Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Văn chương & Toán học: Vì sao chẳng dễ dàng chinh phục cả hai lĩnh vực?

Nhìn thoáng qua, toán và văn không có sự tương hỗ như những môn khác và cho đến nay chưa có ai thành công trong cả hai lĩnh vực, song vài lực từ bí ẩn đã kéo chúng lại với nhau. Vấn đề đặt ra là: Bức tường gạch đó bao hàm những gì; cái gì tạo nên lực từ kia?

Đăng từ

on

Nhà thơ người Pháp Paul Valéry đã từng bày tỏ niềm ngưỡng mộ lớn lao đối với toán học, rằng: “Tôi tôn thờ môn học tuyệt đẹp này và tôi chẳng hề bận tâm khi tình yêu của tôi mãi không được hồi đáp.” Valéry đâu phải cây bút duy nhất trao lòng nhiệt tâm ấy cho toán học – cũng như có nhiều kẻ si mê toán học trong thế giới văn chương, vì vậy tồn tại nhiều người yêu văn chương trong thế giới toán học dù bức tường gạch đồ sộ dường như chắn ngang giữa hai ngành. Nhìn thoáng qua, toán và văn không có sự tương hỗ như những môn khác và cho đến nay chưa có ai thành công trong cả hai lĩnh vực, song vài lực từ bí ẩn đã kéo chúng lại với nhau. Vấn đề đặt ra là: Bức tường gạch đó bao hàm những gì; cái gì tạo nên lực từ kia?

Toán học thường được phân loại là một môn khoa học, nhưng tôi không nghĩ nó chỉ có thế. Tôi thừa nhận rằng toán học gánh vác một phần các lĩnh vực của khoa học vật lý, và bản thân điều đó được củng cố bởi sự tương tác giữa chúng, tuy nhiên các khám phá toán học vẫn ra đời bất chấp khả năng ứng dụng hay tiện ích của chúng đối với thế giới vật lý. Toán học tiến hóa thuần túy cho chính mình, với đóng góp lớn nhất trong địa hạt này là những lý thuyết mà áp giá trị vào vẻ đẹp thông qua sự lô-gích. Một học thuyết được tạo ra cho các mục đích khác ngoài bản thân nó thì thiếu đi vẻ đẹp tự nhiên. Điều huyền diệu chính là khi một học thuyết vĩ đại sở hữu vẻ đẹp nội tại đã vượt qua chủ thể và tìm thấy sự khả dụng trong các lĩnh vực khác.

Toán học tiến hóa thuần túy cho chính mình, với đóng góp lớn nhất trong địa hạt này là những lý thuyết mà áp giá trị vào vẻ đẹp thông qua sự lô-gích.

Việc sử dụng ngôn từ để miêu tả cái chất thanh nhã cốt lõi của một định lý là bất khả thi. Điều này hết sức trừu tượng và phức tạp. Tôi chỉ có thể mô tả nó tựa như một khúc nhạc tuyệt hảo mà mỗi nốt nhạc không thể thay thế được hay như một bài thơ haiku trong đó chẳng âm tiết nào có thể đổi thay. Vẻ đẹp tôi đang nhắc tới trông giống như sức căng tinh tế gắn kết các khía cạnh của một tác phẩm nghệ thuật lại; một sự yên bình mỏng manh thắt chặt vẻ hoàn mỹ của nó. Và vì vậy cái lực từ đã hút nghệ thuật – và cũng chính là văn chương – về phía toán học chính là vẻ đẹp tôn quý trong lô-gích thuần túy của nó.

Gần ba mươi năm trước tôi đã viết một cuốn sách về những trải nghiệm của tôi khi sống ở Mỹ, và kể từ đó tôi có nhiều cơ hội làm việc cùng các chuyên gia văn học và viết những tiểu luận ngoài lề chuyên ngành của mình. Tôi cảm thấy thoải mái từ lần đầu đặt bút viết bởi tôi coi văn chương và toán học như những loại hình nghệ thuật tương đồng. Bên cạnh đó, lớn lên cùng với cha mẹ đều là nhà văn, từ lâu tôi đã nghĩ viết lách giống như là bản năng tự nhiên của con người. Nói ngắn gọn, tôi chưa từng nghĩ mình sẽ gặp thách thức. Thế nhưng trong quá trình viết tôi đã đương đầu với hàng đống trở ngại. Tôi bắt đầu nhận ra có những điểm khác biệt căn bản giữa toán học và văn chương. Thật khó để đối mặt với việc trở thành một nhà văn trong khi cũng muốn thành nhà toán học. Song viết lách cho tôi một phần thưởng: Tôi được tận tay trải nghiệm những gian truân mà cha mẹ đã bí mật đối mặt với tư cách nhà văn. Tôi bắt đầu đánh giá lại những khó khăn của mình trong tương quan với họ.

Khía cạnh khổ sở nhất khi trở thành nhà toán học là phải liên lục nghiền ngẫm một vấn đề mà không có bất kỳ tiến triển rõ ràng nào. Tôi có thể hiến mình cả ngày lẫn đêm cho bài toán trước mắt mà chẳng hề tìm ra cách giải trong nhiều tuần hoặc thậm chí vài tháng. Thời gian đầu nghiên cứu thường hay trôi đi mà không có sự trì trệ nào nghiêm trọng; suốt thời gian ấy tôi đi từ ý tưởng này đến ý tưởng khác. Nhưng một khi giếng ý tưởng đã cạn, tôi phải cam chịu sự kiệt lực đen tối nhất. Một sức ép vô hình đọng xuống người tôi; mối âu lo ấy làm tôi nghẹt thở. Có lần tôi gác lại mọi thứ trong gần sáu tháng để làm luận văn. Tôi ngày đêm ngẫm nghĩ về chuyện đó, ngay cả trong mơ. Cuối cùng tôi rời Tokyo rồi đi du lịch Gamagori, Inuyama, Kujukuri, và hồ Irako, nhưng mấy cái định kiến của tôi chẳng chịu buông tha. Nó lùng sục tôi khắp mọi nơi: tại nhà trọ, trong công viên, trên trường kỷ, trên lỗ châu mai một lâu đài cổ, bên bờ hồ, trên bãi biển,… Sau sáu tháng, tôi đổ bệnh. Tôi nhượng bộ thử thách rồi kết thúc hành trình của mình. Cuối cùng tôi chẳng có tiến triển gì và bị rút cạn sinh lực.

Song một nhà văn, ngồi suốt ngày đêm bên bàn làm việc sẽ tạo ra đôi chút tiến triển, một vài nét vẽ nguệch ngoạc trên giấy. Bất luận nhanh hay chậm, anh ta có thể nhận ra trang giấy từ từ ken đầy chữ nghĩa. Quá trình sáng tạo của anh ta trở nên hữu hình và nó an ủi anh; anh ta được khích lệ để tiếp tục. Cha tôi thường để lộ ra những biểu hiện đau khổ tột cùng, và đó là lúc ông không thể tự mình ngồi vào bàn làm việc, lúc ông không thể viết tiếp. Ông thiếu đi nguồn khích lệ nếu không cho ông nhìn thấy những bản thảo thô ráp của chính mình. Khi bắt đầu một cuốn tiểu thuyết mới, tâm trạng ông ấy tồi tệ trong hơn một tuần. Chỉ đến khi đã làm nóng người đủ để làm việc, dần dần ông sẽ trở lại với bản chất hòa nhã tự nhiên của chính ông.

Cha tôi thường hay nói rằng phần chật vật nhất của tác phẩm là đoạn mở đầu. Ông gọi nó là “cơn đau đẻ của sự sáng tạo.” Đối với các nhà toán học cũng vậy, phần đầu tiên là cam go nhất, khi ai đó phải chưng cất từ thứ chất lỏng của những ý nghĩ hỗn mang thành cốt lõi của một ý tưởng. Viết chuyên luận thì dễ dàng hơn. Ngay cả một nhà toán học sung mãn cũng dành không quá một tháng mỗi năm để viết tất cả các nghiên cứu của mình. Những gì chúng ta phải chịu đựng là một chuỗi không-bao-giờ-kết-thúc của “cơn đau đẻ.”

Toán học là công việc tất-cả-hoặc-không-có-gì: hoặc là người có thể chứng minh định lý hoặc không thể. Không có vùng xám. Người ta không thể “gần như chứng minh” hay “gần như giải quyết” bất cứ điều gì. Không được phép thỏa hiệp. Học thuyết trọn vẹn buộc phải miễn trừ hết những nhập nhằng. Không gì ngoài sự tuyệt đối – và do đó là cái đẹp – thứ bằng chứng có giá trị liên thành đối với toán học. Tuy nhiên trong văn chương, chẳng phải chuyện gì to tát khi mọi thứ được giải thích. Thực tế, không gian dành sức tưởng tượng của độc giả vẫn luôn bỏ ngỏ. Từ đó có thể nhận thấy rằng văn chương linh động hơn, bằng cách nào đó dễ xử lý hơn toán học. Thế nhưng tôi nghĩ rằng việc căn phòng ấy chứa bất cứ thứ gì ngoại trừ những điều xuất hiện trong câu chuyện có thể gây bất an cho nhà văn.

Toán học là công việc tất-cả-hoặc-không-có-gì: hoặc là người có thể chứng minh định lý hoặc không thể. Không có vùng xám.

Không nhà văn nào hoàn toàn tự tin vào câu chuyện của mình, bất luận đã bao nhiêu lần anh ta hiến dâng bản thân cho tác phẩm, bất luận anh ta sắp xếp và thay đổi nó bao nhiêu chăng nữa. Trường hợp của tôi, tôi không thể nào bàn giao bản thảo của mình cho biên tập viên trừ phi có ai đó khác rà soát lại trước. Người rà soát ấy thường là thành viên gia đình tôi, vì vậy khi đáng lý phải cảm thấy thư giãn, thì tôi cứ lo sợ bị phê bình vì chừa lại chút ít mập mờ trong phần nào đó. Tôi nhớ cha cũng lo lắng về những phản ứng ban đầu đối với thành quả của ông, đặc biệt suốt vài ngày đầu tiên sau khi ông nộp bản thảo, ngay cả khi ông đã trở thành một nhà văn có uy tín. Nhưng một khi biên tập viên đưa ra phán quyết tán thành, ông nhe răng cười như con nít, xóa tan mọi lo lắng, rồi nói, “Thấy chưa? Tôi đã viết nó đấy!” Đó chính là Jirō Nitta1!  

Trong toán học, không ai bảo đảm rằng chắc chắn bạn sẽ đạt được thành tựu nào đó sau một thời gian dài phấn đấu. Nếu như nỗ lực chứng minh định lý vuột ra khỏi khuôn khổ toán học hiện đại hoặc vượt quá nguồn lực toán học, thì nó sẽ không bao giờ được chứng minh, bất kể anh ta đầu tư biết bao công sức. Tệ hơn nữa là khi định lý mà anh ta dồn hết tâm huyết trong thời gian dài để chứng minh, cuối cùng lại sai lầm không thương tiếc. Nỗi lo về kết quả bấp bênh đó có thể dâng lên thành sự kinh hãi điếng người, dần dà nó hủy đi tham vọng của nhà toán học. Đỉnh điểm, anh ta phải chịu đựng áp lực từ giới học thuật. Một nhà toán học do đó phải là một người nhẫn nại và can đảm. Cá nhân tôi không phải khi nào cũng đủ sức chịu đựng nỗi khiếp đảm từ trong thâm tâm và áp lực đến từ bên ngoài, và buộc phải từ bỏ một số dự định trong quá khứ.

Tôi có biết một nhà toán học đã trải qua khó khăn rất lớn để tạo ra một tác phẩm thiên tài xuất chúng. Giáo sư S. hiện làm việc tại MIT2, song ông đã từng gắn bó với Đại học Michigan với tư cách là một trợ lý giáo sư. Khi ở Michigan, ông tự thách thức bản thân giải quyết một bài toán cổ điển đặc biệt khó, một bài toán đã bị bỏ hoang trong nhiều thập kỷ bởi các nhà toán học khác. Tâm huyết của ông ấy đối với bài toán lớn đến nỗi ông đã không viết được luận văn người ta trông mong ở mình và vì thế bị sa thải khỏi vị trí tại trường đại học. Nhưng không lâu sau đó, ông đã tìm ra một giải pháp đột phá cho bài toán này, một giải pháp ngoạn mục đến nỗi một số vấn đề liên quan cũng bắt đầu được giải quyết. Như thể sự im lặng tuyệt đối đã bị xáo động. Bằng thành quả của mình, Giáo sư S. được mời vào ghế giáo sư toàn thời gian tại MIT. Song đây là trường hợp hiếm hoi. Hầu hết các nhà toán học sẽ không đủ tự lực lẫn tự tin để mạo hiểm công việc vào một mục tiêu mơ hồ như vậy.

Mặt khác, nhà văn có mục tiêu rõ ràng hơn, miễn là họ cống hiến hết mình cho tác phẩm. Biết thế nên tôi có thể hoàn tất công việc trong chừng mực năng lực đủ đáp ứng và khích lệ bản thân. Chuyện là thế, tuy nhiên trong văn chương thời hạn là rào cản, nhất là khi viết cho tạp chí hay mục báo. Tính khí cha tôi thay đổi thất thường tùy vào việc ông đang viết tiểu thuyết cho chính mình hay cho một câu chuyện trên báo. Ông luôn tràn đầy nhiệt tình bất kể công việc là gì, song khí thế dường như khác nhau trong mỗi trường hợp: Ông bị thúc giục bởi sự cấp bách nội tại khi viết tiểu thuyết, nhưng lại cam kết với cái gì đó ngoài lề khi viết cho báo chí. Đôi khi chỉ đơn giản là ông không thể tiếp tục viết báo, ông ám ảnh, sợ hãi rằng bằng cách nào đó ông sẽ khiến tòa soạn thất vọng. Ngay cả gia đình cũng không xoa dịu được nỗi lo trong ông. Một cảnh tượng in sâu vào đầu tôi đó là khi cha tôi lên gác mà không nói lời nào. Quan sát bóng lưng ông trong bộ kimono cũ quá khổ, tôi học được rằng những nhà văn luôn luôn vật lộn với hạn chót; họ thà đón đầu còn hơn làm nô lệ cho chúng.

Đặc trưng định hình áp lực của một nhà toán học là nỗi lo sợ rằng anh ta sẽ chẳng tạo ra được thành quả gì, thậm chí sau khi đau “cơn đau đẻ.” Về phía nhà văn, đó là sức ép phải hoàn thành tác phẩm trong thời hạn nhất định. Điểm chung của cả hai phía là phải đấu tranh để được ngủ mà không âu lo. Khi bị ám ảnh bởi một bài toán, tôi giải nó cả khi tôi mơ. Đôi lúc cảm hứng lóe lên ập thẳng tới tôi đương lúc trên giường. Nhà toán học người Pháp Jules-Henri Poincaré3 từng kinh qua nhiều điều tương tự, và nghe nói hầu hết các ý tưởng đến với ông theo cách này được chứng minh là hợp lý. Không may thay, trường hợp của tôi, chín trên mười ý tưởng không đáng để theo đuổi. Cái còn lại kia, tuy thế, được sử dụng ngay tức khắc và thậm chí có thể mang lại lời giải đúng đắn. Thế là tôi luôn có một cuốn sổ ghi chú trên giường và với lấy chúng ngay khi lời thì thầm của ý tưởng lọt vào đầu tôi. Còn một lý do nữa cho việc này: nếu tôi không chuyển ý tưởng mới ra giấy, tôi sẽ không kiềm giữ được bản thân bình tĩnh và quay lại giấc ngủ.

Đặc trưng định hình áp lực của một nhà toán học là nỗi lo sợ rằng anh ta sẽ chẳng tạo ra được thành quả gì, thậm chí sau khi đau “cơn đau đẻ.” Về phía nhà văn, đó là sức ép phải hoàn thành tác phẩm trong thời hạn nhất định.

Lúc tôi đang ở giữa nghiệp viết, những dòng tôi viết ban ngày trở lại với tôi trong những giấc mơ. Nếu trong mơ tôi bắt gặp cách thức hoàn hảo để diễn tả một dòng mà tôi không thể với tới đương lúc tỉnh táo, tôi liền thức giấc và ghi chép. Đối với nghề viết lách, bảy trên mười ý tưởng đến với tôi trong mơ hóa ra lại tốt, một tỷ lệ khá hơn đáng kể so với số ý tưởng truyền cảm hứng toán học. Tôi không biết tại sao lại như vậy. Có lẽ những suy-nghĩ-trong-mơ không hàm chứa lô-gích mà là thứ cảm thức mỹ học thích hợp cho sáng tạo văn chương hơn so với toán học. Tuy nhiên, ta không thể lờ đi thực tế rằng một phần mười nguồn cảm hứng toán học xảy ra trong những nhà máy giấc mơ (hoặc mười phần mười trong trường hợp Poincaré.) Tôi muốn nói sự nhạy cảm thẩm mỹ là một tố chất trọng yếu trong toán học cũng tương tự như trong văn chương.

Có gia đình gồm những nhà văn và bản thân là nhà toán học, tôi nghĩ tôi ý thức tốt về những gì họ nói khi tôi bắt đầu bước chân vào cả hai lĩnh vực. Song tôi đã quá lạc quan. Mặc dù cả văn và toán đều liên quan đến sự sáng tạo và cả đánh giá vẻ đẹp lẫn sự hài hòa, phương pháp luận của chúng đối lập nhau. Toán học dựa trên lô-gích phổ quát được đeo đuổi bởi bản năng và tính nhạy cảm thẩm mỹ của nhà toán học, trong khi văn học đòi hỏi sự độc đáo và nhạy cảm với chữ nghĩa. Vì vậy, vài ngày sau khi làm việc với toán, tôi chẳng thể tạo ra bất cứ thứ văn nào, và ngược lại. Tôi cần chút thời gian để nhảy từ chế độ này sang chế độ khác và trong thời quá độ ấy, mọi thứ lặp đi lặp lại và tôi tiêu tốn hàng đống thời gian trong bứt rứt. Thật lãng phí thời gian tột độ, song tôi gần như chẳng có khả năng chiếm đóng cả hai địa hạt cùng lúc. Có lẽ chỉ mình tôi đổ lỗi cho cái hệ thống bất toàn ấy, nhưng tôi không nghĩ nó đơn giản như vậy.

Theo tôi, bản chất của mọi thứ văn chương, bất kể nó mang hình hài gì, là sự hiện thực hóa đời sống trần thế của chính ai đó. Không có ý niệm về cái chết, hầu như tất cả khổ đau, tuyệt vọng và cô đơn của chúng ta rồi sẽ tiêu vong. Nếu chúng ta là phượng hoàng với cuộc sống bất diệt, ta chẳng bao giờ trải qua chuỗi ngày đen tối hay trái tim tan vỡ, tuyệt nhiên ta cũng chẳng có khả năng vui mừng hay khoái cảm – tất cả chúng là những thành phần trọng yếu trong văn chương.

Văn chương bị ràng buộc sâu sắc với ý niệm về cái chết và các nhà văn chủ tâm lẫn vô thức thêu dệt sợi dây số mệnh con người vào câu chuyện của họ. Những kiệt tác như Genji MonogatariTurezuregusa và Oku-no-Hosomichi4 đều khảo cứu đời sống nhân gian sớm nở tối tàn. Việc ai đó có những nhận thức trần thế như vậy cũng được thấy trong văn học đương đại. Thực tế, với sự quan sát kỹ lưỡng, ngay cả những mô tả xuềnh xoàng nhất cũng tiết lộ sự thấu hiểu của nhà văn về đời người hữu hạn. Trong tiểu thuyết Takeda Shingen của mình, cha tôi đã viết nên một phân cảnh miêu tả cuộc hành binh của đội quân Takeda băng qua một cây cầu hướng tới khu vực Kanto. Khi đoàn quân đến được Kanto, một chiến binh nhà Takeda, kẻ trước đây chưa từng rời khỏi quê hương Koshu, lẩm bẩm, “Không có đá ở đây.” Một nhà phê bình ngợi ca đây là ví dụ về độ chính xác khoa học trong tả cảnh của nhà văn. Tôi nhớ cảm giác chán ngán gây ra bởi cái nhận xét đó. Tôi dám chắc cha tôi có nhiều hàm ý hơn là quan sát địa chất. Tôi cảm thấy ông muốn phác họa chiến binh như một người đàn ông bị sốc bởi nỗi nhớ quê mãnh liệt và bất chợt, gởi gắm con tim mình vuột xa khỏi cảnh vật xung quanh. Bình nguyên Kanto bằng phẳng khiến anh ta hoài niệm về sỏi đá vùng Koshu; anh nhớ ngọn núi, con sông, thung lũng, và rồi khi cơn gió lướt qua, ánh sáng chiếu rọi quê hương anh. Anh nhớ gia đình mình đã bỏ lại. Khoảnh khắc ấy, trí tưởng tượng của anh vượt xa việc so sánh hai dạng địa hình. Thực tế, người lính phải đối mặt với sự nhỏ bé, chóng tàn và quạnh hiu của đời mình tương phản với phẩm cách bất diệt của tự nhiên. Vài chữ nhỏ nhoi được một người lính thốt ra thật khéo truyền tải nỗi ám ảnh của tác giả về cái chết của chính mình.

Hãy tưởng tượng một xứ sở xa lạ trải dài bất tận trước mắt bạn, một quân đoàn khổng lồ những chiến binh diễu qua xứ ấy trên những con chiến mã, và một người lính giữa binh đoàn đó tự gói mình trong nỗi cô đơn. Với điều này, bạn dõi theo tiến trình quan sát của nhà văn: từ một cái nhìn xa xăm, chuyển vào chính diện, liền sau là một pô cận cảnh, và đạt đến một cái nhìn sâu sắc về mặt tâm lý. Theo cách ấy, cha tôi ngụ ý sự thức tỉnh triết học tinh tế ở một người lính vô danh. Ông có sở trường gợi lên nỗi u sầu, cảm thức Wabi5, và sự bình yên của cuộc đời bằng những cảnh quan đối nghịch hùng vĩ. Tôi tin rằng đó là những điều đánh vào trái tim độc giả.

Cả nhà văn lẫn nhà toán học đều khát khao sự vĩnh cữu, điểm khác biệt giữa họ là người trước mưu cầu nó trong cuộc đời chính mình trong khi kẻ sau tìm kiếm nó bên ngoài đời sống cá nhân riêng lẻ. Khi một nhà toán học khám phá chân lý phổ quát, anh ta buộc phải từ bỏ nội tâm hỗn loạn của mình. Chẳng nhà toán học nào lại tốn thời gian cho những ẩn ý đa cảm của đời người hữu hạn, tuy thế anh ta có thể đặt ra giả thuyết về tính vô hạn của chân lý. Các nhà toán học vượt lên trên thế giới; thời gian không dính dáng tới họ. Họ làm đầu óc thích ứng với cái trạng thái mà vượt quá những động lực không-thời gian của thế giới vật chất. Họ bùng cháy cùng lòng sùng kính cái trạng thái ấy; bằng không sẽ chẳng có chân lý nào được khám phá.

Hẳn là bây giờ bạn đã hiểu được lý do tại sao phải tốn quá nhiều thời gian để vượt qua cầu nối giữa toán và văn. Nó không chỉ liên quan đến kỹ thuật của từng lĩnh vực, mà là một sự chuyển đổi toàn diện về chất trong tâm hồn. Tôi vẫn chưa phải là bậc thầy chuyển đổi sao cho thật suôn sẻ. Thỉnh thoảng tôi thấy nghe nhạc giúp ích khi tôi dịch chuyển từ tư duy toán học sang lối suy nghĩ của một nhà văn. Nhưng không phải nhạc nào cũng làm được. Tôi cần cái gì đó giống như những bản dân ca ngày xưa chạm đến cảm xúc của mình hơn là những kiệt tác cổ điển của Bach hay Mozart. Tôi ước một thứ thuốc tiên cho sự biến đổi này, hoặc giá tôi là một nhẫn giả thần tốc chứ không phải là chú cừu vụng về, cứ nấn ná trên cây cầu nối giữa toán học và văn chương. Sau đó nữa, một phần trong tôi từ chối thừa nhận rằng có thể có thứ thuốc như vậy. Rốt cuộc, tôi vẫn ở trên cây cầu ấy, đi thế này hay bước thế kia, ngập ngừng giữa hai bên, chẳng đến được bờ sông phía nào. Tuy vậy, dường như tôi đang tận hưởng điều đó.

Hết.

Masahiko Fujiwara là nhà toán học và tiểu luận. Sinh ra ở Mãn Châu và lớn lên ở Tokyo, ông lấy bằng Tiến sĩ Toán học tại Đại học Tokyo. Sau khi làm việc tại Đại học Colorado và Đại học Cambridge, ông trở thành giáo sư toàn phần Đại học Ochanomizu, Tokyo. Fujiwara đã giành giải thưởng Câu lạc bộ tiểu luận Nihon cho tác phẩm đầu tay Wakaki Sugakusha no America năm 1977 và từ đó nhiều tác phẩm được xuất bản, bao gồm cả cuốn sách bán chạy nhất năm 2005 Kokka no Hinkaku với hơn hai triệu bản tiêu thụ tại Nhật. Cha ông – Jirō Nitta là tiểu thuyết gia đoạt giải Naoki và mẹ ông – Tei Fujiwara là một tác giả có sách bán chạy.

Chú thích:

  1. Tên người cha của tác giả.
  2. Học viện công nghệ Massachusetts, là một viện đại học nghiên cứu tư thục ở thành phố Cambridge, bang Massachusetts, Hoa Kỳ. MIT nổi tiếng nhờ hoạt động nghiên cứu và giáo dục trong các ngành khoa học vật lý, kỹ thuật, cũng như trong các ngành sinh học, kinh tế học, ngôn ngữ học, và quản lý.
  3. Là một nhà toán học, nhà vật lý lý thuyết, và là một triết gia người Pháp.
  4. Những tác phẩm văn học xuất sắc của Nhật Bản thời Edo.
  5. Wabi-sabi là một thuật ngữ đại diện cho thẩm mỹ Nhật Bản và một thế giới quan của văn hoá Nhật Bản, tập trung vào việc chấp nhận tính phù du và sự không hoàn hảo. Wabi ban đầu tham chiếu đến sự cô độc sống giữa thiên nhiên, xa khỏi xã hội con người; sabi mang nghĩa là “lạnh”, “nghiêng” hoặc “sự héo tàn”. Khoảng thế kỷ thứ 14, những ý nghĩa này bắt đầu thay đổi, mang hàm nghĩa tích cực hơn. Wabi hiện tại bao hàm sự tinh giản hoá, tươi mát hoặc tĩnh lặng một cách mộc mạc, hoặc sự sang trọng được giảm bớt đi, và có thể sử dụng với cả đối tượng tự nhiên và nhân tạo. Nó cũng có thể tham chiếu đến những đường nét lỗi hoặc dị thường phát sinh trong quá trình xây dựng, thứ tạo nên sự độc đáo và sang trọng cho đối tượng. Sabi là vẻ đẹp hoặc sự tĩnh lặng tới theo thời gian, khi sự tồn tại của đối tượng và sự vô thường của nó được chứng thức bởi lớp gỉ sét (hoặc lớp ngả màu do thời gian và không khí tác động) và lớp bên ngoài của nó, hoặc ở bất kì sửa chữa nào có thể nhìn thấy.

3V dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Masahiko Fujiwara, đăng tại Asymptote Journal.

Hình ảnh minh họa đầu bài được thực hiện bởi Kevin Kunstadt.

Xem tất cả những bài viết của 3V tại đây.


Những bài viết có cùng chủ đề


2 bình luận

2 Bình luận

  1. Pingback: Nghịch lý trong việc thi văn và đọc văn bản văn học của chúng ta – Bookish

  2. Pingback: “Tại sao cậu lại viết văn?” – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

“Cái đẹp đánh bẹp cái nết?”

Thật đáng tiếc, con người là loài được thiết kế để dễ dàng bị loá mắt bởi ngoại hình.

Đăng từ

on

Người đăng

THE TRUTH ABOUT BEAUTY

Amy Alkon

Trong thế giới lý tưởng, vẻ đẹp nội tâm sẽ chiến thắng vẻ đẹp ngoại hình. Nhưng rất tiếc, con người là loài được thiết kế để dễ dàng bị loá mắt bởi “bao bì”. Chắc có lẽ đây là lúc chúng ta phải chấp nhận sự thật rằng: thế giới coi trọng nhan sắc hơn bạn nghĩ đấy.

Chào mừng đến Uglytopia (Vùng đất tưởng tượng dành riêng cho người không-được-đẹp-lắm), một thế giới nơi phụ nữ với tâm hồn đẹp được lên bìa tạp chí Maxim, chứ không phải một phụ nữ biết dùng áo nâng ngực. Thật không công bằng với những người bình thường như chúng ta, khi một số người sinh ra đã ngậm thìa vàng, cho dù cái thìa đó là một cái cằm đẹp như tượng tạc hay là quyền thừa kế một công ty vận tải trị giá hàng triệu đô. Có lẽ những người-không-đẹp-lắm như chúng ta cần những cử chỉ an ủi; phải chi George Clooney sẽ chọn người đàn bà chất phác giữa hàng tá những cô nàng bốc lửa. Ừ, cứ ước thoả thích, nhưng bạn nên chấp nhận cái sự thật xấu-xí rằng: sẽ chẳng có anh chàng đẹp trai nào (hay thậm chí anh chàng xấu trai nào) sẽ liếc mắt đưa tình với một người phụ nữ chỉ vì cô nàng trông như kiểu sẽ tốt bụng mua bánh mì cho người nghèo, hoặc đọc sách cho người mù.

Có rất nhiều bằng chứng chỉ ra rằng phụ nữ và đàn ông khác nhau cả về mặt sinh học và tâm lý học, và những đặc điểm mà đàn ông hoặc phụ nữ dị tính luyến ái tìm kiếm ở bạn đời phản ánh trực tiếp những khác biệt ấy. Những đặc điểm mà đàn ông tiến hoá để thích ở một người phụ nữ là: trẻ trung, da đẹp, khuôn mặt và thân hình đối xứng, đặc trưng gương mặt nữ tính, thân hình đồng hồ cát – những đặc điểm sinh lý chỉ ra rằng người phụ nữ là một ứng cử viên khoẻ mạnh, dễ sinh sản để duy trì nòi giống.

Những sở thích này gần như giống nhau ở mọi quốc gia, văn hoá và thế hệ, đồng nghĩa với việc có tồn tại một chuẩn mực chung cho cái đẹp. Cũng như phụ nữ phương Tây cố gắng giữ hình thể mảnh mai, sự thật rằng phụ nữ ở mọi nền văn hoá, vô tình hay cố ý, đều ăn (hoặc không ăn) để đạt được chuẩn theo cái nhìn của đàn ông. Kích cỡ cơ thể tiêu chuẩn ở bất cứ nền văn hoá nào dường như có mối tương quan (tỷ lệ nghịch) với mức độ sẵn có của thực phẩm. Trong nền văn hoá như ở Mỹ, nơi mà người ta không thể đi nổi năm dặm mà không thấy một tiệm 7-Eleven nào và đồ ăn thì được bán theo kích cỡ khổng lồ thì phụ nữ gầy rất được ưa chuộng. Trong những nền văn hoá mà đồ ăn khan hiếm (như khu vực tiệm cận sa mạc Sahara) thì mũm mĩm hơn một chút lại được xem là đẹp, và phụ nữ hấp dẫn đàn ông bằng cách nhồi nhét đồ ăn hàng ngày cho đến khi họ trông “mảnh mai” như Jabba the Hutt.

…là “mảnh mai” như thế này đây.

Nhưng vẻ bề ngoài của đàn ông chỉ có ảnh hưởng đến phụ nữ ở một mức độ nào đó. Đa số phụ nữ thích đàn ông cao hơn họ, với các nét cân xứng (dấu hiệu cho thấy bạn đời tương lai của họ khoẻ mạnh và không mắc bệnh truyền nhiễm). Nhưng, phụ nữ ở bất kì nền văn hoá nào cũng kiên quyết kiếm tìm những người đàn ông có địa vị xã hội cao, có quyền lực và có nguồn tài lực nhất định – điều này đồng nghĩa rằng một anh chàng không được cao lắm có thể được bù trừ đáng kể khi anh ta sở hữu một chiếc phi cơ riêng. Và cũng giống như phụ nữ-không-được-đẹp-lắm, đàn ông thất nghiệp kinh niên hoặc kiếm không được nhiều tiền lắm sẽ gặp rất nhiều khó khăn tìm kiếm bạn đời. Tất nhiên là có nhiều lời phàn nàn từ cánh mày râu về vấn đề này. Tuy nhiên, dẫu hiện nay trên các tạp chí dành cho phụ nữ tràn ngập các bài viết của các nhà báo theo chủ nghĩa nữ quyền, khuyến khích phụ nữ nên rút khỏi cuộc đua cái đẹp và “học cách yêu cô gái trong gương,” vậy mà lại chẳng có ai viết bài cho đàn ông và đưa ra lời khuyên lố bịch “học cách yêu thương cái thằng cha thất nghiệp đang nằm ườn ra trên sô pha đi.”

Vậy, trước khi mọi người gán cho tôi cái nhãn phản bội chính giới tính của mình, hãy để tôi nói rằng, tôi rất ủng hộ phụ nữ có quyền bỏ phiếu, và tôi nghĩ một người phụ nữ có ria mép cũng có thể kiếm nhiều tiền như một người đàn ông có ria mép. Nhưng bạn không giúp đỡ cô ấy bằng cách khuyên “cô cứ để ria mép đó đi, và không cần quan tâm tới cái bụng mỡ ấy đâu” (bởi vì bước đường giải phóng phụ nữ được thực hiện bởi việc càng ngày càng trông giống một gã đàn ông già cỗi lông lá?)

Hóa ra, lời khuyên có hại nhất đang được lan truyền rộng rãi bởi các nhà ủng hộ nữ quyền là cái quan niệm ngớ ngẩn rằng phụ nữ chẳng nên (và chẳng cần) xem trọng những quy chuẩn cái đẹp. Tất nhiên, nhan sắc không phải yếu tố quyết định mọi chuyện (như tôi được độc giả nữ sửa lưng khi phát biểu rằng đàn ông chỉ ham muốn những phụ nữ nằm trong một giới hạn cân nặng nào đó). Nhưng nhan sắc rất quan trọng. Người phụ nữ càng xinh đẹp, cô ấy càng có nhiều cơ hội để lựa chọn bạn đời, cũng như lựa chọn những cơ hội trong công việc và đời sống hàng ngày. Ai cũng biết điều này, và cả tá nghiên cứu cũng xác nhận nó – nhưng dám nói ra những điều này lại là chuyện hi hữu.

Chúng ta ngưỡng mộ những người cố gắng nâng cao tri thức; chúng ta không nói “Nè, bạn sinh ra có phải thiên tài đâu, đọc sách làm gì cho tốn thời gian?” Vậy thì tại sao lại đối xử với vẻ ngoài khác biệt? Chẳng hạn, nghiên cứu cho thấy, đàn ông thích phụ nữ môi dày, cằm nhỏ và mắt to long lanh – những dấu hiệu chỉ ra mức estrogen cao. Vài người phụ nữ may mắn sinh ra với đôi mắt to, những người khác nhờ cậy đến sự giúp đỡ của trang điểm và phấn mắt. Như slogan khôn khéo khẳng định, “Có lẽ nàng đẹp tự nhiên, có lẽ đó là Maybelline.” (Nếu nó giúp cô ấy tăng số lượng bạn đời tiềm năng, ai mà quan tâm là nó bắt nguồn từ đâu chứ?)

Không may mắn cho lắm, nước Mỹ quá mâu thuẫn và không chân thật với bản thân về sức mạnh của cái đẹp, chúng ta tiếp cận nó một cách hết sức dè dặt. Đầu bên này tập hợp những người phụ nữ với phương châm “Hãy yêu tôi vì chính bản thân tôi,” điển hình là cô gái vừa hỏi tôi vì sao những lần cô gặp gặp mặt đàn ông chẳng bao giờ diễn ra tốt đẹp – và cô có phong cách ăn mặc không hề tạo cảm giác “tôi muốn kiếm bạn trai,” mà trông giống như “tôi chỉ là cô gái giúp bạn thông cống.” Đầu bên kia là những người phụ nữ dạo phố như những con búp bê chuẩn bị đóng phim cấp ba. Một lời nhắn nhủ nhỏ cho những người đầu bên kia mà sắp bước vào thời kì mãn kinh: đắp hàng tấn phấn lên mặt không giúp bạn trẻ hơn, nó khiến bạn trông như một vị drag queen hết thời (các vũ công nam giả gái thường đi kèm với lớp trang điểm dày đặc trưng).

Ảnh: BBC

Cũng như vậy, các nỗ lực phẫu thuật thẩm mỹ để khiến một phụ nữ 50 tuổi trông trẻ ra như 25 tuổi thường cho ra kết quả là một con robot đáng sợ trông-có-vẻ 45 tuổi, một đối tượng để dư luận thương hại hơn là ao ước. Việc người khác biết ngay rằng bạn đã phẫu thuật thẩm mĩ thường là dấu hiệu của tay nghề kém hoặc của một người đã quá lạm dụng nó, có lẽ bởi vì cô ấy đang cố gắng lấp đầy những khiếm khuyết trong cuộc đời mình bằng silicon, Juvederm và miếng độn mông. Có những người phụ nữ tìm đến phẫu thuật thẩm mĩ như một giải pháp để khắc phục cái khiếm khuyết trường kỳ trong đời cô. Số khác xem thẩm mĩ như bim bim khoai tây, “ăn một cái thì chẳng đỡ thèm được.” Một người phụ nữ bước vào bệnh viện thẩm mĩ để bơm môi và bước ra với cả hai cặp môi được chỉnh sửa (vâng tôi đang nói đến môi âm hộ đây – “môi ở dưới của bạn có đẹp không?”)

Một khi phụ nữ bắt đầu thấy nếp nhăn và vết chân chim, nỗi tuyệt vọng để tái sở hữu gương mặt long lanh ngày xưa khiến họ thường hành động để cứu rỗi nó. Phụ nữ muốn tin rằng có hy vọng đựng trong lọ mỹ phẩm được bày bán ngoài kia. Rất mừng là có. Rất buồn là hy vọng không dành cho họ, mà dành cho các vị CEO ngoài kia, hy vọng rằng các quý vị phụ nữ sẽ bỏ tiền túi ra mua sản phẩm của họ, đài thọ cho họ một cái du thuyền mới coong và một chateau tọa lạc tại miền nam nước Pháp. Nói thế thôi chứ có hy vọng tồn tại trong chai nhựa chứa đầy kem chống nắng, loại có thể chống được cả tia UVA và UVB (để ngăn ngừa lão hoá). Còn các loại kem chống lão hoá khác, theo nhóm blog Beauty Brains (tạm dịch: Tri thức về cái đẹp), thì đáng buồn thay, chẳng có tác dụng gì hơn kem dưỡng ẩm thông thường.

Phụ nữ Pháp cũng vậy, cũng ngây thơ tin tưởng rằng bạn có thể mua tuổi trẻ tại quầy mỹ phẩm Clarins. Nhưng có lẽ một phần là do chủ nghĩa nữ quyền chưa bao giờ tìm được đường vào văn hoá chính thống ở đây, họ có mối quan hệ lành mạnh với cái đẹp hơn. Họ chấp nhận nó là cây cầu dẫn đến tình yêu, tình dục, mối quan hệ và các cơ hội. Họ tìm được niềm vui khi làm đẹp bản thân, khi nhấn mạnh vào các điểm khác biệt giữa phụ nữ với đàn ông. Họ không từ bỏ việc chăm sóc vẻ bề ngoài ngay cả khi họ già đi cũng như không cố gắng trông giống như học sinh cấp ba khi bản thân đã trên 50. Họ chỉ đơn giản là tự hào về vẻ ngoài và cố gắng trông giống như một người phụ nữ lớn tuổi hấp dẫn.

Để hiểu được rằng bạn phải đánh đổi cái gì để đẹp, trước tiên bạn phải hiểu rằng đẹp là gì. Đẹp là có sức hấp dẫn về mặt giới tính với đàn ông. Và thay vì gầm gừ rằng bản năng sinh dục của đàn ông là một thứ hiểm độc, bạn phải hiểu được rằng họ chỉ đơn giản là khác biệt với phụ nữ, họ bị điều khiển bởi cái đẹp trực quan nhiều hơn phụ nữ. Để biết được những điều phải làm, chúng ta có thể lướt qua những nghiên cứu ngày càng gia tăng trong thời gian gần đây của các nhà tâm lý học tiến hoá, về chủ đề “đàn ông muốn gì nhất”. Ví dụ như Devendra Singh của đại học Texas phát hiện ra rằng đàn ông khắp các nên văn hoá bị thu hút bởi phụ nữ có thân hình chuẩn đồng hồ cát. Đàn ông thích phụ nữ eo ót, ngay cả khi cô ấy hơi mũm mĩm đi chăng nữa. Vì vậy vứt cái đám áo rộng thùng thình đó đi – bạn chỉ khoe được vòng eo con kiến của mình khi có bão cấp 8 thôi. Và nếu bạn hơi thẳng đuột một chút, cố gắng tạo ra vòng eo bằng quần áo hoặc thắt lưng.

Cũng giống như phụ nữ Pháp, chúng ta cũng cần hiểu cách tiếp cận lành mạnh đến cái đẹp. Nó không phải là giả vờ như diện mạo không cần thiết, không quan trọng; cũng không phải là xem diện mạo quan trọng hơn bất kì thứ nào khác. Một khi đối mặt với nó, phụ nữ sẽ thấy được họ cần bỏ ra bao nhiêu nỗ lực vào vẻ ngoài của mình (hoặc chấp nhận những cơ hội bị bỏ qua nếu bạn không chăm chút vẻ ngoài của mình). Sự thật là, cũng giống như kiến thức, vẻ đẹp là sức mạnh. Vì vậy, chị em phụ nữ ngoài kia, hãy đọc nhiều sách, phát triển trí tuệ và tính cách, tận dụng những quyền mà các anh hùng đã phải đấu tranh để chúng ta có được, phấn đấu trở thành một người có thể tạo ra sự thay đổi cho xã hội. Và… suỵt, trong lúc làm những việc đó, đừng quên đánh một chút son cho đẹp nhé.

Hết.

Emma Đẹp Thần Thánh dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Amy Alkon, đăng tại Psychology Today.

Xem tất cả những bài viết của Emma Đẹp Thần Thánh tại đây.


Muôn chuyện phức tạp của phụ nữ!



Đọc bài viết

Trà chiều

Mọt sách chả phải là một loại cá tính đâu

Lịch sử ra đời của khái niệm “bookishness” (mọt sách), và nguyên nhân Marie Kondo có sức uy hiếp đến những người tin dùng từ này.

Đăng từ

on

Người đăng

LIKING BOOKS IS NOT A PERSONALITY

Hannah McGregor

Bạn có nhớ, vào năm 2017, từng tồn tại một xu hướng ngắn hạn là quay gáy sách vào trong chỉ để cho đẹp? Tài khoản Instagram của Apartment Therapy đã đăng một tấm hình chụp kệ sách có gáy sách quay ngược vào trong, và những phản hồi quá sức kịch liệt với hàng tá người lăng mạ xu hướng này là phản-tri-thức, thậm chí so sánh hành động trên với việc đốt sách, vào thời điểm ấy có vẻ như là ví dụ điển hình nhất cho khả năng nổi xung thiên của cộng đồng mọt sách online.

Cho đến khi Marie Kondo xuất hiện, uy hiếp những cuốn sách của ta, và mọt sách Internet chứng minh ước đoán của tôi trật lất rồi.

Dành cho những người lạc hậu, Marie Kondo là chuyên gia bài trí nhà cửa người Nhật; cô đạt đến đỉnh cao danh tiếng vào năm 2011 khi cuốn sách do cô chắp bút, The Life-Changing Magic of Tidying Up (Nghệ thuật bài trí của người Nhật), lọt vào danh sách bán chạy trên toàn thế giới. Cuốn sách quảng bá phương pháp KonMari: mọi người dọn dẹp nhà cửa bằng cách xếp chồng đồ đạc của mình lại, sau đó tự vấn rằng món nào trong số đó “khiến bạn cảm thấy hân hoan.” Năm 2019, Kondo đạt được những bước tiến cao hơn, từ nổi tiếng trong giới xuất bản đến nổi tiếng trên Netflix với sê-ri truyền hình thực tế tám tập Dọn nhà cùng Marie Kondo. Và bỗng nhiên, những luồng ý kiến trái chiều về đống bừa bộn bùng nổ trên Internet.

Ảnh: Business Insider

Cụ thể hơn, một nhóm phụ nữ da trắng đã đứng ra bào chữa cho đống bừa bộn nói chung và sách nói riêng, với một cách diễn đạt – thẳng thắn mà nói – là khá phân biệt chủng tộc. Tác giả nữ quyền Barbara Ehrenreich đã tweet (tweet này sau đó bị xóa) lời cáo buộc rằng thứ tiếng Anh pha khẩu âm Nhật của Kondo là dấu hiệu cho thấy vị thế thống trị của Mỹ đang dần sụp đổ, và theo sau với một câu tweet chẳng tốt đẹp gì hơn: “Tôi thú nhận: Tôi căm ghét Marie Kondo vì, nói theo quan điểm thẩm mỹ, tôi thiên về phe bừa bộn. Bàn về cách nói chuyện của cô ta: Tôi cảm thấy ổn khi cô ta không sử dụng tiếng Anh để giao tiếp với lượng khán giả Mỹ khổng lồ, nhưng điều này rõ ràng ám chỉ việc siêu cường quốc Mỹ đang xuống dốc.”

Cách Ehrenreich chú trọng vào khía cạnh thẩm mỹ của đống bừa bộn dường như là lời hiệu triệu đến những người cùng quan điểm, dẫn đến những bình luận phân biệt chủng tộc và bài ngoại tương đương. Nhưng điều khiến Kondo trở thành con dê tế thần của cộng đồng mọt sách Internet chính là lời khuyên của cô trong tập năm, rằng mọi người nên vứt bỏ những cuốn sách không còn khiến họ hân hoan nữa.

Độc giả nổi điên lên, cho rằng mục đích của sách không phải là hân hoan. Như tác giả người Canada Anakana Schofield viết trong tờ The Guardian: “Cái thước đo mục đích chỉ giới hạn trong việc ‘tạo ra niềm hân hoan’ nảy sinh nhiều vấn đề sâu xa khi áp dụng với sách… Văn học không tồn tại chỉ để đánh thức những xúc cảm dễ chịu hoặc vỗ về chúng ta với những điều khoái trá; nghệ thuật còn thách thức và khiến chúng ta bối rối, nhiễu loạn.”

Ngôn từ phân biệt chủng tộc trong biện hộ cho đống bừa bộn của Ehrenreich cũng xuất hiện trong biện hộ cho một thư viện cá nhân không gạn lọc của Schofield. Bà đề cập đến việc Kondo gõ nhẹ lên bìa sách với “cử chỉ đầu ngón tay tựa tiên nữ” như một phần của “địa hạt siêu linh, huyễn tưởng mà ta lỡ chân bước vào.” Trọng tâm lời chỉ trích của Schofield dường như xuất phát từ việc hiểu lầm ý nghĩa chữ “hân hoan” của Kondo, một sự hiểu lầm căn bản mà Ellen Oh, nhà sáng lập của We Need Diverse Books (tạm dịch: Chúng ta cần những quyển sách đa dạng hơn), gọi là chủ đích:

“Có một sự nhấn mạnh quá đà lên chữ ‘khiến ta hân hoan’ mà không hề hiểu rằng [Kondo] đang nói đến điều gì. Tokimeki thực ra không có nghĩa là hân hoan. Nó mang nghĩa rung động, vui sướng, nhịp đập trái tim. Chỉ cần cái định nghĩa cơ bản này là đủ để triệt tiêu lập luận của Schofield rằng sách không chỉ nên khiến ta hân hoan mà còn thách thức và đảo lộn chúng ta. Tokimeki ám chỉ rằng nếu một cuốn sách thách thức và đảo lộn chúng ta, đồng thời cho ta một phản ứng xác thực, tại sao chúng ta phải vứt bỏ chúng chứ?”

Có điều gì trong lời khuyên của Kondo – rằng người ta nên cân nhắc việc vứt bỏ một vài quyển sách một khi chúng biến thành đống bừa bộn gây căng thẳng – lại có sức uy hiếp, khiến những nhà nữ quyền da trắng trên mạng xã hội sinh ra những phán xét tệ hại như vậy? Việc này liên quan đến địa vị đặc thù do những người-yêu-sách-tự-phong gán cho sách, và cơn giận tương quan của họ khi những kẻ như Kondo đề xuất rằng sách chỉ là những vật thể ngang hàng với nội y và miếng lót ly. Đáp lại cơn giận của Schofield, vấn đề nằm ở việc quan điểm “phi lý” của Kondo khác biệt với quan điểm “phi lý” của Schofield, người cho rằng “cách đánh thức những quyển sách là mở nó ra và đọc to lên.” Cớ gì việc gõ nhẹ tay lên bìa sách là vớ vẩn, nhưng việc đối xử với sách hệt như chúng là một kho tàng ma thuật sẵn sàng được kích hoạt lại không vớ vẩn?

Chúng ta có thể dành cả ngày để phân tích sự bài ngoại, phân biệt chủng tộc, bài phương Đông và phân biệt giai cấp hiện diện trong những lời chê trách trên, nhưng tôi muốn tập trung vào cách mà những mọt sách tự phong phản ứng với chuyện liên tưởng sách là đống bừa bộn, sự giáng chức của chúng từ vật linh thiêng đến tầm thường – hay, chính xác hơn, sự khăng khăng rằng chúng chẳng có linh thiêng gì hơn những đồ vật khác. Đây là một cuộc hội thoại mà tôi cho rằng vừa tiêu biểu mà vừa khai sáng:


Brenna Clarke Gray (@brennacgray): Ok. Sách chỉ là đồ vật thôi.

They’re Taking Your Kids Next (@MidianiteManna): À, không. Đối với tôi chúng là những trải nghiệm. Nói vậy thì chẳng khác nào bảo một chuyến du ngoạn đến Paris chỉ là một đồ vật.

Brenna Clarke Gray: Ok.


Ngoài việc kinh ngạc trước kỹ năng né-tránh-khẩu-chiến-Twitter của học giả văn hóa đại chúng Brenna Clarke Gray, ta hãy xem xét việc gọi sách là một “trải nghiệm” liệu có ý nghĩa gì. Vị thế của sách như một đồ vật từng cùng lúc bị phủ nhận và gán cho quá nhiều trọng trách: bản in vật lý này là thế thân cho hành động đọc, đồng thời là chiến tích để phô diễn rằng bạn có quan hệ cảm xúc và tư duy đúng đắn với việc đọc. Người sở hữu sách đơn thuần có lẽ xem sách như một thứ có thể được tái sử dụng để trang trí hoặc cho đi khi chúng trở nên không cần thiết, nhưng độc giả thì biết sách chứa đựng cả thế giới – và bộ sưu tập sách của họ trở thành biểu tượng của đẳng cấp, dấu hiệu của sự thông thái cấp cao.

Chẳng có gì mới mẻ trong mối tương quan giữa việc yêu thích sách và đọc sách giữa thanh thiên bạch nhật. Đã có lịch sử lâu dài ghi nhận việc tiêu thụ sách như là điệu bộ xã hội. Như học giả người Mỹ Lisa Nakamura chỉ ra, trưng bày sách cho người khác xem từ lâu đã được xem là “một hình thức tiêu dùng công cộng để thiết lập và quảng bá hình ảnh một cá nhân ham đọc.” Nhưng văn hóa đọc đương đại đã mở rộng việc tiêu dùng công cộng ngoài phạm vi sách, rộng ra những hàng hóa phong cách sống. Nền văn hóa của chúng ta cắm rễ trong mối quan tâm cảm xúc sâu sắc dành cho sách, và người tiêu dùng đã học được cách thể hiện mối quan tâm này thông qua hành vi mua sắm. Ta có thể nhận thấy điều này trong lịch sử tiêu thụ sách, từ những người cuồng sách thời kỳ đầu đến lời đề xuất của Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-quyển-sách giúp bạn xây dựng một thư viện cá nhân vào giữa thế kỷ, đến những blog dành cho thế hệ millennial đã biến thói quen đọc sách thành một hành vi tiêu thụ. Theo tôi, một khi bạn am hiểu quá trình phát triển của thuật ngữ “mọt sách”, bạn sẽ hiểu chuyện gì đã xảy ra khi Marie Kondo nhăm nhe giải quyết những đống lộn xộn đầy sách.

Trong Loving Literature: A Cultural History (tạm dịch: Đam mê văn chương: Một lịch sử văn hóa), Deidre Lynch đã lần theo dấu vết lịch sử lâu dài của nỗi ám ảnh về sách, hay bibliomania. Vào cuối thế kỷ 18, việc công nghiệp hóa ngành sản xuất giấy và sau đó là ngành in đã tạo ra một thị trường sách sống động đầy mới mẻ. Thị trường này chủ động đầu tư vào việc nhân tính hóa sách, biến sách trở thành một phần của “thế giới sống” để mọi người có thể yêu chúng (bằng cách mua chúng). Xuất hiện cùng lúc với đam mê tiêu thụ dành cho sách là sự biến đổi của không gian nhà cửa: “không gian bán-công cộng, thương mại của nhà cửa trước kia nay trở thành chốn trú ẩn cá nhân” – và việc đọc càng ngày càng trở thành một hoạt động riêng tư, hoạt động mà một quý ông trung lưu thực hiện trong ngôi nhà ấm áp, từ nguồn cung cấp là chính thư viện nhà anh ta.

Chú ý đến việc sử dụng giới tính chủ đích trên. Bibliophile (người cuồng sách) là một người đàn ông. Anh ta không tùy tiện thu thập sách; trái lại, anh để ý rất nhiều đến địa vị, giá trị và khả năng sưu tầm của chúng. Nhưng như Lynch đã chỉ ra, phụ nữ vẫn kết nối với văn hóa đọc, chỉ là không thông qua quyết định mua hàng. (Phụ nữ sẽ càng ngày càng chịu trách nhiệm cho những quyết định mua hàng tiêu dùng trong nhà trong thế kỷ 20, cũng là khi thị trường sách bắt đầu chủ động chuyển hướng sang độc giả nữ.) Vậy, một bibliophile nữ có chân dung như thế nào? Lynch đã mô tả một dạng album văn học rất giống với thế giới fan fictionfan art đương đại:

“Những tập bản thảo thơ nhà làm – một tổng hợp văn thơ tự sáng tác xen kẽ với các đoạn trích chép tay từ những nguồn đã được xuất bản, thỉnh thoảng lại kèm thêm những bài cắt dán từ báo chí và tạp chí định kỳ, tranh phong cảnh màu nước không chuyên (thi thoảng là kỷ niệm từ những chuyến du lịch), những bức chân dung giả tưởng của nhân vật tiểu thuyết và thơ ca (đặc biệt của Walter Scott), tranh pastel trên giấy gạo đạt đến trình độ chính xác về động vật học và thực vật học, vẽ sò biển, bươm bướm, và/ hoặc những bông hoa, nhiều những tác phẩm khác được thực hiện bởi một bàn tay nữ tính thời thượng; thiệp dán với hoa và dương xỉ ép, những nắm tóc, thiệp tưởng nhớ ai đó vừa qua đời.”

Xin hãy lưu tâm đến sự đối lập giữa một dạng thư viện tuyển tập sáng suốt (của bibliophile nam) và một dạng tương tác rất đỗi riêng tư và say mê (của bibliophile nữ). Tôi nghĩ rằng phương thức sau là hình mẫu đường hướng cho văn hóa đọc thế kỷ 21, đặc biệt khi mua sách trở thành một hoạt động phần nhiều là nữ tính.

Xu hướng bibliomania vào thế kỷ 19 vạch đường dẫn lối cho sự cố chấp của giới trung lưu thế kỷ 20 trong việc thu thập một thư viện đàng hoàng, như những gì Janice Radway phác thảo trong A Feeling For Books (tạm dịch: Cảm xúc cho những quyển sách). Radway giải thích cách mà Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-cuốn-sách (thành lập năm 1926) trở thành khuôn mẫu cho cuộc hôn nhân giữa thương mại và văn hóa trong nền văn hóa đọc tại Mỹ. Tổ chức này tận dụng sức mua đang bành trướng của người Mỹ sau Thế chiến thứ II, cũng như sự tăng trưởng của tầng lớp quản trị – lành nghề, những người mà Radway miêu tả là “lao động tri thức và chuyên nghiệp, có vai trò quan trọng trong việc lưu chuyển lượng lớn thông tin thiết yếu với nền kinh tế tiêu dùng tích hợp.” Con cái của tầng lớp này được “dạy dỗ để trân trọng sách vở và hướng đến những ngành nghề tri thức,” nhưng cách thức họ được dạy dỗ để trân trọng sách có điểm khác biệt với những người cuồng sách thông thường trong thế kỷ trước. Radway nhấn mạnh, Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-cuốn-sách, đầu tư rất nhiều vào ý tưởng một “người đọc tổng quát, thông minh.” Danh tính độc giả này liên quan chặt chẽ đến sự chú trọng mà ngành sách dành cho danh mục marketing con. Theo Radway, đây là khái niệm “đọc sách” theo cách hiểu của Câu lạc bộ:

“Tại Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-cuốn-sách, nhiệm vụ đánh giá hàng ngày có nền tảng từ một lý thuyết ngầm liên quan đến việc đọc sách. Đọc sách không được coi là một hoạt động đồng nhất, và sách cũng không được đánh giá dựa theo một bộ tiêu chuẩn đơn nhất. Thay vào đó, việc đọc được cân nhắc là hành động tinh vi và hoàn toàn phụ thuộc vào hoàn cảnh. Đôi khi người ta đọc để thư giãn, thỉnh thoảng người ta đọc để dễ ngủ, thỉnh thoảng người ta đọc để tìm hiểu cách thức ăn uống, và thỉnh thoảng người ta đọc để sống những cuộc sống khác, nghĩ những suy nghĩ khác, để cảm xúc được nồng nhiệt hơn…. Để đo lường thành công của bất cứ cuốn sách nào, biên tập viên của Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-cuốn-sách không chỉ đánh giá những đặc điểm từ bản thân văn bản, mà còn dựa vào việc cuốn sách đưa ra giá trị gì, có phù hợp với những điều độc giả tiềm năng yêu cầu không.”

Những điều trên rất hợp lý khi sử dụng trong chiến lược marketing, và chúng hiện diện rõ ràng trong cách thức Câu lạc bộ Mỗi-tháng-một-cuốn-sách đưa ra các lựa chọn sách: gom lại tác phẩm kinh điển, phi hư cấu nặng nề cùng với tiểu thuyết lãng mạn nhẹ nhàng dưới cái cớ như là “nâng cao” trải nghiệm đọc nói chung. Hình tượng “người đọc tổng quát, thông minh” có quyền tự do đọc hết tất cả danh mục đóng vai trò sống còn với sự phát triển của văn hóa mọt sách đương đại; nó cho phép thị trường sách đạo đức hóa việc đọc và sách nói chung, đồng thời phản đối sự kiêu căng của một vài cuốn sách – hoặc thể loại – nhất định. Là độc giả thì tốt hơn việc không là độc giả, và (việc đọc) một thể loại này cũng không tốt hơn (việc đọc) một thể loại khác. Phương thức đọc sách này được Radway định nghĩa là có trình độ hiểu biết vừa phải, và nó rất liên quan đến những cảm xúc mà sách mang đến cho ta.

Beth Driscoll cho rằng cảm xúc vẫn là mục đích của những độc giả có trình độ hiểu biết vừa phải đương đại. Driscoll đưa ra tám đặc điểm với những người này: trung lưu, tôn kính, thương mại, trung gian, nữ tính, giải trí, chân thành, và cảm xúc. Chúng ta có thể thấy trong danh sách này, dấu vết của bibliophilia thế kỷ 18 và 19 đã chuyển biến thành văn hóa văn chương thời nay – mối liên kết giữa việc đọc và không gian trung lưu, những nỗ lực để diễn giải mối quan hệ tôn kính với một vật phẩm thương mại. Tất cả những điều này – nhận thức về tầng lớp, siêu-trung gian, liên kết giữa sùng kính và thương mại, sự nữ tính hóa việc tiêu thụ sách, và đặc biệt là hình tượng độc giả tổng quát, thông minh – tựu trung lại thành những cá nhân “mọt sách” thế kỷ 21.

*

Hãy bàn về từ “mọt sách” (“bookishness”). OED cho rằng từ này bắt nguồn từ thế kỷ 16; thời bấy giờ, nó có nghĩa là “nghiêm túc về việc đọc sách” hay “ham học hỏi” (không ngạc nhiên mấy). Mặc dù vậy, bên cạnh những định nghĩa trung lập trên, từng có thời gian thuật ngữ này mang ý nghĩa hơi miệt thị, ám chỉ những người bị ám ảnh bởi sách vở và tách rời khỏi thế giới thực. Cái cách từ “mọt sách” được sử dụng trong văn hóa đọc đương đại chẳng khác gì một sự tái khẳng định đắc thắng, một sự khăng khăng rằng mối quan tâm quá lố dành cho sách hẳn nhiên là một việc tốt. BookRiot, một công ty truyền thông mới ra đời năm 2011 như là một điểm đến văn hóa cho người yêu sách, là ví dụ để thấu hiểu được cách thức thuật ngữ này bị chuyển nghĩa.

Bài đăng vào ngày 30.05.2018 mang tên “Đến tuổi 35: Phiên bản Mọt sách” cho ta biết rất nhiều về định nghĩa mọt sách của BookRiot. Bài đăng này vừa phản nghịch mà vừa soi sáng. Nó tập trung vào sự tiêu dùng lộ liễu – “bạn nên nhờ bạn đời củng cố nền căn phòng bạn dùng để chứa sách” – cũng như việc coi trọng số lượng hơn chất lượng, khuyên rằng bạn nên mua lại những cuốn sách ưa thích thời thơ bé, lấp đầy giá sách bằng tiểu thuyết lãng mạn, “sách lịch sử chèn cửa,” và một “tủ sách mà bạn biết chắc mình không bao giờ thèm đọc, nhưng bạn muốn khách viếng thăm biết rằng bạn sở hữu chúng.” Sự pha trộn giữa sách lãng mạn, lịch sử và kinh điển trong cùng một tủ sách (quá khổ) phản ánh tinh thần của những thành viên tổng quát, thông minh trong Câu lạc bộ Cuốn-sách-của-tháng, những người biết rằng chẳng quan trọng là bạn đọc cái gì, chỉ cần bạn đang đọc (hay đang mua) rất nhiều sách là được. Một bài đăng vào ngày 09.01.2019 đưa ra thử thách “Danh sách ước nguyện của dân mọt sách,” bao gồm việc du lịch đến một địa điểm mọt sách, gặp gỡ một tác giả mình yêu thích, và lan tỏa văn hóa đọc khắp cộng đồng của bạn “bằng cách giúp ai đó yêu thích việc đọc sách.” Bạn có thể thấy từ ngữ chuyển đổi ý nghĩa, từ việc “rất thích đọc sách” sang một thể loại phong cách sống hay là nhãn danh tính, trong đó việc “rất rất thích sách” (sách gì cũng được!) có thể trở thành toàn bộ danh tính của một người.

“Bạn có thể nhận thấy những từ này bắt đầu chuyển đổi thành nhãn danh tính, một cái nhãn mà trong đó ‘rất thích sách’ trở thành toàn bộ danh tính của một người.”

Theo tôi, một dạng biểu hiện danh tính mọt sách lý thú nhất xuất hiện trong mục “Book Fetish” (tạm dịch: Sùng Bái Sách). Book Fetish là minh chứng cho việc mọt-sách nay gần như đã mở rộng ra phạm trù tiêu dùng. Rõ ràng, Book Fetish không viết về sách là về những thứ phụ kiện họ-hàng-gần-với-sách có sức hấp dẫn với người khác (đặc biệt là phụ nữ), những người tự nhận mình là mọt sách. Nhìn lướt qua, ta bắt gặp một loạt những đồ vật, gồm bút chì, sổ tay và bookmark (hiển nhiên rồi), nhưng còn có vải thêu chữ thập, ấm trà, áo thun, trang sức,… và còn nhiều hơn nữa.

Đặc điểm nổi bật của “thói bái vật” góp nhặt này là việc sách không chỉ là vật sở hữu thông thường – điểm này đưa ta quay lại với Marie Kondo và những lời chối bỏ mang tính gây hấn nhắm đến quan điểm của cô. Khá mỉa mai khi Book Fetish quảng cáo những vật-dụng-tiêu-dùng-không-phải-là-sách để quảng cáo cho cái ý tưởng rằng sách-không-phải-là-vật-dụng-tiêu-dùng. Để tôi giải thích rõ hơn: địa vị đặc biệt của sách – xuất phát từ tham vọng nhân tính hóa sách để phục vụ cho sự trỗi dậy mạnh mẽ của thị trường sách thế kỷ 18 – phủ sóng khắp Book Fetish. Nhưng bản thân những bài viết này cũng chứng thực cho mối quan tâm sâu sắc mà nền văn hóa mọt sách dành cho thị trường sách: nó hân hoan tán tụng sự tiêu dùng sách lộ liễu, đồng thời những thứ phụ kiện để quảng cáo sự tiêu thụ sách lộ liễu của bạn.

*

Nakamura, khi viết về vai trò quan trọng của Goodreads trong văn hóa đọc đương đại, chỉ ra rằng những nền tảng này đã đẩy mạnh quá trình biến sách và độc giả trở thành một loại hàng hóa:

Goodreads cho ta thấy cách thức những trang mạng xã hội về sách đã trở thành một loại hàng hóa, một loại hình kinh doanh khống chế nội dung từ tất cả người dùng, không thừa nhận nghĩa vụ pháp lý, giữ quyền xóa bỏ hồ sơ và dữ liệu người dùng mà không cần bất cứ lý do gì. Những tủ sách ta giữ gìn cẩn thận trên Goodreads – một số chứa cả ngàn cuốn sách – có thể đột ngột biến mất bất cứ lúc nào.”

Tuy nhiên, những phong trào của cộng đồng mọt sách trực tuyến – từ mua sách trên Amazon đến đọc sách trên Kindle và rồi bình luận trên Goodreads – không hề biến sách thành một thứ hàng hóa tầm thường; thay vào đó, nó đã nâng sách lên một tầm cao mà những bibliophile thế kỷ 18 không bao giờ tưởng tượng nổi. Sự sát nhập của Goodreads vào đế chế Amazon đã khiến tình trạng trở nên trầm trọng hơn – bằng cách nào đó, địa vị đặc thù của sách nay góp phần tung hỏa mù, khỏa lấp mục đích thực sự của Amazon.

Tôi xin kết thúc bài viết bằng cách quay trở lại điểm xuất phát: vì sao quá nhiều người (da trắng) lại nổi điên lên trước ý kiến của Marie Kondo rằng sách cũng chỉ như bao thứ đồ vật khác mà thôi. Thứ tình yêu mãnh liệt mà những mọt-sách-tự-phong dành cho sách hoàn toàn không phải “lẽ thường”: nó là cao trào từ tập hợp những đổi thay kinh tế và văn hóa trong 300 năm qua, nhân tính hóa sách và đồng thời cũng ổn định tình hình tiêu thụ sách, biến việc-yêu-thích-sách trở thành danh tính người dùng rõ rệt, đến nỗi khi một quan niệm mới về sách xuất hiện, đề xuất một mối quan hệ mới giữa sách và người đọc, những cá nhân “mọt sách” này cảm thấy bị đe dọa đến gần như mất trí.

Hết.

Aki-ten lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Hannah McGregor, đăng tại Electric Lit.

Xem tất cả những bài viết của Aki-ten tại đây.


Những bài viết có cùng chủ đề




Đọc bài viết

Trà chiều

Truyện cổ tích: Minh chứng cho sự khác biệt trong cách các nền văn hóa nhìn nhận thế giới

Cho dù chúng ta có nhận ra hay không thì những câu chuyện thuở nhỏ, đặc biệt là truyện cổ tích, trở thành khuôn mẫu để ta phân định cấu trúc truyện thành công là như thế nào, và cấu trúc nào sẽ khiến độc giả cảm thấy thỏa mãn.

Đăng từ

on

Người đăng

OUR FAIRY TALES OURSELVES: STORYTELLING FROM EAST TO WEST

Marie Mutsuki Mockett

Hôm nay là Lễ Giáng Sinh, và tôi đang ngồi đây đọc đến ba quyển sách cho đứa con trai sáu tuổi trước khi nó đi ngủ. Trong đó, có một quyển truyện Nhật Bản mà tôi chưa từng đọc, nói về thế giới của chú mèo trắng tinh nghịch, Nontan.

Trong Nontan! Santa kìa!, Nontan khởi đầu hành trình trong đêm đầy tuyết, cầm theo chiếc tất Nô-en với hy vọng gặp Ông Già Tuyết và mau chóng nhận được món quà cậu mong muốn: một chiếc xe đồ chơi màu đỏ. Bên ngoài căn nhà của ba chú thỏ bạn cậu (những người đang ngủ ngon lành), Nontan thấy được Santa! Nhưng ông già Nô-en lại là một chú thỏ. Nontan được chỉ rằng cậu phải tìm ra ông già Nô-en cho mèo, vì ông già Nô-en thỏ không được phép tặng bất cứ thứ kỳ cho loài mèo. Bên ngoài căn nhà của bạn gấu (cũng đang ngủ say), Nontan lại tìm thấy Ông già Nô-en, nhưng tất nhiên, ông già này là dành riêng cho gấu mà thôi.

Nontan nhỏ bé lê bước mệt nhọc trong bộ quần áo ngủ, tay cầm chiếc tất Giáng sinh, và bầu trời nhanh chóng tràn ngập ông già Nô-en bay vụt qua. Trong cơn mê sảng do giảm thân nhiệt (tôi đoán thế), Nontan thấy một Santa cá vàng bơi trong bể cá trên chiếc xe tuần lộc. Có Santa tuần lộc, Santa rắn (được kéo bởi hai con rắn khác), Santa cua (được kéo bởi một con rùa), Santa nhện (đi nhờ xe của Santa người) và thậm chí cả mụ phù thủy Halloween cũng bay dạo một vòng. Nhưng chẳng có Santa mèo. Nontan nhanh chóng ngủ quên dưới một tán cây, trong khi tuyết tiếp tục rơi. Thế giới thật lạnh lẽo với một chú mèo nhỏ bị lạc trong đêm tuyết.

Tất nhiên ở phương Tây chỉ có một ông già Nô-en mà thôi (không tính ông già Nô-en trong siêu thị). Nhưng con trai của tôi, từ nhỏ đã được nghe những câu chuyện từ cả phương Tây và phương Đông, không có vấn đề gì với tình tiết lạ lùng này. Đó chỉ đơn thuần là một câu chuyện. Có một thể loại truyện khác, lấy bối cảnh Nhật Bản, trong đó thứ này luôn biến thành hàng trăm thứ khác nhau; nơi động vật, đôi lúc cả đồ ăn trong tủ lạnh, có thể nói chuyện, và mạch truyện không cần phải đi theo những xu hướng tuyến tính thông thường. Đây không phải là lần đầu tiên tôi nhận thấy: chúng ta đã mặc định phương hướng phát triển của mạch truyện từ khi còn rất nhỏ. Cho dù chúng ta có nhận ra hay không thì những câu chuyện thuở nhỏ, đặc biệt là truyện cổ tích, trở thành khuôn mẫu để ta phân định cấu trúc truyện thành công là như thế nào, và cấu trúc nào sẽ khiến độc giả cảm thấy thỏa mãn.

*

Tôi đã nghĩ rất nhiều về cách chúng ta tiếp thu các câu chuyện. Trong những năm tôi hai mươi, tôi từng nhận lá thư từ chối từ nhà xuất bản cho một bản thảo (mà bây giờ tôi hy vọng không ai đọc được nó). Lá thư có những cụm từ như “trở thành một nhà văn tốn rất nhiều thời gian”, và “có lẽ cô nên cân nhắc đến trường học hỏi.” Cô ấy cũng đề nghị tôi nên đọc The Writer’s Journey (tạm dịch: Hành trình của một nhà văn) của Christopher Vogler.

Tựa đề The Writer’s Journey được lấy cảm hứng từ quyển The Hero With a Thousand Faces (tạm dịch: Người anh hùng với 1000 khuôn mặt) của Joseph Campbell, xuất bản năm 1949. Quyển sách sử dụng trường phái tâm lý học của Carl Jung để minh họa cho lý thuyết tất cả các thần thoại về cơ bản đều là một. Nhân vật chính – người anh hùng – vượt qua khó khăn trong hành trình tìm được chính mình. Ẩn chứa trong những truyền thuyết này là bí quyết hữu dụng để tiêu diệt những con rồng ẩn dụ, chế ngự Medusa (hoặc có lẽ là làm thế nào để ngay từ đầu không biến thành Medusa), và vì sao bạn không nên yêu mẹ mình nhiều quá. George Lucas ghi nhận Joseph Campbell là người đã truyền cảm hứng để ông thêm thắt những yếu tố thần thoại vào Chiến tranh giữa các vì sao, ám chỉ rằng câu chuyện của Luke và Jedi không chỉ là một bộ phim hoạt hình thứ bảy đóng gói trong dạng thức điện ảnh – bom tấn khoa học viễn tưởng này có nội dung sâu sắc hơn thế. 

The Writer’s Journey khuyến khích các nhà văn phải hiểu phương hướng kiểu mẫu của truyền thuyết để viết nên những câu chuyện hoàn hảo, kết nối được với độc giả (và sẵn tiện kiếm bội tiền). Vogler giải thích rằng quyển sách của ông là lời nhắn nhủ nội bộ đến những công ty làm phim, và nó là một trong những yếu tố quan trọng đóng góp vào sự trỗi dậy của phim Disney vào cuối thập niêm 80 của thế kỉ XX, một quá trình bắt đầu bằng Nàng tiên cá, và đạt đỉnh cao gần đây nhất là Chiến tranh những vì sao: Thần lực thức tỉnh

Vì vậy, tôi đọc The Writer’s Journey. Tôi đọc về Sự Từ Chối Lời Kêu Gọi (The Refusal of the Call – việc nhân vật chính thoạt tiên từ chối không can dự dù sứ mệnh đã xuất hiện), và nếu bạn đã xem bộ phim Chiến tranh giữa các vì sao mới đây, bạn sẽ thấy nhân vật Rey cũng trải qua Sự Từ Chối này. Tôi đã đọc về Vị Cố Vấn Thông TháiCon Đường Đi Đến Nội Tâm Trong Nhất. Tôi đọc về cách làm thế nào, trong những câu chuyện nổi tiếng, người anh hùng kết thúc cuộc hành trình và nhận được cái mà Vogler gọi là Phần Thưởng. Chỉ khi người anh hùng hoàn thành cuộc hành trình, người đọc mới được trải nghiệm cái cảm xúc mà Aristotle gọi là “sự thở phào”. Một câu chuyện chỉ thành công khi có được sự đồng cảm từ độc giả. Ta đã được trải nghiệm cảm giác đó khi E.T. về nhà (E.T.) và khi Rose sống sót qua thảm hoạ và thay đổi theo hướng tích cực hơn từ những trải nghiệm trên tàu Titanic (Titanic).

Khi Vogler viết rằng một câu chuyện thành công sẽ kích hoạt phản ứng cơ thể, tôi hiểu ý ông ấy. Ai mà không hiểu chứ? Ai mà không từng ngồi hàng giờ trước TV, xem một bộ phim làm thay đổi cảm xúc của bạn. Mặt khác, một số bộ phim và tiểu thuyết, vì lý do gì đó, có cảm giác như đang cố thao túng cảm xúc của khán giả. Vào những năm tôi hai mươi, tôi rất bực bội với những tiểu thuyết kết thúc bằng A) cái chết của ai đó và B) một em bé vừa chào đời. Không may là mọi thứ từ Fried Green Tomatoes (tạm dịch: Cà chua xanh chiên) cho đến Cold Mountain (tạm dịch: Núi lạnh) đều đi theo cấu trúc này. Tất nhiên là phải có em bé! Nếu tôi muốn dành thời gian cho một trải nghiệm được thiết kế để buộc tôi đẩy cảm xúc theo phương thức gượng ép nào đó, thà tôi uống thuốc ngủ Ambien.

Đồng thời, tôi cũng không muốn đọc một quyển sách mà tác giả cố ý tạo ra những tình huống không thể đoán trước được. Đã có một thời thịnh hành xu hướng giết chết nhân vật được yêu thích. Ai mà quên được người hâm mộ đã điên tiết như thế nào với bộ phim khoa học viễn tưởng Serenity (tạm dịch: Tĩnh lặng) khi một tia sáng đi lạc cắt đôi nhân vật Wash một cách thô bạo? Cái chết của Wash không giống như một điều cần thiết cho mạch truyện, mà giống như biên kịch hả hê nói “Nhìn những gì mà tôi có thể làm này! Tôi có thể phá vỡ dự đoán của các bạn!” Tất nhiên là vào năm 2016, một nhân vật được yêu thích như Han Solo phải chết thôi. 

Tôi ngờ rằng, nếu bạn đang đọc bài viết này, bạn cũng là một độc giả vừa cẩn trọng mà vừa mạo hiểm tìm kiếm những trải nghiệm mới lạ. Bạn cũng đang đồng thời tìm một câu chuyện giống một câu chuyện, nhưng không phải là bản sao của những thứ bạn từng đọc trước đây. Bạn muốn được chìm đắm, muốn được thấy cảm động. Bạn muốn sự chân thật. Và tất nhiên, bạn muốn câu chuyện phải có hiệu quả.

*

Một phần tuổi thơ của tôi trải qua ở Nhật; mẹ tôi dẫn tôi đến đây mỗi mùa hè. Trong khi tôi chỉ được phép xem TV hai giờ một tuần ở Mỹ (bố mẹ tôi cực kì tin vào xếp hạng phim), ở Nhật tôi được phép xem TV bao lâu cũng được, với lý do là nó sẽ giúp tôi cải thiện tiếng Nhật. Vì vậy tôi xem quên trời. Đôi lúc tôi sẽ thấy thứ gì đó trên TV gây sự chú ý sâu sắc, kích thích trí tưởng tượng và tình yêu của tôi, nhưng đồng thời cũng khiến tôi khóc lóc nhiều đến nỗi mà mẹ phải ngồi hàng giờ, cố gắng an ủi tôi vì sự bất công hay là cái kết bi kịch trong phim; bà càu nhàu về cái nền văn hoá của chính bà đã tạo ra cái kết buồn thảm thiếu trách nhiệm như vậy. Bởi vì ở Nhật Bản, các câu chuyện có thể buồn một cách tuyệt vọng, không thể cứu vãn được. Ma quỷ có thể chiến thắng nhân loại. Người ta còn quan hệ tình dục trên TV và còn hở cả ngực. Những câu chuyện này – hay chính cuộc đời – đầy những âu lo, nhưng cũng màu sắc hơn, như thể chỉ việc sống trong phim truyền hình Nhật còn can đảm hơn ở nhà. Nhưng nó không phải là một sự âu lo giả tạo. Sống trong một thế giới vừa năng động vừa tràn ngập nguy hiểm, hậu quả là những người vô tội vẫn đang phải chịu đựng khổ đau hàng ngày.

Trong hai thập kỷ qua, thật thú vị khi chứng kiến sự thăng hoa của phim hành động Hong Kong và phim hoạt hình Nhật Bản, hay manga và anime, đặc biệt tại thị trường phương Tây. Đi kèm theo đó là sự nổi lên của một vài tiểu thuyết gia, điển hình là Haruki Murakami. Tôi nghĩ một bộ phận độc giả thích chúng là bởi vì cái cách tiếp cận câu truyện rất “mới mẻ”. 

Ví dụ như trong phim Spirited Away (Vùng đất linh hồn), cô bé nữ chính Chihiro đột nhiên bị chia tách với bố mẹ, lạc vào một thế giới khác, đầy các vị thần và các sinh vật vô hình thích tụ tập trong nhà tắm công cộng. Để quay về với bố mẹ, Chihiro phải làm việc cho nhà tắm này. Đường về nhà thì còn vòng vèo hơn cả Dorothy tìm đường về Kansas (Phù thuỷ xứ Oz). Dorothy biết rằng mình phải diệt hai trong số bốn bà phù thuỷ (tất nhiên là phù thuỷ tốt phải đẹp, và phù thuỷ xấu người thì cũng xấu bụng nốt), sau đó phải gặp Thầy Phù Thuỷ nữa. 

Đường về nhà thì không rõ ràng như vậy với Chihiro. Trong lúc làm việc ở nhà tắm, Chihiro gặp bà chủ Yubaba với cái mũi to, cái đầu quá khổ và nếp nhăn đầy mặt. Thoạt tiên, trông bà hệt như định nghĩa về mụ phù thuỷ xấu xí trong truyện cổ tích thường thấy. Nhưng khi bộ phim tiếp diễn, người ta càng ngày càng mơ hồ, liệu Yubaba có thật sự độc ác không? Khi em gái sinh đôi của bà, Zeniba xuất hiện, cùng những đặc điểm này lại tạo cảm giác ấm áp giống bà ngoại. Người lớn tuổi, với ngoại hình của họ, có thể dễ dàng đóng cả hai vai như Zeniba và Yubaba. Sự linh hoạt này xuất hiện rất thường xuyên trong những câu chuyện Nhật Bản (vậy nên ông già Nô-en ở trong thế giới của Nontan mới có vô số hình dạng như vậy). Còn chúng tôi, những người phương Tây thì chỉ mới bắt đầu được trải nghiệm điều này thôi. 

Khoảng một thập kỉ trước, tôi bắt gặp một quyển sách, một sự bổ trợ tuyệt vời cho The Writer’s Journey. Quyển The Japanese Psyche: Major Motifs in the Fairy Tales of Japan (tạm dịch: Tâm thức Nhật Bản: Các mô-típ phổ biến trong truyện cổ tích Nhật) của tác giả Hayao Kawai, nghiên cứu các truyện cổ tích Nhật Bản, và vì sao những truyện này có rất nhiều ý tưởng và chủ đề tương tự nhau, nhưng lại xa lạ với độc giả phương Tây. Kawai thường được nhắc đến như là nhà tâm lý học Nhật Bản đầu tiên được đào tạo như một nhà phân tích theo trường phái Carl Jung. Nhưng khi Kawai từ Thuỵ Sĩ trở về Nhật Bản, ông nhận ra rằng một vài trong số các “quy tắc” trong việc diễn giải thần thoại không thật sự áp dụng được với văn hoá Nhật Bản. Hơn thế nữa, các câu chuyện càng không hợp với các quan niệm có sẵn của văn hoá phương Tây. 

Kawai nêu ra một ý tưởng rằng thực tại thật ra rất uyển chuyển, theo cái cách của Yubaba-Zeniba. Ông viết: “Thực tại bao gồm rất nhiều tầng lớp. Chỉ có trong cuộc sống hàng ngày, các tầng lớp mới trông có vẻ như là hợp lại thành một, vô hại với chúng ta. Tuy nhiên, những tầng lớp sâu hơn có thể phá vỡ và trồi lên bề mặt ngay trước mắt ta. Những câu chuyện cổ tích là ví dụ.” Đằng sau những tầng lớp thực tại này là gì? Nếu bạn quen thuộc với những tác phẩm của Murakami, bạn sẽ biết ông thích khám phá những thực tại ẩn sau thực tại; không phải là ngẫu nhiên mà Kawai là bạn thân của Murakami. Các nhà văn phương Tây đã bắt đầu áp dụng phong cách kể chuyện của Murakami/Kawai. Ví dụ như David Mitchell, người đã sống ở Nhật Bản, cũng có cách kể chuyện xoay vần và đảo lộn thời gian và thực tại trong tác phẩm Cloud Atlas (Bản đồ mây). 

Kawai cũng giới thiệu khái niệm “giải pháp mỹ học”. “Các câu chuyện cổ tích phương Tây thường được giải quyết bằng một cuộc xâm lược, hoặc một đám cưới. Các ví dụ thì nhiều vô kể: Nàng công chúa ngủ trong rừng, Nàng Lọ Lem, Bạch Tuyết,… Nhưng trong cổ tích Nhật Bản, hiếm khi có sự hợp nhất. Thường câu chuyện được giải quyết bởi một “giải pháp mỹ học”. Và mỹ học ở đây được hiểu là các hình ảnh từ thiên nhiên. Để lấy ví dụ, ông mở đầu quyển sách của mình với cuộc thảo luận về câu chuyện cổ tích Chim chích trong bụi

Một người tiều phu đang ở trong rừng bỗng bắt gặp một tòa lâu đài mà anh chưa từng nhìn thấy trước đó. Anh gặp một người phụ nữ xinh đẹp; cô mời anh vào nhà và nhờ anh trông nom nhà cửa khi mình đi vắng, với điều kiện là anh hứa sẽ không nhìn trộm những căn phòng phía trong. Ngay khi người phụ nữ rời khỏi, người tiều phu đã phá vỡ lời hứa. Anh dạo chơi xung quanh và gặp ba người phụ nữ đang quét nhà. Họ thấy anh và lủi đi nhanh như chim sẻ. Còn lại một mình, người tiều phu bắt đầu ăn trộm những đồ vật tinh xảo, đắt tiền ở đó. Anh nhặt một cái tổ có ba qua trứng lên. Anh làm rớt cái tổ và trứng vỡ. Người phụ nữ xinh đẹp trở về nhà và hạ nhục anh do đã “giết chết ba đứa con của nàng”. Cô hóa thân thành một con chim chích và bay đi mất. Lúc này, người tiều phu chỉ còn lại một mình trong rừng, những đồ vật đẹp đẽ đánh cắp được đã biến mất. Cái còn lại chỉ là những kí ức về cái đẹp. 

Kiểu kết này, theo Kawai, không hiếm gặp ở Nhật. Trong truyện cổ tích phương Tây, người tiều phu có thể trở thành một hoàng tử và cưới người phụ nữ xinh đẹp và bí ẩn. Nhưng ở Nhật thì không. Thay vào đó, câu chuyện kết thúc bằng “giải pháp mỹ học”: nhân vật chính chỉ còn lại một mình để suy ngẫm về sự tồn tại của bản thân trong phông nền thiên nhiên xinh đẹp. Hay có lẽ tôi đang quá áp đặt cái nhìn của phương Tây vào đây. Có lẽ sự tồn tại của anh không phải là vấn đề. Có lẽ tất cả những gì anh còn lại chỉ là những hình ảnh đẹp. 

Kawai nói: “Tại Nhật Bản, đặc biệt là thời cổ đại, giá trị hình ảnh và đạo đức là không thể tách rời. Cái đẹp có lẽ là yếu tố quan trọng nhất cần phải tìm hiểu để hiểu được văn hoá Nhật. Trong truyện cổ tích cũng vậy, phong cảnh đẹp đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc của câu chuyện.” Thật ra, “truyện cổ tích Nhật Bản nói cho chúng ta rằng thế giới thật đẹp, và cái đẹp đó chỉ hoàn hảo nếu bạn chấp nhận sự tồn tại của cái chết.” Người ta có thể viết cả chồng giấy về một kết luận này, nhưng ở đây tôi sẽ nói rằng đây là sự thấu hiểu rất quan trọng cho rất nhiều tiểu thuyết Nhật Bản, như kiệt tác The Makioka Sisters (tạm dịch: Chị em nhà Makiota) của Jun’ichiro Tanizaki, hay bộ bốn quyển sách của Yukio Mishima. Bạn cũng nên nhớ tới tác phẩm có lẽ dũng cảm nhất, quan trọng nhất đang được thực hiện để giới thiệu văn học Nhât Bản đến với người đọc phương Tây: Tôi đang nói về tờ Monkey Business, tờ tạp chí văn học biên tập bởi Roland Kelts, hợp tác với A Public Space. Thậm chí cả khi bạn chỉ đọc mỗi những câu chuyện trong này, bạn sẽ nắm bắt được một ít về cái thế giới hiện đại quen thuộc với chúng ta, nhưng trông có vẻ và có cảm giác hơi xa lạ với những người có nền tảng văn hoá khác hoàn toàn khác biệt. 

Đã khá lâu rồi tôi không đọc The Writer’s Journey, nhưng tôi khá chắc rằng nó sẽ không chứa những thông tin về việc “từng ngắm nhìn một khung cảnh đẹp đẽ, nhưng giờ đây chẳng còn gì sót lại” như là Phần Thưởng cho sứ mệnh của người anh hùng. Thế nhưng, có lẽ đây mới chính xác là thứ kiến thức mà những kẻ kiếm tìm chân thực phải chấp nhận khi họ già đi. Có lẽ, đây mới là bài học can đảm nhất. 

*

Một vài người cho rằng các câu chuyện Hollywood đang trở nên quá phổ biến trên toàn thế giới, và chúng đã làm xóa nhoà quan niệm rằng câu chuyện nên diễn biến như thế nào. Nếu những câu chuyện của chúng tôi phản ánh bản chất con người phương Tây, thì thật đáng tiếc, bởi vì tôi thấy góc nhìn của những người khác, ví dụ như cái đẹp cũng có giá trị nhân văn, cũng thú vị và đáng giá như các ý nghĩa đằng sau việc đi giết rồng. 

Trong quyển The Writer’s Journey tái bản lần ba, phần lời dẫn, thậm chí Vogler cũng thừa nhận các câu chuyện ngày nay cần trở nên phức tạp hơn. Ông viết về những đất nước e sợ thói anh hùng như Đức hay Australia (đất nước này có lẽ hơi quan ngại về chủ nghĩa anh hùng, bởi vì chính khái niệm này đã dụ dỗ họ tham gia chiến tranh vì lợi ích của những kẻ xâm lược họ – nước Anh). Ông nói về sự ra đời của máy tính và Internet và cách nó đã khiến cho chúng ta không còn trông đợi các câu chuyện phải có diễn biến tuyến tính. Ông khẳng định rằng, người ta mong đợi những câu chuyện phá vỡ cấu trúc thường thấy – điều này được đáp ứng từ nền văn hóa ngoài lãnh thổ. 

Vậy, câu chuyện của Nontan kết thúc như thế nào? Cậu ngủ quên dưới tán cây, và khi gần bị đông chết, cậu được… ông già Nô-en mèo tìm thấy. Ông già Nô-en mèo chở Nontan về nhà trên chiếc xe kéo của ông, nhưng Nontan thì hoàn toàn chẳng hay biết bởi vì cậu thiếp đi cả quãng đường. Buổi sáng, khi Nontan tỉnh dậy, cậu thấy một chiếc xe đồ chơi màu đỏ trong chiếc tất Nô-en của mình. Và cậu ra ngoài để gặp các bạn, họ cũng có những món đồ chơi mới. “Ước gì ngày nào cũng là Giáng sinh,” tất cả các con vật đồng thanh khi đang ăn bánh kem dâu tây, loại bánh truyền thống trong dịp Giáng sinh Nhật Bản. Giáng sinh đã trở thành ngày lễ ngoại nhập phổ biển tại đất nước này. Và tương tự, phương thức kể chuyện lại một lần nữa được làm mới.

Hết. 

Emma Đẹp Thần Thánh dịch.

Bài gốc được thực hiện bởi Marie Mutsuki Mockett, đăng tại Literary Hub.

Xem tất cả những bài viết của Emma Đẹp Thần Thánh tại đây.


Những bài viết có cùng chủ đề cổ tích


Đọc bài viết

Cafe sáng