Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Đung đưa trên những đám mây – “Khi em yêu, người ấy sẽ mãi là một phần của chính em.”

“Đôi khi em có thể viện nhờ đến sách vở, những bộ phim, những bản nhạc… nhưng rốt cuộc em phải tự mình cảm nhận thế giới, bằng đôi tay này, bằng trái tim này, và tự mình quyết định những điều em tin là đúng đắn. Những giọt nước mắt ấy, sự tổn thương, hay là máu… đang cố nói cùng em một điều gì có ý nghĩa.”

Đăng từ

on

Chi tiết tác phẩm

Nếu qui đổi âm điệu văn phong thành những đường nét trong hội họa thì Đung đưa trên những đám mây của tác giả Nguyễn Hoàng Mai là bức tranh với những nét cong tròn mềm mại, tràn đầy nữ tính dịu dàng chiếm vai trò chủ đạo, định hình toàn bộ không khí câu chuyện. Sự nữ tính ấy không chỉ nằm trong giọng văn mà còn nằm trong hình tượng nhân vật: những nhân vật chính yếu trong câu chuyện này đều là những người phụ nữ chịu nhiều tổn thương trong quá khứ đang cố gắng đấu tranh để sống cho hiện tại.

Giọng văn dịu dàng của Hoàng Mai rất phù hợp với câu chuyện xen kẽ liên tục giữa quá khứ và hiện tại, giữa mơ và thực này. Đó là nét đặc trưng nhưng đôi khi chính nét đặc trưng này cũng hạn chế nhịp điệu câu chuyện: phần lớn câu chuyện như những tảng mây lững lờ trôi chậm chạp trên bầu trời với thứ tốc độ mà mắt thường khó nhận thấy. Nhưng phải chăng đó cũng chính là dụng ý của Hoàng Mai bởi tiêu đề tác phẩm là Đung đưa trên những đám mây (Be in the clouds), bởi khi thả hồn trên những đám mây con người thường không bận tâm lắm đến tốc độ của chính mình, của những thứ ngoại vi xung quanh đang xô đẩy mình về bất cứ phương hướng nào. Nhưng cũng giống như việc quan sát những đám mây, nếu mất kiên nhẫn vì sự chậm chạp của nó mà mắt ta lơ đãng nhìn về một hướng khác, đến lúc quay lại nhìn về vị trí cũ, ta ngạc nhiên vì những đám mây ấy đã dịch chuyển sang một vị trí khác. Trong lúc ta lơ đãng, những đám mây dường như cũng lơ đãng ấy trên thực tế vẫn dịch chuyển trong chính sự lơ đãng của nó. Và có lẽ, toàn bộ sự vận chuyển trong câu chuyện của Hoàng Mai, trong nội tâm của những nhân vật cũng đi theo cách thức như vậy: chậm nhưng không dừng lại, lơ đãng nhưng không hoàn toàn vô tri, trong từng giây phút đều cố gắng chạy trốn bản ngã nhưng đồng thời trong từng giây phút vẫn luôn cố gắng níu giữ ý thức phải đối mặt với bản ngã. Sự mâu thuẫn nội tại ấy có lẽ đến từ việc câu chuyện khởi nguồn bằng nỗi đau mất mát rất lớn của nhân vật chính: sự mất mát khiến cô muốn khắc sâu trong tâm trí về thứ-đã-từng-tồn-tại vì dường như cô là bằng chứng duy nhất cho sự tồn tại đã từng ấy, nhưng đồng thời nỗi đau khi phải đối mặt với nó lại khiến cô đôi lúc muốn quên đi.

Với kết cấu ba phần theo thứ tự: Mất – Tìm – Biển, rõ ràng cuộc tìm kiếm trong tác phẩm này khởi nguồn từ sự mất mát và câu chuyện cũng lấy chính sự mất mát để làm động lực tiến triển. Giống như tác phẩm kinh điển Trà Hoa Nữ của Alexander Dumas, ngay từ đầu, Hoàng Mai không che giấu nỗi buồn vì mất đi người thương yêu nhất của nhân vật “tôi”. Ngược lại, sự mất mát luôn hiện diện, lẩn khuất đâu đó trong câu chuyện, có lẽ không một giây phút nào “tôi” hoàn toàn quên đi nỗi đau ấy. Điều đó khiến cho toàn bộ tác phẩm này chìm trong màn sương u uẩn, thậm chí ngay cả những đoạn hồi tưởng hạnh phúc nhất dường như cũng không thể thoát khỏi ánh bạc nhàu của nỗi buồn dưới tác động thời gian. Nghĩa là, câu chuyện này ngập trong cảm xúc hơn là lí trí, chi tiết hơn là tình tiết. Vì thế, khi ta càng nhìn gần, những đường nét trong câu chuyện càng trở nên mơ hồ dù thoạt tiên, có lẽ nó đã cho ta cảm giác không khó để nắm bắt. “Không thể tái hiện bất cứ sự thực nào trong những trang viết, mà tất cả chỉ là những bóng hình, những ảo giác về một điều gì đó đã từng xảy ra. Ký ức dường như là một bảo vật khó chiều, càng cố chạm vào càng như xa lạ. Tất cả quá sống động nhưng tôi không sao có thể viết ra một cách dễ dàng.” Nhân vật “tôi” đã trải lòng như thế về quá trình viết lại tác phẩm này. Điều này phần nào tương tự như tâm sự của Vladimir Nabokov về tình yêu: “I think it is all a matter of love; the more you love a memory the stronger and stranger it becomes.” (tạm dịch: Tôi nghĩ đó là vấn đề của tình yêu; bạn càng yêu một kí ức nào đó, nó càng trở nên mãnh liệt và đồng thời xa lạ hơn.) Tác phẩm Đung đưa trên những đám mây cũng có tinh thần như vậy: khi nó càng đến điểm mãnh liệt nhất về cảm xúc thì cũng đồng thời đó là điểm mơ hồ nhất về sự thực. Câu văn sau đây có thể cho thấy rõ ràng điều đó: “Suốt nhiều ngày sau đó tôi không thể nói được gì, không ăn được gì, cứ ngập ngụa váng vất trong hương thơm của nắng mới, mùi máy sấy hăng hăng lẫn trong làn tóc ướt và nụ cười của chị mơ hồ dịu dàng.” Vế câu: “Suốt nhiều ngày sau đó tôi không thể nói được gì, không ăn được gì…” cho người đọc thấy một cảm xúc rất mãnh liệt, một sự thực hiển nhiên có thể chạm nắm được; thế nhưng vế sau đó “…cứ ngập ngụa váng vất trong hương thơm của nắng mới, mùi máy sấy hăng hăng lẫn trong làn tóc ướt và nụ cười của chị mơ hồ dịu dàng.” – vế này ngay lập tức khiến cho sự thực ở vế trước nhạt đi bớt, mọi sự lại chìm trong vẻ “mơ hồ dịu dàng” như “hương thơm của nắng mới”, như “mùi máy sấy hăng hăng”, như “làn tóc ướt và nụ cười của chị”. 

Dù tác phẩm Đung đưa trên những đám mây khởi nguồn từ sự mất đi người yêu thương và lấy động lực để bắt đầu bằng chính tình yêu ấy nhưng nó không phải là câu chuyện tình yêu theo nghĩa thông thường. “Tôi” từng nói với người cô yêu rằng: “Khi em yêu, người ấy sẽ mãi là một phần của chính em.” Vì thế, ta nên hiểu tình yêu trong tác phẩm này không chỉ là yêu người mình yêu mà còn là yêu bản thân mình, yêu chính hình ảnh của mình khi yêu người ấy. Do đó, sự mất mát ở đây không chỉ là mất đi người mình yêu, mà còn là mất đi một phần của chính mình. Vậy nên, cuộc tìm kiếm của nhân vật chính không ở ngoại vi mà ở nội giới, không ở khách thể mà ở chủ thể. Tất cả qui lại thành một câu hỏi chung nhất mà những người trẻ lạc lõng giữa xã hội nhưng đầy ý thức về chính mình thường hay tự hỏi bản thân rằng: “Rốt cuộc, tôi là ai?” Và “tôi” của Đung đưa trên những đám mây đã cố gắng tìm quên những ngày tuổi trẻ buồn bã của mình, hay có thể nói là tìm câu trả lời bằng rất nhiều tác phẩm văn chương, âm nhạc, điện ảnh được đề cập trong truyện.

“Đôi khi em có thể viện nhờ đến sách vở, những bộ phim, những bản nhạc… nhưng rốt cuộc em phải tự mình cảm nhận thế giới, bằng đôi tay này, bằng trái tim này, và tự mình quyết định những điều em tin là đúng đắn. Những giọt nước mắt ấy, sự tổn thương, hay là máu… đang cố nói cùng em một điều gì có ý nghĩa.”

Mimi – người yêu của “tôi” đã nói với “tôi” như thế. Và chính tác phẩm Đung đưa trên những đám mây dường như cũng đang cố nói cùng người đọc một điều gì có ý nghĩa.

Hết.

Vũ Lập Nhật

1 Bình luận

1 Bình luận

  1. Thiên An

    Tháng Tám 28, 2019 at 1:37 chiều

    Đung đưa trên những đám mây, nghe cái đề cuốn sách sao muốn chill lên trời luôn :))
    Vũ Lập Nhật có phải là tác giả của cuốn Bảo Bình không ạ? 😀

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Harry Potter, cái chết và chủ đề văn học sâu sắc đáng ngạc nhiên

Chúng ta có xu hướng nghĩ về “Harry Potter” như một niềm vui được thoát ly khỏi thực tại, nhưng bộ truyện của J.K. Rowling cũng đồng thời tạo dựng nên một chủ đề vô cùng sâu sắc.

Đăng từ

on

Người đăng

HARRY POTTER AND THE SURPRISINGLY POIGNANT LITERARY THEME
J. Andrew Deman

Harry Potter là hiện tượng văn học của thế kỷ trước, và trong khi xã hội chúng ta không gặp khó khăn gì trong việc tôn vinh tác phẩm của J.K. Rowling, cộng đồng văn học lại có phần chậm rãi hơn trong việc thấu hiểu chính xác thông điệp của bộ truyện. Chúng ta có xu hướng nghĩ về Harry Potter như một niềm vui được thoát ly khỏi thực tại để đến với một thế giới mới lạ, nhưng Rowling cũng tài tình xây dựng một chủ đề sâu sắc, có nhiều điểm chung với vở bi kịch Vua Lear. Chủ đề này nằm ở cốt lõi của thế giới phù thủy, phản ánh trực tiếp thực tại phổ quát của loài người: Cuộc đấu tranh để chấp nhận thực tế rằng ai rồi cũng sẽ chết.

Dĩ nhiên, cái chết là một tác động vô cùng lớn lao trong Harry Potter. Cái chết khởi nguồn xung đột cốt lõi của bộ truyện; cái chết leo thang trong mỗi trang sách; cái chết tạo ra vũ khí để Harry có thể đánh bại Voldemort; và cái chết giải quyết cuộc xung đột cuối cùng khi cái chết của Voldemort chính là kết thúc của cuộc chiến. Cái chết tái diễn trong suốt bộ truyện, nhưng sự tái diễn vốn không đủ để tạo thành một chủ đề. Nhà lý luận văn học Roger Fowler diễn giải: “Một chủ đề luôn luôn là một vấn đề, nhưng một vấn đề không phải lúc nào cũng là một chủ đề. Một chủ đề không thường được coi là nguồn cơn của một tác phẩm nghệ thuật, mà là một nhánh vấn đề được gián tiếp thể hiện thông qua sự tái diễn của một số sự kiện, hình ảnh hoặc biểu tượng. Chúng ta nắm bắt chủ đề bằng cách suy luận – đó là sự phân tích những hình tượng và biểu tượng, chứ không phải định lượng chúng.”

Do đó, một chủ đề là một quan điểm dễ nắm bắt xuất hiện từ mô thức của sự tái diễn – một sự khẳng định, nếu bạn cho là vậy, mà chúng ta nhận thức được thông qua sự lặp lại tăng tiến và những biểu tượng liên quan.

Vậy, tất cả những cái chết này đóng vai trò gì trong bộ truyện Harry Potter?

Cái chết trong Potter

Trong cuộc phiêu lưu đầu tiên của mình, Harry bị cám dỗ bởi “Hòn đá Phù thuỷ” huyền thoại. Kết thúc phần truyện này, lý do duy nhất khiến Harry lấy được viên đá từ Tấm Gương Ảo Ảnh là vì cậu không muốn sử dụng nó. Nhờ đó, cậu lập tức thiết lập vị thế đối lập với Voldemort, kẻ tuyệt vọng tìm kiếm hòn đá để đạt được thứ mà nhân mã Firenze miêu tả là “sống dở – một kiếp sống bị nguyền rủa”.

Khi nghe điều này, Harry thắc mắc: “Nhưng ai lại tuyệt vọng dữ vậy? Nếu bị nguyền rủa suốt đời thì thà chết phứt còn hơn,” từ đó ta thấy được quan điểm cá nhân của Harry về sự lựa chọn của Voldemort. Chính thầy Dumbledore cũng đã củng cố quan điểm của Harry ở đoạn cuối phần truyện, bằng cách nói với Harry rằng “nói cho cùng thì đối với một đầu óc tổ chức tốt, cái chết cũng giống như một cuộc phiêu lưu vĩ đại khác.” Nếu chúng ta ghép những chi tiết này lại với nhau, chủ đề cái chết mà Rowling sử dụng hoàn toàn được trình bày trong cuốn sách đầu tiên.

Ảnh: Jim Kay | Bloomsbury

Khi bộ sách tiếp tục, chính cái chết đã định hình sự phát triển nhân cách của Harry. Cái chết của Cedric tác động mạnh mẽ đến tâm lý Harry, cái chết của chú Sirius cho Harry thấy cái giá phải trả vì những sai lầm của mình và mức độ mà cái chết có thể thay đổi tương lai cậu. Dĩ nhiên, cái chết của cụ Dumbledore khiến Harry trở nên mất phương hướng và dễ bị tổn thương, buộc cậu phải trưởng thành để đối diện với một trách nhiệm cá nhân cao cả. Và đến tập truyện cuối cùng, cái chết của Harry tượng trưng cho nguồn sức mạnh lớn lao mà cậu được ban cho để vào khoảnh khắc cuối cùng đánh bại Voldemort, kẻ có điểm yếu được tạo ra từ chính những trường sinh linh giá, ma thuật đen tối được sử dụng để bảo vệ hắn và phải trả giá bằng những linh hồn sống.

Khi Harry bước đến cái chết của mình, Rowling viết: “Mỗi giây nó thở, mùi cỏ, làn không khí mát lạnh vuốt ve khuôn mặt nó, sao mà quý giá.” Trong khoảnh khắc này, khi Harry chấp nhận cái chết, cuộc sống bỗng chốc trở nên ngọt ngào, thậm chí là đẹp đẽ – một sự tương phản sắc nét với kiếp sống bị nguyền rủa mà Voldemort không thể thoát khỏi. Sự tương phản này một lần nữa là điểm mấu chốt của chủ đề cái chết mà Rowling khai thác. Voldemort là dấu hiệu của cái chết, hắn gieo rắc cái chết đến bất cứ nơi nào hắn đi qua, quân đội của hắn là những “Tử thần Thực Tử”, và một số khía cạnh trong hình tượng của hắn khiến người ta liên tưởng đến huyền thoại về Tử Thần.

Thật dễ dàng khi kết luận rằng Harry chỉ đơn giản là “chiến đấu với cái chết” trong loạt truyện, nhưng phải nói rằng vai trò đó thực sự được dành riêng cho chính Voldemort, cái tên dịch từ tiếng Pháp nghĩa là “cuộc trốn chạy khỏi cái chết” chứ không phải bản thân cái chết. Toàn bộ loạt truyện kể về một nhân vật phản diện vật lộn để phủ nhận cái chết, tương thích với một nhân vật chính diện đang trưởng thành để chấp nhận cái chết. Nếu điều này nghe có vẻ bi quan, Severus Snape sẽ đồng ý với bạn khi than thở rằng cụ Dumbledore “đã nuôi nó như nuôi heo chờ ngày mổ thịt.”

Ảnh: Jim Kay | Bloomsbury

Bất chấp sự phản đối trên, bản thân thầy Snape sẵn sàng chết vì lý do chính nghĩa, giống như James và Lilly, giống như Sirius, giống như Dumbledore và giống như tất cả những người đã bỏ mạng trong trận chiến Hogwarts. Ngay cả con cú tội nghiệp của Harry, Hedwig, cũng chọn cái chết để bảo vệ thứ mà nó yêu thương.

Khi được coi là một mô thức, chủ nghĩa anh hùng trong Harry Potter có nghĩa là chấp nhận cái chết. Ngược lại, việc chiến đấu chống lại cái chết tương tự như việc dùng cơn thịnh nộ để chống lại cuồng phong của Vua Lear, giống như Voldemort, bị giáng xuống thành một sự tồn tại bị nguyền rủa.

Một tiền lệ danh giá

Ý niệm về cái chết trong dòng văn học giả tưởng có vẻ khác thường đối với một thể loại văn học thường có mối liên hệ với chủ nghĩa thoát ly. Tuy nhiên, thực tế đi ngược lại, và chủ đề của Rowling rất thường gặp trong thể loại này. Chẳng hạn, J.R.R. Tolkien đã từng viết bài tiểu luận “Bàn về những câu chuyện thần tiên”, trong đó ông mô tả vai trò nổi bật của cái chết trong thể loại giả tưởng. Tolkien viết:

“Có rất ít bài học được truyền tải rõ ràng trong [dòng văn học giả tưởng] bằng gánh nặng của sự bất tử, hay nói chính xác hơn là cuộc đời vô tận, nơi mà những thứ chóng tàn rồi sẽ biến mất. Những câu chuyện cổ tích đặc biệt có xu hướng truyền tải những điều như vậy, từ ngày xưa và vẫn còn cho đến ngày nay.”

Đối với Tolkien, tiểu thuyết kì ảo là một thể loại thường xuyên bàn luận về chủ đề chết chóc, đồng thời cung cấp cho chúng ta “sự an ủi” nỗi sợ của ta với cái chết. Ông nói đến ví dụ của chính mình, tiên tộc của Trung Địa (Middle Earth), để cho thấy cách ông miêu tả sự bất tử là không ai mong muốn.

Tiên tộc trong tiểu thuyết của Tolkien không bao giờ phải chết – và kết quả là cuộc sống của họ rất khốn khổ. Mặc dù ít ác độc hơn Voldemort, nhưng bản chất sự tồn tại bất tử của họ thực sự khá giống với nhân vật phản diện của Rowling –  một sự tồn tại bị nguyền rủa.

Chuyện kể về ba anh em

Sự tóm lược cô đọng nhất của chủ đề cái chết trong Harry Potter là việc lồng truyện trong truyện, Chuyện kể về ba anh em, được kể trong phần truyện Harry Potter cuối cùng. Ba anh em phải đối mặt với Thần Chết và phản ứng theo ba cách khác nhau. Và chỉ có người em út, người chấp nhận cái chết mới thoát khỏi kết cục tàn bạo và nhục nhã. “Và lúc đó người em út chào đón Thần Chết như một người bạn cũ, vui vẻ cùng Thần ra đi, và cả hai rời khỏi thế gian như hai kẻ đồng đẳng ngang tài.”

Vậy là việc “cậu bé vẫn sống” đồng thời là “cậu bé đã chết” không phải một nghịch lí. Thật vậy, lập luận của Rowling rằng chỉ khi ta chấp nhận rằng sự tồn tại của mình vốn là một làn gió thoảng qua, chúng ta mới có thể thực sự sống một cuộc sống có ý nghĩa và mục đích.

Chạy trốn khỏi cái chết là từ bỏ tất cả những thứ làm cho cuộc sống trở nên đáng sống. Đây không chỉ là một thông điệp nhỏ được cài cắm thật thông minh trong câu chuyện về cậu bé phù thuỷ – mà sự cộng hưởng từ chủ đề này tới tất cả mọi người trên thực tế có thể là một phần rất lớn của bộ tiểu thuyết nổi tiếng toàn thế giới. Harry Potter, bạn thấy đấy, có một cái gì đó để nói.

Hết.

Chan Trang dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi J. Andrew Deman, đăng tại The Conversation.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Đẹp là một nỗi đau: Hai ý niệm song hành về những vẻ đẹp đầy khổ đau

Đăng từ

on

Người đăng

Đêm buông thõng một tiếng thở dài. Giữa thinh không, thành phố ngủ vùi trong cơn mưa đầu mùa lạnh lẽo. Mưa hối hả xối ướt những con đường. Mưa lạnh căm. Và tịch mịch. Trong căn phòng nhỏ với từng nỗi ngổn ngang đang ngập ngụa trong lòng, tôi đọc đến trang bốn trăm bốn mươi, và cũng là trang cuối cùng của một cuốn sách – đã khiến tôi phải nhọc lòng nghĩ ngợi nhiều đến vậy. Đẹp là một nỗi đau, ôi những điều xa xôi diệu vợi nào đó giữa cuộc đời, tôi đã tìm thấy được, trong cuốn sách này. Và đêm nay, khi trang sách cuối cùng khép lại, lòng tôi bỗng chộn rộn những xúc cảm lạ thường. Một hành trình dài, tôi đã vừa khép lại, với chính mình, với cuốn sách này, như thể tôi vừa khám phá ra một thế giới của cái đẹp – nhưng đầy đau đớn, hay chính thế giới của những sự đau đớn – nhưng vẫn đẹp đẽ vô cùng?

*

Đẹp là một nỗi đau, cuốn sách ấy thật lạ kì làm sao! Lạ kì như cái cách mà tác giả đã đặt tên cho đứa con tinh thần của mình. Khi nghĩ về tựa đề của cuốn sách, một câu hỏi thảng thốt bất chợt vang lên trong tôi: Tại sao đẹp lại là một nỗi đau? Tôi đi tìm câu trả lời ấy, qua từng chương của cuốn tiểu thuyết này. Nó đưa tôi đi xa, xa mãi, đến những vùng miền kì lạ của đất nước Indonesia thời bấy giờ, khi chiến tranh và hiện thực khắc nghiệt cứ đeo bám lấy số phận của từng người, từng người một…

Cuốn sách bắt đầu bằng một sự kiện quái dị: Dewi Ayu – một người đàn bà đã chết cách đây hai mươi mốt năm bất ngờ đội mồ sống dậy, bằng xương bằng thịt trong cơ thể của một con người, chứ không phải những hồn ma vất vưởng đã lăn trôi bất tận giữa xứ sở này từ bao lâu. Bà rời khỏi nghĩa trang, bà bước đi, bà ghé ngang qua những phố phường, rồi lại trở về căn nhà xưa cũ của bà khi còn sống. Bà bỗng xuất hiện giữa cuộc đời, một lần nữa, như chưa hề có chuyện đã chết vùi giữa mộ địa bao nhiêu năm qua. Sự kiện ấy đã khiến cho rất nhiều người dân trong vùng sợ hãi và bỏ chạy tán loạn. Họ biết rõ Dewi Ayu là ai, họ biết Dewi Ayu sao lại chết, và họ biết Dewi Ayu có sức ảnh hưởng lớn thế nào đến tất cả mọi người. Nhưng họ không biết sao bà lại trở về. Và liệu rằng, ngay lúc này, Dewi Ayu thật sự vẫn còn sống, hay chỉ là một hồn ma đáng sợ trong thế giới tâm linh nhỏ bé của con người? Chưa ai biết, chưa ai hiểu, nhưng sự trở về của bà đã mở ra vô vàn những câu chuyện nối đuôi nhau tiếp diễn một cách lạ kì, như một sợi dây dài được đan xen nhau bằng các chuỗi mắt xích của quá khứ, hiện tại – và cả tương lai.

Trong thành phố này, không ai là không biết đến Dewi Ayu, người đàn bà xinh đẹp sở hữu nhan sắc tuyệt trần làm tất cả đàn ông say đắm. Bà lớn lên trong một gia đình mà mối quan hệ giữa các thành viên lại là một chuỗi những rắc rối lạ kì. Thật khó khi phải nói ra, nhưng có lẽ, những khổ đau từ ban sơ đã bắt đầu ngủ ngầm trong giai đoạn này, trong chính những thứ tình cảm tội lỗi, trong chính những phiền não của các thế hệ ông bà, cha mẹ của bà. Phải chăng, vì lẽ đó, kể từ khi còn nhỏ, bà đã là một cô bé có những suy nghĩ và hành động khác biệt so với tất cả mọi người. Bà mạnh mẽ, gan dạ, hiếu động và thông minh. Nhưng những điều đó dường như đã không giúp ích được gì cho bà. Bởi thời cuộc! Thời cuộc của chiến tranh. Rồi mọi thứ bỗng chốc xảy ra một cách đột ngột không báo trước. Bà không còn được gặp lại ông bà. Bà không còn có người giúp việc kề cận. Bà bỗng cô độc. Và bị rời xa ngôi nhà quyền quý của mình. Và bị trở thành gái điếm trong nhà thổ – một cách thường tình như bao cô gái khác cũng bị bắt đi. Chiến tranh đến trong cuộc đời của tất cả mọi người dân nơi này.

Từ đó trở đi, Dewi Ayu trở thành một gái điếm vô cùng nổi tiếng. Bà đẹp, đẹp lắm. Một vẻ đẹp làm tất thảy mọi đàn ông say đắm. Ai cũng khao khát được âu yếm, vuốt ve, nâng niu bà, và hơn hết, là được ngủ cùng bà – bằng những cuộc làm tình bất tận. Điều đó dễ thôi, bà chẳng cần quan tâm gì hết, miễn là họ có tiền, và đưa cho bà, vì bà làm nghề gái điếm đấy thôi. Gái điếm! Một cái nghề “sung sướng” trong mắt của những kẻ hoan lạc, nhưng thật ra lại vô cùng “bạc bẽo” trong lòng của những kẻ bi thương. Vì đâu mà bà làm gái điếm? Vì đâu mà bà lại phơi bày tấm thân và vẻ đẹp tuyệt sắc của mình cho mọi loại đàn ông trên đời, dù là lão già héo úa hay đứa trẻ vừa mới mộng tinh, dù là gã cô đơn hay là kẻ đã có gia đình? Bà muốn vậy chăng? Không không. Vì số phận, số phận đó thôi. Số phận đã sắp đặt và an bày lên mảnh đời của bà. Và số phận trôi đi trong cái guồng quay luân hồi không bao giờ dừng lại. Bà chỉ đứng nhìn số phận và lặng lẽ sống cùng nó. Và đợi trả thù!

*

Trong những tháng ngày làm nghề gái điếm, bà đã có con. Những đứa con của bà đều là con gái, và chúng xinh đẹp, như bà. Hoặc thậm chí, là đẹp hơn cả bà. Một lần nữa, sự ra đời của những đứa trẻ này làm cho cuộc sống của người dân trong thành phố náo loạn. Chúng lớn lên, mặn mà và kiều diễm. Chúng biết xinh đẹp và cũng biết yêu thương. Chúng xinh đẹp trong mắt của mọi gã đàn ông. Và chúng yêu thương trong những xúc cảm chân thành của một người phụ nữ. Thời gian trôi đi, cùng với bao thăng thầm xứ sở, chúng lại có gia đình, có con cái. Những tưởng hạnh phúc sẽ theo chúng lâu dài. Vì chúng đẹp. Một vẻ đẹp rạng ngời trên trái đất. Nhưng than ôi. Đó lại là một thảm bi kịch. Những người chồng của chúng, những đứa con của chúng, những mối quan hệ kì lạ của chúng – đều là khổ đau. Sự khổ đau hiện hữu từng ngày, từng phút, từng giây, và cả từng sát na ngắn ngủi, trong cuộc đời của chúng. Và khổ đau nối đuôi nhau, theo đến đời những đứa con của chúng. Trải dài. Bất tận.

Suốt cả một hành trình dài của cuốn sách, thứ hiện lên rõ ràng và xuyên suốt nhất, chính là vẻ đẹp, và hơn hết là vẻ đẹp của những người phụ nữ. Những người phụ nữ ấy là ai? Là Dewi Ayu, là Maya Dewi, Alamanda, Adinda – ba đứa con gái của bà, là Nurul Aini và Rengganis Xinh Đẹp – hai đứa cháu ngoại của bà, là công chúa Rengganis trong truyền thuyết, là các số phận không tên khác. Tất cả họ, tất cả những vẻ đẹp của họ – đều được phơi bày cặn kẽ trước cuộc đời như công thức chung của những người phụ nữ đẹp. Ai cũng đẹp. Ai cũng làm người khác mê mẩn. Ai cũng sở hữu thứ nhan sắc vượt trên mọi ý niệm về cái đẹp là gì. Nhưng rồi được gì, khi mà đằng sau đó, tất cả những gì họ có được, là sự khổ đau. Mà sự khổ đau này từ đâu ra? Từ chính vẻ đẹp.

Vì sao vẻ đẹp lại gây ra đau khổ? Vì con người chấp vào vẻ đẹp đó, cho rằng nó vĩnh hằng, nó bền vững, nó luôn trường tồn và ở đó mãi mãi. Mà quên mất rằng, cái đẹp chỉ là một khái niệm mong manh giữa cuộc đời. Cái đẹp chỉ là giả tạm. Rồi cái đẹp sẽ tan biến. Sẽ tan đi. Sẽ theo thân xác nằm dưới nắm mồ. Và chôn vùi vào đất. Thế là xong.

Nhưng không ai tin điều đó. Trước mắt họ, cái đẹp vẫn là nhất. Họ làm tất cả mọi chuyện, dù đúng dù sai, thậm chí cả giết nhau, chỉ vì cái đẹp. Đó lại là một câu chuyện khác, của những gã đàn ông đam mê cái đẹp xuất hiện trong cuốn sách này. Thế hệ ông bà, cha mẹ của Dewi Ayu, cái đẹp đã vô tình tạo dựng nên những mối quan hệ đau lòng, những cuộc tình oan trái mà từ đó trở thành mầm mống của các chuyện bi thương về sau. Rồi họ, Shodancho, Maman Gendeng, Kliwon, Krisan – những gã đàn ông của thế hệ sau này, vẫn cứ thế tiếp tục xuôi theo cái vòng tròn luẩn quẩn của một kiếp người say đắm cái đẹp. Họ yêu bằng cái đẹp hiện hữu. Họ cho cái đẹp là tuyệt vời. Họ không thể nào cưỡng lại được cái đẹp. Và cái đẹp đã thống trị họ – cả thể xác lẫn tinh thần. Họ lao vào làm tình với những người phụ nữ đẹp, mà không cần biết đó là mối quan hệ gì. Họ chỉ yêu và yêu như thể nếu không yêu thì sự sống sẽ ngừng lại. Họ khao khát vẻ đẹp trong tình yêu. Nếu phải làm mọi thứ để có được vẻ đẹp trong tình yêu, họ sẽ làm mà không màng suy nghĩ. Và họ đã làm như vậy, với nhau, trong nỗi thống khổ và dày vò vô hình đáng sợ. Làm sao tin được khi con rể lại chính là người đã từng ngủ với mẹ vợ, gã em trai lại đem lòng yêu chị họ của mình nhưng lại làm tình với một người chị họ khác, rồi em vợ lại là người từng làm tình với chị vợ của mình… Rồi các mối quan hệ mà người đời vẫn gọi là “loạn luân” và phi đạo đức cứ thay phiên nhau xuất hiện đầy rẫy trong cuốn sách này. Đến tội nghiệp. Và trơ trọi. Tất cả những câu chuyện ấy, đều là vì cái đẹp mà ra.

*

Một yếu tố khác mà tôi muốn đề cập đến, chính là sự “hoang đường” trong cuốn sách này. Một sự hoang đường thực tế và vô cùng hợp lý. Đó là khi tác giả lồng ghép những chất liệu hư cấu (mà nhỡ đâu nó có thể là sự thật thì sao?), khi cho phép các yếu tố quỷ dị vào câu chuyện của mình. Những hồn ma có năng lực phép thuật, cách thức người chết sống lại, những người có khả năng gọi hồn và trò chuyện cùng ma quỷ… Dù những điều ấy, với thực tại, nó vốn không có thật, nhưng trong thế giới của những con người mà chuyện kì lạ nào cũng có thể xảy ra, thì tại sao nó lại không thể xảy ra? Chính những điều mơ hồ quỷ dị ấy đã làm cho cuốn sách thêm phần hấp dẫn, và lôi cuốn, và thu hút độc giả qua từng chương.

Tôi đã từng chê cuốn sách này. Tôi đã bỏ dở. Tôi đã khiên cưỡng khi nghĩ về những nhân vật lạ kì trong cuốn sách và nghi ngờ cái cách mà tác giả bày trí cho sự hiện diện của mỗi người. Tại sao lại có quá nhiều nhân vật với quá nhiều cái tên và câu chuyện khiến độc giả không thể mường tượng và xâu chuỗi lại được? Tại sao mọi thứ lại khó hiểu và rắc rối ngay từ những trang đầu như thế. Tại sao nội dung lại không liên quan gì đến tựa đề cuốn sách? Tại sao và tại sao? Và cuối cùng, khi cuốn sách khép lại, tôi bỗng vỡ òa ra. Hóa ra, mọi thứ đều có những nguyên nhân của nó. Mọi nhân vật xuất hiện đều đầy đủ, vừa vặn và vẹn tròn. Họ bổ sung cho nhau. Họ tôn vinh vẻ đẹp của nhau. Và họ cũng làm nhau đau khổ. Mối tương quan lạ kì này thật khó hiểu. Cái đẹp thường phải song hành cùng hạnh phúc. Nhưng cuốn sách đã đưa ra những tình tiết dẫn dắt bất ngờ, những biểu tượng ẩn dụ đầy tinh tế, để chỉ ra và kết luận một điều, “đẹp là một nỗi đau”.

Khi cuốn sách khép lại, tôi bỗng lặng người đi. Cả vô vàn muôn sự đau khổ. Trong ngần ấy thời gian sống của một kiếp người, họ đã làm gì, ngoài việc theo đuổi cái đẹp giả tạm, để rồi khi lần lượt những nhân vật chủ chốt đều chết đi, đầy đau thương, vì cái đẹp, và họ nhận ra rằng, đẹp chính là một nỗi đau, khi mà Krisan bị bắn chết sau khi làm tình với dì ruột của mình – một cô gái xấu xí đến rợn người mang trên mình cái tên kiều diễm – Đẹp! Trớ trêu thay, đến khi Krisan nhận ra được điều ấy, thì đã chẳng còn ai ở lại trên cõi đời…

“Đẹp là một nỗi đau”, tôi không biết phải dùng hơn bất kì thứ ngôn ngữ nào để lột tả được các lớp nghĩa đằng sau nó. Tôi chỉ có thể cảm nhận những sự trống rỗng, bệ rạc, và nặng nề – qua từng số phận đầy đau thương kia. Cái đẹp như một lời nguyền bám dính lấy từng thế hệ của gia đình nhà Dewi Ayu. Cái đẹp mang đến những đau khổ tột cùng. Và cái đẹp lần lượt giết chết những ai tham đắm nó – trong tội lỗi, và trong luân hồi. Rồi cái đẹp có dừng lại ở đó không? Rồi oán hận có dừng lại ở đó không? Hay vẫn cứ trôi đi, và tiếp diễn.

Thật sự là tôi đã bị ám ảnh đôi chút về cuốn sách này, khi cơn mộng sâu ập đến vào một đêm nào đó tôi cảm thấy mình trơ trọi giữa cuộc đời. Không phải vì cuốn sách có những điều quỷ dị, mà là vì tôi thương cảm sâu sắc đến số phận của mỗi nhân vật. Ôi sao ai cũng đau khổ thế này? Ôi sao ai cũng bi thương thế này? Nhưng tôi biết phải làm gì hơn. Vì đó là sự lựa chọn của họ. Họ đã chọn cái đẹp. Họ đã lao đầu theo cái đẹp. Họ chưa nhận ra rằng, đẹp là một nỗi đau…

Với tôi, cuốn sách này vượt trên cả một chương tiểu thuyết về cái đẹp và sự khổ đau. Nó còn chứa đựng cả văn hóa, cả lịch sử, cả nền chính trị đương thời và các tập tục cũng như đời sống tinh thần của xứ sở Indonesia. Nó phản chiếu hình ảnh và tái hiện những tâm tư phức tạp trong mỗi con người. Nó phơi bày, nó soi rọi linh hồn đất nước, và, nó đẹp. Nhưng xin, nó hãy đẹp, nhưng đừng là nỗi đau…

Và như thế, trong tôi, cuốn sách khép lại giữa đêm. Đêm tịch mịch. Ngoài kia, biết bao người nữa, còn bao người nữa, đang lao đi, lao đi, và chôn vùi trong sự đau khổ vô minh, bởi những thứ họ thấy được, chỉ là cái đẹp.

“Sao anh muốn em?”
“Vì anh yêu em?”
“Anh yêu một người đàn bà gớm ghiếc?”
“Ừ.”
“Vì sao?”
“Vì đẹp là một nỗi đau.”

Vì đẹp là một nỗi đau…

Hết.

Lâm Lâm

Xem tất cả những bài viết của Lâm Lâm tại đây.


Review Đẹp là một nỗi đau

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Người lớn, trẻ con và Hoàng tử bé

Đăng từ

on

Người đăng

Khi còn bé, chúng ta suy nghĩ mọi thứ khác so với chúng ta phiên bản trưởng thành đến nỗi đánh mất đi nhiều thói quen hay ho. Là trẻ con, chúng ta nhìn qua lăng kính trong veo không gợn chút bụi trần, và hầu như không phải đắn đo giữa được và mất. Đến một thời khắc nào đó, con người khi đã đủ trưởng thành lại bùi ngùi nhớ lại bản thân mình ngày xưa với biết bao tiếc nuối… Đọc Hoàng tử bé, độc giả không tránh khỏi những suy nghĩ ấy: giờ đây, những thứ mộc mạc, giản dị của ngày bé chẳng thể trở về giản dị, mộc mạc nữa rồi, vì cuộc sống khắc nghiệt của người lớn phức tạp hơn nhiều.

Tuổi thơ và những điều con trẻ

Nhân vật xưng “tôi” ngày nhỏ thích vẽ. Trong một lần nhìn thấy bức tranh con trăn nuốt chửng cả một chú voi khổng lồ, bạn nhỏ ấy đã họa lại theo cách của mình, nhưng có vẻ không được tán dương lắm. Con trăn no căng bụng bị nhìn nhầm thành chiếc mũ, nên cậu vẽ cho hở bụng và không quên họa con voi to tướng vào chỗ hở của bụng trăn. Khi ấy, “người lớn” thi nhau bảo cậu hãy bỏ giấc mộng vẽ vời đi. Chẳng ai hiểu cậu vẽ gì cả.

Cậu bỏ thật…

Nhưng bức tranh ấy có ý nghĩa gì nhỉ? Tôi nghĩ mãi, và tạm chấp nhận với câu trả lời: con trăn chính là cuộc sống của “người lớn”. Nó nuốt chửng cả đứa trẻ thơ dại còn sót lại trong mỗi chúng ta. Đáng buồn là, chẳng ai thèm đoái hoài hay lo lắng về quá trình khó lòng cưỡng lại ấy. Chúng ta dường như đang quay mặt lại với chính mình ngày xưa: giản đơn, hiền lành và đầy mơ mộng.

Người kể chuyện là một người đàn ông cô đơn. Mỗi lần người khác cười ông vẽ “chiếc mũ” vớ vẩn, ông lại từ chối đứa trẻ sống trong tim mình bằng cách sống “người lớn” hơn: trí tuệ, hiểu biết và sõi đời.

Ông vẫn là một tâm hồn cô độc, quanh quẩn với chính mình, vòng quanh thế giới bao la nhưng mãi đến khi gặp Hoàng tử bé từ hành tinh B612 thì ông mới phần nào nguôi ngoai. Hai tâm hồn cô đơn, gặp nhau và tạo thành một mối dây liên kết vô hình. Của một đứa trẻ với một người già. Của một cư dân Trái Đất với kẻ sống ở nơi chỉ toàn núi lửa và lác đác vài bông hoa…

Người lớn đánh giá một vật xấu hay đẹp, đánh giá một người có đáng được lắng nghe hay không, cũng chỉ sòng phẳng qua những phương tiện vật chất. Trong thế giới mà tiền bạc là tất cả, chẳng ai để ý đến bông hoa nhỏ bé có thể bị con cừu ranh mãnh ăn mất bất cứ lúc nào.

Hoàng tử bé và chuyến phiêu lưu nhỏ

Lúc trò chuyện với chú phi công, Hoàng tử bé có vẻ rất lo lắng cho bông hoa hồng của mình. Cô quạnh trên hành tinh quê nhà, bông hoa lắm lời và kiêu kì có thể được xem như người bạn duy nhất của cậu. Đoạn miêu tả bông hồng sao mà giống lời miêu tả chị em phụ nữ của cánh mày râu quá: kiêu hãnh, không chịu công nhận tình cảm, lại còn vô cùng điệu nữa. Hoàng tử yêu bông hoa ấy, và bông hoa đó cũng yêu hoàng tử. Đó là lý do bông hoa cố tỏ ra vẻ mình yếu đuối: muốn được cậu che chở và chăm sóc.

Lồng ghép vào đó là câu chuyện về cây bao báp ăn nát cả hành tinh. Phải chăng, tác giả ngụ ý rằng, chuyện gì hôm nay làm được thì chớ để ngày mai, không thôi bao báp ăn mất đất, đến không còn chỗ mà sống. Triết lý giản đơn ấy, ngày nhỏ chắc hẳn rằng đã được mẹ và cô bảo ban hàng chục, hàng trăm lần, nhưng không hiểu sao khi đọc truyện, tôi mới thấy nó rõ ràng và đáng suy ngẫm đến thế.

44 lần ngắm mặt trời lặn. Vì buồn quá nên thích ngắm mặt trời lặn. Chẳng phải, vì cô đơn, lạc lõng quá nên buồn sao? Vì vậy, chú phi công kết luận: “Cái ngày 44 lần ngắm ấy, hẳn là cậu phải buồn lắm?” Cậu im lặng không đáp. Một đứa trẻ mà buồn thì sẽ như thế nào nhỉ?

Hoàng tử bắt đầu chán chường với bông hoa “nói nhiều”. Cậu muốn thoát khỏi hành tinh nhỏ bé của mình, thoát khỏi “vùng an toàn” và chu du khắp những vì sao. Nhưng sau đó, rõ ràng cậu lại hối hận vì đã đánh giá bông hồng qua cái sự “nói nhiều” ấy. Cậu nhận thấy mình có tình cảm sâu đậm với bông hoa. Cuộc phiêu lưu của cậu ra khỏi “vùng an toàn” chính là một cuộc dạo chơi của tâm hồn thơ bé đến với thế giới hiện thực tàn khốc của người lớn. Ở đó, có biết bao loại người khác nhau, nhưng dù là ai thì cậu cũng cảm thấy “người lớn thật là khó hiểu”, “kỳ lạ” và “buồn cười”.

Đó là một ông vua trị vì vương quốc không có lấy một thần dân. Ông trị vì trong cô đơn và mòn mỏi, với những triết lí cũng khá là hợp lí: “Cần phải yêu cầu người ta làm cái điều gì người ta có thể thực hiện được…” Tuy nhiên, vì quá cứng nhắc nên ông ta có vẻ bị động và bất lực, khi cậu quả quyết rời khỏi hành tinh. Một ông vua mà không có thần dân, thì còn gì là vua nữa?

Đó là một ông hợm hĩnh, coi cả thế giới là “cộng đồng người hâm mộ” của mình, và mình là cái rốn của vũ trụ. Loại người như thế này thì công nhận, ngoài đời nhiều thật. Bạn cứ thử làm việc nhóm nhưng chọn nhóm một cách ngẫu nhiên xem. Thế nào bạn cũng phải chán ngán như khi Hoàng tử bé chán ngán trò chơi vỗ tay… Cái tôi quá lớn xua đuổi người khác đi mất chứ chẳng thể giữ nổi chân ai cả.

Đó là một ông nát rượu. Vì quá bất lực với cuộc đời, quá hèn nhát mà ông chỉ trốn vào men rượu. Tại sao? Vì ông nghiện rượu. Đó là một vòng luẩn quẩn không lối thoát, nhất là khi bạn chỉ biết than thân trách phận mà chẳng buồn hành động chút xíu nào để làm cuộc đời bạn tốt hơn.

Đó là nhà buôn nghiện tính. Tính mãi, tính mãi, luôn miệng nói mình bận lắm, mình toàn làm những việc cao cả, những thứ nghiêm túc thôi. Nhưng để làm gì nhỉ? Tính tổng số sao mình sở hữu. Hoàng tử bé đã chỉ ra một điều mà ít ai để ý: rằng nhà buôn ấy, tính toán bận rộn thế thì chẳng ích lợi gì cả, rằng ông ta cũng không làm gì được cho các ngôi sao cả. Cuộc sống thực tại cũng vậy. Có rất nhiều người bận vùi đầu vào những thứ vô bổ, tưởng chừng nghiêm túc nhưng chả hề có ích; lại có người mải mê kiếm tiền mà quên hưởng thụ, quên mục đích cuộc sống của mình là gì, dẫn đến đời sống tinh thần nghèo nàn, thui chột; cũng có người có nhiều lắm, nhưng không cho đi, không giúp đỡ người khác, nên cuộc sống vô cùng tẻ nhạt.

Lại có ông nhà địa lý mọt sách, suốt ngày rúc vào sách vở chứ chẳng đi thực tế hay khám phá gì cả. Riêng có người đốt đèn chăm chỉ, cần mẫn là đáng để Hoàng tử bé kết thân. Có cảm giác, tác giả đang miêu tả bản thân như người đốt đèn đó: làm một việc khiêm nhường nhưng có ích cho đời. Đó là người duy nhất ngoài vũ trụ mà cậu muốn kết thân.

Vậy bạn trẻ à, bạn là cư dân của hành tinh nào mà tôi đã đề cập nhỉ?

Mong rằng bạn không cần phải phật lòng với tôi vì đã khiến bạn chột dạ.

Vậy còn Trái Đất thì sao?

Con rắn, cái giếng, con cáo và hoa hồng

Cách nói ví von đầy ẩn ý như thế, khiến những con người đã-từng-là-trẻ-con không khỏi trăn trở: rắn, cáo, hoa hồng nhưng đâu phải là rắn, cáo, hoa hồng thôi; giếng nhưng sâu thẳm, nó là gì nữa?

Con rắn ban đầu thấy Hoàng tử bé là đã ra chiều dụ dỗ. Nó bảo, nọc độc nó là để người bị cắn trúng trở về với nơi được sinh ra – thật là tráo trở biết bao. Thì ra, con người với nhau nhưng giả dối lắm, nên hay dùng những mỹ từ cao cả để che đậy tội lỗi. Cuối cùng, chính con rắn ấy đã trút hết nọc độc vào em và bỏ đi. Em ngây ngô, nhưng không hề ngây ngô chút nào.

Cậu gặp một con cáo, khao khát được thuần hóa. Con cáo đó, chính là nhân loại. Nhân loại khao khát yêu và được yêu, dù có đau khổ, dù có nếm mật nằm gai. Romeo và Juliet vẫn đến với nhau và yêu nhau bằng cả mạng sống, và chắc hẳn tiểu thuyết của Nicholas Sparks bán chạy cũng là do nhân gian nào có ai từ chối tình yêu cả một đời. Thế là cậu phát hiện ra, mình đã “được” hoa hồng kia thuần hóa. Cậu yêu bông hoa ấy. Và cậu nghĩ mình có trách nhiệm với thứ mà mình đã thuần hóa. Chậc, những người yêu nhau, thương nhau đều có trách nhiệm giữ cho người kia an toàn và hạnh phúc mà nhỉ?

Con cáo đau khổ khi phải chia xa Hoàng tử bé, nhưng nó không hối hận vì đã van nài cậu thuần hóa nó. “Lúa mì, vốn dĩ vàng óng, sẽ khiến tớ nhớ đến cậu.” Thật đáng nể, tác giả dạy trẻ con về tình cảm tự nhiên của con người quá tài tình!

Còn đây là bài học mà tôi tâm đắc nhất:

Người ta chỉ nhìn rõ được bằng trái tim. Con mắt thường mù lòa trước điều cốt tử… Chính thời gian mà cậu dành cho bông hồng của cậu mới khiến bông hồng của cậu quan trọng đến thế.

Hoàng tử bé của chúng ta cũng phát hiện rằng, 5000 bông hoa hồng trên trái đất giống hệt như bông hoa của cậu, nhưng với cậu, đóa hoa đó là duy nhất. “Nhưng chỉ riêng mình nàng thôi, nàng đã quan trọng hơn tất cả các cô, bởi lẽ chính nàng đã được tôi tưới nước cho. Bởi lẽ chính nàng đã được tôi chắn bình phong cho… Bởi lẽ đấy là bông hồng của tôi.”

Đọc đến đây, tôi chợt ganh tị với một bông hoa hồng nhỏ bé…

“Điều khiến cho sa mạc đẹp, hoàng tử nói, chính là nó giấu một cái giếng ở đâu đó…”

Em biết mình muốn làm gì, và cần phải làm gì để đi đến điểm dừng cuối cùng ấy. Không như những người trên tàu hỏa, chen lấn, xô đẩy, nhưng ông lái tàu chẳng biết họ đi tìm cái gì cả.

Vậy bạn thân mến, bạn đã biết mình đến thế giới này để làm gì chưa? Nếu chưa, thì bạn cần phải học hỏi Hoàng tử bé nhé! Cậu đi tìm giếng nước và khoan khoái uống nước do chú phi công múc lên. Cậu gắn liền làn nước mát ngọt và tiếng dây kéo cót két với chú phi công. Vì vậy, có lẽ sau này mỗi lần cậu khát nước hoặc nghe tiếng dây, thấy cái giếng, cậu sẽ nhớ tới chú phi công. Nhưng có lẽ, cậu không còn lần sau nữa.

Cậu đã tặng chú phi công cái gì nhỉ?

Những ngôi sao biết cười.

Đứa trẻ trong cơ thể già cỗi khô cằn.

Một lời gợi nhớ, rằng những thứ vô hình cần được cảm nhận bằng trái tim.

Lời kết

Tác giả truyện, Antoine de Saint-Exupéry là một phi công, và đã có kinh nghiệm tham gia làm nhiệm vụ trong Thế chiến thứ hai. Giấc mơ được bay lượn của ông được gởi gắm qua nhân vật “tôi” trong truyện, cùng với việc Hoàng tử bé bay lượn từ hành tinh này sang hành tinh khác. Kết thúc của truyện cũng khá buồn, nhưng tôi vẫn muốn hiểu theo cách riêng của mình. Tôi thấy bản thân không đủ mơ mộng và lạc quan để tưởng tượng cảnh Hoàng tử bé trở về quê nhà, tận tay chăm bón cho cô hoa hồng đỏng đảnh. Hoa chờ cậu một năm rồi, đã úa tàn rồi. Còn cậu, cậu cũng chẳng thể thoát khỏi lưỡi hái tử thần, và rời khỏi thế gian một cách nhẹ nhàng. Nhưng cậu, với một tâm hồn thánh thiện và tinh khiết, đã khiến cho chú phi công kia thay đổi quan điểm sống, khiến chú luôn nhớ đến cậu, thương nhớ cậu, vì chí ít, cậu cũng đã cứu mạng chú ấy, khiến chú ấy sống thật với bản thân, với “đứa trẻ mình đã từng là”. Hoàng tử cũng đã thỏa được mong muốn trở về với hoa hồng yêu dấu, dù là mãi sau khi cả hai đều lìa khỏi cõi đời. Tôi hoàn toàn tin rằng, cậu đã ra đi vô cùng thanh thản. Cậu ra đi vì tình yêu, dù bản thân cũng chẳng biết định nghĩa tình yêu là gì…

Truyện ngắn gọn nhưng dư âm thì còn mãi với thời gian. Mong rằng, những bài học quý giá về cuộc sống, về thành và bại, hữu hình và vô hình, tình yêu và tình bạn, sự sống và cái chết, tất cả đều sẽ đồng hành với tôi trong suốt quãng đời còn lại. Đều là những bài học đắt giá mà tác giả đã đúc rút được từ cuộc đời truân chuyên của mình, nên tôi rất trân trọng.

Ngày 31.07.1944, máy bay của Saint-Exupéry mất tích trên Địa Trung Hải. Tôi nghĩ, ông đi tìm Hoảng tử bé đấy. Ắt hẳn là ông đã tìm được em.

Hết.

Gia Bảo

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!