Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Văn chương & Toán học: Vì sao chẳng dễ dàng chinh phục cả hai lĩnh vực?

Nhìn thoáng qua, toán và văn không có sự tương hỗ như những môn khác và cho đến nay chưa có ai thành công trong cả hai lĩnh vực, song vài lực từ bí ẩn đã kéo chúng lại với nhau. Vấn đề đặt ra là: Bức tường gạch đó bao hàm những gì; cái gì tạo nên lực từ kia?

Published

on

Nhà thơ người Pháp Paul Valéry đã từng bày tỏ niềm ngưỡng mộ lớn lao đối với toán học, rằng: “Tôi tôn thờ môn học tuyệt đẹp này và tôi chẳng hề bận tâm khi tình yêu của tôi mãi không được hồi đáp.” Valéry đâu phải cây bút duy nhất trao lòng nhiệt tâm ấy cho toán học – cũng như có nhiều kẻ si mê toán học trong thế giới văn chương, vì vậy tồn tại nhiều người yêu văn chương trong thế giới toán học dù bức tường gạch đồ sộ dường như chắn ngang giữa hai ngành. Nhìn thoáng qua, toán và văn không có sự tương hỗ như những môn khác và cho đến nay chưa có ai thành công trong cả hai lĩnh vực, song vài lực từ bí ẩn đã kéo chúng lại với nhau. Vấn đề đặt ra là: Bức tường gạch đó bao hàm những gì; cái gì tạo nên lực từ kia?

Toán học thường được phân loại là một môn khoa học, nhưng tôi không nghĩ nó chỉ có thế. Tôi thừa nhận rằng toán học gánh vác một phần các lĩnh vực của khoa học vật lý, và bản thân điều đó được củng cố bởi sự tương tác giữa chúng, tuy nhiên các khám phá toán học vẫn ra đời bất chấp khả năng ứng dụng hay tiện ích của chúng đối với thế giới vật lý. Toán học tiến hóa thuần túy cho chính mình, với đóng góp lớn nhất trong địa hạt này là những lý thuyết mà áp giá trị vào vẻ đẹp thông qua sự lô-gích. Một học thuyết được tạo ra cho các mục đích khác ngoài bản thân nó thì thiếu đi vẻ đẹp tự nhiên. Điều huyền diệu chính là khi một học thuyết vĩ đại sở hữu vẻ đẹp nội tại đã vượt qua chủ thể và tìm thấy sự khả dụng trong các lĩnh vực khác.

Toán học tiến hóa thuần túy cho chính mình, với đóng góp lớn nhất trong địa hạt này là những lý thuyết mà áp giá trị vào vẻ đẹp thông qua sự lô-gích.

Việc sử dụng ngôn từ để miêu tả cái chất thanh nhã cốt lõi của một định lý là bất khả thi. Điều này hết sức trừu tượng và phức tạp. Tôi chỉ có thể mô tả nó tựa như một khúc nhạc tuyệt hảo mà mỗi nốt nhạc không thể thay thế được hay như một bài thơ haiku trong đó chẳng âm tiết nào có thể đổi thay. Vẻ đẹp tôi đang nhắc tới trông giống như sức căng tinh tế gắn kết các khía cạnh của một tác phẩm nghệ thuật lại; một sự yên bình mỏng manh thắt chặt vẻ hoàn mỹ của nó. Và vì vậy cái lực từ đã hút nghệ thuật – và cũng chính là văn chương – về phía toán học chính là vẻ đẹp tôn quý trong lô-gích thuần túy của nó.

Gần ba mươi năm trước tôi đã viết một cuốn sách về những trải nghiệm của tôi khi sống ở Mỹ, và kể từ đó tôi có nhiều cơ hội làm việc cùng các chuyên gia văn học và viết những tiểu luận ngoài lề chuyên ngành của mình. Tôi cảm thấy thoải mái từ lần đầu đặt bút viết bởi tôi coi văn chương và toán học như những loại hình nghệ thuật tương đồng. Bên cạnh đó, lớn lên cùng với cha mẹ đều là nhà văn, từ lâu tôi đã nghĩ viết lách giống như là bản năng tự nhiên của con người. Nói ngắn gọn, tôi chưa từng nghĩ mình sẽ gặp thách thức. Thế nhưng trong quá trình viết tôi đã đương đầu với hàng đống trở ngại. Tôi bắt đầu nhận ra có những điểm khác biệt căn bản giữa toán học và văn chương. Thật khó để đối mặt với việc trở thành một nhà văn trong khi cũng muốn thành nhà toán học. Song viết lách cho tôi một phần thưởng: Tôi được tận tay trải nghiệm những gian truân mà cha mẹ đã bí mật đối mặt với tư cách nhà văn. Tôi bắt đầu đánh giá lại những khó khăn của mình trong tương quan với họ.

Khía cạnh khổ sở nhất khi trở thành nhà toán học là phải liên lục nghiền ngẫm một vấn đề mà không có bất kỳ tiến triển rõ ràng nào. Tôi có thể hiến mình cả ngày lẫn đêm cho bài toán trước mắt mà chẳng hề tìm ra cách giải trong nhiều tuần hoặc thậm chí vài tháng. Thời gian đầu nghiên cứu thường hay trôi đi mà không có sự trì trệ nào nghiêm trọng; suốt thời gian ấy tôi đi từ ý tưởng này đến ý tưởng khác. Nhưng một khi giếng ý tưởng đã cạn, tôi phải cam chịu sự kiệt lực đen tối nhất. Một sức ép vô hình đọng xuống người tôi; mối âu lo ấy làm tôi nghẹt thở. Có lần tôi gác lại mọi thứ trong gần sáu tháng để làm luận văn. Tôi ngày đêm ngẫm nghĩ về chuyện đó, ngay cả trong mơ. Cuối cùng tôi rời Tokyo rồi đi du lịch Gamagori, Inuyama, Kujukuri, và hồ Irako, nhưng mấy cái định kiến của tôi chẳng chịu buông tha. Nó lùng sục tôi khắp mọi nơi: tại nhà trọ, trong công viên, trên trường kỷ, trên lỗ châu mai một lâu đài cổ, bên bờ hồ, trên bãi biển,… Sau sáu tháng, tôi đổ bệnh. Tôi nhượng bộ thử thách rồi kết thúc hành trình của mình. Cuối cùng tôi chẳng có tiến triển gì và bị rút cạn sinh lực.

Song một nhà văn, ngồi suốt ngày đêm bên bàn làm việc sẽ tạo ra đôi chút tiến triển, một vài nét vẽ nguệch ngoạc trên giấy. Bất luận nhanh hay chậm, anh ta có thể nhận ra trang giấy từ từ ken đầy chữ nghĩa. Quá trình sáng tạo của anh ta trở nên hữu hình và nó an ủi anh; anh ta được khích lệ để tiếp tục. Cha tôi thường để lộ ra những biểu hiện đau khổ tột cùng, và đó là lúc ông không thể tự mình ngồi vào bàn làm việc, lúc ông không thể viết tiếp. Ông thiếu đi nguồn khích lệ nếu không cho ông nhìn thấy những bản thảo thô ráp của chính mình. Khi bắt đầu một cuốn tiểu thuyết mới, tâm trạng ông ấy tồi tệ trong hơn một tuần. Chỉ đến khi đã làm nóng người đủ để làm việc, dần dần ông sẽ trở lại với bản chất hòa nhã tự nhiên của chính ông.

Cha tôi thường hay nói rằng phần chật vật nhất của tác phẩm là đoạn mở đầu. Ông gọi nó là “cơn đau đẻ của sự sáng tạo.” Đối với các nhà toán học cũng vậy, phần đầu tiên là cam go nhất, khi ai đó phải chưng cất từ thứ chất lỏng của những ý nghĩ hỗn mang thành cốt lõi của một ý tưởng. Viết chuyên luận thì dễ dàng hơn. Ngay cả một nhà toán học sung mãn cũng dành không quá một tháng mỗi năm để viết tất cả các nghiên cứu của mình. Những gì chúng ta phải chịu đựng là một chuỗi không-bao-giờ-kết-thúc của “cơn đau đẻ.”

Toán học là công việc tất-cả-hoặc-không-có-gì: hoặc là người có thể chứng minh định lý hoặc không thể. Không có vùng xám. Người ta không thể “gần như chứng minh” hay “gần như giải quyết” bất cứ điều gì. Không được phép thỏa hiệp. Học thuyết trọn vẹn buộc phải miễn trừ hết những nhập nhằng. Không gì ngoài sự tuyệt đối – và do đó là cái đẹp – thứ bằng chứng có giá trị liên thành đối với toán học. Tuy nhiên trong văn chương, chẳng phải chuyện gì to tát khi mọi thứ được giải thích. Thực tế, không gian dành sức tưởng tượng của độc giả vẫn luôn bỏ ngỏ. Từ đó có thể nhận thấy rằng văn chương linh động hơn, bằng cách nào đó dễ xử lý hơn toán học. Thế nhưng tôi nghĩ rằng việc căn phòng ấy chứa bất cứ thứ gì ngoại trừ những điều xuất hiện trong câu chuyện có thể gây bất an cho nhà văn.

Toán học là công việc tất-cả-hoặc-không-có-gì: hoặc là người có thể chứng minh định lý hoặc không thể. Không có vùng xám.

Không nhà văn nào hoàn toàn tự tin vào câu chuyện của mình, bất luận đã bao nhiêu lần anh ta hiến dâng bản thân cho tác phẩm, bất luận anh ta sắp xếp và thay đổi nó bao nhiêu chăng nữa. Trường hợp của tôi, tôi không thể nào bàn giao bản thảo của mình cho biên tập viên trừ phi có ai đó khác rà soát lại trước. Người rà soát ấy thường là thành viên gia đình tôi, vì vậy khi đáng lý phải cảm thấy thư giãn, thì tôi cứ lo sợ bị phê bình vì chừa lại chút ít mập mờ trong phần nào đó. Tôi nhớ cha cũng lo lắng về những phản ứng ban đầu đối với thành quả của ông, đặc biệt suốt vài ngày đầu tiên sau khi ông nộp bản thảo, ngay cả khi ông đã trở thành một nhà văn có uy tín. Nhưng một khi biên tập viên đưa ra phán quyết tán thành, ông nhe răng cười như con nít, xóa tan mọi lo lắng, rồi nói, “Thấy chưa? Tôi đã viết nó đấy!” Đó chính là Jirō Nitta1!  

Trong toán học, không ai bảo đảm rằng chắc chắn bạn sẽ đạt được thành tựu nào đó sau một thời gian dài phấn đấu. Nếu như nỗ lực chứng minh định lý vuột ra khỏi khuôn khổ toán học hiện đại hoặc vượt quá nguồn lực toán học, thì nó sẽ không bao giờ được chứng minh, bất kể anh ta đầu tư biết bao công sức. Tệ hơn nữa là khi định lý mà anh ta dồn hết tâm huyết trong thời gian dài để chứng minh, cuối cùng lại sai lầm không thương tiếc. Nỗi lo về kết quả bấp bênh đó có thể dâng lên thành sự kinh hãi điếng người, dần dà nó hủy đi tham vọng của nhà toán học. Đỉnh điểm, anh ta phải chịu đựng áp lực từ giới học thuật. Một nhà toán học do đó phải là một người nhẫn nại và can đảm. Cá nhân tôi không phải khi nào cũng đủ sức chịu đựng nỗi khiếp đảm từ trong thâm tâm và áp lực đến từ bên ngoài, và buộc phải từ bỏ một số dự định trong quá khứ.

Tôi có biết một nhà toán học đã trải qua khó khăn rất lớn để tạo ra một tác phẩm thiên tài xuất chúng. Giáo sư S. hiện làm việc tại MIT2, song ông đã từng gắn bó với Đại học Michigan với tư cách là một trợ lý giáo sư. Khi ở Michigan, ông tự thách thức bản thân giải quyết một bài toán cổ điển đặc biệt khó, một bài toán đã bị bỏ hoang trong nhiều thập kỷ bởi các nhà toán học khác. Tâm huyết của ông ấy đối với bài toán lớn đến nỗi ông đã không viết được luận văn người ta trông mong ở mình và vì thế bị sa thải khỏi vị trí tại trường đại học. Nhưng không lâu sau đó, ông đã tìm ra một giải pháp đột phá cho bài toán này, một giải pháp ngoạn mục đến nỗi một số vấn đề liên quan cũng bắt đầu được giải quyết. Như thể sự im lặng tuyệt đối đã bị xáo động. Bằng thành quả của mình, Giáo sư S. được mời vào ghế giáo sư toàn thời gian tại MIT. Song đây là trường hợp hiếm hoi. Hầu hết các nhà toán học sẽ không đủ tự lực lẫn tự tin để mạo hiểm công việc vào một mục tiêu mơ hồ như vậy.

Mặt khác, nhà văn có mục tiêu rõ ràng hơn, miễn là họ cống hiến hết mình cho tác phẩm. Biết thế nên tôi có thể hoàn tất công việc trong chừng mực năng lực đủ đáp ứng và khích lệ bản thân. Chuyện là thế, tuy nhiên trong văn chương thời hạn là rào cản, nhất là khi viết cho tạp chí hay mục báo. Tính khí cha tôi thay đổi thất thường tùy vào việc ông đang viết tiểu thuyết cho chính mình hay cho một câu chuyện trên báo. Ông luôn tràn đầy nhiệt tình bất kể công việc là gì, song khí thế dường như khác nhau trong mỗi trường hợp: Ông bị thúc giục bởi sự cấp bách nội tại khi viết tiểu thuyết, nhưng lại cam kết với cái gì đó ngoài lề khi viết cho báo chí. Đôi khi chỉ đơn giản là ông không thể tiếp tục viết báo, ông ám ảnh, sợ hãi rằng bằng cách nào đó ông sẽ khiến tòa soạn thất vọng. Ngay cả gia đình cũng không xoa dịu được nỗi lo trong ông. Một cảnh tượng in sâu vào đầu tôi đó là khi cha tôi lên gác mà không nói lời nào. Quan sát bóng lưng ông trong bộ kimono cũ quá khổ, tôi học được rằng những nhà văn luôn luôn vật lộn với hạn chót; họ thà đón đầu còn hơn làm nô lệ cho chúng.

Đặc trưng định hình áp lực của một nhà toán học là nỗi lo sợ rằng anh ta sẽ chẳng tạo ra được thành quả gì, thậm chí sau khi đau “cơn đau đẻ.” Về phía nhà văn, đó là sức ép phải hoàn thành tác phẩm trong thời hạn nhất định. Điểm chung của cả hai phía là phải đấu tranh để được ngủ mà không âu lo. Khi bị ám ảnh bởi một bài toán, tôi giải nó cả khi tôi mơ. Đôi lúc cảm hứng lóe lên ập thẳng tới tôi đương lúc trên giường. Nhà toán học người Pháp Jules-Henri Poincaré3 từng kinh qua nhiều điều tương tự, và nghe nói hầu hết các ý tưởng đến với ông theo cách này được chứng minh là hợp lý. Không may thay, trường hợp của tôi, chín trên mười ý tưởng không đáng để theo đuổi. Cái còn lại kia, tuy thế, được sử dụng ngay tức khắc và thậm chí có thể mang lại lời giải đúng đắn. Thế là tôi luôn có một cuốn sổ ghi chú trên giường và với lấy chúng ngay khi lời thì thầm của ý tưởng lọt vào đầu tôi. Còn một lý do nữa cho việc này: nếu tôi không chuyển ý tưởng mới ra giấy, tôi sẽ không kiềm giữ được bản thân bình tĩnh và quay lại giấc ngủ.

Đặc trưng định hình áp lực của một nhà toán học là nỗi lo sợ rằng anh ta sẽ chẳng tạo ra được thành quả gì, thậm chí sau khi đau “cơn đau đẻ.” Về phía nhà văn, đó là sức ép phải hoàn thành tác phẩm trong thời hạn nhất định.

Lúc tôi đang ở giữa nghiệp viết, những dòng tôi viết ban ngày trở lại với tôi trong những giấc mơ. Nếu trong mơ tôi bắt gặp cách thức hoàn hảo để diễn tả một dòng mà tôi không thể với tới đương lúc tỉnh táo, tôi liền thức giấc và ghi chép. Đối với nghề viết lách, bảy trên mười ý tưởng đến với tôi trong mơ hóa ra lại tốt, một tỷ lệ khá hơn đáng kể so với số ý tưởng truyền cảm hứng toán học. Tôi không biết tại sao lại như vậy. Có lẽ những suy-nghĩ-trong-mơ không hàm chứa lô-gích mà là thứ cảm thức mỹ học thích hợp cho sáng tạo văn chương hơn so với toán học. Tuy nhiên, ta không thể lờ đi thực tế rằng một phần mười nguồn cảm hứng toán học xảy ra trong những nhà máy giấc mơ (hoặc mười phần mười trong trường hợp Poincaré.) Tôi muốn nói sự nhạy cảm thẩm mỹ là một tố chất trọng yếu trong toán học cũng tương tự như trong văn chương.

Có gia đình gồm những nhà văn và bản thân là nhà toán học, tôi nghĩ tôi ý thức tốt về những gì họ nói khi tôi bắt đầu bước chân vào cả hai lĩnh vực. Song tôi đã quá lạc quan. Mặc dù cả văn và toán đều liên quan đến sự sáng tạo và cả đánh giá vẻ đẹp lẫn sự hài hòa, phương pháp luận của chúng đối lập nhau. Toán học dựa trên lô-gích phổ quát được đeo đuổi bởi bản năng và tính nhạy cảm thẩm mỹ của nhà toán học, trong khi văn học đòi hỏi sự độc đáo và nhạy cảm với chữ nghĩa. Vì vậy, vài ngày sau khi làm việc với toán, tôi chẳng thể tạo ra bất cứ thứ văn nào, và ngược lại. Tôi cần chút thời gian để nhảy từ chế độ này sang chế độ khác và trong thời quá độ ấy, mọi thứ lặp đi lặp lại và tôi tiêu tốn hàng đống thời gian trong bứt rứt. Thật lãng phí thời gian tột độ, song tôi gần như chẳng có khả năng chiếm đóng cả hai địa hạt cùng lúc. Có lẽ chỉ mình tôi đổ lỗi cho cái hệ thống bất toàn ấy, nhưng tôi không nghĩ nó đơn giản như vậy.

Theo tôi, bản chất của mọi thứ văn chương, bất kể nó mang hình hài gì, là sự hiện thực hóa đời sống trần thế của chính ai đó. Không có ý niệm về cái chết, hầu như tất cả khổ đau, tuyệt vọng và cô đơn của chúng ta rồi sẽ tiêu vong. Nếu chúng ta là phượng hoàng với cuộc sống bất diệt, ta chẳng bao giờ trải qua chuỗi ngày đen tối hay trái tim tan vỡ, tuyệt nhiên ta cũng chẳng có khả năng vui mừng hay khoái cảm – tất cả chúng là những thành phần trọng yếu trong văn chương.

Văn chương bị ràng buộc sâu sắc với ý niệm về cái chết và các nhà văn chủ tâm lẫn vô thức thêu dệt sợi dây số mệnh con người vào câu chuyện của họ. Những kiệt tác như Genji MonogatariTurezuregusa và Oku-no-Hosomichi4 đều khảo cứu đời sống nhân gian sớm nở tối tàn. Việc ai đó có những nhận thức trần thế như vậy cũng được thấy trong văn học đương đại. Thực tế, với sự quan sát kỹ lưỡng, ngay cả những mô tả xuềnh xoàng nhất cũng tiết lộ sự thấu hiểu của nhà văn về đời người hữu hạn. Trong tiểu thuyết Takeda Shingen của mình, cha tôi đã viết nên một phân cảnh miêu tả cuộc hành binh của đội quân Takeda băng qua một cây cầu hướng tới khu vực Kanto. Khi đoàn quân đến được Kanto, một chiến binh nhà Takeda, kẻ trước đây chưa từng rời khỏi quê hương Koshu, lẩm bẩm, “Không có đá ở đây.” Một nhà phê bình ngợi ca đây là ví dụ về độ chính xác khoa học trong tả cảnh của nhà văn. Tôi nhớ cảm giác chán ngán gây ra bởi cái nhận xét đó. Tôi dám chắc cha tôi có nhiều hàm ý hơn là quan sát địa chất. Tôi cảm thấy ông muốn phác họa chiến binh như một người đàn ông bị sốc bởi nỗi nhớ quê mãnh liệt và bất chợt, gởi gắm con tim mình vuột xa khỏi cảnh vật xung quanh. Bình nguyên Kanto bằng phẳng khiến anh ta hoài niệm về sỏi đá vùng Koshu; anh nhớ ngọn núi, con sông, thung lũng, và rồi khi cơn gió lướt qua, ánh sáng chiếu rọi quê hương anh. Anh nhớ gia đình mình đã bỏ lại. Khoảnh khắc ấy, trí tưởng tượng của anh vượt xa việc so sánh hai dạng địa hình. Thực tế, người lính phải đối mặt với sự nhỏ bé, chóng tàn và quạnh hiu của đời mình tương phản với phẩm cách bất diệt của tự nhiên. Vài chữ nhỏ nhoi được một người lính thốt ra thật khéo truyền tải nỗi ám ảnh của tác giả về cái chết của chính mình.

Hãy tưởng tượng một xứ sở xa lạ trải dài bất tận trước mắt bạn, một quân đoàn khổng lồ những chiến binh diễu qua xứ ấy trên những con chiến mã, và một người lính giữa binh đoàn đó tự gói mình trong nỗi cô đơn. Với điều này, bạn dõi theo tiến trình quan sát của nhà văn: từ một cái nhìn xa xăm, chuyển vào chính diện, liền sau là một pô cận cảnh, và đạt đến một cái nhìn sâu sắc về mặt tâm lý. Theo cách ấy, cha tôi ngụ ý sự thức tỉnh triết học tinh tế ở một người lính vô danh. Ông có sở trường gợi lên nỗi u sầu, cảm thức Wabi5, và sự bình yên của cuộc đời bằng những cảnh quan đối nghịch hùng vĩ. Tôi tin rằng đó là những điều đánh vào trái tim độc giả.

Cả nhà văn lẫn nhà toán học đều khát khao sự vĩnh cữu, điểm khác biệt giữa họ là người trước mưu cầu nó trong cuộc đời chính mình trong khi kẻ sau tìm kiếm nó bên ngoài đời sống cá nhân riêng lẻ. Khi một nhà toán học khám phá chân lý phổ quát, anh ta buộc phải từ bỏ nội tâm hỗn loạn của mình. Chẳng nhà toán học nào lại tốn thời gian cho những ẩn ý đa cảm của đời người hữu hạn, tuy thế anh ta có thể đặt ra giả thuyết về tính vô hạn của chân lý. Các nhà toán học vượt lên trên thế giới; thời gian không dính dáng tới họ. Họ làm đầu óc thích ứng với cái trạng thái mà vượt quá những động lực không-thời gian của thế giới vật chất. Họ bùng cháy cùng lòng sùng kính cái trạng thái ấy; bằng không sẽ chẳng có chân lý nào được khám phá.

Hẳn là bây giờ bạn đã hiểu được lý do tại sao phải tốn quá nhiều thời gian để vượt qua cầu nối giữa toán và văn. Nó không chỉ liên quan đến kỹ thuật của từng lĩnh vực, mà là một sự chuyển đổi toàn diện về chất trong tâm hồn. Tôi vẫn chưa phải là bậc thầy chuyển đổi sao cho thật suôn sẻ. Thỉnh thoảng tôi thấy nghe nhạc giúp ích khi tôi dịch chuyển từ tư duy toán học sang lối suy nghĩ của một nhà văn. Nhưng không phải nhạc nào cũng làm được. Tôi cần cái gì đó giống như những bản dân ca ngày xưa chạm đến cảm xúc của mình hơn là những kiệt tác cổ điển của Bach hay Mozart. Tôi ước một thứ thuốc tiên cho sự biến đổi này, hoặc giá tôi là một nhẫn giả thần tốc chứ không phải là chú cừu vụng về, cứ nấn ná trên cây cầu nối giữa toán học và văn chương. Sau đó nữa, một phần trong tôi từ chối thừa nhận rằng có thể có thứ thuốc như vậy. Rốt cuộc, tôi vẫn ở trên cây cầu ấy, đi thế này hay bước thế kia, ngập ngừng giữa hai bên, chẳng đến được bờ sông phía nào. Tuy vậy, dường như tôi đang tận hưởng điều đó.

Hết.

Masahiko Fujiwara là nhà toán học và tiểu luận. Sinh ra ở Mãn Châu và lớn lên ở Tokyo, ông lấy bằng Tiến sĩ Toán học tại Đại học Tokyo. Sau khi làm việc tại Đại học Colorado và Đại học Cambridge, ông trở thành giáo sư toàn phần Đại học Ochanomizu, Tokyo. Fujiwara đã giành giải thưởng Câu lạc bộ tiểu luận Nihon cho tác phẩm đầu tay Wakaki Sugakusha no America năm 1977 và từ đó nhiều tác phẩm được xuất bản, bao gồm cả cuốn sách bán chạy nhất năm 2005 Kokka no Hinkaku với hơn hai triệu bản tiêu thụ tại Nhật. Cha ông – Jirō Nitta là tiểu thuyết gia đoạt giải Naoki và mẹ ông – Tei Fujiwara là một tác giả có sách bán chạy.

Chú thích:

  1. Tên người cha của tác giả.
  2. Học viện công nghệ Massachusetts, là một viện đại học nghiên cứu tư thục ở thành phố Cambridge, bang Massachusetts, Hoa Kỳ. MIT nổi tiếng nhờ hoạt động nghiên cứu và giáo dục trong các ngành khoa học vật lý, kỹ thuật, cũng như trong các ngành sinh học, kinh tế học, ngôn ngữ học, và quản lý.
  3. Là một nhà toán học, nhà vật lý lý thuyết, và là một triết gia người Pháp.
  4. Những tác phẩm văn học xuất sắc của Nhật Bản thời Edo.
  5. Wabi-sabi là một thuật ngữ đại diện cho thẩm mỹ Nhật Bản và một thế giới quan của văn hoá Nhật Bản, tập trung vào việc chấp nhận tính phù du và sự không hoàn hảo. Wabi ban đầu tham chiếu đến sự cô độc sống giữa thiên nhiên, xa khỏi xã hội con người; sabi mang nghĩa là “lạnh”, “nghiêng” hoặc “sự héo tàn”. Khoảng thế kỷ thứ 14, những ý nghĩa này bắt đầu thay đổi, mang hàm nghĩa tích cực hơn. Wabi hiện tại bao hàm sự tinh giản hoá, tươi mát hoặc tĩnh lặng một cách mộc mạc, hoặc sự sang trọng được giảm bớt đi, và có thể sử dụng với cả đối tượng tự nhiên và nhân tạo. Nó cũng có thể tham chiếu đến những đường nét lỗi hoặc dị thường phát sinh trong quá trình xây dựng, thứ tạo nên sự độc đáo và sang trọng cho đối tượng. Sabi là vẻ đẹp hoặc sự tĩnh lặng tới theo thời gian, khi sự tồn tại của đối tượng và sự vô thường của nó được chứng thức bởi lớp gỉ sét (hoặc lớp ngả màu do thời gian và không khí tác động) và lớp bên ngoài của nó, hoặc ở bất kì sửa chữa nào có thể nhìn thấy.

3V dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Masahiko Fujiwara, đăng tại Asymptote Journal.

Hình ảnh minh họa đầu bài được thực hiện bởi Kevin Kunstadt.


Xem tất cả những bài viết của 3V.


Những bài viết có cùng chủ đề


Trà chiều

Xuân, Hạ, Thu, Đông: Bốn mùa Phương Nam tại Đường Sách TP. HCM

Kỉ niệm Đường Sách tròn 5 năm tuổi, mời bạn cùng tôi đếm lại bốn mùa của Phương Nam tại Đường Sách.

Published

on

Ngày 09.01.2021 vừa qua đánh dấu sinh nhật 5 năm của Đường Sách TP. HCM (2016-2021). Trong 5 năm qua, giữa muôn vàn những địa điểm tụ tập vui chơi, có một cộng đồng người Sài Thành vẫn lựa chọn dành những ngày cuối tuần cho con đường dài chưa đến 150 mét, nhưng ẩn chứa trong đó là cả một thế giới sách mầu nhiệm. Và cũng trong 5 năm này, Nhà Sách Phương Nam vẫn bền bỉ song hành cùng Đường Sách, chứng kiến sự ra đời, những thay đổi và phát triển của con đường đầy lá me bay.

Hôm nay, kỉ niệm Đường Sách tròn 5 năm tuổi, mời bạn cùng tôi đếm lại bốn mùa của Phương Nam tại Đường Sách, lắng nghe câu chuyện xuân, hạ, thu, đông,… rồi lại xuân này.

Nhà Sách Phương Nam vẫn bền bỉ song hành cùng Đường Sách, chứng kiến sự ra đời, những thay đổi và phát triển của con đường đầy lá me bay.

Xuân

Một năm bắt đầu bằng mùa xuân, và mùa xuân ở Sài Gòn bắt đầu khi thành phố thay áo đượm hương: đường hoa Tết trên phố đi bộ, pháo bông đì đùng trên góc trời rộng đêm giao thừa; và đặc biệt không thể không nhắc tới Hội Sách Tết - thú chơi Tết thanh tao của riêng người Sài Thành. Những mùa xuân qua, bắt đầu từ 21, 22 tháng Chạp, bạn bè đã khấp khởi hẹn nhau đi ngắm Hội Sách Tết. Và cái sự hoan hỉ ấy kéo dài mãi đến những ngày mùng 4, mùng 5 Tết Nguyên Đán.

Hội Sách Tết có chi hay mà ai cũng ngóng trông mỗi dịp xuân về?

Hội Sách Tết - thú chơi Tết thanh tao của riêng người Sài Thành.
Ảnh: Hội Sách Tết 2018

Đường Sách 5 tuổi là cũng bấy nhiêu mùa xuân Phương Nam đồng hành và tổ chức Hội Sách Tết tại Đường Sách. Và trong 5 mùa xuân ấy, xuyên suốt quá trình khai sinh nên Hội Sách Tết, từng khâu một - từ bản vẽ thiết kế sơ khai, đến dàn dựng thành hình, sắp xếp và trang trí - Phương Nam tâm nguyện rằng, đây không đơn thuần là địa điểm để dạo phố và mua sắm, mà thu nhỏ vào đó là một không gian văn hóa cổ truyền đậm chất Việt.

Vẫy chào khách tham quan là cổng chào được xây từ những chất liệu quen thuộc với làng quê như tre nứa, bắp, cành mai, cành đào. Từng gia đình, nhiều tốp bạn, đôi người thương trong tà áo dài đỏ vàng, tíu tít dắt nhau dạo phố ngắm hoa, thưởng sách, hái lộc đầu xuân, xin chữ ông đồ, bói toán cầu duyên và tận hưởng những trò chơi dân gian được tái hiện trong lễ hội đặc biệt. Và thật hiển nhiên, khi chơi Hội Sách, ai cũng gửi gắm hy vọng “mua con chữ lấy may” trong dịp khai niên, mong rằng những tác phẩm sách xuân chọn lọc sẽ mang đến trí tuệ, sự sáng suốt đến cho bản thân và cả nhà.

Vẫy chào khách tham quan là cổng chào được xây từ những chất liệu quen thuộc với làng quê.
Ảnh: Hội Sách Tết 2020

Từng gia đình, nhiều tốp bạn, đôi người thương trong tà áo dài đỏ vàng, tíu tít dắt nhau dạo phố ngắm hoa, thưởng sách.
Ảnh: Hội Sách Tết 2020

Ai cũng gửi gắm hy vọng “mua con chữ lấy may” trong dịp khai niên, mong rằng những tác phẩm sách xuân chọn lọc sẽ mang đến trí tuệ, sự sáng suốt đến cho bản thân và cả nhà.
Ảnh: Hội Sách Tết 2020

Hội Sách Tết cũng là một ngày lễ để hành hương tìm về những di sản văn hóa truyền thống.
Ảnh: Hội Sách Tết 2020

Người Việt ta luôn cầu chúc vạn điều may mắn, an lành trong những ngày đầu năm và mong muốn tìm lại một không khi Tết cổ truyền. Hội Sách Tết cũng là một ngày lễ để hành hương tìm về những di sản văn hóa truyền thống ấy, để trải nghiệm một không khí Tết xưa giữa hòn ngọc Viễn Đông hiện đại này.

Hạ

Mùa hè về bằng tiếng ve, và bằng một ngày hội khác - ngày Quốc tế Thiếu nhi 01.06, cũng là ngày bắt đầu kỳ nghỉ hè của học sinh. Mùa hè ở thành phố, nếu có ai chưa kịp đặt một chuyến du lịch đến những miền đất xa khác mà vô tình “kẹt” lại ở Sài Gòn, đừng buồn chi mà hãy dạo bước tới Đường Sách - vì con đường này chính là dành cho thiếu nhi, dành cho những cô bé, cậu bé yêu mến con chữ, yêu mến những niềm vui nho nhỏ thú vị.

Chào đón các em tham dự Hội sách Thiếu nhi Thành phố, đại diện là triển lãm sách thiếu nhi với ý tưởng: sách thiếu nhi cũng là một “bảo tàng” để chiêm ngưỡng và ngắm nghía. Những cuốn sách thiếu nhi chọn lọc, trong đó có tác phẩm đến từ Phương Nam Book được trưng bày trong tủ kính tại Đường Sách, như xây nên đường hoa chào các em đến nghe những câu chuyện thần kỳ. Từ những cuộc phiêu lưu của cô bảo mẫu thần kỳ Mary Poppins, tới những câu chuyện trong veo nâng đỡ tâm hồn bé trong Tủ Sách Chồi Non. Đây là một cách mới để các bậc phụ huynh hướng dẫn bé lựa chọn sách hay, bổ ích và chủ động tạo dựng thói quen đọc sách cho bé từ tuổi còn nhỏ.

Sách thiếu nhi cũng là một “bảo tàng” để chiêm ngưỡng và ngắm nghía.

Mùa hè, Phương Nam cũng mang đến các buổi giao lưu họp mặt, workshop để các bé trải nghiệm những hoạt động bổ ích. Như là thử tài vẽ nón: nơi các bé được khoe tài hội họa với năm ngón tay vương đầy màu nước, tô tô nghịch nghịch mà chẳng mấy chốc một thế giới tưởng tượng của trẻ con đã thành hình dưới dạng những chiếc mũ vải xinh đẹp. Hoặc học cách gấp giấy origami để vừa luyện tay, luyện kĩ năng tập trung. Hoặc như giao lưu với anh Long Journey để nghe những câu chuyện “giải cứu” động vật hoang dã, để em có thêm ý thức trách nhiệm với thiên nhiên và môi trường.

Mùa hè, Phương Nam mang đến các buổi giao lưu họp mặt, workshop để các bé trải nghiệm những hoạt động bổ ích.

Thu

Thu sang là khi tiết trời Sài Gòn không còn nóng bức, mùa mưa vẫn còn nấn ná cho tới cuối tháng 10. Mùa thu mưa bay như thế, con người ta cũng…. lười đi ít nhiều mà chỉ muốn tấp vào Phương Nam Book Café để đóng ổ đọc sách. Book Café đã “hạ cánh” nơi Đường Sách rất lâu rồi - từ những ngày đầu Đường Sách ghi tên mình lên bản đồ đọc của Sài Thành, nhưng chẳng bao giờ hết mới mẻ, đặc biệt là với giới văn nghệ sĩ và cộng đồng yêu sách.

Book Café như một trạm dừng chân quảng giao mà thân thiết mời chào mọi người nghỉ ngơi, để âm thầm đọc sách mình chọn nhưng không tách rời khỏi cảm quan cộng đồng.

Tọa lạc ở đầu Đường Sách, Book Café như một trạm dừng chân quảng giao mà thân thiết mời chào mọi người nghỉ ngơi, để âm thầm đọc sách mình chọn nhưng không tách rời khỏi cảm quan cộng đồng, chẳng rõ là đang thưởng cà phê, thưởng sách hay là thưởng ngoạn nhịp điệu của Sài Gòn trong một ngày bình thường.

Nhà văn, nhà báo Phạm Công Luận đã dành những lời trân trọng cho Phương Nam Book Café, rằng “Là nơi đậm đà niềm vui, khi ngồi giữa bạn bè thanh cảnh thích đọc và thích sống nhẹ nhàng như mình. Là nơi nhìn người đẹp đi lại. Nơi thỉnh thoảng nhận ra vài người Sài Gòn xưa qua phong thái, giọng nói, cách nói chuyện và ăn mặc. Là nơi uống ly cà phê ấm trong không khí lạnh buổi sáng, như ông cha ta trăm năm trước bên ly xây chừng ở chợ cũ, quán cà phê Nguyễn Văn Đắc bên hông chợ Bến Thành hay trên vỉa hè khách sạn Continental”.

Đến Book Café, dẫu là đi một mình hay đi nhiều mình thì cũng chẳng bao giờ thấy cô đơn hay gượng gạo. Vì thế giới của sách tri kỷ mà rộng lớn lắm!

Khi những chiếc đèn lồng mang ánh sáng lấp lánh trải dài Đường Sách, cũng là khi Trung Thu về...

Đông

Đông về, Đường Sách trở về với nguyên bản giá trị cốt lõi của mình, là con đường chứa đầy sách, là nơi để thỏa lòng đam mê sách cho người Sài Thành và những du khách đường xa.

Đường Sách là con đường chứa đầy sách, là nơi để thỏa lòng đam mê sách cho người Sài Thành và những du khách đường xa.

Người Sài Gòn thường đùa với nhau rằng, cái thành phố này chỉ có hai mùa: mùa nóng và mùa... rất nóng. Sài Gòn không có mùa đông, nhưng vài đợt gió lạnh hiếm hoi trong những tháng cuối năm lại làm cho nhiều người Sài Gòn mừng vui, chẳng chấp nhặt mà coi như “đông đã về”. Và cũng thật lạ thay, mùa đông ở Sài Gòn cũng là mùa nhộn nhịp nhất năm, nhà nhà người người khuyến mãi, thi nhau... sale sập sàn.

Một mùa rộn ràng như thế, làm sao người ta quên cái thú chọn sách khi đến chơi Đường Sách được?

Cuối năm 2020, mặc cho những thay đổi thất thường trong năm, thế giới sách vẫn rộn ràng như bù đắp, thổi thêm sức sống cho năm mới. Những tác phẩm ấp ủ cả năm nay được trình làng với đủ thể loại và hình thức: từ văn học, sách tâm lý - giáo dục, kỹ năng, sách viết về thiên nhiên - môi trường,... nhận được sự đón nhận nhiệt thành của cộng đồng yêu sách. Không ít tác phẩm lọt vào danh sách sách hay và bán chạy cả năm, từng đạt được những giải thưởng lớn trên văn đàn quốc tế. Không giới hạn ở đó, ngành sách còn rộn ràng những ngày gặp mặt, ra mắt sách, là dịp để những độc giả trao đổi, giao lưu với tác giả mình yêu mến tại Đường Sách.

Buổi giao lưu & ký tặng sách Hồi ký Nghệ sĩ Kim Cương: Sống cho người - Sống cho mình.

Buổi giao lưu cùng kiến trúc sư – tác giả Nguyễn Ngọc Dũng và giới thiệu chuỗi tác phẩm tranh & ký họa Lang thang phố thị.

Giao lưu ra mắt sách Thức dậy anh vẫn là mơ của tác giả - ca sĩ Jun Phạm.

Những ký ức về mùa Giáng Sinh 2018 tại Đường Sách.

Rồi lại xuân…

Chẳng mấy chốc lại sang năm 2021.

Tiết trời xoay vẫn, một năm mới lại đến. Không ai biết được sẽ có điều gì chờ đón ta trong năm nay. Thế nhưng, tôi mạnh dạn nghĩ rằng, sự tồn tại của Đường Sách trong lòng bạn đọc vẫn thế, vẫn sẽ vững chắc, cũng như mối dây gắn kết bền lâu giữa thương hiệu Phương Nam và bản thân Đường Sách. Bởi lẽ, Đường Sách ra đời, là sự hòa hợp tự nhiên của văn hóa đọc Sài Gòn cùng dòng chảy năng động luôn tồn tại trong lòng thành phố.

Nghe đâu, đã gần đến Hội Sách Tết Tân Sửu rồi nhỉ?

Hết.

Ảnh đầu bài: Tác phẩm Cảnh sắc phố thị Sài Gòn - Chợ Lớn (Tranh & Ký họa), tác giả Phạm Công Luận & Phạm Công Tâm

Đọc bài viết

Trà chiều

Con người cần làm gì trong thời đại của khủng hoảng khí hậu?

Bàn về cách học lại Lịch sử Trái Đất bên Bờ vực

Published

on

Ảnh: Một chú gấu Bắc Cực đang dần đói lả, được phát hiện trên một mảng băng trôi nhỏ. Hình ảnh do Kerstin Langenberger chụp vào tháng Tám ở Svalbard, phía bắc lục địa Na Uy.

Sức nặng của cuộc khủng hoảng sinh thái không khiến tôi bận tâm cho đến khi đứa con thứ hai của tôi chào đời. Tôi cảm nhận điều đó một cách rõ ràng hơn bao giờ hết khi hai vợ chồng tôi đang chuẩn bị sơ tán trước lúc trận siêu bão thứ ba càn quét bờ biển Đông Nam. Giữ chặt đứa con bé bỏng, đỏ hỏn trong vòng tay, đột nhiên, tôi nhận ra, cái thế giới tôi hằng vẽ ra cho những đứa con của mình đã không còn tồn tại nữa. Chúng ta đang sống ở một nơi nào đó khác - một nơi hoàn toàn mới, đang thay đổi, và dễ dàng bị thay đổi. Và tôi khiếp sợ trước sự thật này.

Có một thuật ngữ y khoa tên là “nỗi lo âu về khí hậu”, một trạng thái “cực kỳ hoảng hốt về sự diệt vong đã được khoa học tiên đoán của loài người”. Bạn bè và gia đình tôi nghi ngờ đó chỉ là hội chứng trầm cảm sau sinh, và một phần trong tôi hi vọng rằng họ đúng. Nhưng trong khi tôi chắc chắn các hoocmon chẳng giúp được gì, tôi biết những nỗi sợ của mình không hề vô lý. Trong tâm trí tôi, sẽ là vô lý nếu không khóc thương trước cái tương lai con cái chúng ta phải đối mặt, khi biết về những gì các nhà khoa học đã biết ngày nay.

Nhưng việc khóc lóc ảnh hưởng đến đứa bé mới sinh nhà tôi. Tôi đã thử tự khiến mình xao lãng trong một lúc, nhưng lại cảm thấy mất phương hướng, giống như cố gắng vào lại giấc mơ khi bạn không còn ngủ nữa.

Vì vậy, tôi đã thử tiếp cận theo hướng ngược lại. Giống như Bruce Wayne đến hang dơi, tôi đắm mình trong những tài liệu về điều mà tôi sợ nhất: cuộc khủng hoảng khí hậu của chúng ta.

Tôi bắt đầu với các bài báo, click vào từng cái tiêu đề khủng khiếp tôi thấy được, từ những con gấu Bắc Cực đang chết đói, những chỏm băng vỡ, đến những hòn đảo nhựa ở Vịnh Mexico. Các bạn độc giả thân mến, tôi không khuyên các bạn làm theo phương pháp này. Hãy chuyển tiếp những thông tin trên cho ông bác không-quan-tâm-đến-khí-hậu của các bạn, gọi cho các thượng nghị sĩ, rồi tiếp tục với cuộc sống thường ngày. Một vài cú nhấp chuột để lại trong tôi nỗi bất an hơn bao giờ hết và không có bất kỳ sự chắc chắn nào về những gì đang thực sự xảy ra với hành tinh.

Cây Joshua bốc cháy trong trận cháy rừng hủy diệt càn quét qua Hồ Hughes (California, Mỹ) vào tháng Sáu năm 2013.
Ảnh: David McNew

Tôi cần một cách tiếp cận chậm hơn — các tác phẩm được viết bởi những người sẵn sàng nghiên cứu và thấu đạt những kiến thức khoa học trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ, để cùng nhau viết ra lời hồi đáp của con người với cuộc khủng hoảng do chính con người gây ra.

Nói một cách khác, tôi cần sách. Những quyển sách tốt thật sự.

Tôi chưa bao giờ xuất sắc trong môn khoa học và cũng chưa từng tìm hiểu gì thêm từ sau khi tốt nghiệp trung học. Vì vậy tôi hiểu rất ít về biến đổi khí hậu. Tôi đã ném mình vào lịch sử đau thương, về nơi chúng ta đang sống và làm thế nào mà chúng ta đến được đây. Tôi bắt đầu với tác phẩm mang tính bước ngoặt của Al Gore, An Inconvenient Truth (tạm dịch Một sự thật phiền toái) - tác phẩm cho tôi những biểu đồ và số liệu để bám víu khi tôi thu thập những nhận thức về hành tinh mới này. Tôi trải qua tám ngày tàn khốc, đi qua Đợt tuyệt chủng thứ sáu của Elizabeth Kolbert và theo sau đó là Sapiens: Lược sử loài người của Yuval Noah Harari. Hóa ra, sự tuyệt chủng và xóa sổ môi trường đã theo dấu vết di cư của con người kể từ buổi bình minh của giống loài chúng ta, mặc dù điều này đã tăng nhanh theo cấp số nhân trong những năm gần đây. Những thông tin này vẫn không làm tôi cảm thấy an ủi.

Tôi đã quay lại và đọc Mùa xuân vắng lặng của Rachel Carson. Mặc dù không trực tiếp đề cập đến sự ấm lên của khí hậu, cuốn sách đã minh họa xu hướng khủng khiếp của chúng ta trong thế kỷ qua. Đó là thay đổi đặc điểm hóa học của hành tinh theo những cách hung ác nhất, từ phân bón hóa học đến thuốc diệt côn trùng.

Mùa xuân vắng lặng, cuốn sách có sức ảnh hưởng lên thế giới khoa học kỹ thuật tương đương với tác phẩm Nguồn gốc các loài (The Origin of Species) của Charles Darwin.
Ảnh: Nhà Sách Phương Nam

Đó là những cuốn sách kinh hoàng; cùng nhau, chúng đã khiến tôi bắt đầu xây dựng một khu vườn cho bướm và ong, chuyển sang sử dụng sản phẩm hữu cơ và ăn chay tại nhà. Quan trọng hơn, trong khi giải thích tình trạng đen tối của chúng ta hiện tại, những cuốn sách này đã tiết lộ cho tôi một sự thật: chúng ta thực sự đã không đi trên con đường này lâu đến thế. Và nếu chúng ta đã thay đổi cấu trúc của xã hội loài người quá nhanh trong vài thế kỷ qua, chúng ta hoàn toàn có thể làm như vậy một lần nữa.

Vậy nên, tôi chuyển sang các giải pháp. Một cuộc tìm kiếm nhanh chóng trong thư viện đã hé lộ toàn bộ những góc nhìn lạc quan về cách chúng ta có thể làm để giảm thiểu tác động tồi tệ nhất của khủng hoảng khí hậu. Tôi đã xem qua phần tiếp theo cuốn sách của Gore, Truth to Power (tạm dịch Từ Sự thật đến Sức mạnh), cũng như cuốn sách A World of Three Zeros (tạm dịch Một thế giới của ba con số không) của Paul Yunus - người từng đoạt giải Nobel Hòa bình. Tôi đã lướt qua bảng xếp hạng của Paul Hawken về mọi giải pháp thu giữ carbon chúng ta đã biết trong Drawdown - 99 giải pháp ngăn chặn thảm họa từ biến đổi khí hậu. Mỗi cuốn sách vang lên với một niềm hy vọng kiên định vào chuỗi những ý tưởng không ăn khớp này - nhiều ý tưởng trong số đó kêu gọi góp phần xóa đói giảm nghèo và tái phân bổ của cải, điều nghe có vẻ rành rành là không tưởng trên trang giấy.

Nhưng chúng cũng lặp đi lặp lại một điệp khúc chung: chúng ta có giải pháp, chúng ta chỉ cần quyết tâm chính trị. “Chính trị” thực sự đã làm giảm thước đo hy vọng của tôi. Tôi trở lại những kệ sách trong thư viện một lần nữa.

Đến thời điểm này, tôi đã hơi kiệt sức với những cuốn sách phi hư cấu. Vì vậy tôi quyết định nuông chiều bản thân trong những quyển tiểu thuyết. Tôi tìm thấy cli-fi (climate fiction), một thể loại viễn tưởng, suy đoán về xã hội loài người vài thập kỷ trong tương lai rất gần mà các nhà khoa học từng dự đoán. Tôi đi bộ dọc theo bờ biển California hoang tàn cùng với nữ chính của Octavia E. Butler trong Parable of the Sower (tạm dịch Ngụ ngôn Người gieo giống), bão sét, hỏa hoạn thường xuyên và những kẻ cuồng phóng hỏa đáng sợ bị ảnh hưởng bởi ma túy, những kẻ đang “phê pha” trên sự diệt vong của thế giới. Tôi đã cổ vũ những người sống sót sau trận dịch hoành hành trong The Year of the Flood (tạm dịch Năm của trận Đại hồng thủy) của Margaret Atwood.

Bất chấp những điều khủng khiếp trong những cuốn sách này, nhìn chung, tôi cảm thấy gần hơn với những gì tôi muốn: một bức tranh tinh thần về cách làm-một-con-người trong thời đại biến đổi khí hậu. Đáng sợ quá, phải không? Nhưng tôi đã nhảy quá xa vào tương lai. Thực tế là chúng ta đã thay đổi cả hành tinh. Tôi cần học cách sống ấy ngay bây giờ, trước khi những viễn cảnh tồi tệ kịp trở thành sự thật.

Tôi tìm thấy những chỉ dẫn đó ở một nơi chốn không ngờ: những câu chuyện kể địa phương được viết bởi các cây bút về môi trường. Thời còn là một sinh viên cao học, tôi từng gọi chúng là “lời-của-thiên-nhiên”, “chậm”, “chán” và “eww”. Nhưng càng đọc, tôi càng nhận ra rằng “lời-của-thiên-nhiên” là, và có lẽ luôn luôn là, những gì nguyên sơ nhất.

Những cây bút này quan tâm sâu sắc đến những nơi chốn cụ thể, đủ sâu để biết tên của từng bông hoa, từng cái cây và từng con ốc. Trước sự tàn phá sắp xảy ra, họ từ chối ngoảnh mặt làm ngơ. Từ một Rick Bass nài xin “hãy bảo vệ một thung lũng Montana chưa phát triển” trong The Book of Yaak (tạm dịch Sách về thung lũng Yaak), đến một Lauren Groff vật lộn với nỗi lo về tình trạng dễ bị tổn thương của quê nhà ở bang Florida, đến Elizabeth Rush ghi lại quá trình xóa sổ bờ biển nước Mỹ với những tiếng nấc đau lòng. Mỗi ấn bản đã cho tôi những gì tôi cần biết. Chúng đã cho tôi một chỗ đứng trong thực tại mới này, nơi, như Rush mô tả, "Niềm tin của tôi vào các quá trình tự nhiên, vào hệ thống tương hỗ phức tạp mà tôi được nuôi dạy để tin rằng phải giữ gìn cho thiên nhiên không bị mất cân bằng, đã mất đi." Đó không phải là một nơi thoải mái hay lạc quan gì. Nhưng đó là nơi để trở thành con người, để dễ bị tổn thương, để sợ hãi, để than khóc, đồng thời để thích nghi.

Tôi cần không gian này, và tôi nghĩ tôi cần một hành trình dài để vào trong đó. Tôi cần học lại lịch sử của trái đất, đọc qua sự khủng khiếp của cuộc khủng hoảng mà chúng ta đang phải đối mặt và xem xét những điều chúng ta có thể làm để đối diện với những gì đang tới.

Đặc biệt, với tư cách là một bà mẹ làm việc tại nhà, với hai khuôn mặt ngây thơ luôn tươi cười với tôi mỗi ngày, tôi cần phải can đảm đọc những biên niên sử trung thực của những người đang sống qua thời khắc này. Tôi cần ngồi cùng thuyền với họ, với hy vọng rằng chúng ta có thể tự cứu lấy mình, và rằng chúng ta vẫn đáng được cứu.

Tôi không thể nói rằng nỗi lo âu của tôi đã được xoa dịu. Tôi vẫn lo lắng cho các cô con gái của mình. Tôi sợ rằng một ngày nào đó chúng sẽ trách móc tôi vì đã không làm nhiều hơn để ngăn chặn cuộc khủng hoảng mà tôi biết là đang đến. Nhưng khi tôi muốn ngoảnh mặt đi, tôi nhớ rằng đã không còn nơi nào để nhìn sang nữa. Tôi gieo thêm một vài hạt giống trong vườn, thứ tốt cho lũ bọ và thu giữ carbon nhiều hơn bất kì điều gì khác.

Chỉ là một khu đất nhỏ, nhưng đủ để con thằn lằn đẻ trứng vào một cây đậu bắp.

Bốn con ong ghé vào mỗi buổi sớm mai, đánh chén no nê những bông hoa mướp vàng tươi; những bông hoa nở, héo và tàn đi chỉ trong một ngày. Tôi ghé mắt nhìn chúng gần hết mức có thể. Chúng mang theo một loại bình yên. Mặc dù tôi biết, hôm nay, những điều đó mong manh tới mức nào, tôi cứ bất chấp vay mượn những bình yên ấy, mang theo mình, cho đến khi tôi lại ra vườn tưới nước vào sáng hôm sau.

Hết.

ichigo lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Elizabeth Putfark, đăng tại Literary Hub.

*

Những bài viết có cùng chủ đề môi trường & thiên nhiên



Đọc bài viết

Trà chiều

Cách nhìn thế giới qua lăng kính của Định luật I Newton

Published

on

Vật lý có lẽ là nỗi ám ảnh của rất nhiều thế hệ học sinh, và chắc cũng không ít bạn cho rằng nó là môn học vô vị, nhàm chán hay thậm chí là khó hiểu và đáng sợ. Nhưng theo tôi, vật lý cũng như bao môn học khác - nó có điểm thú vị của riêng nó. Mong rằng sau khi đọc bài viết, tôi có thể thay đổi chút ít cái nhìn của bạn về bộ môn này. Mà các bạn yên tâm đi, hôm nay chúng ta sẽ chẳng nói gì về tính toán cả đâu.

Vật lý là bộ môn khoa học tự nhiên chú trọng về thực nghiệm, lí thuyết và tính toán. Nhưng thông qua cơ duyên nào đó, hay vì do bản chất của ngành khoa học này là nghiên cứu về thế giới xung quanh, mà một số định luật vật lý lại tình cờ mang những ý nghĩa nhân văn sâu sắc và có thể ứng dụng vào cả đời sống xã hội của con người. Sau đây sẽ là một số bài học không ngờ đến về cuộc sống, khi bạn nhìn nhận định luật của nhà vật lý thiên tài Newton qua một lăng kính, một góc nhìn có phần khác lạ một chút.

*

Định luật I Newton:

Định luật này nói rằng, một vật nếu không chịu tác dụng của bất cứ lực nào hoặc tất cả các lực tác dụng lên vật đã tự triệt tiêu lẫn nhau (hợp lực bằng không) thì một vật đang đứng yên sẽ tiếp tục đứng yên, một vật đang chuyển động thẳng đều sẽ tiếp tục chuyển động thẳng đều.

Chỉ qua vài câu thôi, nhưng tôi vừa mô tả cho bạn một bản chất cơ bản của bản thân bạn, của tôi và của cả vũ trụ này nữa. Đó chính là mọi vật trên thế gian này đều muốn bảo toàn trạng thái hiện tại của nó.

Một viên đá nằm trên mặt đất, nếu không ai động vào nó, nếu không có gió thổi vào nó; nếu không có côn trùng, vi khuẩn, nấm mốc đến đục khoét thì viên đá đó chắc chắn sẽ nằm yên tại đó hàng triệu, hàng tỷ năm. Điều này nghe qua thì có đôi chút vô lí nhỉ? Nhiều điều kiện đến thế thì làm gì có hòn đá nào đáp ứng được, đúng không? Bạn nói cũng không hẳn sai đâu, một viên đá nằm mãi mãi ở một chỗ thì đúng là gần như không thể trong cái thế giới vận động không ngừng này của chúng ta. Nhưng liệu bạn có biết, trên cái hành tinh đầy biến động này, nơi mà qua hàng triệu năm, đáy biển cổ đại có thể bị vỏ Trái Đất đẩy lên thành ngọn núi khổng lồ cao hàng ngàn mét; nơi một vùng biển, một vùng nhiệt đới ẩm ướt khi xưa giờ lại hóa thành sa mạc Sahara rộng lớn và khô cằn, ấy thế mà vẫn tồn tại những hòn đá mong manh nằm yên và còn nguyên vẹn suốt hàng triệu năm. Đó là những hoá thạch cổ đại, những hòn đá chứa di tích của những sinh vật đã sống cách đây từ rất lâu, rất lâu rồi. Những hòn đá hoá thạch này, chúng chôn mình sâu trong đất đá, trốn tránh khỏi thế giới hiện thực đầy biến động để rồi sau hàng triệu năm, chúng vẫn chỉ là những hòn đá vô tri vô giác, suốt hàng triệu năm mà cũng chẳng đổi thay gì cả.

Bạn cũng như vậy đấy, nếu cứ sống khép mình mà trốn tránh khỏi thế giới, nếu cứ ở yên đấy chờ cơ hội đến với mình thì dù có bao lâu nữa trôi qua, bạn cũng sẽ chẳng có chút tiến bộ nào so với ngày hôm nay đâu, cũng sẽ giống như hòn hoá thạch kia mãi chẳng thay đổi được gì cả, mãi mãi cứ tiếp tục đứng yên, đứng yên và đứng yên. Như một di tích từ một quá khứ xa xăm nào đó, cứ nằm đấy mãi không chịu thay đổi.

Một vật khi đã đứng yên thì nó tiếp tục đứng yên để bảo tồn cái trạng thái ù lì, bị động, lười biếng của bản thân. Vì đó là bản chất của vạn vật trên thế giới này, và cả trong vũ trụ rộng lớn bao la này. Bảo toàn trạng thái hiện tại chính là lý tưởng của vạn vật.

Nhưng khoan đã nào, liệu các bạn có đang thắc mắc, rằng nếu như mọi vật đang đứng yên đều muốn tiếp tục đứng yên, vậy thì tại sao mọi thứ xung quanh chúng ta, mọi thứ trong thế giới của chúng ta đều cứ như là đang không ngừng vận động. Bạn có đang băn khoăn về điều này không? Quả đúng là một nghịch lí phải không nào?

Sau đây là lí giải của tôi, sở dĩ mọi thứ xung quanh ta đều có vẻ đang không ngừng vận động trong khi bản chất của chúng lại là luôn muốn bảo toàn trạng thái là vì một trong hai lí do sau:

Lí do thứ nhất, trạng thái ban đầu của chúng đã là “chuyển động” nên chúng muốn tiếp tục bảo toàn trạng thái này. Một người từ lúc còn nhỏ đã siêng năng chăm chỉ, ngày nào cũng được mẹ gọi dậy thật sớm, thì đến lúc trưởng thành, người này hẳn vẫn sẽ cứ tiếp tục siêng năng chăm chỉ, ngày nào cũng sẽ dậy thật sớm như năm xưa dù không có mẹ gọi dậy nữa. Cả Trái Đất của chúng ta cũng vậy, ngày từ lúc được tạo thành nó đã chuyển động quay vòng xung quanh Mặt Trời rồi, nên đến tận ngày nay - 4,5 tỷ năm sau khi được sinh ra - Trái Đất vẫn cứ thế, vẫn còn quay quanh Mặt Trời. Trong vật lý, người ta có một tên gọi cho hiện tượng xuất hiện trong hai ví dụ trên - hiện tượng các vật muốn tiếp tục bảo toàn trạng thái hiện tại, đó là quán tính. Định luật I Newton còn được gọi là định luật quán tính, cũng chính vì lí do này.

Lí do thứ hai, trong vật lý có hai yếu tố khiến cho một vật đang đứng yên sẽ không thể tiếp tục đứng yên, một vật đang chuyển động thẳng đều sẽ không thể tiếp tục chuyển động thẳng đều, khiến cho vạn vật phải không ngừng vận động, không thể bảo toàn được trạng thái hiện tại, đó là ngoại lực và nội lực.

Nội lực là các yếu tố bên trong. Nếu muốn cuộc sống của bản thân thay đổi, nếu muốn bản thân mình cũng “vận động” không ngừng, thì dùng chính sức lực tự thân là một cách. Sử dụng chính ý chí, nghị lực và năng lực của bản thân để thay đổi cuộc sống, thay đổi thế giới của chính mình.

Việc này nói thì dễ nhưng làm thì lại rất khó, vì nếu muốn tạo ra một thay đổi thật sự, “nội lực” của bạn phải thật sự đủ mạnh. Có đủ sức mạnh ý chí từ bên trong để thay đổi đã là khó, nhưng có đủ quyết tâm để duy trì ý chí đó lại càng khó khăn hơn gấp bội phần. Sức mạnh ý chí vốn không phải là một tài nguyên vô tận, nó sẽ hao mòn dần theo năm tháng. Mỗi ngày tôi sẽ chạy bộ 10km - một lời hứa ai cũng làm được, nhưng có bao nhiêu người đủ ý chí để thực hiện điều đó được một ngày, bao nhiêu người sẽ thực hiện điều đó được ba ngày, một tuần, một tháng, một năm rồi xuyên suốt những năm tháng còn lại của cuộc đời. Ý chí không phải là thứ ai cũng có và những người có khả năng duy trì sức mạnh ý chí suốt một thời gian dài lại càng hiếm hơn.

Vậy nên, nếu như bạn muốn dựa vào “nội lực” của bản thân để thay đổi cuộc sống của mình từ “đứng yên” sang “chuyển động” thì hãy dồn thật nhiều ý chí ngay từ lúc ban đầu, nhưng đừng dùng nó để duy trì một trạng thái “chuyển động” tạm bợ nào đó, vì khi ý chí của bạn cạn kiệt, “chuyển động” kia sẽ dừng lại và cuộc sống của bạn sẽ trở về với trạng thái đứng yên ban đầu. Việc bạn cần làm là hãy dồn thật nhiều công sức để biến trạng thái “đứng yên” của bản thân thành một “chuyển động thẳng đều”. Vì một vật chuyển động thẳng đều sẽ tiếp tục chuyển động thẳng đều, một vật đã quen với chuyển động sẽ tiếp tục chuyển động, vì nó đã có quán tính, vì quán tính của nó lúc này là một quán tính chuyển động. Có nghĩa là nếu như bạn muốn thay đổi cuộc sống của bản thân, hãy dồn thật nhiều quyết tâm để hình thành những thói quen sẽ tạo nên cuộc sống mới đó. Vì thói quen thì không cần nguồn nhiên liệu là sức mạnh ý chí để vận hành. Đây là một cuộc đua với thời gian, cuộc đua dùng ý chí để hình thành thói quen trước khi ý chí bị cạn kiệt. Một khi thói quen đã được hình thành thì bạn đã có “quán tính chuyển động”, bạn đã phần nào “chuyển động thẳng đều”, mọi thứ đã đi vào quỹ đạo. Khi ấy, hẳn là việc tiếp tục “chuyển động không ngừng” cũng sẽ dễ như việc Trái Đất dù không cần làm gì nhiều vẫn có thể quay quanh Mặt Trời suốt hàng tỷ năm.

Còn nếu bạn nghĩ bản thân sẽ không bao giờ có đủ ý chí để thay đổi (“nội lực” không đủ) thì vẫn còn một lựa chọn khác. Đó là ngoại lực - những yếu tố bên ngoài. Hãy tìm cho bản thân một ngoại lực để không ngừng nhắc nhở bản thân tiến lên phía trước, hay ít ra là một ngoại lực có thể thúc đẩy bạn mỗi khi ý chí đã bị hao mòn. Ngoại lực có thể là rất nhiều thứ, ví dụ như một người không ngừng nhắc nhở, phê bình bạn (dù sẽ có những lúc hơi phiền một chút nhưng đây là một cách vô cùng hiệu quả), một môi trường mới nơi những thách thức luôn đổ dồn về phía bạn. Còn nếu như không thể tìm được một người luôn ở cạnh và nhắc nhở bản thân thì bạn hãy trở thành người đó. Trong lúc ý chí còn đủ mạnh, hãy viết ra những việc phải làm, những thứ bạn muốn sửa đổi để tự nhắc nhở bản thân trong tương lai. Nhưng tuyệt đối phải luôn ghi nhớ rằng, bản thân trong tương lai này cũng chính là bạn chứ không phải một ai khác; việc bạn viết ra hôm nay sẽ do chính bạn thực hiện trong ngày mai, chứ không phải một đầy tớ thần kì nào đó sẽ hoàn thành mọi việc bạn giao phó.

Như đã nói ở trên, ý chí và quyết tâm là thứ sẽ hao mòn dần theo thời gian, khi đã quyết tâm thực hiện một việc lớn như thay đổi bản thân thì cuộc đua với thời gian cũng chính thức bắt đầu - cuộc đua hình thành những thói quen mới trước khi ý chí cạn kiệt. Nếu muốn có thêm chút ưu thế trong một cuộc đua như vậy, hãy tạo trước cho bản thân trong tương lai những nguồn ngoại lực để tiếp thêm sức mạnh. Hãy viết ra cho bản thân những lý do làm bạn muốn thay đổi và hãy vẽ tự vẽ ra viễn cảnh khi mà bạn đã thay đổi thành công. Để đến khi nào mỏi mệt khi lấy ra mà ngẫm lại, để nhớ xem vì sao bạn phải tiếp tục cố gắng: nếu cứ tiếp tục cuộc chiến với thời gian, với ý chí, những tương lai tốt đẹp nào sẽ chào đón bạn. Nếu những lời văn dông dài không hợp với bạn, hãy thử dùng một hình ảnh, một câu nói truyền cảm hứng, một báo thức trên điện thoại nhắc nhở bạn đi làm việc đúng giờ,… Bất cứ thứ gì cũng sẽ là một nguồn ngoại lực hiệu quả nếu nó có thể làm cho bạn gợi nhớ về động lực của bản thân để hướng đến tương lai.

*

Khi viết ra những định luật của mình, có lẽ Newton chỉ muốn mô tả một bản chất căn nguyên của vạn vật - quán tính - việc vạn vật luôn muốn bảo toàn trạng thái hiện tại. Nhưng phải chăng vì con người chúng ta dù có phức tạp đến đâu thì cũng chỉ là một vật thể nhỏ bé trong cái vũ trụ rộng lớn này, nên từ cơ thể đến suy nghĩ, thói quen rồi đến cả hành vi cũng đều có quán tính, cũng đều muốn bảo toàn trạng thái hiện tại.

Vậy, nếu con người ta muốn thoát khỏi trạng thái “đứng yên” của bản thân, mà chỉ có hai con đường để lựa chọn - ngoại lực và nội lực, ta nên chọn con đường nào?

Nội lực là lực từ bên trong. Ngoại lực là lực đến từ bên ngoài. Nếu bạn muốn cuộc sống thường ngày buồn chán của mình thay đổi, muốn xoá bỏ các thói quen xấu, hay muốn được quyền quyết định cái phần tương lai mơ hồ phía trước thì chỉ có hai cách: một là dùng chính sức mạnh và nghị lực nơi bản thân mình; hai là vay mượn sức mạnh từ thế giới xung quanh. Nhưng dù bạn có chọn cách nào đi nữa, hay thậm chí là phối hợp sử dụng cả hai cách trên, thì cũng hãy nhớ rằng thứ mà bạn đang cố thay đổi là chính bản thân mình, là “quán tính” của bản thân. Nếu “quán tính” hiện tại của bạn vẫn còn đang đứng yên chứ chưa chuyển động thẳng đều thì sớm muộn cũng có ngày nó quay về trạng thái đứng yên đấy nhé. Nếu như đó không phải là điều bạn muốn, vậy thì hãy cố gắng mà thay đổi đi.

Hết.

Stern

*

Bài viết có liên quan



Đọc bài viết

Cafe sáng