Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Nửa mặt trời vàng: Nửa mặt trời vàng còn lại vẫn đang ở đâu?

Adichie, Doris Lessing và căn phòng của riêng ta.

Published

on

Nửa mặt trời vàng lấy bối cảnh cuộc nội chiến Biafra vào cuối thập niên 60 ở Nigeria làm bối cảnh chính, khi những nhũng nhiễu chính trị đang lên cao trào. Dưới sự cai quản của thực dân Anh, Nigeria oằn mình hứng chịu sự chia cắt chia-để-trị như cuộc giày xéo đất nước. Người Igbo ở miền Nam có đầu óc mở, họ giỏi giang, tư duy mở cửa và hơn hết, có lí tưởng chủ nghĩa xã hội khá mạnh. Điều này dội ngược một phản lực lớn lên Đế quốc nơi mặt trời không bao giờ lặn, khi cả Churchill hay Người đàn bà Thép sau này luôn cố gắng lèo lái đất nước mình tránh xa khối Liên Xô chủ nghĩa xã hội. Từ đây, thực dân Anh đứng sau như một cú đẩy, gieo vào đầu người Hausa ở miền Bắc và Yoruba ở miền Tây đầy những nghi kị về sự lớn mạnh và hiếu chiến của người Igbo như mối đe dọa, dẫn đến cuộc tàn sát không thể ngờ tới ở đất nước này. Với Nửa mặt trời vàng, Chimamanda Ngozi Adichie đã thành công khi khắc họa một cách gần như trọn vẹn những biến chuyển lịch sử, nhưng cũng đồng thời qua đó, ta thấy đằng sau là số phận của nhiều loại người: từ thế mạt hạng đến trung lưu, từ chỉ lo cái ăn đến lí tưởng cao vời chủ nghĩa xã hội,… Tất cả xuất hiện trong Nửa mặt trời vàng như những bậc thang đi đến đích đến nhân loại, nhưng liệu bạn có bao giờ tự hỏi, nửa mặt trời vàng còn lại vẫn đang ở đâu?

Phơi bày lý tưởng

Trong Nửa mặt trời vàng, Adichie có lối xây dựng nhân vật vô cùng đặc sắc khi cô phá bỏ hầu hết chuẩn mực trong tiểu thuyết văn chương mang yếu tố Phi châu mà người da đen thấp cổ bé họng luôn bị áp bức còn người da trắng cao xa mãi luôn trôi dạt. Điển hình là Richard – nhân vật được cô gán cho nguồn gốc London nhưng vì yêu cái đẹp của gốm bản xứ vùng Biafra ôm mộng ở lại. Adichie khắc họa Richard như người da trắng nhợt nhạt, mang trong mình cơn ủ ê trầm kha và quá mong manh để trở thành một ông chủ ngoại quốc: “Chàng cảm thấy mình yếu đuối quá, cái yếu đuối vì bệnh tật và vì tiếc nuối mất mát”. Không phải vô cớ khi Adichie xây dựng một nhân vật như thế, mà ở phía đối trọng bên kia, cô xây dựng Keanne – người Richard ôm mộng yêu đương – cứng rắn và trầm lắng đến không tưởng. Bỏ qua chủ nghĩa nữ quyền hay lòng tự tôn dân tộc ở đây, rõ ràng việc chọn nhân vật của Adichie là có chủ ý và hướng tác phẩm sang một lề thói khác, ở đó người phương Tây mang thứ ảo danh văn minh nhưng đầy bất lực thời cuộc và thoi thóp trong cái nhỏ nhặt nhất có được là người; trong khi những người bản xứ vẫn luôn bí ẩn như chính nơi họ xuất xứ, dẫu cho còn đó là những nhiễu nhương, những xung đột luôn âm ỉ cháy: “Tôi là người Nigeria vì một gã da trắng sáng tạo ra cái tên ấy rồi cho tôi cái tông tích ấy. Tôi đen bởi vì một anh da trắng xây dựng khái niệm màu đen để làm sao nổi bật sự khác biệt với cái màu trắng của hắn”.

Adichie không chỉ là một tiếng nói đơn lẻ, mà cô tổng hòa đầy đủ ý chí cả một thời đoạn vào trong tiểu thuyết mình. Cô không che giấu bất cứ điều nào mà tự do vạch trần những nhiễu nhương của xã hội lúc ấy, không chỉ phiến diện trong thế đối đầu với người phương Tây, mà ngay cả trong chính nội bộ những người bản xứ với nhau. Như thể khi xây dựng hình tượng Ugwu hay Harrison, cô không che giấu bản tính kịch cỡm của họ, không cố khoác lên họ màu da đen bóng để rồi đánh đồng tâm trí của họ cũng như người khác. Ugwu mang trong mình đầy những ý nghĩ trưởng giả trong khi Harrison luôn trong tâm thế sính ngoại, nấu những món Tây đến độ quên mất hương vị bản xứ; và cũng là tâm lý của vợ chồng Ezecka – những người Phi châu hưởng lợi từ bộ máy ăn bám chính quyền Nigeria. Họ biến chất đến độ Anulika – em gái Ugwu một lần phải thốt lên rằng: “Anh quên nguồn gốc xuất thân của anh rồi, bây giờ anh trở nên ngu đến nỗi anh tưởng mình là một Ông Lớn đấy”. Cách đối xử giữa những người bản xứ với nhau được phơi ra như tiếng nói mạnh mẽ về chủng tộc mình, không hề che đậy dẫu cho đó hoàn toàn là những điều muốn quên. Adichie thật sự là một cây bút mạnh mẽ, một điều mà không phải ai cũng dễ dàng mang ra trước ánh sáng của những phán xét, đánh đồng và quy chụp.

“Ugwu mang trong mình đầy những ý nghĩ trưởng giả trong khi Harrison luôn trong tâm thế sính ngoại, nấu những món Tây đến độ quên mất hương vị bản xứ;”

Không những thế, Adichie cũng lần mò mang đến lí tưởng của thế hệ tinh hoa như hướng nhìn ngược lại của những kệch cỡm trên kia. Adichie, lại một lần nữa, rất khéo trong cách chọn nhân vật, cô không ra chợ để rồi mang hết đầy đủ những người ngoài ấy vào trong tiểu thuyết mình; cũng không cố gắng xây dựng một nhân vật hoàn toàn tốt hay xấu; mà cô chọn lựa để rồi góp nhặt những gì tiêu biểu nhất. Onegdibo, Olanna và những người bạn giáo sư – tiến sĩ những tối hội họp trong mùi Brandy cùng món súp ớt của Ugwa một phần nào đó đưa ta về lại những năm 40 trong Cuốn sổ vàng của Doris Lessing. Ở đây họ cùng nhau uống, cùng nhau bàn luận và dấn thân vào cuộc nội chiến của đất nước mình. Họ tranh cãi, ca ngợi, phỉ báng lẫn nhau. Trong một nhóm nhỏ, Adichie lại vặn xoắn cây bút của mình biến họ thành ra những nhóm nhỏ hơn, ở thế đối đầu hay là quy phục để không rào trước đón sau, dẫn hướng người đọc mà cố gắng công tâm nhất, đa chiều nhất, phơi ra lý tưởng cùng luồng suy nghĩ vào thời khắc ấy. Trong những ngày thấp thỏm bơm rơi ở Nsukka ấy, tầng lớp tinh hoa cũng đồng thời phân tán lý tưởng của họ, về nội chiến, về hướng đi và về chủ nghĩa xã hội. Onegdibo như hiện thân cho những lý tưởng Cách mạng ở thời điểm này, khi:  “Làm sao chúng ta có thể chống lại sự bóc lột nếu chúng ta không có phương tiện chúng giúp ta hiểu thế nào là bóc lột?” Một lần nữa phải nói rằng, Adichie mang đầy vẻ gai góc trong ngòi bút riêng mình khi phơi ra hết những lý tưởng của thời khắc ấy, một cách rõ ràng và đầy thuyết phục.

Doris Lessing của chủ nghĩa chiết trung

Một điểm cũng được đề cập và không khó để nhận ra trong tiểu thuyết này là chủ nghĩa nữ quyền. Nữ quyền của riêng bản thể người da trắng đã đủ phức tạp, đằng này là người da đen trong bối cảnh bị chiếm đóng lại mang vẻ chông chênh gấp bội phần hơn. Aidichie xây dựng hình tượng hai chị em song sinh Keanne và Olanna cũng đầy tính toán ở hai con đường mà họ chọn đi. Nếu Olanna mỏng manh, yếu đuối và đầy học thức mang nhiều tính nữ; thì ở chiều ngược lại, Keanne lại mang bản tính hoang dại như một đại diện phù hợp cho người bản xứ. Không quá sa đà vào trong bối cảnh tưởng như đã đủ thu hút, Adichie xây dựng số phận của hai chị em họ đầy những trúc trắc đến nỗi, với Nửa mặt trời vàng, ta dễ tách riêng nó thành hai phần: một bên dã sử nội chiến và phía bên kia là tiểu thuyết tình yêu đương thời. Nói thế không có nghĩa cô tham lam khi mang quá nhiều vào trong Nửa mặt trời vàng, mà với cuốn tiểu thuyết này, Adichie đã chứng minh được khả năng làm chủ và chi phối tình tiết. Những trúc trắc trong cuộc đời hai người phụ nữ ấy nhịp nhàng trôi theo dòng chảy lịch sử. Trong những biến động của đất nước mình, họ cũng đồng thời nếm trải đầy đủ hương vị yêu đương: từ ngọt ngào, hăng say đến đắng cay, tội lỗi; từ khinh thị, xem thường đến thiêng liêng, nâng đỡ,… Adichie rõ ràng ý thức được thiên mệnh của mình trong tiểu thuyết này, khi cô không chỉ là người Nigeria mà còn là một phụ nữ. Cô thể hiện tính nữ ở riêng hai bản thể khác nhau, nhưng bằng cánh gán ghép song sinh, nó vẫn nằm trong một con người. Nếu Olanna ngập ngụa trong thứ men tình dẫu bị phản bội không chỉ một lần, thì Keanne vượt lên như thứ bản năng mạnh mẽ vốn có của xứ sở này. Cô nói đôi lần trong cuộc tình mình: “Anh đã lầm khi nghĩ là tình yêu không còn chỗ cho những chuyện khác. Rất có thể người ta yêu một cái gì đó nhưng vẫn khinh thị nó”. Keanne vờn quanh Richard, cô ý thức và hiểu rõ được tình cảm của mình, nhưng một điều rõ ràng rằng: cô khinh thị anh, khi anh bất lực, khi anh dẫu cho đã ngủ với Olanna,… nhưng cũng đồng thời, cô trân trọng và quý mến anh. Adichie lại một lần nữa tự mình ngập sâu vào trong thứ bùn hiện sinh, không chỉ đồng thời kéo chính cô xuống, mà song song đó là những người đọc quăng mình theo cô.

“Nữ quyền của riêng bản thể người da trắng đã đủ phức tạp, đằng này là người da đen trong bối cảnh bị chiếm đóng lại mang vẻ chông chênh gấp bội phần hơn.” 

Ở một mặt nào đó, Adichie đạt đến thành tựu ngang ngửa Doris Lessing khi là một trong hai người phụ nữ kể câu chuyện thời đoạn trong căn phòng của riêng mình. Cùng viết về những biến động đời sống, về chủ nghĩa xã hội và thứ chủ nghĩa nữ quyền đôi khi cực đoan; Adichie mang đến người đọc một phiên bản khác của Cuốn sổ vàng nhưng trần trụi và giản tiện hơn. Nếu Doris Lessing chọn nước Anh thập niên 50 và Anna Wulf như một “phụ nữ tự do” đam mê lý tưởng Cộng sản, thì Adichie lại chọn Nigeria thập niên 60 và Olanna hay Keanne đầy nét bản xứ. Nếu Doris Lessing chọn châu Phi những năm 40 nơi nhóm phù phiếm đi tìm bản thể chính mình, thì Adichie lại chọn chính phòng khách ở Nsukka như nơi tầng lớp tinh hoa bấy giờ tụ họp. Duy điều khác là với Cuốn sổ vàng, Doris Lessing tự bản thân không sở hữu một bối cảnh biến loạn tự mình cuốn hút người đọc như Nửa mặt trời vàng, do đó bà chủ yếu đi sâu vào khai phá những hỗn loạn xoay vần trong tâm trí Anna. Còn Adichie, bản thân vốn sẵn phân thân giữa hai mặt chính: một bên là những bối cảnh và phía bên kia tâm lý nhân vật, rõ ràng không thể đào sâu một cách đầy đủ như Doris. Nhưng dẫu thế nào đi nữa, Adichie cũng đã ghi tên mình vào danh sách những người phụ nữ với một bút lực vô cùng mạnh mẽ, vừa thể hiện bản thân, vừa là tiếng nói thời đoạn.

Hiện thực đời sống

Doris Lessing từng viết trong Cuốn sổ vàng: “Hiện thực là một khẩu súng và nó sẵn sàng bắn hạ bất cứ ai cản trở tiến trình của nó”, và rõ ràng với Nửa mặt trời vàng, Adichie đã không sử dụng hiện thực như một khẩu súng, mà vốn chính bản thân nó đã mang đầy đủ bất hạnh của thứ dịch tả ghé ngang. Bản thân cuốn tiểu thuyết mang trong mình một câu chuyện lớn – câu chuyện về những xung đột tôn giáo, tín ngưỡng, lí tưởng được che giấu dưới bàn tay thực dân Anh làm nên một cơn thảm sát cuồng loạn. Nội chiến Nigeria mà Adichie khắc họa rõ ràng là thứ ai cũng muốn quên, được cô phản ánh một cách thật nhất nhưng cũng sống động nhất. Tương tự Alice Hoffman trong Những người nuôi giữ bồ câu khi khắc họa lịch sử Israel cổ đại đương lúc hơn 900 người Do Thái cổ thủ trong pháo đài Masada bị thảm sát bởi quân La Mã, Adichie cũng viết nên những điều tương tự. Nạn đói, giết chóc, diệt chủng, tất cả hiện lên rõ ràng như những thước phim quay chậm, đôi dòng mà cô viết miêu tả nạn đói không thể không khiến chúng ta nản lòng: “Mùi hôi thối của những thân thể không được tắm rửa và mùi thịt rữa trong những hố huyệt nông choèn choẹt đằng sau dãy nhà càng lúc càng nồng nặc. Ruồi bâu quanh những vết lở loét trên người trẻ con. Rận và kwalikwata bò khắp nơi; đàn bà thỉnh thoảng kéo mấy tắm khăn quấn của mình để lộ những vết đỏ do bị rận cắn xung quanh eo của họ, giống như những nốt phát ban rỉ máu.”

Đứng cùng hàng ngũ với Rohinton Mistry trong Cân bằng mong manh khi phơi bày nhân quần quá nhiều biến động, Adichie tự mình đưa ra tiếng kêu xé lòng ra ngoài thế giới. Cô viết về một Phi châu không hẳn chỉ có nội chiến, đói nghèo và những đứa trẻ suy dinh dưỡng; mà còn hơn thế, cô như đối thoại với thế giới ngoài kia cách con người ta nhìn nhận lẫn nhau giữa những sinh thể ngang hàng, giữa những yêu thương đồng loại, như tựa đề quyển sách mà Ugwu viết sau này trở thành Nửa mặt trời vàng: Thế giới im lặng khi chúng ta chết. “Thế giới phải biết sự thật về những gì đang xảy ra bởi họ không thể lặng thinh trong khi chúng tôi chết”. Rồi như một sự buông xuôi bất lực sau những tính toán lột sạch bản thể con người, Adichie buông bút đầy mỏi mệt: “Nhưng liệu đó có phải là toàn bộ giá trị của sự sống còn? Rằng đời sống là trạng thái phủ nhận cái chết?” rồi cuối cùng cười gằn trong nỗi bất lực: “Cái tên bây giờ nghe như một sự giễu cợt. Chidiebele: Chúa nhân từ”. Adichie rõ ràng đã vô cùng thành công khi không những kể được câu chuyện mang nhãn “cấm xuất khẩu” của đất nước mình ra ngoài thế giới, mà còn thành công hơn thế khi đưa được tiếng nói của cá nhân mình, đưa được góc nhìn của toàn thế giới đối với một Biafra nhỏ bé ra ngoài công luận. “Nạn đói là vũ khí của người Nigeria trong cuộc chiến. Nạn đói đánh gục Biafra và mang danh tiếng đến cho Biafra, làm cho Biafra trường tồn như quốc gia này đã tồn tại. Nạn đói khiến mọi người trên thế giới chú ý và biểu tình phản đối ở London, Moscow và Czechslovakia. Nạn đói làm Zambia, Tanzania, Bờ biển Ngà và Gabon công nhận Biafra. Nạn đói đã đưa châu Phi vào trong cuộc tranh cử của Nixon […] Nạn đói thúc đẩy những cơ quan thiện nguyện mang thực phẩm bằng máy bay đến Biafra [..]. Nạn đói thúc đẩy nghề chụp ảnh. Và nạn đói làm Hội Chữ thập đỏ Quốc tế gọi Biafra là cuộc cứu trợ nguy hiểm nhất kể từ Thế chiến thứ Hai.”

Kết

Với Nửa mặt trời vàng, ngòi bút Adichie như lưỡi dao phá tan bụi rậm, mà ở đó hiện thực mang trong lòng phôi thai những tâm tính nhân quần được đưa ra ngoài ánh sáng. Adichie đã chứng minh được tài năng của mình, khi mượn một bối cảnh quá nhiều hỗn loạn của Nigeria để làm bật lên trong đấy là chủ nghĩa nữ quyền, là những lý tưởng chủ nghĩa xã hội và trên hết, là cách chúng ta đối xử với nhau. Adichie sử dụng hình ảnh bé gái đã chết với đôi mắt to tròn trắng dã, tết mái tóc bím được đặt trong chiếc bầu gỗ có những họa tiết đan chéo; như ngầm ngụ ý nói rằng, trẻ thơ – thứ bản tính hiền lành và thánh thiện nhất, cũng đang chết dần chết mòn trong lớp vỏ của chiến tranh hận thù. Rõ ràng như một nhận định, Nửa mặt trời vàng có số mệnh của một tác phẩm kinh điển, thì Adichie với tài năng của mình, cũng có số mệnh nối tiếp và trở thành một Doris Lessing thứ hai với tiếng nói dân chủ, nữ quyền khoét sâu vào lòng thế giới.

Hết.

Ngô Thuận Phát


Đọc những bài viết của Ngô Thuật Phát.


1 Comment

1 Bình luận

  1. Trần Văn Quốc Việt

    Tháng Chín 11, 2019 at 2:33 sáng

    Quan tâm, bữa nào đọc xong sách sẽ zô đọc bài :3

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Giành lại không khí sạch: Chỉ ngu ngơ mới biết cười

Giành lại không khí sạch phổ quát, lý thú nhưng đầy gần gũi về cách chúng ta sống, cách ta đối xử với mẹ thiên nhiên, với bầu khí quyển; để thông qua đó, lựa chọn hành động của mỗi một người là rất vô cần thiết.

Published

on

London. Thập niên 1890s. “Họ lái xe giữa những hàng rào cây táo gai và cây phỉ, dọc theo những con đường ngoằn ngoèo giữa rừng cây sồi, bạch dương và thủy tùng nhô cao. Philip đã cảm nhận được sự thay đổi trong không khí khi đoàn tàu chạy ra khỏi dãy nhà ở London. Ở nơi này, ta có thể nhìn thấy cái rìa của làn khói ám đen ấy. Ở đây, nó không tệ như bầu không khí đen đặc đầy mụi than và hóa chất nóng chảy tràn từ các ống khói nhô cao và lò nung gốm ở Burslem. Phổi cậu căng tức và quá mệt mỏi. Olive và Tom không coi không khí trong lành là điều hiển nhiên. Họ thốt lên một cách đầy trịnh trọng về việc làm sao để thoát ra khỏi bụi bẩn. Philip cảm thấy nhơ bẩn khắc sâu trong cậu”. [1]

London. 2018. “Qua việc không hành động một cách khẩn trương và hiệu quả nhất có thể, cũng như không thực hiện mọi biện pháp có thể để làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và gia tăng tuổi thọ, chính phủ Anh Quốc đã thất bại trong việc hoàn thành nghĩa vụ bảo vệ tính mạng, sức khỏe và sự phát triển của trẻ em trong phạm vi và quyền hạn của mình”. [2]

*

Kể từ khi A. S. Byatt làm cuộc khảo cứu ngược về lịch sử thời hậu Victoria cho đến khi chính quyền Trump bỏ lơ hoàn toàn hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu, đã hơn 120 năm trôi qua, thế nhưng, những bóng đen ám khói, những thần chết vẫy gọi vẫn không ngừng nhe nanh múa vuốt trước số phận con người. Tự trong bản chất, khả năng kháng cự và nhận biết hiểm nguy đã tắt lịm đi theo dòng thời đại; từ hư vô khi loài homo sapiens thận trọng dùng lửa, đến thời 4.0 của Internet, của AI hay machine learning thì loài homo deus ấy cũng "tiến hóa" hơn hẳn, khi không sợ lửa, sợ khói và hẳn nhiên không còn sợ cả không khí mà chúng hít phải.

Là một bước tiến hay bước đường lùi? Chẳng ai biết được. Chỉ biết không khí thời còn là sapiens đã trôi rất xa từ khi trở thành giống loài deus. Với Giành lại không khí sạch, Tim Smedley như gã chép sử bơ vơ hiu quạnh ở thời chuyển tiếp, ghi trên đất sét sa thạch một bản tóm lược bầu không khí này, để loài deus hàng triệu năm sau vẫn còn biết được từng bước diễn tiến của bầu không khí thủa còn bốn biển năm châu. Nhưng đến cuối cùng, điều gì đã khiến chúng tệ như thế? Những kẻ giấu mặt, làn khói mong manh và hơn 18.000 người chết mỗi ngày vì không khí ô nhiễm?

Màn khói mù ở Bắc Kinh, nơi tỉ lệ ô nhiễm hạt nhỏ cao gấp 40 lần so với mức tiêu chuẩn an toàn quốc tế.

NHỮNG SỰ THẬT MÔI TRƯỜNG KHÓ CHỊU

Tim Smedley mở đầu Giành lại không khí sạch bằng một trong những mệnh đề vô cùng quen thuộc khi nhắc đến các vấn đề về phát triển bền vững, rằng anh chỉ quan tâm đến chúng khi con cái mình chào đời. Dễ thấy, không khí ô nhiễm như tên sát nhân mang bộ áo giáp vô hình trong tiểu thuyết của H. G. Wells - chúng tàng hình, khó nhận biết nhưng đầy hiểm nguy. Người trưởng thành dường như luôn mang trong mình những tập ý niệm đầy tính trẻ thơ, mà niềm tin về bầu không khí trong lành của 10 hay 20 năm trước chưa hề biến đổi là một trong số đó. Chỉ cho đến khi những chuyển giao thế hệ, những sợi dây liên kết đậm tính máu mủ ruột rà một lần xuất hiện, thì kể từ đó ta mới chú ý để rồi nhận ra cái áo giáp ấy không hề kiên cố như ta vẫn nghĩ.

Và điểm yếu đầu tiên của bộ đồ ấy mà Tim “vô tình nhìn thấy” là ở những tít báo bán chạy hàng ngày ở Anh. Có thể nói ở thời đại mở, nơi thông tin tràn ngập và được thu gom như những vụ mùa bội thu, thì mạng xã hội đóng vai trò vô cùng trọng yếu cho những cuộc vạch trần. Nếu trước đó Trung Quốc từng xóa trắng những dấu hiệu ô nhiễm không khí đầu tiên bằng cách yêu cầu Đại sứ quán Mỹ - nơi gắn những cảm biến không khí nhằm phục vụ cho nhân viên của mình – ngưng đăng trên tài khoản Twitter những số liệu cảnh báo; thì chính quyền Delhi của Ấn Độ cũng tương tự thế, khi phủ nhận hoàn toàn ảnh hưởng của nền ô nhiễm đối với sức khỏe, hay càng vô lý hơn nữa khi một mực cho rằng ô nhiễm môi trường chỉ do khí tượng. Thế rồi rốt cuộc, liệu những che giấu của chính phủ về vấn đề này nhằm mục đích gì hay cốt lõi của chúng nhằm phục vụ ai?

Đội tuyển cricket Sri Lanka có triệu chứng nôn mửa, khó thở vì không khí ô nhiễm khi thi đấu tại New Delhi (Ấn Độ) dù đã đeo mặt nạ chống ô nhiễm.

Với một câu hỏi nửa gây khó chịu, nửa gây tò mò, Smedley với vị thế là một nhà báo độc lập không bị tác động bởi lợi ích nhóm hay bởi đảng phái chính trị đã có cái nhìn khách quan, tổng hợp và thấu suốt về toàn bộ vấn đề này. Lần ngược trở về thời Đại sương mù London năm 1957 đến ngày tận thế năm 2013 của chính quyền Bắc Kinh, ta thấy quan hệ rường cột về mặt kinh tế luôn luôn phủ khắp vấn đề môi trường.

Đứng trước làn đại sương mù năm 1957 bởi than sưởi mùa đông cùng với hiệu ứng nghịch nhiệt, thay vì hành động dứt khoát và thật nhanh chóng, Churchill lại cho rằng cần xem xét thêm quy mô rộng lớn của nền kinh tế trước tác động nhỏ (hay không đáng kể) về mặt môi trường. Sự im lặng của người đứng đầu ở các chính phủ cũng như xung đột lợi ích của rất nhiều bên chỉ biến công dân thành những đàn cừu mặc người chăn thả; để rồi từ đó kết hợp với lối “bế quan tỏa cảng” ở mạng Internet mà Trung Quốc tha hồ o bế, cấm luôn Twitter hay Ấn Độ còn phũ hơn thế, một mực cho rằng khói bụi độc hại tương ứng với khi hút hơn 50 điếu thuốc một ngày vẫn còn chưa tệ bằng cuộc tuyệt diệt thảm họa Pol Pot.

Hơn thế nữa, sự bao che của chính phủ đối với hãng Volkswagen trong việc sản xuất thiết bị triệt tiêu khí thải trong bài thử nghiệm trở thành bê bối không thể dung tha. Dĩ nhiên ta dễ mà suy ra rằng, Volkswagen trong trường hợp này chỉ như anh cả đứng mũi chịu sào, mà trong khu phức hợp chịu trách nhiệm tầm soát ô tô ấy, có hàng tá hàng tá thương hiệu từ Fiat, Subaru đến Peugeot hay Renault. Nực cười hơn nữa khi scandal đã lở vỡ ra, thì chính Volkswagen đã vay một khoản 400 triệu euro từ Ngân hàng đầu tư châu Âu nhằm để phát triển động cơ tuân thủ tiêu chuẩn phát sinh khí thải ngày càng nghiêm ngặt!? Đi suốt đi lui như một vòng luẩn quẩn, và dĩ nhiên, con người luôn là trung tâm toàn bộ mọi thứ.

Thế nhưng cũng không hẳn thế. Một ưu điểm khác của Giành lại không khí sạch là Tim Smedley đã đứng dưới một vai trò của người quan sát – người xin đi lại từ đầu – để đến với những khái niệm thật cơ bản nhất, thật ngọn nguồn nhất; mà một trong số đó là bản chất của tên sát nhân vô hình - ở đây xin được tạm gọi là PM2.5. Dĩ nhiên trong một đám khói ta vẫn hít vào luôn luôn chứa đựng những loại khí khác mà có thể là NOx, VOC, SO2, CO2,… Chúng có thể từ trong vòm cây hoặc từ việc đốt rơm rạ (VOC), cũng có thể là từ núi lửa hoặc đốt nhiên liệu hóa thạch (SO2). CH4 và NH3 thì từ hoạt động chăn nuôi nông nghiệp để lý giải vì sao nước tiểu bò vẫn có thể gây ra ô nhiễm còn O3 từ trong những sự kết hợp giữa NOX với VOC trong ánh sáng. Những cặp tác nhân đều chứa đựng yếu tố tự nhiên và yếu tố người, dĩ nhiên con người luôn luôn phá vỡ và nghiêng cán cân về phía bên mình.

Trong số những hợp chất trên, PM2.5 là vô cùng nhỏ so với kích thước của một cọng tóc và có khả năng vô hiệu hóa toàn bộ khả năng cản bụi ở những cơ quan vốn dĩ sinh ra cho công việc này. Nan giải ở chỗ, ta không thể nào giải quyết toàn bộ vấn đề. Bởi khi giảm xuống nồng độ NOx thì NO2 sẽ liền tăng lên; tương tự như thế, khi giảm PM20 lập tức PM kích thước nano sẽ lại chiếm chỗ. Chì, PM, mất cân bằng oxy gây nên hệ quả không thể không thấy ở ngay trước mắt, để mà nói ra chỉ như sấm truyền cho một cuộc sống đã đến hồi kết, với mất trí nhớ, suy tim, đột quỵ, ung thư, máu không đông, Parkinson, thiếu máu cục bộ và hàng hà sa số những căn bệnh khác.

NHỮNG VÙNG SÁNG ẢM ĐẠM

Nói thế cũng không có nghĩa mọi việc chỉ đang lao đi xuống dốc không thấy đường ra. Trong khi các giải pháp về điện khí hóa đang được cân nhắc và những sản phẩm đầu tiên đã được thành hình; thì kể từ khi sự kiện Olympic Bắc Kinh 2008 đến nay, ngày tận thế vì không khí ô nhiễm đã được khắc phục rõ rệt, với hàng tá những giải pháp như công khai chỉ số môi trường, tái tạo những vành đai xanh hay đóng cửa hoàn toàn những nhà máy nhiệt điện than, sản xuất thép dù cho chưa đi vào hoạt động, mới vừa hoạt động hay đã từng hoạt động… Những chính sách mạnh tay của chính quyền Trung Quốc đã cho thấy cách đối đầu đối với khủng hoảng vô cùng trực diện.

Hơn thế nữa, khi Trump phủ nhận hoàn toàn hiệp ước Paris (chắc hẳn ai đó đã cho ông uống thứ thuốc Dylar của DeLillo trong Tạp âm trắng để mà chế ngự được nỗi sợ chết) thì vé miễn thi hành luật của California đã như ống phễu ngày càng tăng thêm tiêu chuẩn phát thải khí thải. Cùng lúc đó, Paris triển khai hệ thống Velib – xe đạp cho thuê, ngày không xe hơi, tăng lên số lượng làn cho xe đạp hay việc dán nhãn mức độ xả thải, cấm diesel đến năm 2025… đã biến Paris thành nơi đáng đến. Không dừng ở đó, Tesla, BMW, Volvo… cũng đang phát triển phương tiện hoàn toàn bằng điện, mà pin lithium-ion sử dụng cho loại xe này và cách xử lý sau khi hết hạn cũng là vấn đề hết sức nan giải.

Mặt khác, dịch vụ dùng chung xe điện Maas ở Phần Lan đã đại diện cho câu slogan "xe điện hoàn toàn tuyệt vời, nhưng ít xe điện hơn càng tuyệt vời hơn". Hệ thống BRT ở Mexio, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran cũng đã mang đến lợi ích đáng kể. Thêm vào đó, Stefano Boeri – kiến trúc sư người Ý với lối kiến trúc rừng thẳng đứng ở những tòa nhà bê tông cốt thép – đã góp tính thiên nhiên vào cảnh quan thành phố. Thế nhưng xung đột văn hóa vẫn luôn còn đó, khi  Leban không có dịch vụ công cộng, giao thông Delhi tuân theo đẳng cấp, thói quen tắm hơi ở Hà Lan, tiệc nướng ngoài trời ở Úc hay dịp bắn pháo hoa vào lễ Diwali… Tất cả cho thấy giải quyết ô nhiễm không khí không khi nào là công việc dễ dàng.

*

Với Giành lại không khí sạch – Sự khởi đầu và kết thúc của ô nhiễm khí quyển, Tim Smedley bằng một khởi đầu vô cùng cơ bản đã khái quát hóa một trong những vấn đề rất đáng quan ngại mang tính toàn cầu. Từ những khởi đầu với các khái niệm vô cùng cơ bản đến cuộc vạch trần những mối xung đột trong việc giải quyết ô nhiễm không khí, từ lời cảnh báo đủ thứ căn bệnh đến những điểm sáng của sự nổ lực; Giành lại không khí sạch phổ quát, lý thú nhưng đầy gần gũi về cách chúng ta sống, cách ta đối xử với mẹ thiên nhiên, với bầu khí quyển; để thông qua đó, lựa chọn hành động của mỗi một người là rất vô cần thiết. Rất đáng trải nghiệm.

Hết.

Ngô Thuận Phát

Chú thích:

  1. Truyện trẻ con – A. S. Byatt.
  2. Báo cáo của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc.

*

Những bài viết về Giành lại không khí sạch:


Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đường xưa mây trắng: Khi trí tuệ và từ bi mở lối cho lý tưởng, tình yêu và tuổi trẻ

Published

on

By

Gấp lại cuốn sách và bạn sẽ cảm thấy tình yêu mến dành cho Đức Phật dường như được mở rộng ra nhiều. Tình yêu mến đó không bắt nguồn từ lòng ngưỡng mộ, lòng tôn kính dành cho bậc vĩ nhân ta thường thấy, mà từ “cái thấy” của ta dành cho Đức Phật, thấy Người cũng tồn tại trong ta, thấy hình như Người đã nói lên những gì mà ta đã trải qua và trăn trở, thấy Người thật hiểu ta quá.

Như mọi khi, hãy thở ba hơi thở, buông bỏ hết những kiến thức về Phật Giáo mà mình đã tiếp nạp, rồi đón nhận “cơn mưa pháp” giàu tình thương và chân lý, và tiến bộ thông qua hành trình ngược về 2,600 năm trước: nối gót bước chân của người đã làm thay đổi thế giới mãi về sau.

Dành cho những ai đã biết, đã đem lòng kính trọng Đức Phật, đây là cuốn sách để bạn yêu thương Người theo một cách khác: Người sẽ là Bụt, là người thầy, người nghệ sĩ, người cha, người anh em, và là người bạn. Một người bình thường có tính cách, có sức khỏe, có tư duy như bao người bình thường khác. Một người làm nên điều kỳ diệu không cần phép thần thông, cũng không có hào quang tỏa chiếu. Và mình cũng thấy mình làm được những điều kỳ diệu đó. 

Dành cho những ai chỉ mới nghe danh mà chưa tìm hiểu, đây là cuốn sách để bạn tiếp cận với nguồn gốc của Phật Giáo - Đạo Phật nguyên thủy, với triết lý căn bản của Đạo Bụt được Sư Ông truyền đạt cặn kẽ và dễ hiểu. Và bạn sẽ tìm được thêm cho mình những người bạn mới - Bụt và các đệ tử của Ngài. Rồi bạn sẽ hiểu thêm về các quốc gia tôn giáo, nơi mọi thanh niên đều có thể phát nguyện xuất gia ngay từ khi còn trẻ, khi so sánh với những nước chỉ chấp nhận vào đường đạo sau khi đã qua các đỉnh cao cuộc đời. 

Nếu cần phải phân loại, mình sẽ gọi Đường xưa mây trắng là tiểu thuyết lịch sử. Là thể loại truyện hư cấu dựa trên những điển tích trong cuộc đời Đức Phật. Sư Ông Làng Mai chọn yêu mến Đức Phật như một con người, và vì vậy, xây dựng nhân vật về Người cũng có tính cách, có cảm thọ, có nhiều trăn trở bất an, có sự quyết tâm cũng như gặp những khó khăn phàm tục. Trong Đường xưa mây trắng không có Bồ Tát, không có ngạ quỷ, phạm thiên, không có cõi ta bà hay các nhân vật dùng thần thông như những bài kinh của Đại Thừa. Nhưng điều tuyệt nhất của Sư Ông là đã phác họa nên nhân vật Bụt rất thật, như đã từng được gặp Bụt và sống cùng Người.

“Tôi đã viết những chương của Đường xưa mây trắng với rất nhiều hạnh phúc... Mỗi ngày viết mấy giờ cũng như được ngồi uống trà với đức Thế Tôn.”

Truyện có 81 chương, chương nào cũng được lồng ghép một bài kinh, một pháp môn ra đời khi Bụt còn tại thế. Hoặc một câu chuyện của Bụt thu phục một vị đệ tử mới. Độc giả có thể thuận tiện tra cứu lại tóm tắt và điển tích của các chương này ở phần Mục lục cuối sách.

Ta cũng có thể làm điều tương tự

Đường xưa mây trắng xuất bản lần đầu tiên vào năm 1988, năm đó độc giả Việt đâu đã quan tâm nhiều đến sách kỹ năng, đến những buổi nói chuyện truyền cảm hứng, đến tu thân hay phát triển bản thân. Việc kể lại cuộc đời của Bụt như một người bình thường đem lại lợi lạc không thua gì nhiều chương trình truyền lý tưởng sống cho tuổi trẻ. Bạn sẽ đặt xuống những phép màu, những tôn sùng bậc thánh nhân, mong cầu siêu sanh vào thế giới phương Tây mà chính bạn khó lòng chứng nghiệm trong kiếp sống này. Bạn sẽ cầm lên ba viên ngọc quý gọi là Tam Bảo để xây nền cho con đường mà bạn chọn, cho dù là con đường nào, chỉ cần có từ bi và trí tuệ, bạn vẫn sẽ đi thật tự tin, vững chãi, và thong dong.

Mình thấy thích những lần thay đổi điển tích điển cố khéo léo và hợp lý của Sư Ông nên xin phép chia sẻ một vài câu chuyện dưới đây.

  • Chuyện kể rằng khi ngồi tọa thiền dưới gốc cây vào buổi đêm khuya, nhiều lần Bụt đã bị vây hãm và cám dỗ bởi Diêm Vương và bầy nữ quỷ. Đối với Bụt trong Đường xưa mây trắng, chẳng cần Diêm Vương, chẳng cần ngạ quỷ hiện hình, một chiếc lá rơi và tiếng xào xạc của động vật trong rừng cũng làm Người thót tim. Thần thông của Bụt lúc này là khả năng chiến thắng nỗi sợ hãi và khả năng giữ cái định cho thật lâu, thật đều.
  • Điển tích cho rằng Chư thiên đã xuống khẩn cầu Bụt đừng nhập Niết Bàn ngay mà hãy ở lại hóa độ những gì Ngài biết cho chúng sanh. Vì sau cái đêm giác ngộ dưới cội bồ đề, Ngài nghĩ rằng con đường giải thoát khó như vậy, làm sao chúng sanh có thể lĩnh hội được. Nhưng động lực ban đầu để Ngài quyết rời bỏ cuộc sống vương giả là nhìn thấy cảnh sinh, lão, bệnh, tử của dân chúng. Ngài thấy khổ vì không làm gì được cho người ta hết khổ, vậy sao giác ngộ rồi, Ngài lại phải do dự nhập Niết Bàn hay không? Bụt của tác phẩm đã bắt đầu con đường hoằng pháp ngay sau đêm thành đạo.
  • Có nhiều trong các mối quan hệ, những người đem lại cho ta thọ cảm đặc biệt mỗi khi tiếp xúc. Như mình thích kể chuyện với người này vì họ rất biết cách lắng nghe, hay mình thích thảo luận với người kia vì họ phản biện tốt. Còn cô bé Sujata thì bỗng một hôm lại thấy Bụt có gì đó khác lạ, và nhìn ngài, cô cảm tưởng như mọi nhọc nhằn lo lắng trên cuộc đời này không còn to tát nữa. Cô thấy lòng mình vui như một ngọn gió xuân. Niềm an lạc và thanh tịnh của Bụt, đâu có cần phép màu mới được tỏa chiếu.
“Bụt có rất nhiều trí tuệ, rất nhiều từ bi, tại sao Bụt không dùng mà lại phải dùng thần thông?”

Điều phục cái tôi và chuyển hóa khổ đau

Cái khổ tâm trong đời sống thường ít khi được coi trọng. Người ta đặt mục tiêu, bắt tay vào làm, rồi nhìn tới kết quả, chứ đâu có quán chiếu tâm mình vui buồn ra sao. Vậy mà giai đoạn điều phục thân tâm trước khi khởi sự lại là yếu tố quyết định hành động của mình có xuất phát từ lòng chân thành hay không hoặc dẫn tới kết cục đổ vỡ hay không. Những điều như chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp... là thành quả của việc quán tâm miên mật. Ai hiểu tâm mình, thì người đó điều phục được bất an.

Nhìn Bụt, thấy Bụt lúc nào cũng an vui, thấy cái tình thế cấp bách không giục được thân tâm của Người. Suốt quãng đời hoằng pháp, Người nói đi nói lại với đệ tử về kinh Quán niệm hơi thở và kinh Tứ niệm xứ, chỉ dạy chúng sanh làm sao quay về với hơi thở của họ. Nhiều lần thấy tình thế lao đao, nhưng Người xoay chuyển được.

  • Lần đoàn viên gia đình đầu tiên sau khi thành đạo, Người nắm tay vua cha đi vào hoàng cung. Nỗi nhớ người thân được khỏa lấp thắm đượm khung cảnh. Người là Bụt, là lãnh đạo tăng đoàn, và còn là lãnh đạo tinh thần của nhiều quốc gia, nhưng vai trò đó là của đương thời. Quay về nguồn cội, Bụt vẫn là con trai của vua Suddhodana. Và ấy là đạo hiếu. Lần đầu Người được ôm đứa con Rahula vào lòng, nắm lấy tay cậu bé, nhưng chỉ chịu tiếp vợ Yasodhara tại tu viện, cùng với mẹ mình. Ấy là đạo hạnh. Muốn theo đúng đường đạo, lắm lúc người tu hành phải chịu đối diện lại những gì mà mình đã buông bỏ, để xem những hạt giống trong tâm mình nảy nở như thế nào, đối trị ra làm sao. (chương 34: Mùa xuân đoàn tụ)
  • Lần chia rẽ trong giáo đoàn đầu tiên, vị luật sư kết tội vị kinh sư vô ý không đổ nước trong chậu sau khi sử dụng, chuyện bé teo nhưng không bên nào nhường bên nào. Bụt khuyên can nhiều lần mà không hiệu quả. Bụt lấy bình bát và áo bỏ đi tận một năm bốn tháng liền. Người ta nói Bụt giận, bỏ giáo đoàn. Giới tu tại gia không buồn cúng dường cho chư tăng nữa vì không hòa hợp. Sư ông không giải thích vì sao Bụt bỏ đi, cũng không thêm tình tiết Người hóa giải ngay mối bất hòa. Nhưng Sư ông có miêu tả rất chi tiết sự an lạc mà Bụt lấy lại được sau khi rời khỏi tu viện. Mình nghĩ đôi khi tạm hoãn, đặt xuống, cũng là một phương pháp nuôi dưỡng thân tâm. Mỗi khi có xung đột, đâu nhất thiết phải cùng ngồi lại để ra ngay giải pháp. Bởi vì thân tâm lúc đó có quá nhiều điều phải sàng lọc. (chương 46: Nắm lá simsapa)
  • Bụt sống đến hơn 80 tuổi. Người đã chứng kiến sự ra đi của hầu hết những người thân trong gia đình và các đại đệ tử. Đại đức Rahula, từng là con trai Bụt, viên tịch năm 51 tuổi. Moggallana (Mục Kiều Liên) viên tịch vì bị ám sát, người cuối cùng qua đời trước Bụt là Sariputta (Xá Lợi Phất). Thị giả Ananda cứ mỗi lần như vậy, là đau buồn tiếc thương, buồn vì xa lìa những người anh em đồng tu một đời, thương Bụt vì Người mất đi nhiều đệ tử lớn, giáo đoàn không biết giao lại cho ai quản. Bụt chỉ mặc niệm, không buồn, không đau khổ.
  • Bụt giác ngộ đạo lý giải thoát là nhờ quán chiếu duyên sinh duyên khởi, vô thường vô ngã. Mỗi một người thân qua đời, là một lần thấy lời nói của Người có tác dụng điều phục thân tâm. Quán chiếu đến khi nào những cảm thọ sợ hãi, buồn phiền, tiếc thương không còn nảy nở nữa, thì cũng là lúc mình an nhiên được với thực tại.

Ngôn ngữ của Sư Ông

Sư Ông từng là giáo viên dạy văn nên chất thơ trong từng tác phẩm không lúc nào cạn, cũng như thời đó người ta thích thơ của Xuân Diệu hay văn xuôi của Thạch Lam vậy. Ngồi đọc chương này tới chương nọ, lắm lúc hình dung được bức họa được Sư Ông vẽ bằng ngôn ngữ từ chân tâm, cảm được sự ấm áp và tình thương yêu trong từng câu từ, và chẳng có nhân vật phản diện nào đáng chê trách cả. Chỉ có mọi nhân vật phản chiếu cái ta trong họ, để ta soi rọi những tập khí, để ta tự cho mình cơ hội từ, bi, hỷ, xả với chính mình. Để ta yêu thương người một cách trí tuệ.

“Nắng lên cao, những đám mây trắng nhỏ vẫn còn lơ lửng trên nền trời xanh biếc.
Bờ sông bên kia vẫn xanh mướt cỏ non. Con đường bờ sông này ngày xưa Bụt đã qua lại nhiều lần.
Con đường bờ sông này có thể dẫn về Banarasi, có thể dẫn về thủ đô Savatthi, có thể dẫn về thủ đô Rajagaha, mà cũng có thể dẫn đi khắp chốn.
Bụt đã ghi dấu chân trên mọi nẻo đường hành hóa. Đi đâu đại đức cũng sẽ giẫm lên dấu chân của người.”

Thầy thường đặt tên các chương sách bằng cách trích dẫn văn học Việt Nam như “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” hay “Bao nhiêu tấc đất bấy nhiêu tấc vàng”. Mình gọi đó là một sự Việt hóa cần thiết. Đạo Bụt dành cho vô số đại chúng, tuy vậy, pháp âm của Bụt trước khi gieo vào lòng người thành công, vẫn phải vượt qua nhiều rào cản. Dù truyền bá từ phía Bắc, hay phía Nam, đạo Bụt vẫn nên thuần Việt khi sinh sôi và phát triển tại Việt Nam. Để giới Phật tử Việt có cơ hội được tiếp xúc với giáo pháp thật tự nhiên, thật gần gũi như lời dạy của mẹ, của bà, của ba. Để khi đối trị với cái tâm nhiều tiêu cực, pháp môn cứ vậy mà tràn về, chẳng cần giở lại kinh, chẳng cần đối chiếu lại bản dịch, chẳng cần dò từng từ Hán Việt.

Hiểu Phật Giáo bằng cái tâm không chướng ngại

Bụt thường nói rằng, ngôn từ không thể diễn tả hết giáo lý của Người. Không chỉ riêng gì Phật giáo, ngôn từ cũng không thể truyền đạt tính chân như của mọi sự vật hiện tượng. Chính vì vậy, để lĩnh ngộ một pháp môn, người đọc cần tìm hiểu kỹ bối cảnh và các nhân vật trong truyện. Người đọc phải tạm đặt xuống những quan niệm, lập trường, ý kiến, định kiến cá nhân trước. Gọi là gỡ bỏ rào cản. Gọi là hạnh lắng nghe. Có như vậy, mới nắm được cơ hội thấu hiểu những gì người viết đang cố gắng truyền tải.

Và bạn sẽ đủ kiên nhẫn để giải đáp nhiều điều về Phật Giáo… Như vì sao Người có thể thu hút lực lượng lớn giới vương giả tại Ấn Độ, vì sao ni thỉnh chư tăng về thuyết pháp lại là một giới luật, từ đâu có thuật ngữ Tam Bảo, ý nghĩa của phước điền y, vì sao có mùa an cư, vì sao kinh Vu Lan Báo Hiếu ra đời, vì sao Bụt là được gọi là Bụt, hay vì sao Bụt tự gọi mình là Như Lai.

Và bạn sẽ bắt đầu yêu (hơn) những bài kinh… Đời sống giới tu tại gia loanh quanh trong việc tụng kinh. Nhiều bài kinh lặp đi lặp lại rằng có cơ duyên trì tụng sẽ giúp thiện nam tín nữ tiêu trừ nghiệp chướng, phước đức vô biên. Người đọc không hiểu được dễ cho rằng như vậy là mê tín, là thiếu cơ sở khoa học. Nhưng người tụng kinh từ ngày này sang ngày nọ dễ dàng ngẫm ra rằng, việc đọc một bài kinh trong suốt thời gian dài sẽ làm họ thấu hiểu được triết lý mà bài kinh muốn truyền tải, từ đó có thể nhìn ra con đường đạo, sống đúng với đời, với người. Vậy thì nghiễm nhiên nghiệp chướng tiêu trừ, phước đức tăng trưởng.

Tuy nhiên, hành trì kiểu này đôi khi không hấp dẫn lắm đối với người trẻ. Chúng ta muốn sống chậm, nhưng chúng ta vẫn cần cái gì đó dễ thấu, dễ cảm, và lợi ích của nó thực sự mật thiết với đời sống cá nhân. Nếu bạn đang có nhu cầu này, hãy tìm hiểu các bài kinh thông qua Đường xưa mây trắng.

Những nội dung khó như vô tướng, vô ngã, duyên khởi, phân biệt không sinh không diệt với có sinh có diệt, kinh phạm võng,... sẽ được Sư Ông truyền tải bằng một câu chuyện gồm các lần đối đáp giữa Bụt và các vị đệ tử. Kinh được chuyển từ thơ sang lời nói. Những triết lý khó được lặp đi lặp lại ở nhiều chương theo cách diễn giải đa dạng. Hiểu được bối cảnh, hiểu được nghĩa kinh, thì tinh túy của đạo Bụt nguyên thủy quá dễ thấu và dễ cảm.

“Ngón tay chỉ trăng không phải là mặt trăng”

Đường xưa mây trắng rất thành công. Tác phẩm được dịch sang 20 thứ tiếng, trong đó có tiếng Hindu, bán được 1 triệu bản tại Mỹ và được nhiều người công nhận là tác phẩm hay nhất thế kỷ 20. Nhưng nếu là Bụt, Bụt sẽ chỉ mỉm cười và nói rằng, Đường xưa mây trắng cũng chỉ là một công cụ giúp đại chúng nhìn thấy được lối sống an nhiên, buông bỏ được những cố chấp, chấp kiến, vô minh, để nhìn cuộc sống vận hành như bản chất chân như của nó. Giống như ta đưa ngón tay chỉ mặt trăng, thì người trí tuệ hãy nương theo ngón tay mà nhìn thấy trăng, chứ đừng cứ mãi ngắm nghía bàn tay của người đang giương ra giúp đỡ.

Hết.

Anh Đào

*

Bài viết về các tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh



Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Kể chuyện năm 2020 bằng ba cuốn sách của tôi

Published

on

Không phải hoàn toàn sụp đổ và "cancelled", văn chương 2020 với tôi là một điều đáng nhớ. Tôi đọc ít hơn, điều đó cũng đồng nghĩa với việc tôi giỏi hơn (theo đúng như những gì Zappa hàm ý). Trong trường hợp này, có phải vậy không? Tôi vẫn chưa đọc tiểu thuyết mới nhất của Martin Amis (người từng gây cho tôi ít nhiều ấn tượng trong bản dịch Tiền - thư tuyệt mệnh) và những cuốn sách dịch làm tôi chưa thỏa mãn cực độ, ít nhất là tiệm cận với những gì tôi đã đọc ở phiên bản tiếng Anh, thứ ngoại ngữ duy nhất mà tôi nương tựa ngoài tiếng mẹ đẻ, rất tiếc nuối về điều đó. 2666 an toàn, tôi đã chờ những gì thô ráp hơn. Tess - một tâm hồn trong trắng vẫn chưa có mặt tại kệ sách nhà tôi, trong khi Những thứ trong suốt Phòng thủ Luzhin lại không gây ấn tượng quá nhiều như những gì T.L đã làm trong Mây, hồ, tháp. Chúng ta còn gì? Trong lúc đợi chờ Godot làm mệt mỏi ngay từ chiếc bìa không ăn nhập và lối dịch dài dòng diễn dịch. Chúng ta còn có thể kể đến rất nhiều cuốn sách dịch khác, và cả một số tác phẩm trong nước, điển hình là Biên sử nước mới mẻ như Rulfo thể nghiệm Pedro Páramo nhưng dĩ nhiên non nớt hơn.

Trong ba cuốn sách tôi có thể nhớ được hầu hết các điểm mà tôi thích dưới đây, thật đáng tiếc và tệ hại cho tôi thay, cả ba đều chưa được dịch thuật (thế là dĩ nhiên cái sự đọc của tôi năm nay không yêu nước) hay nghe ngóng có kế hoạch dịch thuật: hai trong ba là của các nhà Nobel gần nhất: Louise Glück và Peter Handke; người thứ ba, cũng trứ danh không kém, Krasznahorkai László.

1. Melancholy of Resistance (Krasznahorkai László): Màn phúng điếu đỉnh cao

Tôi đọc Melancholy of Resistance (tạm dịch Nỗi buồn kháng cự), bản dịch tiếng Anh của George Szirtes vào khoảng đầu mùa hè. Ngay lập tức sau khi đọc xong, tôi ước bác Chung không dịch Chiến tranh và Chiến tranh mà dịch cuốn này.

Melancholy of Resistance (Krasznahorkai László)

Một văn bản xám xịt, đúng theo phong cách của László cùng với sự ghẻ lạnh mà u hoài đến vô lý và bức bách. Bắt đầu bằng sự việc bà Plauf nghe tin sự nguy hiểm nào đó đang âm thầm len lách vào sự sống của ngôi làng: đúng thế thật, một đoàn xiếc với con cá voi khổng lồ kéo đến và không khí ngột ngạt, dơ bẩn. Sở trường những câu văn dài lê thê không cung cấp nhiều thông tin, ông kết hợp nhuần nhuyễn ý nghĩa của những giấc mơ được gán ghép vào sự sống của cư dân trong làng. Năm 2000, chính nhà văn đã chuyển thể thành kịch bản phim Werckmeister Harmonies do Béla Tarr làm đạo diễn. Không khí tận thế cùng những nỗi buồn vô tận, đúng như tiêu đề, tất cả những nhân vật trong ngôi làng ấy chống lại thế lực đen tối và cả sự bất lực của cách mạng. Một bóng tối bão hòa, phi thường nhưng thường xuyên đến nỗi trở nên nhân tính và cảm xúc bóc trần đến cảm lạnh, không ai giấu giếm bất kì một đắn đo gì trừ khi đó chính là nỗi buồn kháng cự. Một cuốn sách làm người ta không thể nào ngủ; một cốt truyện hư ảo, chết chóc cùng với một giọng văn ghê sợ, đáng hãi hùng.

2. The Wild Iris (Louise Glück): Buổi truyền miệng của những thiếu phụ

Là cuốn thơ duy nhất sau Anne Carson làm tôi muốn dịch hết, The Wild Iris (tạm dịch Hoa diên vĩ dại) là áng thơ bất hủ về những trăn trở trong cuộc sống hội nhập của chúng ta. Louise Glück phát biểu trong diễn văn nhận giải Nobel 2020 rằng có lẽ lý do Viện chọn bà vì giọng nói riêng tư, thân mật và không thể thay thế. Thật vậy, không khó hiểu đến trở ngại và sượng sùng đôi chỗ như Anne Carson, thơ bà kín đáo và nữ tính hơn. Chùm thơ "Parable" xuất hiện những câu chuyện về quá khứ của những người phụ nữ thông qua những hình ảnh ẩn dụ, một Emily Dickinson thời hiện đại với trái tim đã mở cửa để đón chào thế giới mới. Một giọng thơ không khó để dịch, song lại lưng chừng như sóng biển. Người ta sẽ không bao giờ hiểu được hết ý tứ của một câu thơ hay - chính thơ của Louise làm người ta ngập ngừng chỗ đó.

The Wild Iris (Louise Glück)

Bà đặt ra những câu chuyện rất hiện đại thông qua các nhân vật sử thi: "Các vị thần Hy Lạp ngồi trên băng ghế/ thầm nghĩ rằng sẽ làm gì khi cuộc chiến kết thúc. …" (Parable of Hostages), nhục cảm tội lỗi và phức cảm hành hạ: "Em muốn cuộc sống của ả là vở kịch/ Màn nào cũng bi" (Siren), những trải nghiệm thành thật và đẹp đẽ: "Đêm cuốn anh vào trong đôi cánh của nó/ Dưới trăng tròn em có thể nhìn ra/ Gương mặt anh bơi giữa bầy cá nhỏ và những/ vì sao vọng. Trong không khí đêm/ mặt hồ là thép." (Pond). Không quá lên khi gọi tập thơ vừa nguy hiểm lại vừa dịu dàng, ở đó thi thoảng ta bắt gặp những đối đáp trớ trêu, nhục cảm, những ham muốn dục tính, song quá lãng mạn để gọi đó là tội đồ.

3. The Afternoon of a Writer (Peter Handke): Buổi hoàng hôn của cá thể

Một cuốn sách mà đọc xong tôi chỉ muốn dịch ngay để đến tay những người cô độc, như nhân vật nhà văn không tên, và vì Peter Handke trong cuốn sách quá thanh tao và lành tính. Tôi không biết ông ta viết gì bằng tiếng Áo nhưng người dịch cuốn sách sang tiếng Anh - Ralph Manheim - có vẻ cũng nghĩ như tôi: một giọng văn chân thành, mộc mạc, đôi phần ngồi lê đôi mách giống như Bohumil Hrabal nhưng nhạy cảm như phụ nữ.

The Afternoon of a Writer (Peter Handke)

Tôi đọc The Afternoon of a Writer (tạm dịch Buổi chiều của một nhà văn) trong một giờ, là văn bản thứ hai sau Trong một đêm tối trời tôi ra khỏi ngôi nhà tịch mịch của mình từ khi tôi muốn tiếp cận người đàn ông lắm thị phị này và mong chờ thứ gì đó đáng gờm. Song, giống như Trong đêm tối, cốt truyện hoàn toàn trong trẻo, có thứ gì đó như một dòng tản mạn chảy dài hơn chỉ 80 trang A5, và ngược với những gì tôi từng tưởng tượng, rất dễ đọc. Ta bắt gặp một nhân vật lạc loài giống như nhà sinh học trong cuốn tiểu thuyết duy nhất được dịch, vẫn cách chia chương rất ngắn và rõ ràng là một câu chuyện không rõ ràng. Một nhà văn nhận ra mình mất liên kết với từ ngữ đồng thời cũng mất liên kết với thế giới trong một buổi chiều tối không tối trời cho lắm, ra khỏi ngôi nhà có view đồi lộng gió và một ban công trên mái nhà ai cũng ghen tị, nhưng bản thân ông không thấy vậy vì nơi đó quá hẻo lánh với nhân loại. Trong một văn bản thâm nhập sâu xa vào linh hồn như thế, ta có quyền mơ mộng về một cảnh phim độc đáo từ tay Peter Handke, người đàn ông lạc loài cố tìm ý nghĩa cho cuộc sống của mình ngoài công việc, muốn thâm nhập vào cuộc sống nhưng không thể. Bằng một giọng văn đặc biệt, một cách miêu tả thành thật về cảm xúc, Buổi chiều của một nhà văn gây cho tôi sự nhớ hơn là Short Letter, Long Farewell Sorrow Beyond the Dream vốn được đánh giá là hai văn bản đặc trưng nhất của Peter Handke. Đó là món quà tôi tự nhận được vào mùa đông, một cuốn sách trân quý, nhẹ nhàng, thoát khỏi sức nặng của nhiệm vụ nền văn học hậu hiện đại, song cảm xúc nó mang lại vẫn không hề lệch pha.

Tức là...

Tôi đã định cho rất nhiều cuốn sách mà tôi đọc được và cảm thấy ấn tượng vào trong danh sách của riêng tôi. Có Một cuộc gặp gỡ của Milan Kundera, Chỉ còn 4 ngày là hết tháng 4 của Thuận, hay thậm chí Paul Celan và Søren Kierkegaard,... Vốn dĩ, về sức nặng cốt truyện cũng như độ hấp dẫn, không cuốn nào có thể làm ta kinh ngạc và quyến rũ cho bằng Hồ sơ Rachel hay 2666, nhưng nó mở rộng thêm cho tôi nhiều mảnh đất hơn trong nền văn chương trong thời đại của chúng ta. Chúng ta đã thực hiện gần xong xuôi một cuộc di dời hoàn toàn từ cốt truyện sang độ phi lí của cốt truyện, từ tình cảm trong văn bản thành thái độ sống và một giọng nói riêng tư mà to, lớn, đánh động như chuông. Hẳn đây là một cuộc di cư lớn, cho chúng ta nhiều hi vọng hơn về tính chất độc quyền lẫn cứu rỗi của văn chương, thế nhưng, điều đó có nghĩa là sức hút của nó sẽ sụt giảm không thương tiếc và những người chịu để nó cứu rỗi sẽ không còn quá nhiều, thậm chí không có. Thế nhưng còn quá nhiều điều chúng ta cần chờ và hi vọng tiếp về một năm 2021: biết đâu The Great Gatsby sẽ trở lại huy hoàng dưới tay Thiên Lương, biết đâu chúng ta sẽ có James Joyce, hay Gertrude Stein, hay một tập thơ? Của Sylvia Plath nhé?

Hết.

S.

*

Bài viết liên quan


Đọc bài viết

Cafe sáng