, họ bất chấp luân thường đạo lý, bất chấp sức khỏe và cả tính mạng cho cuộc vui nhục dục nhưng kỳ diệu làm sao vẫn có thể gọi là thực thi toàn vẹn đạo làm vợ làm chồng (!).”

So với Chữ Vạn, các nhân vật trong Hai cuốn nhật ký cũng mắc vào mối tình tay bốn tréo ngoe nhưng phức tạp và chồng chéo hơn rất nhiều. Nếu ở Chữ Vạn, người đẹp Mitsuko là con nhện nằm giữa nhả độc chăng tơ, giăng mắc ba nạn nhân khốn khổ sa lưới, thì ở Hai cuốn nhật ký, cho đến cuối cùng ta vẫn không biết rốt cục ai là người xấu số, ai là kẻ cao tay hơn cả. Toàn bộ câu chuyện là những chuỗi tâm lý vặn xoắn bất ngờ và hồi hộp xuất phát từ động cơ tính toán riêng biệt của cả bốn nhân vật. Ông giáo sư một lòng tôn thờ cô vợ “tốt của” nhưng sẵn sàng tạo điều kiện cho vợ gian díu với con rể tương lai để tăng cường tinh lực. Cô vợ tiết trinh cổ hủ lòng đã mau chóng ngả theo nhân tình nhưng một mực tâm niệm phải làm chồng hưng phấn. Cô con gái Toshiko phần thì căm ghét ông bố biến thái, phần thì ganh ghét với người mẹ xinh đẹp, bề ngoài thờ ơ lãnh đạm với cuộc hôn nhân sắp đặt nhưng lòng dạ ai nào tỏ cho tường? Anh con rể tương lai có lẽ đam mê bà mẹ đầy phong vận hơn nhưng biết đâu cũng chỉ lợi dụng để tiếp cận cô con gái?

Bên cạnh tuyến nhân vật đa chiều, tưởng tĩnh mà động, việc sử dụng hình thức hai ghi chép cá nhân đan lát lại càng góp phần tạo nên sự gay cấn cần thiết cho câu chuyện. Nếu Chữ Vạn chỉ được thuật lại từ một góc nhìn duy nhất, về những việc đã xảy ra và khép lại, thì những sự kiện trong Hai cuốn nhật ký không những đang tiếp diễn mà còn có thể được nhìn nhận cùng lúc từ hai phía. Cùng một ngày tháng, cùng một vụ việc ấy nhưng chồng nói gà, vợ nói vịt, dần dà mới khiến ta ngờ ngợ rằng việc ghi nhật ký của đôi vợ chồng rốt cục không phải là chép lại những sự kiện thực tế, mà là để tuần tự ra những nước cờ thách thức nhau, giấu diếm hành tung của mình với nhau, thậm chí thao túng điều khiển nhau. Tác giả đưa người đọc cùng song hành với diễn biến câu chuyện, nhưng ta đâu có khác gì những kẻ mù lòa, được dắt đi trên con đường lắm lối nhiều ngả bởi hai kẻ dẫn đường bụng dạ khó bề tin tưởng, miệng khăng khăng là mình chân thật nhưng kỳ thực trắng đen thật giả lẫn lộn, chẳng biết đường nào mà lần? Bên cạnh đó, trong nguyên tác Tanizaki còn cố ý để cho người vợ dùng kiểu chữ hiragana truyền thống, còn người chồng viết bằng kiểu chữ katakana hiện đại hơn. Điều này có thể có dụng ý riêng, liên quan đến tính cách của hai người. Người chồng rất thích khám phá và thử nghiệm những cái mới, trong khi người vợ lại rất e dè thủ cựu. Tóm lại có thể nói, lựa chọn hình thức nhật ký cho câu chuyện là một quyết định vô cùng vi tế của Tanizaki.

“…ta ngờ ngợ rằng việc ghi nhật ký của đôi vợ chồng rốt cục không phải là chép lại những sự kiện thực tế, mà là để tuần tự ra những nước cờ thách thức nhau, giấu diếm hành tung của mình với nhau, thậm chí thao túng điều khiển nhau.”

Kagi nghĩa là chiếc chìa khóa. Ấy chính là chiếc chìa khóa mở ra cuốn nhật ký chất đầy ẩn ức tâm tư của người chồng, mở ra những ham muốn nổi loạn âm thầm của người vợ, mở ra một cuộc chơi tình ái mưu ma chước quỷ của cuộc sống hôn nhân. Vỏn vẹn chưa đầy 200 trang, Hai cuốn nhật ký đã khắc họa tài tình một cốt truyện gay cấn hấp dẫn, đưa đến cái nhìn mới mẻ về bản chất của tình dục – tình yêu, đặt dấu chấm hỏi về ranh giới mong manh phù phiếm của luân thường đạo lý. Tuy được sáng tác khi nhà văn đã ở những năm tháng cuối đời, nhưng Hai cuốn nhật ký vẫn xứng đáng là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất, quan trọng nhất trong văn nghiệp đồ sộ huy hoàng của Tanizaki.

Hết.

*

Tìm hiểu về tác giả Tanizaki Junichiro




viết bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giới thiệu sách

Diệt vong: “Không phải mọi kẻ điên đều là thiên tài… Nhưng nhiều thiên tài lại là kẻ điên.”

Đăng từ

on

Người đăng

Câu nói này có lẽ rất phù hợp để nói về tác gia Đức ngữ quan trọng nhất thời hậu thế chiến II, Thomas Bernhard. Thomas Bernhard (1931-1989) là nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch người Áo. Được đánh giá cao ở nước ngoài nhưng tại Áo, ông lại bị chỉ trích là kẻ “vạch áo cho người xem lưng” khi các tác phẩm của ông thẳng thắn chỉ ra và cay nghiệt phê phán các thói tật của quê hương, bao gồm của quá khứ Quốc xã đáng bị chôn vùi mãi mãi. Thomas Bernhard  chẳng bao giờ ngần ngại khoác cho dân Áo đủ thứ xấu xa trên đời. Ông cho rằng chính phủ nước ông sẵn sàng phạm vào mọi tội ác và đã phạm mọi tội ác có thể hình dung với nước Áo, lợi dụng bản tính ngái ngủ của dân tộc này để cuối cùng biến sự đê tiện và tàn nhẫn thành nghệ thuật duy nhất mà chính phủ ấy sử dụng, ngưỡng mộ và rõ ràng là mê mẩn.

Ông ghét tất cả những gì mọi người quanh ông coi trọng, không tin bất cứ cái gì mọi người quanh ông tin. Thomas Bernhard là một nhà văn cay nghiệt và nanh ác (như ông tự nhận). Nỗi đau bị bị bỏ rơi (thời thơ ấu), căn bệnh nan y hiểm nghèo khiến ông nhận thức cái chết là bản chất tối thượng của sự tồn tại. Các tác phẩm của ông thường được viết ở ngôi thứ nhất, là màn độc thoại dây cà dây muống của một nhân vật về xã hội, thế giới, con người.

“Sáng sáng, hàng triệu người chỉ cần khoác bộ quần áo lao động lên người là lập tức họ được xếp ngay vào hạng dân chúng cần lao, trong khi thực ra chỉ một bầy những kẻ lười biếng xảo trá, chỉ độc nghĩ đến miếng ăn mà thôi, và không làm gì khác ngoài việc ra tay phá hoại thế gian này.”

Với một phong cách phóng túng, cường điệu thổi phồng mọi sự, nhưng tinh tế trong tình yêu, cay nghiệt trong đả kích, tri kiến sâu rộng, cùng thủ pháp độc thoại bậc thầy, văn tài của Thomas Bernhard đã hội tụ và tỏa sáng rực rỡ nhất trong Diệt vong – cuốn tiểu thuyết cuối cùng và có lẽ đen tối nhất của ông. Được viết bằng phong cách không thể lẫn vào đâu được của ông, Diệt vong là màn ta thán liên tu bất tận của Franz-Josef Murau, con cừu đen của một gia đình quý tộc lâu đời của Áo. Đó là kẻ đã quyết dứt áo ra đi khỏi chốn chôn rau cắt rốn – miền Wolfsegg tuyệt đẹp. Cũng như chính nhà văn tạo ra mình, Murau căm ghét gia đình mình – những người cũng căm ghét anh không kém, ghê sợ tôn giáo được thờ phụng ngàn đời của mình, yêu quí đất nước Áo với những thắng cảnh tuyệt đẹp, nhưng lại căm thù nhà nước Áo đê tiện, tàn nhẫn. Chính bởi vậy, anh đã tới sinh sống ở Rome và hứa với lòng sẽ không bao giờ quay lại Wolfsegg, nơi không chỉ có gia đình luôn khinh thường, ghét bỏ anh mà cả những con người xấu xa, không thể nào chịu đựng nổi sinh sống. Thế nhưng vì một biến cố bi thương mà Murau vạn bất đắc dĩ phải trở về quê hương – cái chết đột ngột của cha mẹ và anh trai. Cái tai nạn khủng khiếp ấy đẩy Murau trở thành trụ cột của gia đình và buộc phải quay về lo tang lễ cũng như phải quyết định số phận sau này của Wolfsegg cùng hai đứa em gái.

Ảnh: Tao Đàn

“Họ, dân Đức ấy, nuốt Goethe như nuốt một thứ thuốc nào đấy vào bụng và tin vào công dụng vào thuốc, tin sái cổ vào tác dụng chữa bệnh của thuốc; Goethe nói cho cùng, chẳng qua chỉ là ông thầy lang của dân Đức, vị pháp sư vi lượng đồng căn liệu pháp về tinh thần đầu tiên của dân Đức mà thôi. Họ uống Goethe vào người và khỏi bệnh. Toàn thể dân tộc Đức uống Goethe vào người và hết bệnh. Thế nhưng… Goethe là một tên bịp bợm, cũng giống như bọn lang băm, tên nào mà chả bịp bợm; cả thơ văn lẫn triết lý của Goethe đều là ngón bịp lên đến tột đỉnh của dân Đức.”

Trải dài 500 trang sách là hai màn độc thoại không một chỗ xuống dòng của Murau khi nhận được bức điện báo tin dữ và khi đã trở về Wolfsegg tổ chức đám tang. Người đọc bị cuốn theo nhịp điệu dồn dập những ta thán về ông bố nhu nhược, bà mẹ tham tiền, ông anh bất tài và lũ em gái phụ thuộc; bàng hoàng nhưng cũng đồng cảm với những nhận xét cay nghiệt về sự nặng nề của tiếng Đức, cái giả tạo của nhiếp ảnh, thứ văn chương rẻ tiền, lũ bác sỹ đốn mạt, cái chính phủ trì trệ, thứ tôn giáo bảo thủ, một dân tộc biếng lười… Làn sóng căm ghét, khinh thường được đẩy đến tột độ với những lời móc mỉa được cường điệu hóa cực điểm.

“Tôi khinh bỉ những ai chụp ảnh liên hồi và lúc nào cũng quàng máy ảnh chạy lăng xăng… Họ ghi lại một thế giới bị méo mó đến mức quái đản trên các bức ảnh của họ, một thế giới không còn gì là chung với thế giới thật ngoài sự méo mó đến quái dị mà họ phải chịu tội. Chụp ảnh là một thứ nghiện ngập chung mà dần dần toàn nhân loại đã nhiễm phải, bởi vì nhân loại không những đã phải lòng cả sự méo mó lẫn quái dị đó, mà còn bị mê muội vì nó theo thời gian, do không ngừng chụp ảnh, nhầm tưởng thế giới méo mó và quái dị trông ảnh là thế giới duy nhất thực.”

 Thế nhưng qua đó Murau đã phân tích thấu đáo thực tế xã hội cùng nhận thức bản thể tự thân, anh lý giải về sự tồn tại của bản thân trong tâm trí chính chúng ta và sự tồn tại của chúng ta trong mắt tha nhân. Trong cái “ác” của anh hay của chính Thomas Bernhard, có một nỗi niềm hoài cổ tiếc nhớ về một sự toàn bích đã mất hoặc đang mất dần. Chính điều đó mới tạo nên giá trị nhân văn của Diệt vong, cuốn sách vĩ đại của một con người thiên tài.

*

“Với sự dữ dội ngạt thở… Qua tiếng nói của Murau, Thomas Bernhard tấn công thế giới hiện đại, được minh họa bởi nơi chôn rau cắt rốn của ông, nước Áo.” – Chicago Tribune

“Sự tinh tế khác biệt của Diệt vong nằm ở sự mô tả ý thức trong hành động: Murau, hóa ra, có thể yếu đuối, đáng ngưỡng mộ, khó hiểu hoặc độc địa, nhưng tâm trí của anh ta, như được mô tả trên trang giấy, dường như hoàn toàn đúng với cuộc sống.” – Washington Post Book World

“Không phải mọi kẻ điên đều là thiên tài. Nhiều người được gọi thế nhưng số người thực sự như vậy thì rất ít. Đó là một câu lạc bộ riêng biệt, nhưng Bernhard đã bước chân vào đó… Giống như Swift, Bernhard viết như một con quái vật thiêng liêng… Ông là một nghệ sĩ biểu diễn văn học xuất chúng: một người đi đến cực đoan bằng cách truyền sức sống cho ý thức của chúng ta về khả năng của con người, tuy nhiên lại mang tính phá hoại.” – The Wall Street Journal

Hết.

Đọc bài viết

Giới thiệu sách

Niên lịch miền gió cát: Một trong hai cuốn sách đáng chú ý nhất về môi trường trong thế kỷ 20

“Niên lịch miền gió cát” là tác phẩm tổng hòa giữa lịch sử tự nhiên, nghệ thuật miêu tả phong cảnh bằng ngôn từ và cả triết học.

Đăng từ

on

Người đăng

Cuốn sách tiếp theo của Phương Nam Book viết về thiên nhiên nước Mỹ xanh biếc

Tiếp nối sự thành công của Mùa xuân vắng lặngĐời sống bí ẩn của cây, tháng 07.2020, Phương Nam Book ra mắt Niên lịch miền gió cát, tác phẩm tiếp theo viết về môi trường và thiên nhiên. Năm 1990, Niên lịch miền gió cát cùng với Mùa xuân vắng lặng của Rachel Carson đã được Hiệp hội Nghiên cứu Tự nhiên Mỹ bầu chọn là hai cuốn sách đáng trân trọng và đáng chú ý nhất về chủ đề môi trường trong thế kỷ 20.

Nếu như Mùa xuân vắng lặng của Rachel Carson là tác phẩm kinh điển khởi xướng phong trào bảo vệ môi trường trên toàn thế giới, thì cuốn sách phi hư cấu viết về môi trường của Aldo Leopold, xuất bản lần đầu năm 1949, được xem như một cột mốc quan trọng trong phong trào bảo tồn tự nhiên ở Mỹ. Tuy ban đầu ít được chú ý đến, nhưng vào những năm 1970 với sự nâng cao nhận thức về môi trường, Niên lịch miền gió cát bất ngờ lại trở thành một cuốn sách bán chạy. Đến nay, tác phẩm đã được dịch ra 14 thứ tiếng và vẫn được bán ra khoảng 40.000 bản một năm.

Kết hợp giữa khảo cứu và tranh phác thảo, tổng hòa giữa lịch sử tự nhiên, nghệ thuật miêu tả, ngôn từ và triết học

Niên lịch miền gió cát là tác phẩm tổng hòa giữa lịch sử tự nhiên, nghệ thuật miêu tả phong cảnh bằng ngôn từ và cả triết học. Thông qua việc ghi chép lại những thay đổi của sinh vật tại khu trang trại ở Wisconsin, Aldo Leopold đã khéo léo mô tả vẻ đẹp thiên nhiên, mối liên hệ giữa từng sinh vật với cả hệ sinh thái. Những bài viết trong Niên lịch miền gió cát không chỉ khéo léo mô tả vẻ đẹp thiên nhiên, mối liên hệ giữa từng sinh vật với cả hệ sinh thái, thể hiện sự quan sát, khảo cứu và kiến văn của Leopold về địa chất – sinh thái, mà còn bộc lộ rõ quan điểm của ông về đạo đức đất đai: Một hành động là đúng đắn khi nó hướng tới việc bảo tồn được tính toàn vẹn, ổn định và vẻ đẹp của cộng đồng sinh vật. Hành động đó là sai nếu không bảo tồn được những điều vừa nói.

Đã một thế kỷ trôi qua kể từ khi Darwin vén màn bí mật về nguồn gốc muôn loài. Chúng ta giờ đây đã biết những điều mà các thế hệ đi trước không hề hay biết: con người chỉ là những người bạn đồng hành cùng các loài vật khác trong chuyến phiêu lưu tiến hóa. Nhận thức mới này đáng lẽ giờ đây đã phải khiến chúng ta có một tình anh em khăng khít với các sinh vật khác, một mong ước được sống và cùng sống, một tâm thế ngưỡng mộ trước sự đường bệ và chiều dài tiến hóa của cả cộng đồng sinh thể. Và trên hết, sau một thế kỷ, chúng ta đáng lẽ đã phải nhận ra rằng, mặc dù con người giờ đây đã trở thành thuyền trưởng lèo lái con tàu phiêu lưu này nhưng chúng ta không phải là hành khách duy nhất, và những lầm tưởng về vị thế của chúng ta đều bắt nguồn từ sự mông lung ngu muội.

Ảnh hưởng sâu rộng của cuốn sách, vượt ra khỏi tầm dự đoán của tác giả Aldo Leopold

Aldo Leopold (1887-1948) là nhà khoa học, nhà địa chất học, nhà triết học, nhà môi trường học người Mỹ, và cũng từng là giáo sư tại Đại học Wisconsin. Tác phẩm Niên lịch miền gió cátcó kết cấu gồm ba phần: Phần I là những quan sát về sự thay đổi theo từng tháng của sinh vật tại khu trang trại ở Wisconsin, phần II là ghi chép từ những hành trình khám phá đời sống hoang dã trải rộng khắp châu lục suốt 40 năm, và phần III trình bày những nhận định về một số vấn đề liên quan đến việc bảo tồn thiên nhiên hoang dã.

Khi viết ra các nhận định vào thời điểm những năm 1940, Aldo Leopold không hình dung được cuốn sách của mình sẽ ảnh hưởng sâu rộng đến mức nào. Thế nhưng, cho đến nay, cuốn sách vẫn được ngày càng nhiều độc giả yêu thích, trở thành nguồn tư liệu quý giá, làm thay đổi phong trào môi trường và đóng vai trò nền tảng trong lĩnh vực chính sách, đạo đức và khoa học bảo tồn hiện đại.

Thông qua thể văn xuôi đậm chất hóm hỉnh kết hợp các yếu tố lịch sử, khoa học, Leopold đã mượn lời kêu gọi đạo đức đất đai của Niên lịch miền gió cát để truyền đạt mối liên hệ đích thực giữa con người với thế giới tự nhiên, cùng niềm hy vọng rằng mỗi độc giả sẽ bắt đầu đối đãi với đất đai bằng tình yêu và sự tôn trọng mà đất đai đáng được hưởng. 

*

Một số nhận xét về sách

“Một trong những tác phẩm cực kỳ quan trọng và có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào môi trường.”

The Boston Globe

“Cuốn sách có thể được đặt trên cùng kệ với các tác phẩm của Thoreau và John Muir.”

The San Francisco Chronicle

*

Thông tin tác phẩm

Tựa sách: Niên lịch miền gió cát

Tác giả: Aldo Leopold

Người dịch: Dương Mạnh Hùng

Thể loại: Sách khoa học

Số trang: 260 trang

Khổ: 15.5 x 23.5cm

Giá bìa: 149.000đ (giảm giá 10% tại Nhà Sách Phương Nam và website nhasachphuongnam.com)

*

Những cuốn sách viết về môi trường & thiên nhiên


Đọc bài viết

Giới thiệu sách

V. – Khi người đọc lạc trong Hoang tưởng và Hoài nghi

“Một cuốn sách rực rỡ và hỗn loạn”, “tiểu thuyết độc đáo số một xuất bản năm 1963”, “không một độc giả nào hay một tiểu thuyết nào của Mỹ lại không bị biến đổi hay bị thách thức bởi tác phẩm đáng kinh ngạc này”… đó chỉ là một vài trong số rất nhiều lời thán phục dành cho V. – tác phẩm đầu tay của nhà văn Mỹ Thomas Pynchon.

Đăng từ

on

Người đăng

Ra đời khi nhà văn mới là chàng thanh niên 26 tuổi, V. – cuốn sách đồ sộ kiến thức và đa tầng biểu tượng của Pynchon cho đến lúc này vẫn được hàng triệu học giả và người đọc khắp thế giới nghiên cứu và giải nghĩa.

V. là tác phẩm giành giải thưởng William Faulkner Foundation Award cho tiểu thuyết ra mắt xuất sắc nhất và được đề cử cho Giải thưởng sách Mỹ National Book Award năm 1964. V. kể về Benny Profane, một thanh niên hậu đậu, nay đây mai đó, vừa xuất ngũ Hải quân Mỹ đang trong quá trình tái hòa nhập đời sống New York cùng một hội nghệ sĩ lông bông mất gốc; và Herbert Stencil, một nhà phiêu lưu hoang tưởng truy tìm nhân vật bí ẩn tên “V.” được nhắc tới trong nhật ký của người cha. Hai cốt truyện xoay quanh hai tình trạng đối lập tột cùng: tình trạng hỗn loạn ngẫu nhiên của hiện tại (Profane) và tình trạng trật tự hoang tưởng cưỡng ép của quá khứ (Stencil). Hai nhân vật lẫn chức năng của họ, tuy vậy, đều được Thomas Pynchon khắc hoạ một cách mỉa mai, tự trào, đầy tính châm biếm. Hai trạng thái đối lập này dần tịnh tiến về phía nhau và giao thoa tại cuối truyện, khi Stencil và Profane hội ngộ, rồi khởi sự hành trình cuối cùng tìm kiếm V.

Thomas Ruggles Pynchon Jr. là một trong những tiểu thuyết gia quan trọng nhất của Mỹ kể từ Chiến tranh thế giới thứ II. Tuy là một sinh viên ngành kỹ thuật xuất sắc tại trường đại học, năm thứ hai ông đã nghỉ học để gia nhập Hải quân Mỹ trong hai năm, một khoảng thời gian đã để lại dấu ấn sâu đậm cho các câu chuyện của ông sau này.

Năm 1957, ông quay lại học tại Đại học Cornell, có lẽ đây chính là thời điểm ông được tiếp nhận ảnh hưởng của Vladimir Nabokov. Có một điều chắc chắn là, những tưởng tượng có tính cách tân của ông, sử dụng các chủ đề về việc diễn giải những mấu chốt, những trò chơi, và mật mã có thể xuất phát từ Nabokov, còn giọng văn linh hoạt của Pynchon có thể được phát triển từ chứng hoang tưởng trong thi ca. 

Về đời tư, Thomas Pynchon là một người sống ẩn dật, tránh mọi tiếp xúc với công chúng lẫn giới truyền thông. Suốt bốn thập kỷ ông tránh né gần như mọi cuộc phỏng vấn, ảnh chụp ông chưa từng được phép in trên bìa sách, và chữ ký của ông có thể đáng giá tới hàng chục nghìn đô. Rất nhiều giả thuyết đã nổi lên về hành tung hay thậm chí nhân thân của ông. Có người nghĩ ông chính là nhà văn J. D. Salinger, có người đoán thực chất có một bút nhóm sáng tác dưới tên Thomas Pynchon, thậm chí có người còn cho ông chính là… tay sát nhân hàng loạt Unabomber (!).

Mọi thông tin cá nhân về ông dường như đã chấm dứt quanh năm 1963, tức là đúng khoảng thời gian ông sáng tác V. – tiểu thuyết đầu tay.

Điểm đặc trưng về kết cấu trong các tiểu thuyết của Thomas Pynchon là vô cùng nhập nhằng chồng chéo. Thông thường Pynchon để cốt truyện của mình tự trương nở thành hình xuyên suốt tiểu thuyết thay vì vạch ra một cốt truyện mạch lạc ngay từ đầu. Đường đi diễn tiến của câu chuyện dường như có sự sống riêng, chúng ẩn hay hiện, chúng tẽ nhánh hay tụ hội, chúng bị triệt tiêu hay được tô đậm lên hoàn toàn một cách tình cờ và ngẫu nhiên, buộc người đọc từ bỏ thói quen thông thường khi đọc sách là “cố gắng liên kết dữ kiện để hiểu, thay vào đó hãy thả lỏng cơ quan thần kinh, ngồi vào ghế sau và tận hưởng chuyến tàu lượn siêu tốc mà tác giả cầm lái” (lời khuyên từ Cẩm nang đọc sách của Thomas Pynchon).

Về mặt nội dung, các tiểu thuyết của Thomas Pynchon là hỗn độn những chỉ dấu kì bí, những hình ảnh biểu tượng, những văn bản đa nghĩa khó lý giải. Nhân vật chính trong tiểu thuyết của ông thường mắc chứng “hoang tưởng xã hội” – tức ý thức về “một mạng lưới âm mưu siêu phàm, mờ ám và rộng lớn, tiếp tay cho hành động của một nhân vật quái ác xấu xa nhất.” (định nghĩa của học giả Richard Hofstadter trong The Paranoid Style in American Politics). Có thể thấy thời kỳ đầu sáng tác, Thomas Pynchon tận dụng cốt truyện hoang tưởng này khá thường xuyên. Trong Gravity Rainbow (1973), nhân vật Tyrone Slothrop tin rằng tên lửa V-2 và toán điệp viên có ý định trực tiếp tấn công mình. Với The Crying of Lot 49 (1966), nhân vật Oedipa Mass bắt đầu nhìn thấy chỉ dấu của tổ chức bí mật Tristero khắp mọi nơi. Tương tự với V., Herbert Stencil cũng liên tưởng, xâu chuỗi bất kì bằng chứng nào dù ngẫu nhiên nhất về V. mà ông ta có thể tìm thấy để trả lời câu hỏi V. là ai… Đó là cách Thomas Pynchon xây dựng thế giới riêng trong các tiểu thuyết của ông và cũng là cách ông thâu nhận thế giới thực tế bên ngoài: một thế giới nhìn từ góc độ này thì ngập tràn ẩn ý và chỉ dấu đến những âm mưu mờ ám, nhưng từ góc độ khác cũng là một thế giới vô tri chẳng mang ý nghĩa to lớn nào; tại đó, con người ưa tìm kiếm một thứ logic hoang tưởng hơn là chấp nhận một trạng thái trống rỗng.

V. là ai? V. mang ý nghĩa gì? Đó là những câu hỏi sẽ không có hai độc giả nào trả lời giống nhau. Theo hành trình hoang tưởng của Herbert Stencil, đó có thể là người đẹp Victoria Wren sống ở Ai Cập thế kỷ 19; đó có thể là người phụ nữ đồng tính ấu dâm xuất hiện ở Paris năm 1919; đó có thể là Vera Meroving với con mắt hình đồng hồ xuất hiện ở Nam Phi năm 1922… Mỗi lần xuất hiện cô ta lại được gắn thêm một bộ phận giả, mỗi lần xuất hiện cô ta lại trở nên lạnh lùng hơn, nhiệt tình chính trị hơn, thiếu nữ tính hơn, trừu tượng hơn, vô danh hơn, nói tóm lại, trở thành V. Nhìn theo cơn hoang tưởng hủy diệt của thời đại khát khao bạo lực, V. có lẽ chính là biểu tượng cho sự suy đồi từ hữu tri xuống vô tri của con người: giống loài ngày càng hành động/bị đối xử như một thứ hình nhân vô hồn. Trong hóa thân cuối cùng, V. mang tên Linh Mục Xấu Xa là một người phụ nữ với tất cả các bộ phận trên cơ thể được thay thế bằng đồ vật. Hình ảnh một hình nhân giống hệt con người bị mắc kẹt tại khu vực bị trúng bom gợi ta nhớ đến những hình nộm mà Mỹ cho sản xuất để đánh giá mức độ công phá của bom nguyên tử vào thời kỳ Chiến Tranh Lạnh. Thông điệp này từng xuất hiện ở chương trước khi Thomas Pynchon cũng giới chiệu cho ta hai nhật vật người máy SHOCK và SHROUD trong phòng thí nghiệm mà Benny Profane làm việc, các hình nộm được chế tạo “giống hệt như con người” để sử dụng trong các bài kiểm tra chống chịu va đập và đo mức độ phóng xạ nguyên tử. Trong một cuộc trò chuyện hoang tưởng giữa Profane và SHROUD, tên người máy nói rằng: “Tôi và SHOCK chính là cậu và mọi người một ngày nào đó.” Con người có thể là gì trong đời này ngoài việc liên tiếp đóng vai những đối tượng thí nghiệm vô hồn cho bạo lực?

V. là một tác phẩm oai vệ, xuyên vượt những hang cùng ngõ hẻm bất khả thấu đối với người thường. Không có nhiều tác phẩm có khả năng ám ảnh tâm trí tỉnh thức hay mê mộng, nhưng đây là một tác phẩm như vậy (Báo Time).

Hết.

Tao Đàn

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!