Nối kết với chúng tôi

Trích đăng

Chương 1 “Nắng Tháng Tám” – William Faulkner

Nắng Tháng Tám là vầng hào quang mang đầy những gương mặt người.

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Nắng tháng Tám

Tác giả: William Faulkner

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Tái bản: tháng 7.2018

1

Ngồi bên bờ đường, đưa mắt dõi theo chiếc xe la đang leo dần lên đồi về phía nàng, Lena nghĩ, ‘Mình đến từ Alabama1: thiệt là một quãng đường xa. Lội bộ suốt từ Alabama đến tận đây. Ui cha, xa quá trời luôn!’, trong khi nghĩ  dù lên đường chưa đầy một tháng mà mình đã đến được Mississippi2 rồi. Mình chưa hề đi xa nhà đến vậy. Mình chưa hề đi xa Doane’s Mill đến vậy, kể từ hồi mười hai tuổi tới nay.

Thuở đó nàng thậm chí chưa từng đặt chân đến Doane’s Mill cho đến khi cả cha lẫn mẹ nàng chết đi, dù mỗi năm nàng vẫn vào thị trấn sáu hay tám lần gì đó, vào ngày thứ bảy, ngồi trên chiếc xe la, mặc chiếc áo đầm may sẵn mua bằng đường bưu điện, hai bàn chân trần đặt nằm trên sàn xe còn đôi giày thì được gói kỹ trong giấy đặt trên ghế bên cạnh nàng. Chỉ lúc xe đến thị trấn nàng mới xỏ chân mang giày. Khi lớn hơn, nàng đòi cha cho ngừng xe ở ngoài rìa thị trấn, nàng bước xuống và đi bộ tiếp. Nàng không nói với cha tại sao nàng muốn đi bộ thay vì ngồi lại trên xe. Ông nghĩ là do những con đường phẳng phiu và do có những vỉa hè. Còn nàng thì tin là khi thấy nàng đi bộ như thế, những người đi qua nàng sẽ nghĩ nàng cũng cư ngụ trong thị trấn.

Nàng lên mười hai thì cha và mẹ nàng qua đời trong cùng một mùa hè, trong ngôi nhà vách làm bằng thân gỗ tròn có ba phòng và một hành lang, không có lưới chống muỗi ở cửa sổ, trong căn phòng được soi sáng bằng một ngọn đèn dầu lửa đầy thiêu thân bay quanh, sàn nhà trần trụi thì trơn nhẵn như đồ bạc cũ nhờ cọ xát nhiều với các bàn chân không. Nàng là đứa con nhỏ tuổi nhất còn sống. Mẹ nàng chết đầu tiên. Bà nói, “Chăm sóc cha nghe”. Và Lena đã làm theo. Rồi một ngày nọ, cha nàng nói, “Hãy đến Doane’s Mill với McKinley nghe con. Sửa soạn trước đi, nó đến là sẵn sàng đó nghe.” Rồi ông chết. McKinley, anh nàng, về nhà trong một chiếc xe la. Hai anh em chôn cất cha, vào một buổi chiều, dưới một lùm cây phía sau ngôi nhà thờ đồng quê, dựng một tấm ván thông thay cho bia đá. Sáng hôm sau nàng ra đi, có lẽ vào lúc đó nàng không biết là mình sẽ đi xa mãi mãi, cùng với McKinley trên chiếc xe la, nơi đến là Doane’s Mill. Anh nàng mượn cỗ xe đó và hứa trả lại nó khi đêm xuống.

Anh nàng làm việc ở xưởng cưa. Tất cả đám đàn ông trong làng đều làm việc ở xưởng cưa, hay làm cho nó. Người ta cưa xẻ những cây thông. Xưởng đã hoạt động ở đó được bảy năm và trong vòng bảy năm nữa thì cả rừng cây quanh vùng sẽ bị đốn ngã sạch bách. Vậy là vài bộ phận máy móc và phần lớn đám thợ từng làm chạy xưởng cưa, từng sống nhờ nó hay vì nó, sẽ được đưa lên các toa chở hàng và vận chuyển đi nơi khác. Nhưng một phần máy móc khác sẽ được bỏ lại, vì người ta bao giờ cũng có thể mua được các bộ phận thay thế tại chỗ mới bằng cách trả góp — những bánh xe chỉ còn trơ cốt sắt bất động nổi lên giữa những đống gạch vụn và đám cỏ dại lởm chởm, đăm đăm nhìn lên trời xanh với vẻ kinh ngạc tột cùng, và những nồi hơi lòi ruột chỏng các ống han gỉ không còn phun khói với vẻ bướng bỉnh, sững sờ và bối rối cùng lúc ngay giữa quang cảnh lỗ chỗ những gốc cây bị đẵn, một cảnh tan hoang nặng nề, im ắng, đất đai bỏ hoang, từ từ bị xói lở thành những khe nước ngầu đục, ứ đọng dưới những trận mưa dầm êm ả vào mùa thu và các cơn thịnh nộ sấm sét vào những ngày xuân phân. Rồi tới lúc cái xóm nhỏ này, ngay vào thời kỳ thịnh vượng nhất của nó mà đã không có tên trên danh bạ của Sở Bưu điện, cuối cùng thì sẽ bị ngay cả những tên mua vét lúc nhúc chấy rận trên người quên bẵng sau khi chúng phá đổ các nhà kho, nhà xưởng… để mang về đốt trong các lò bếp nhà chúng, hay trong lò sưởi vào mùa đông. 

Xóm có lẽ chỉ có năm gia đình khi Lena đặt chân đến. Một đường ray, một nhà ga, và mỗi ngày một lần có chuyến tàu lửa chở hàng lẫn khách chạy qua xóm, còi kéo đinh tai nhức óc. Tàu có thể bị chặn lại với một lá cờ đỏ nhưng thường thì nó hiện ra từ những ngọn đồi trụi cây một cách đột ngột như ma hiện hình và rền rĩ giống tiếng than khóc của mụ thần báo tử3 khi chạy ngang cái xóm nhỏ ơi là nhỏ này như một hạt chuỗi bị bỏ quên từ cái dây xâu bị đứt. Người anh lớn hơn nàng hai mươi tuổi. Nàng hầu như không nhớ đến anh chút nào trước khi nàng đến ở với anh. Anh sống trong căn nhà bằng gỗ thô, có bốn phòng, với bà vợ kiệt sức vì sinh đẻ quá nhiều. Mỗi năm thì có gần đến sáu tháng bà chị dâu này hoặc ở cữ hoặc nằm dưỡng bệnh. Trong suốt thời gian đó Lena làm mọi việc nhà và chăm sóc các đứa bé khác. Sau này nàng tự nhủ, ‘Mình nghĩ chính vì vậy mà bụng mình dính bầu nhanh quá cỡ!’

Chỗ ngủ của nàng là cái phòng dưới mái che nằm đằng sau căn nhà. Nó có một cửa sổ nàng học được cách mở và đóng trong bóng tối mà không gây ra tiếng động, dù nàng phải chia sẻ cái phòng dưới mái che này, trước tiên với đứa cháu đầu, rồi thêm đứa cháu thứ hai, rồi cả ba đứa cùng lúc.

Nàng ở được tám năm thì mới mở cánh cửa sổ đó lần đầu tiên. Nàng đã mở nó chưa đến mười hai lần thì nhận ra là nàng đáng lẽ không nên mở nó bao giờ. Nàng tự nhủ, ‘Thiệt đúng cái số mình!’

Bà chị dâu mách với người anh. Vậy là anh nhận ra thân hình nàng thay đổi, điều mà lẽ ra anh phải để ý từ lâu. Đó là một con người khắc nghiệt. Nỗi dịu dàng, lòng khoan dung và tuổi thanh xuân (anh mới bốn mươi tuổi) và gần như tất cả những thứ khác đã theo những giọt mồ hôi toát ra trên người mà biến mất, chỉ còn lại một thứ nghị lực bướng bỉnh và tuyệt vọng, và một di sản u ám từ niềm kiêu hãnh huyết thống. Anh xem nàng là đồ điếm. Anh buộc tội đúng chóc tên thủ phạm (khó gì đâu, những thanh niên độc thân hay Casanova4 “mạt cưa” thì thậm chí còn ít hơn các gia đình ở đây) nhưng nàng không muốn thừa nhận, dù chàng ta đã bỏ đi từ sáu tháng trước. Nàng chỉ lặp đi lặp lại một cách ương bướng, “Ảnh sẽ gọi cho mình. Ảnh đã nói ảnh sẽ gọi cho mình mà”; nàng tỏ ra kiên trì nhưng dễ tính đến độ cả tin, nhờ dựa vào sức mạnh tích tụ của niềm chung thủy sắt son và nhẫn nại mà những người trong gia đình Lucas Burch luôn tùy thuộc và tin tưởng, dù cho họ không có ý định sẽ hiện diện ở đó một khi sự chung thủy này trở nên cần thiết. Hai tuần sau nàng lại còn leo qua cửa sổ đó. Lần này thì hơi khó. ‘Eo ơi, giá như mấy tháng trước đó mà cũng khó như vầy thì bây giờ mình đâu phải leo qua cho cực tấm thân’, nàng nghĩ. Nàng hẳn có thể đi khỏi nhà qua cửa chính, ngay giữa ban ngày. Không một ai chặn nàng lại đâu. Nàng biết điều đó, có lẽ vậy. Nhưng nàng chọn ra đi vào ban đêm, qua cửa sổ. Nàng mang theo một cái quạt bằng lá cọ và một cái bọc nhỏ được cột lại gọn gàng trong chiếc khăn tay màu sáng. Nó chứa, giữa các thứ khác, ba mươi lăm xen5 bằng đồng năm và mười xen. Nàng mang giày của người anh, cái đôi mà anh đã cho nàng. Còn gần như mới vì chẳng ai chịu xỏ chúng vào mùa hè. Khi cảm thấy có bụi đường dưới đôi bàn chân, nàng tháo giày và cầm trên tay.

Nàng đã đi bộ như thế đến nay gần được bốn tuần lễ rồi. Sau lưng nàng, bốn tuần lễ và cái cảm giác về cái gì xa xôi ấy kéo dài như một cái hành lang yên tĩnh được lát bằng niềm tin lặng lẽ, chắc nịch, và đầy những giọng nói, những khuôn mặt không tên nhưng tử tế: Lucas Burch? Tôi không biết. Tôi không biết ai mang tên đó quanh đây. Con lộ này à? Nó dẫn đến Pocahontas. Ờ, anh ta có thể ở dưới đấy. Có thể lắm. À, chiếc xe này đi xuống miệt đó. Nó sẽ đưa cô đến đó; giờ đây, đằng sau nàng là một chuỗi ngày đêm đều đặn, yên tĩnh nối đuôi nhau, lê thê và đơn điệu, những ngày, những đêm mà nàng đã đi về phía trước trong những chiếc xe la vô danh giống hệt nhau và thong thả như thể xuyên qua các biến dạng liên tiếp của những cái bánh xe cọt kẹt và những đôi tai la cụp lại, giống cái gì đó chuyển động không ngừng nhưng không tiến tới được, như thể đi vòng bên hông một cái vại.

Chiếc xe la leo đồi về phía nàng. Nàng qua mặt nó cách đây một dặm phía dưới con lộ. Nó đậu bên vệ đường, các con la say ngủ với cái ách còn trên cổ, đầu chúng chỉ về hướng mà nàng đang lầm lũi rảo bước. Nàng đã thấy nó và cũng thấy hai tên đàn ông ngồi xổm bên cạnh một chuồng ngựa đằng sau hàng rào. Nàng nhìn họ và chiếc xe, chỉ một lần: liếc một cái nhưng thấy mọi thứ, nhanh gọn, trong trắng và thâm trầm. Nàng không dừng bước; có thể là hai tên đàn ông phía sau hàng rào đã không thấy nàng nhìn họ cùng chiếc xe la. Nàng cũng không ngoái đầu lại. Nàng chậm rãi tiếp tục đi khuất mắt họ, giày cởi dây xung quanh mắt cá, cho đến khi nàng lên tới đỉnh đồi cách đấy một dặm. Rồi nàng ngồi bệt xuống bên mép cái rãnh thoát nước, để hai bàn chân trong cái rãnh lúc này cạn khô và lột giày. Một đỗi sau nàng bắt đầu nghe tiếng chiếc xe la. Nàng nghe được một lát, rồi thấy nó đang nặng nhọc leo đồi.

Thiếu dầu bôi trơn, và biến dạng vì mưa nắng, gỗ và sắt thép của xe khi rung lắc chầm chậm thì kêu cọt kẹt, nghe khô giòn đến chói tai kinh khủng: một loạt tiếng động nổ ra khô khốc, uể oải vang xa đến nửa dặm xuyên qua sự tĩnh lặng nóng bức, đứng gió và đượm mùi nhựa thông của buổi chiều tháng tám này. Mặc dù các con la dầm dãi cất bước như thể ở trong tình trạng thôi miên ổn định và không mệt mỏi, chiếc xe hình như không tiến tới được. Vì bánh xe quay cực kỳ chậm, nó có vẻ như bị treo lơ lửng mãi mãi ở nửa chừng, như một hạt chuỗi tồi tàn trên sợi dây đỏ nhạt là con lộ. Và cảnh tượng này thì thực đến mức mà, dù theo dõi nó, cặp mắt người ta không thấy nó nữa khi thị giác và các giác quan khác nhập chung và trộn lẫn trong sự ngầy ngật, như chính con lộ, với chuỗi ngày đêm yên tĩnh và đơn điệu nối tiếp nhau, giống như sợi chỉ đo sẵn được quấn vào ống một lần nữa. Nó thực đến mức mà cuối cùng người ta có thể tưởng rằng tiếng xe đó dường như đến từ một vùng đất tầm thường, nhỏ nhoi, và bất chấp khoảng cách, nó đến chậm chạp, kinh khủng và vô nghĩa, như thể nó là cái bóng ma đi trước thân xác của chính mình cả nửa dặm đường. ‘Mình có thể nghe nó từ xa đến vậy trước khi thấy nó’, Lena nghĩ. Nàng thấy mình đã di chuyển trên đường, đã ngồi trong chiếc xe lần nữa, trong khi nghĩ   rồi cứ như thể là nó chở mình đi được nửa dặm ngay cả trước khi bước lên xe, ngay cả trước khi xe đến chỗ mình đang chờ đây, và sau khi mình bước xuống xe, nó vẫn còn chở mình bên trong thêm nửa dặm nữa. Nàng đợi, thậm chí không đưa mắt dõi theo chiếc xe lúc này, trong khi các ý tưởng trong đầu nàng trở nên vu vơ, êm ả và nhanh lẹ, đầy những giọng nói, những khuôn mặt không tên nhưng tử tế: Lucas Burch? Cô nói cô đã đi tìm ở Pocahontas à? Con lộ này sao? Nó chạy xuống Springvale đó. Chờ đây nghe. Có chiếc xe sắp sửa qua đây sẽ đưa cô đi một đoạn đường   vẫn trong khi nghĩ, ‘A, nếu Lucas Burch đi tuốt lên Jefferson thì ảnh sẽ nghe mình đến ngay cả trước khi thấy mình. Ảnh sẽ nghe được tiếng xe, nhưng ảnh sẽ không tài nào biết được. Vậy là sẽ có ai đó đến trong tầm tai trước khi đến trong tầm mắt ảnh. Và lúc đó thì ảnh sẽ thấy mình và ảnh sẽ phấn khởi. Vậy là ảnh sẽ thấy hai người trước khi ảnh nhớ ra được.’

Ngồi bệt trong bóng mát, lưng tựa vào bức tường chuồng ngựa của Winterbottom, Armstid và Winterbottom thấy nàng đi qua trên đường. Hai người nhận ra tức khắc là nàng trẻ, có chửa và không phải là người trong vùng. “Tao tự hỏi con nhỏ dính bầu đó ở đâu?” Winterbottom nói.

“Tao tự hỏi nó ễnh bụng bao lâu rồi?” Armstid nói.

“Tao cho là con nhỏ đi thăm ai phía dưới con lộ,” Winterbottom nói.

“Tao không tin vậy. Nếu đúng thì tao đã nghe nói rồi. Cũng đâu phải người vùng mình. Tao hẳn đã nghe nói rồi.”

“Tao cho là con nhỏ biết mình đi đâu,” Winterbottom nói. “Qua cách đi đó, nó có vẻ biết mình đi đâu.”

“Không bao lâu nữa chắc nó sẽ có bạn đồng hành,” Armstid nói. Người đàn bà đi xa dần, chậm chạp với gánh nặng căng ra trước bụng mà ai thấy cũng biết. Cả hai tên đàn ông đều không thấy nàng liếc nhìn họ một lần khi nàng đi ngang qua, trên người mặc chiếc áo đầm xanh bạc phếch và không còn hình thù gì hết, tay mang một cái quạt bằng lá cọ và một bọc vải nhỏ. “Nó không đến từ miệt nào gần đây đâu,” Armstid nói. “Theo cách đi đó thì nó chắc đã lặn lội trên đường nhiều ngày rồi và chắc còn lội thêm một đoạn đường dài nữa à nghe.”

“Chắc là con nhỏ đi thăm ai đó quanh miệt này,” Winterbottom nói.

“Nếu vậy thì tao đã nghe nói rồi,” Armstid nói.

Người đàn bà cứ bước đi. Không ngoảnh mặt nhìn lại. Nàng ra khỏi tầm mắt khi lên đến đỉnh con đường dốc: bụng căng to, chậm chạp, kiên quyết, không vội vã, không mệt mỏi, giống như buổi chiều đang dần dần tiến tới. Nàng cũng ra khỏi câu chuyện của họ, có lẽ ra khỏi tâm trí họ nữa. Bởi vì sau một lúc thì Armstid mở miệng nói cái chuyện mà hắn đến đây để nói. Trước đó hắn đã có hai chuyến đi bằng xe la, năm dặm đường từ nhà đến đây chớ ít sao, chỉ để ngồi xổm và khạc nhổ suốt ba tiếng đồng hồ dưới bóng bức tường chuồng ngựa của Winterbottom, với sự dùng dằng chậm rãi của những loại người như hắn luôn xem thì giờ là không đáng xu teng gì, để mà nói cái chuyện đó. À, chính là để mặc cả cái máy xới đất của Winterbottom mà tay này muốn bán. Rồi cuối cùng Armstid nhìn mặt trời và đưa ra cái giá mà khi nằm trong giường ba đêm trước đây hắn đã quyết định đưa ra. “Tao biết có một cái máy giống như của mày ở Jefferson mà tao có thể mua với cái giá này,” hắn nói.

“Tao nghĩ mày nên mua nó đi thì hơn,” Winterbottom nói. “Có vẻ rẻ mạt đó.”

“Hẳn vậy rồi,” Armstid nói. Hắn nhổ nước miếng. Hắn lại nhìn mặt trời rồi đứng dậy. “Thôi được, giờ thì tao phải quay về nhà đây.”

Hắn leo lên xe của mình và đánh thức các con la. Hay đúng hơn, hắn cho chúng di chuyển, bởi vì chỉ có dân da đen mới có thể biết khi nào con la ngủ hay thức. Winterbottom đi theo hắn đến tận hàng rào, chống cùi chỏ lên đó. “Đúng vậy đó,” Winterbottom nói. “Chắc là tao sẽ mua cái máy xới đất mày vừa nói với cái giá đó. Nếu mày không lấy nó, tao là đồ chó nếu tao không ba chân bốn cẳng xách đít đi mua nó. Và cái thằng cha có cái máy đó, nó lại không có một cặp la để bán với giá khoảng năm đô-la hay sao?”

“Hẳn vậy rồi,” Armstid nói. Hắn bỏ đi, chiếc xe bắt đầu vang lên tiếng lọc cọc chậm chạp nuốt dần các dặm đường. Hắn không ngoái đầu nhìn lại. Và hình như hắn cũng không nhìn về phía trước, vì hắn không thấy người đàn bà ngồi ở cái rãnh bên vệ đường cho tới khi chiếc xe lên gần sát đỉnh đồi. Vào lúc nhận ra cái áo đầm màu xanh, hắn không biết được là nàng có bao giờ thấy chiếc xe la này không. Và hẳn không ai có thể biết là hắn có bao giờ nhìn nàng không khi thấy hai người càng lúc càng gần nhau một cách chậm chạp quá sức, có vẻ như không tiến tới chút nào, trong khi chiếc xe cứ mải miết bò về phía nàng, nó thì được bao bọc trong một vầng sáng uể oải và có thể chạm tới được của tình trạng ngủ gà ngủ gật và của bụi đỏ mà trong đó những bàn chân cứng cáp của các con la di chuyển như trong một giấc mơ, theo nhịp rời rạc của các bộ cương kêu lách cách và của các đôi tai như tai thỏ rừng ve vẩy một cách mềm mại. Khi hắn cho các con la dừng bước, chúng vẫn không ngủ mà cũng chẳng thức.

Bên dưới cái mũ che nắng màu xanh đã phai, giờ lại bạc thêm bởi cái gì khác hơn là xà bông và nước giặt, nàng ngước lên nhìn hắn một cách bình thản và dễ thương: khuôn mặt nàng trẻ, dễ gần, thẳng thắn, thân thiện và lanh lợi. Nàng cứ ngồi yên. Bên dưới tấm áo đầm phai màu, cùng một sắc xanh bạc phếch, thân thể bị biến dạng của nàng vẫn bất động. Quạt và bọc vải đặt trên hai đùi. Nàng không mang tất dài. Hai bàn chân trần nghỉ ngơi bên nhau trong cái rãnh cạn. Nằm trơ ra cạnh đó là đôi giày đàn ông nặng nề và lấm bụi. Trên chiếc xe la đã ngừng, Armstid ngồi, lưng khòm và đôi mắt nhợt nhạt. Hắn thấy chiếc quạt được viền kỹ lưỡng bằng cùng một màu xanh bạc phếch như cái mũ che nắng và chiếc áo đầm.

“Đi xa đến đâu?” hắn nói.

“Tôi cố đi thêm một quãng trước khi trời tối,” nàng nói. Nàng đứng lên, đưa tay cầm đôi giày. Nàng leo lên mặt đường, cố ý chậm rãi, và đến gần chiếc xe. Armstid không bước xuống để giúp nàng. Hắn chỉ giữ cỗ xe đứng yên trong khi nàng nắm bánh xe mà trèo lên một cách nặng nhọc và đặt đôi giày dưới ghế ngồi. Rồi xe chuyển bánh lại. “Cám ơn chú,” nàng nói. “Lội bộ như vầy mệt thiệt.”

Armstid hình như không hề nhìn kỹ nàng. Vậy mà hắn đã thấy nàng không đeo nhẫn cưới. Bây giờ hắn không nhìn nàng. Chiếc xe la lại vang lên tiếng lọc cọc chậm chạp. “Từ xa đến phải không?” hắn nói.

Nàng thở ra. Đó không phải là tiếng thở dài mà đúng hơn là tiếng thở ra thanh thản, như thể để diễn tả một nỗi kinh ngạc thầm lặng. “Bây giờ nhìn lại thì trông như một quãng đường xa thiệt đó. Tôi đến từ Alabama.” Nàng đáp.

“Từ Alabama thiệt sao? Với cái bụng ễnh như vầy sao? Gia đình ở đâu?”

Nàng cũng không nhìn hắn. “Tôi cố sức đi gặp ảnh ở miệt trên đó. Biết đâu chú biết ảnh. Ảnh tên là Lucas Burch. Ở miệt dưới đó họ nói với tôi ảnh ở Jefferson, làm việc trong một xưởng bào.”

“Lucas Burch?” Giọng của Armstid gần như giống hệt giọng nàng. Hai người ngồi bên cạnh nhau, trên chiếc ghế bị lõm xuống vì các lò xo đã đứt. Hắn có thể thấy hai bàn tay nàng để trên đùi và gương mặt nhìn nghiêng của nàng dưới cái mũ che nắng. Hắn thấy các thứ này từ khóe mắt mình. Nàng có vẻ quan sát con lộ trải dần ra giữa những cái tai mềm của các con la. “Và đã lội bộ suốt cả chặng đường dài như vầy, một thân một mình, chỉ để lùng kiếm thằng chả sao?”

Nàng không mở miệng trả lời ngay. Một lát sau, nàng nói: “Bà con cô bác tốt bụng lắm. Họ tốt bụng lắm, thiệt tình.”

“Đàn bà cũng vậy à?” Từ khóe mắt hắn quan sát gương mặt nhìn nghiêng của nàng, nghĩ   Mình không biết mụ Martha sắp sửa nói gì    trong khi nghĩ: ‘Chắc là mình biết rõ mụ Martha sắp sửa nói gì rồi. Mình cho là đám đàn bà có thể tốt bụng mà không thực sự có lòng trắc ẩn. Đám đàn ông bây giờ cũng vậy, có lẽ. Nhưng chỉ có những mụ đàn bà xấu tính mới có thể tỏ ra tốt bụng với một người đàn bà khác đang cần lòng trắc ẩn’. Hắn nghĩ tiếp   Đúng vậy, mình biết mà. Mình biết y bon mụ Martha sắp nói gì đây

 Nàng ngồi rất yên, hơi dịch ra phía trước một chút, gương mặt nhìn nghiêng của nàng cũng rất yên, và đôi má… “Thiệt lạ lùng,” nàng nói.

“Làm sao mà khi nhìn một cô gái trẻ lạ nước lạ cái lội bộ trên đường với cái bụng bầu như cô đây, thiên hạ có thể biết được là thằng chồng đã bỏ rơi cổ?” Nàng không cử động. Chiếc xe la giờ đây di chuyển theo một thứ nhịp điệu nào đó. Bánh gỗ đã mòn và khô dầu nhập lại làm một với buổi chiều chậm chạp, với con lộ, với hơi nóng. “Và cô định tìm thằng chả ở miệt trên này à?”

Nàng không cử động. Nàng có vẻ quan sát con lộ, chậm rãi hiện dần ra giữa những cái tai của các con la, và khoảng cách thì có lẽ được tạc theo hình dạng con đường đi, rõ ràng vậy mà. “Tôi nghĩ tôi sẽ tìm ra ảnh. Không khó lắm đâu. Ảnh sẽ ở chỗ nào mà nhiều người cùng nhau tụ họp, cười giỡn với nhau. Ảnh thì giỏi đàn đúm lắm.”

Armstid buột miệng càu nhàu, giọng nghe thô lỗ và hung dữ. “La, đi tụi mày!” hắn nói; hắn tự nói với mình, nửa suy nghĩ trong đầu, nửa phát ra ở cửa miệng: ‘Tui nghĩ cô ta có lý. Chắc là thằng chả sẽ nhận ra là nó đã sai lầm thậm tệ khi nó dừng chân ở phía bên này Arkansas6, hay ngay cả Texas7.’

Mặt trời nghiêng dần, hiện chỉ còn độ một giờ ở trên đường chân trời, trước khi bóng đêm mùa hè nhanh chóng buông xuống. Một đường làng hiện ra, xuất phát từ con lộ nhưng còn im ắng hơn nó. “Đến rồi đó,” Armstid nói.

Người đàn bà cử động ngay lập tức. Nàng khom người lấy đôi giày. Và hình như nàng không muốn làm chậm trễ chiếc xe, dù chỉ vài giây ngắn ngủi để xỏ giày. “Tôi thiệt bụng cám ơn chú,” nàng nói. “Đi được một đoạn như vầy thiệt đỡ cho tôi quá.”

Chiếc xe ngừng lại lần nữa. Người đàn bà sửa soạn bước xuống. “Ngay cả khi cô đến được cửa tiệm Varner trước khi trời tối thì cô vẫn còn cách Jefferson đến mười hai dặm đó,” Armsitd nói.

Nàng luống cuống cầm cả đôi giày, cái bọc và chiếc quạt bằng một tay, còn tay kia thì nắm cái gì đó để xuống xe. “Tôi đi tiếp thì hơn,” nàng nói.

Armstid không chạm đến người nàng. “Cô đến qua đêm ở nhà tui đi,” hắn nói. “Nhà có đàn bà mà… có một bà có thể… nếu cô… Đến cho rồi nghe. Sáng mai tui sẽ chở cô đến cửa tiệm Varner rất sớm, rồi cô có thể đi xe tiếp vào thành phố. Ngày thứ bảy nào cũng có người lên đó. Không lẽ thằng chả sẽ thoát được tay cô vì cô ngủ lại một đêm ở đây à? Nếu như thằng chả ở Jefferson thiệt thì chắc là thằng chả sẽ còn ở đó ngày mai mà.”

Nàng ngồi yên, một tay nắm giữ các vật dụng của mình, sẵn sàng xuống xe. Nàng nhìn thẳng phía trước, tới chỗ mà con lộ cong mình rồi xa dần, với bóng tối đổ nghiêng trên mặt đường. “Tôi cho là tôi vẫn còn vài ngày.”

“Hẳn vậy rồi. Cô hãy còn nhiều thì giờ lắm đó. Có điều là bất cứ lúc nào từ nay cô cũng có thể rơi vào hoàn cảnh có thêm một bạn đồng hành chưa thể tự mình bước đi được.” 

Không chờ trả lời, hắn cho các con la cất bước. Chiếc xe rẽ vào con đường làng đã lờ mờ tối. Người đàn bà ngồi thụt vào, tay vẫn cầm chặt chiếc quạt, cái bọc vải, đôi giày. 

“Tôi không muốn mang ơn,” nàng nói. “Tôi không muốn làm phiền.”

“Hẳn vậy rồi,” Armstid nói. “Đến nhà với tui nghe.” Lần đầu tiên các con la đi nhanh theo ý chúng. “Chúng có mùi bắp,” Armstid nói, và nghĩ: ‘Nhờ đó mà ta nhận ra đàn bà. Và đàn bà, nó sẽ là kẻ đầu tiên nói xấu một con đàn bà khác, nhưng lại không biết xấu hổ lượn lên lượn xuống trước mặt thiên hạ bởi vì nó biết là người ta, nhất là đám đàn ông, sẽ chăm lo cho nó. Phần nó thì nó chẳng quan tâm mẹ gì đến những con đàn bà khác. Đâu có phải một con đàn bà đã đẩy nó vào cái hoàn cảnh rắc rối mà chính nó cũng chẳng thèm lo nghĩ đến. Đúng quá cha rồi gì nữa. Cứ để cho một đứa trong tụi nó lấy chồng hay có chửa mà không chồng, vậy là ngay tức khắc người ta thấy nó lìa bỏ giống đàn bà, ra khỏi loài cái, và trải qua phần còn lại của đời nó tìm cách gia nhập vào giống đàn ông. Đó là lý do tại sao tụi nó hít thuốc lá bột, tại sao tụi nó hút thuốc lá, và tại sao tụi nó đòi quyền bỏ phiếu.’

Khi chiếc xe đi ngang trước ngôi nhà về phía sân đất có chuồng la, bà vợ hắn đứng ở cửa ra vào đưa mắt dõi theo nó. Hắn không nhìn về phía bà ta; hắn không cần nhìn để biết là bà sẽ ở đó, là bà ở đó. ‘Đúng rồi,’ hắn nghĩ với sự hối tiếc đượm vẻ mỉa mai trong khi đưa các con la quẹo vào cánh cổng đã mở sẵn, ‘Mình biết y bon bả sắp nói gì rồi. Mình biết y bon mà.’ Hắn dừng xe; hắn không cần nhìn để biết là bà vợ hắn đang ở trong bếp — bả bây giờ không còn nhìn nữa, chỉ đợi thôi. Hắn dừng xe. “Cô vào nhà đi,” hắn nói; hắn đã xuống xe rồi và người đàn bà trẻ bây giờ chậm chạp leo xuống với sự thận trọng như thể nó xuất phát ngay từ bên trong người nàng. “Khi cô gặp ai trong nhà, thì chính là Martha đó. Tui sẽ vào sau khi cho mấy con la ăn uống đã.”

Hắn không nhìn nàng đi ngang qua sân, về phía nhà bếp. Hắn không cần nhìn đâu. Nhưng hắn hình dung mình đi theo sau nàng từng bước, cũng vào cửa bếp và đối mặt với bà vợ giờ đang nhìn cái cửa bếp y như bà đã nhìn trước đó, từ cửa ra vào, chiếc xe đi ngang. ‘Mình biết y bon bả sẽ nói gì rồi,’ hắn nghĩ.

Hắn tháo ách các con la, cho uống nước, dẫn vào chuồng và cho ăn. Rồi hắn ra ngoài cánh đồng, lùa các con bò cái về chuồng. Sau đó, hắn đi vào bếp. Bà vẫn còn đứng đó, một người đàn bà tóc muối tiêu với bộ mặt lạnh lùng, nghiêm khắc, nóng tính, trong vòng sáu năm mà đã đẻ cho hắn những năm đứa con và nuôi dưỡng chúng thành đàn ông và đàn bà. Bà đâu có ăn không ngồi rồi. Hắn không nhìn bà. Hắn đến bên bồn rửa bát, lấy xô nước đổ vào chậu rồi xăn tay áo. “Họ của cổ là Burch8”, hắn nói. “Ít ra đó là theo lời cổ, cái họ của thằng đực rựa mà cổ đang lùng kiếm. Lucas Burch. Ở miệt phía dưới con lộ, ai đó đã nói với cổ là thằng chả hiện đang ở Jefferson.” Quay lưng về phía vợ, hắn bắt đầu rửa ráy. “Cổ đến từ Alabama. Một mình lội bộ đến tận đây, cổ nói vậy đó.”

Bà Armstid không nhìn xung quanh mình. Bà đang bận rộn sửa soạn bàn ăn. “Con nhỏ này, sắp tới đây, không sống một mình nữa trong một thời gian dài trước khi quay lại Alabama,” bà nói.

“Thì thằng cha Burch đó cũng vậy thôi.” Hắn bận tay với nước và xà bông ở bồn rửa bát. Và hắn có thể cảm thấy bà vợ đang nhìn hắn, nhìn gáy và hai vai hắn dưới lớp áo sơ-mi xanh bạc màu vì mồ hôi. “Cổ nói ai đó dưới chỗ lão Samson biểu là có thằng cha mang họ Burch hay gì đó làm việc ở xưởng bào trên Jefferson.”

“Và con nhỏ trông mong tìm thấy thằng chả trên đó. Đang ngồi chờ cục cưng của mình… với căn nhà sắm sửa sẵn đủ thứ đồ đạc!”

Hắn không thể biết, dựa theo giọng nói của bà, là lúc này bà còn nhìn hắn hay không. Hắn lau tay với tấm khăn làm bằng bao đựng bột mì cắt làm đôi.

“Có lẽ cổ sẽ tìm ra thằng chả. Và nếu thằng chả thực sự muốn bỏ rơi cổ, tui cho rằng chẳng chóng thì chầy thằng chả sẽ nhận ra là thằng chả đã phạm sai lầm do đã dừng chân quá sớm, trước khi đặt con sông Mississippi cách trở giữa thằng chả và cổ.”

Và bây giờ hắn biết là bà đang nhìn hắn: người đàn bà tóc muối tiêu, chẳng mập chẳng ốm, nghiệt ngã với đàn ông, làm việc cật lực, thô lỗ và hung dữ trong cái áo đầm tiện lợi màu xám, hai tay chống nạnh, bộ mặt trông giống như mấy tên tướng lãnh bại trận.

— Ôi, đàn ông các ông! bà nói.

— Bà tính sao về chuyện này? Đuổi cổ ra ngoài à? Hay có lẽ để cổ ngủ trong chuồng với mấy con la?

— Ôi, đàn ông các ông! bà nói. Đám đàn ông trời đánh thánh vật các ông! 

Họ cùng nhau vào nhà bếp, dù bà Armstid đi trước. Bà đi thẳng tới cái bếp lò. Lena đứng ở gần cửa. Nàng đã dỡ mũ, mái tóc được chải thẳng thớm. Ngay cả chiếc áo đầm màu xanh cũng trông tươi mát và nhẹ nhàng hẳn ra. Nàng đứng xem trong khi bà Armstid ở bếp lò làm va đập các nắp vung bằng kim loại vào nhau và huơ các thanh gỗ với sự hung dữ thô kệch của đàn ông. “Cháu muốn giúp một tay,” Lena nói.

Bà Armstid không quay đầu lại. Bà cời lò một cách hung hăng. “Mày cứ ở yên tại chỗ nghe. Bây giờ mà mày để cho cặp giò nghỉ ngơi thì có lẽ mày sẽ không phải ngả lưng nằm đẻ sớm đâu.” 

“Dì có tốt bụng thì hãy để cháu giúp một tay.”

“Mày cứ ở yên tại chỗ đi. Tao làm việc này mỗi ngày ba lần đến nay đã ba mươi năm rồi đó. Cái thời mà tao cần người ta giúp đã qua rồi.”(Bà cứ làm liền tay ở cái bếp lò, không quay đầu lại). “Lão Armstid nói họ mày là Burch?”

“Dạ đúng,” Lena đáp. Giọng nàng lúc này nghe khá trịnh trọng nhưng từ tốn. Nàng ngồi yên, hai bàn tay bất động để trên đùi. Và bà Armstid cũng không quay đầu lại. Bà vẫn còn bận rộn nơi cái bếp lò. Hình như nó đòi hỏi sự chăm chú không tương xứng chút nào với sự hung hăng mà bà phô trương để nhóm lửa. Hình như nó thu hút sự chú ý của bà chẳng kém gì một cái đồng hồ đeo tay đắt tiền.

“Mày mang họ Burch chưa?” bà Armstid nói.

Người đàn bà trẻ không trả lời ngay lập tức. Bà Armstid bây giờ không cời lò nữa, nhưng vẫn quay lưng về phía Lena. Rồi bà quay mặt lại. Hai người nhìn nhau, quan sát lẫn nhau, người này bỗng dưng trần trụi dưới mắt người kia: người đàn bà trẻ ngồi trên ghế, đầu tóc gọn gàng, hai bàn tay bất động trên đùi, và người đàn bà nhiều tuổi hơn đứng bên cạnh lò bếp, người mới quay một nửa, cũng bất động nữa, với một lọn tóc rối bu màu xám ở sau ót và một khuôn mặt tưởng như được tạc trong sa thạch. Rồi người đàn bà trẻ hơn nói:

“Cháu đã không nói thật với dì. Họ cháu chưa phải là Burch đâu. Tên và họ của cháu là Lena Grove.”

Hai người nhìn nhau. Giọng nói bà Armstid thì không lạnh, không ấm. Nó chẳng là gì hết. “Vậy là mày muốn đuổi kịp thằng đó để mày có thể mang họ Burch trước khi quá trễ. Có phải vậy không?”

Lena bây giờ hạ ánh mắt xuống, như thể quan sát hai bàn tay đặt trên đùi. Giọng nàng êm ả, hơi lì lợm. Tuy nhiên, nó vẫn lộ vẻ bình tâm. “Cháu không cho là cháu cần Lucas hứa này hứa nọ với cháu. Chỉ tình cờ vì xui xẻo mà ảnh phải ra đi. Công việc làm ăn của ảnh lại không bao giờ thuận buồm xuôi gió để ảnh quay lại tìm cháu như ảnh tính. Cháu nghĩ giữa ảnh và cháu thì không cần hứa hẹn ngoài miệng làm gì. Khi ảnh biết ra đêm ấy là ảnh phải ra đi, ảnh…”

“Biết ra đêm nào? Cái đêm mà mày nói với thằng chả về cái thai trong bụng phải không?”

Lena không trả lời trong một lát. Vẻ mặt nàng thì bình lặng như đá, nhưng không khô cứng. Có vẻ gan góc nhưng không phải là không dịu dàng; nó phản chiếu một thứ ánh sáng nội tâm, bình thản, lặng lẽ và dửng dưng quá đỗi. Bà Armstid nhìn nàng chằm chằm. Lena không nhìn người đàn bà kia trong khi nói chuyện. “Người ta đã bảo ảnh là có thể ảnh phải ra đi, trước cái chuyện đó lâu lắm. Nhưng ảnh lại không bao giờ chịu nói với cháu sớm hơn vì ảnh không muốn làm cháu lo. Ngay khi ảnh biết là có thể ảnh phải ra đi, ảnh hiểu hay nhất là ảnh nên ra đi, là ảnh có cơ may thành công nhanh hơn ở nơi khác, nơi mà các cai thợ sẽ không tỏ ra khó chịu với ảnh. Nhưng ảnh cứ chần chừ mãi. Nhưng rồi khi cháu bị chuyện này đây thì bọn cháu không thể chần chừ được nữa. Tên cai thợ cứ tỏ ra khó chịu với ảnh vì hắn không thích ảnh, vì Lucas thì trẻ trung, lúc nào cũng rất hiếu động, và vì tên cai thợ muốn giựt việc của Lucas để cho một trong những đứa em họ của hắn. Nhưng ảnh đã không muốn nói ra với cháu để cháu khỏi lo lắng. Nhưng rồi khi cháu bị chuyện này đây thì bọn cháu không thể chờ thêm được nữa. Chính cháu đã khuyên ảnh ra đi. Ảnh nói ảnh sẽ ở lại nếu cháu muốn vậy, dù tên cai thợ có đối xử với ảnh đúng hay không. Nhưng cháu biểu ảnh đi. Mặc dù vậy, ảnh không bao giờ muốn bỏ đi chút nào. Nhưng cháu cứ biểu ảnh đi đi. Và chỉ cần báo tin cho cháu biết khi nào thì ảnh sẵn sàng để cháu đến đoàn tụ với ảnh. Rồi công việc của ảnh lại không xuôi chèo mát mái để ảnh cho gọi cháu đến như ảnh tính. Một thanh niên ra đi như vậy, đến giữa đám người xa lạ thì cần thời gian để ổn định cuộc sống mà. Ảnh đâu bao giờ biết tới chuyện này khi ảnh bỏ đi, tức là ảnh cần nhiều thời gian để ổn định cuộc sống hơn ảnh tưởng. Nhất là đối với một thanh niên đầy sức sống như Lucas, thích đàn đúm vui chơi với mọi người và mọi người cũng thích ảnh lắm. Ảnh đã không biết là cần nhiều thời gian hơn ảnh tính, vì ảnh trẻ trung và người ta cứ tìm theo ảnh vì ảnh luôn sẵn sàng cười đùa, đấu hót, gây trở ngại cho công việc mặc dù ảnh không muốn, vì ảnh không bao giờ muốn làm phật ý ai cả. Và cháu muốn ảnh cứ vui chơi cho thỏa chí một lần cuối cùng, bởi vì một khi cưới nhau rồi thì không còn như trước nữa, đối với đàn bà cũng như đối với thanh niên, trẻ trung và sôi nổi. Nó kéo dài lâu như vậy đối với một anh trai trẻ đầy sức sống. Dì không nghĩ vậy sao?”

Bà Armstid không trả lời. Bà nhìn nàng ngồi trên ghế với mái tóc mượt mà, hai bàn tay bất động trên đùi, khuôn mặt dịu dàng và thoáng chút trầm ngâm. “Có thể là ảnh đã gửi tin cho cháu biết nhưng nó bị thất lạc trên đường. Thiệt là một quãng đường xa, chỉ tính từ đây tới Alabama thôi đó, và cháu vẫn chưa đến Jefferson. Cháu biểu ảnh cháu không trông mong ảnh viết cho cháu vì thư từ là không phải việc ảnh làm giỏi. ‘Chừng nào anh thấy sẵn sàng đón em thì anh nhờ ai đó báo cho em biết,’ cháu nói với ảnh. ‘Em sẽ đợi’. Lúc đầu, sau khi ảnh bỏ đi, thì cháu cũng lo lắng đôi chút, bởi vì cháu chưa mang họ Burch mà, và ông anh cháu và gia đình trong nhà thì không biết rõ Lucas bằng cháu. Làm sao mà họ có thể biết chớ?” Từ từ trên khuôn mặt nàng hiện ra vẻ ngạc nhiên, dịu dàng và rạng rỡ, như thể nàng vừa nghĩ tới điều gì đó mà nàng cũng không ý thức là nàng không biết nó tới giờ. “Dì thấy đấy, làm sao mình có thể mong họ biết được chớ? Nhưng trước tiên ảnh phải ổn định cuộc sống đã; chính ảnh phải chịu đựng mọi thứ rắc rối khi sống giữa đám người xa lạ, và về phần cháu thì không có gì phải bận tâm cả ngoài việc nằm nhà mà chờ đợi trong khi ảnh gặp đủ thứ phiền phức và lôi thôi. Nhưng sau một thời gian cháu thấy mình quá bận bịu chăm sóc đứa bé trong bụng cho đến khi nó ra đời để mà lo lắng về chuyện cháu mang họ gì hay thiên hạ nghĩ gì. Chắc là có chuyện gì không lường trước đã xảy ra, hay là ảnh cũng đã bắn tin và cái tin đó thất lạc. Vậy là, một ngày nọ cháu chỉ việc quyết định không chờ thêm nữa.”       

“Làm sao mày biết đi về hướng nào khi mày mới lên đường?”

Lena nhìn hai bàn tay mình. Chúng bây giờ động đậy, mải mê vân vê cái vạt áo đầm trong sự bối rối kéo dài. Đó không phải là sự thiếu tự tin, sự bẽn lẽn. Hình như đó là cái phản xạ lơ đãng của chỉ một bàn tay.

“Cháu cứ việc hỏi người này, người nọ thôi. Dì biết đấy, Lucas là một chàng trai trẻ trung, đầy sinh lực, kết thân với người khác dễ dàng và nhanh chóng, cho nên cháu biết là ảnh đi đến đâu thì người ta đều nhớ đến ảnh. Vậy là cháu tiếp tục hỏi thăm. Và bà con cô bác thiệt là tốt bụng. Và đúng y chang là cách đây hai hôm, trên đường đi, người ta nói với cháu rằng ảnh đang ở Jefferson, làm việc ở xưởng bào.”

Bà Armstid quan sát khuôn mặt đang cúi xuống. Bà đứng chống nạnh, ánh mắt nhìn Lena thì mang vẻ khinh bỉ lạnh lùng và vô cảm. “Và mày tin rằng khi mày đến đó thì thằng chả có ở đó à? Cứ cho là thằng chả bao giờ cũng ở đó đi. Mày tin rằng một khi biết mày ở trong cùng thành phố với thằng chả thì thằng chả vẫn còn ở đó vào giờ mặt trời lặn hay sao?”

Khuôn mặt cúi xuống của Lena có vẻ nghiêm trang và thanh thản. Một bàn tay của nàng bây giờ ngừng cử động. Nó nằm im trên đùi nàng, như thể đã chết ở đó. Giọng nói nàng có vẻ bình thản, nhỏ nhẹ và bướng bỉnh. “Cháu cho là mọi người trong gia đình phải đoàn tụ khi đứa bé ra đời. Nhất là đứa con đầu. Cháu tin là Chúa sẽ ra tay lo liệu việc đó.”

“Và tôi cho là Chúa buộc phải làm vậy,” bà Armstid nói một cách dữ tợn, ác nghiệt. Armstid nằm trên giường, đầu gối lên cao một chút, nhìn bà vợ qua tấm bảng chân giường, bà vẫn chưa thay đồ ngủ, đang khom người dưới ánh sáng ngọn đèn đặt trên tủ com-mốt, hai tay lục lọi trong cái ngăn kéo một cách hung hăng. Bà lấy ra một cái hộp kim loại và mở nó bằng cái chìa khóa bà đeo ở cổ, rồi cầm lên một gói vải, mở và lấy ra một con gà trống nhỏ bằng sứ có khe ở trên lưng. Những đồng tiền kêu xủng xoẻng bên trong. Bà cầm và lật ngược rồi lắc nó dữ dội ở trên tủ com-mốt. Từ khe lọt ra một cách khó khăn những đồng tiền ít ỏi. Armstid đưa mắt nhìn theo bà từ giường.

“Bà muốn làm gì với cái tiền bán trứng của bà đêm hôm khuya khoắc như vầy?” hắn nói.

“Tiền của tôi thì tôi thích làm gì thì làm.” Bà khom người dưới ánh đèn, bộ mặt khắc nghiệt, cay đắng. “Chúa biết là chính tôi đã cực khổ nuôi chúng. Còn ông thì chẳng đụng đến cái móng tay.”

“Hẳn vậy rồi,” hắn nói. “Tui cho là không có con nào, thằng nào trong cái xứ sở này dám tranh giành mấy con gà mái đó với bà, ngoài các con rắn và chồn túi9. Và cái ông nội gà trống này cũng vậy,” hắn nói.

Quả nhiên, bà bỗng dưng cúi người xuống, lột một chiếc giày và quật mạnh một cú lên cái ống sứ khiến nó bể tan. Nằm tựa trên giường, Armstid vẫn trơ mắt nhìn bà nhặt những đồng tiền còn lại giữa những mảnh sứ vỡ và bỏ chúng chung với các đồng tiền khác vào trong một cái bao rồi cột đi cột lại những ba bốn lần một cách căng thẳng và bực dọc.

“Ông cho con nhỏ đó cái này,” bà nói. “Và khi mặt trời mọc, ông đóng cỗ xe và đưa nó đi từ đây. Đưa nó đến tận Jefferson, nếu ông muốn.”

“Tui cho là ở cửa tiệm Varner cổ có thể tìm ra xe đi tiếp,” hắn nói.

Bà Armstid đã dậy trước hừng đông và nấu bữa ăn sáng. Nó được bày sẵn trên bàn lúc Armstid bước vào nhà sau khi vắt sữa bò.

“Đi kêu con nhỏ đến ăn,” bà Armstid nói.

Khi Lena và hắn trở vào bếp, bà Armstid không còn đó nữa. Lena đưa mắt nhìn quanh một lần, bước chân ngập ngừng ở ngưỡng cửa, vẻ mặt sựng lại ngay trước khi nàng kịp cười, kịp thốt ra lời nào, những lời được sửa soạn trước, Armstid chắc thế. Đôi môi tưởng chừng mở ra nhưng nàng không nói gì cả.

“Ăn rồi đi,” Armstid nói. “Cô còn cả một đoạn đường dài đó.”

Hắn nhìn nàng ăn, cũng với vẻ chững chạc lặng lẽ và thật lòng mà nàng đã tỏ ra vào buổi ăn tối hôm qua. Nhưng lúc này thì sự chững chạc đó bị thoái hóa vì trông nàng dè dặt một cách lễ độ và gần như kiểu cách quá. Rồi hắn đưa cho nàng cái bao vải đã buộc chặt. Nàng cầm lấy, mặt lộ vẻ hài lòng, ấm áp, dù không ngạc nhiên lắm.

“Sao! Dì ấy tốt bụng quá,” nàng nói. “Nhưng thiệt tình tôi sẽ không cần đến. Tôi gần tới nơi rồi mà.”

“Tui cho là cô nên giữ lấy thì hơn. Cô chắc để ý thấy là Martha không thích người khác làm trái ý bả lắm.”

“Dì ấy tốt bụng thiệt,” Lena nói. Nàng buộc bao tiền vào cái bọc vải rồi đội mũ che nắng lên đầu. Chiếc xe la đang chờ. Khi họ đi xuống con đường làng, nàng ngoái đầu nhìn lại ngôi nhà. “Thiệt là tốt bụng, cả dì ấy, cả chú nữa,” nàng nói.

“Chỉ mình bả làm chuyện này thôi,” Armstid nói. “Tui chẳng có công lao gì ráo.”

“Dù sao đi nữa cũng thiệt là tốt bụng. Chú nói dùm là tôi gửi lời chào dì ấy nghe. Tôi tưởng gặp lại dì ấy sáng nay, nhưng…”

“Hẳn vậy rồi,” Armstid nói. “Bả chắc bận việc gì đó. Tui sẽ nói lại.”

Hai người đến cửa tiệm Varner khi mặt trời vừa mọc. Những người đàn ông ngồi bệt ở hàng hiên, khạc nhổ lên các bậc tam cấp cũ mòn. Họ nhìn nàng bước xuống xe, chậm chạp và thận trọng, tay cầm cái bọc vải và chiếc quạt. Armstid lại không làm gì để giúp nàng. Hắn nói to từ chỗ đang ngồi trên xe: “Đây là bà Burch. Bả muốn đi Jefferson. Nếu có ai đi đến đó thì làm ơn cho bả đi cùng.”

Hai chân nàng chạm mặt đất, trong đôi giày nặng nề lấm bụi. Nàng ngước mắt nhìn Armstid, vẻ mặt thanh thản, hiền hậu. “Chú tốt bụng thiệt,” nàng nói.

“Hẳn vậy rồi,” Armstid nói. “Bây giờ thì cô có thể đến thành phố rồi đó.”

Hắn nhìn xuống nàng. Rồi hình như có một thời gian bất tận trôi qua trong khi hắn theo dõi cái lưỡi mày mò tìm chữ, đầu óc suy nghĩ thật nhanh và lặng lẽ, ý tưởng trốn đâu mất tiêu Con người. Tất cả mọi người. Nó sẽ khước từ cả trăm cơ hội để làm điều thiện chỉ cốt đổi lấy một cơ hội xía vào việc người khác mà không ai mở miệng yêu cầu. Nó sẽ bỏ qua và quên thấy các cơ may, các thời cơ để làm ra tiền tài, danh vọng và việc thiện, và đôi khi cả việc ác nữa. Nhưng nó sẽ không bao giờ bỏ qua một dịp nào để xía vào việc người khác  Rồi lưỡi hắn tìm được chữ, hắn nghe chính mình nói ra, có lẽ cùng với nỗi ngạc nhiên như Lena: “Có điều tui sẽ không tin quá vào… không tin quá ở…” trong khi nghĩ Cổ không nghe mình nói đâu. Nếu mà cổ nghe được những chữ nghĩa như vầy thì cổ hẳn đã không leo xuống xe đâu, với cái bụng ễnh đó, với cái quạt đó và với cái bọc nhỏ đó, một thân một mình, lê bước đến một nơi hoàn toàn lạ nước lạ cái, đi tìm một thằng đực rựa mà cổ sẽ không bao giờ gặp lại và cổ đã gặp một lần là quá nhiều lắm rồi”— nếu có bao giờ cô quay lại miệt này, ngày mai hay thậm chí đêm nay…”

“Tôi cho là mọi sự sẽ ổn thôi,” nàng nói. “Họ biểu tôi là ảnh ở đó mà.”

Hắn cho xe quành lại và ngược đường cũ về nhà, cặp mắt nhợt nhạt, ngồi khòm lưng trên chiếc ghế lõm sâu, nghĩ, ‘Làm vậy thì hẳn là không đi tới đâu. Giá như cổ nghe mình mở miệng nói ra điều này thì cổ sẽ không tin chút nào, cổ đâu tin nó hơn tin những ý nghĩ cứ hiện ra dài dài xung quanh cổ từ khi… Nay thì đã bốn tuần lễ rồi, cổ nói vậy. Cổ cũng sẽ không cảm thấy nó hay tin nó lúc này. Và cổ ngồi đó, trên bậc cấp cao nhất ở hàng hiên, hai bàn tay để trên đùi, và đám đàn ông ngồi bệt ở đó và khạc nhổ xuống đường, gần bên cổ. Và cổ thậm chí không cần chờ bọn họ mở miệng hỏi, cổ cứ khơi khơi kể trước. Tự ý kể cho bọn họ nghe về cái thằng tồi tệ đó, như thể cổ chẳng bao giờ có cái gì đặc biệt trong quá khứ để che giấu hay bày ra, ngay cả khi Jody Varner hay tên nào trong đám đó sẽ nói với cổ là thằng cha làm trong xưởng cưa ở Jefferson có họ là Bunch chớ không phải Burch. Và điều này thì cũng sẽ không làm cổ lo lắng chút nào. Mình cho là cổ biết nhiều hơn cả Martha, như tối hôm qua cổ bảo Martha là việc nào đúng thì sẽ được Chúa lo liệu để nó được thực hiện.’

Chỉ cần một hay hai câu hỏi là đủ. Rồi, ngồi trên bậc cao nhất ở hàng hiên, quạt và bọc vải đặt trên đùi, Lena kể ra câu chuyện của nàng thêm một lần nữa, với sự tóm tắt rõ ràng và kiên nhẫn của một đứa bé nói dối, và đám đàn ông mặc quần yếm ngồi bệt bên cạnh im lặng nghe.

“Họ của thằng đó là Bunch,” Varner nói. “Nó làm việc ở xưởng bào khoảng bảy năm nay. Làm sao cô biết là thằng cha Burch cũng ở đó?”

Nàng đưa mắt nhìn ra con lộ, theo hướng đi về Jefferson. Khuôn mặt nàng mang vẻ điềm tĩnh, chờ đợi, hơi thờ ơ nhưng không bối rối. “Tôi tin là ảnh ở đó mà. Ở xưởng bào đó hay các xưởng nào khác. Lucas lúc nào cũng thích cái gì mới, cái gì kích thích. Ảnh không bao giờ thích sống yên lặng cả. Đó là lý do tại sao Doane’s Mill không bao giờ hợp với ảnh. Lý do tại sao ảnh — hai đứa tụi tôi quyết định thay đổi, vì tiền bạc và cái gì hứng thú.”

“Vì tiền bạc và cái gì hứng thú,” Varner nói. “Lucas không phải thằng hỉ mũi chưa sạch đầu tiên vứt bỏ những gì nó được nuôi dạy để làm và bỏ rơi những người tùy thuộc vào những gì nó làm, chỉ vì tiền bạc và cái gì hứng thú đâu.”

Nhưng chắc là nàng không nghe. Nàng ngồi yên lặng trên bậc cao nhất của hàng hiên, nhìn con lộ từ từ lên dốc rồi quẹo, trống trải và xa dần, về phía Jefferson. Những tên đàn ông, ngồi bệt lưng dựa vào tường, nhìn khuôn mặt lặng lẽ và bình thản của nàng và nghĩ như Armstid đã nghĩ và như Varner nghĩ: là nàng đang nghĩ đến cái thằng vô lại đã “bỏ của chạy lấy người” ấy, để lại nàng cái bụng ễnh đó, cái thằng mà họ tin là nàng sẽ chẳng bao giờ gặp lại, có lẽ chỉ thấy được cái đít quần của nó khi bỏ chạy. ‘Hay trừ phi con nhỏ này nghĩ đến xưởng cưa Sloane hay xưởng Bone,’ Varner nghĩ. ‘Tôi cho là ngay cả một đứa con gái ngu ngốc không cần phải đi xa như đến tận bang Mississippi này để nhận ra là nơi chốn mà nó bỏ đi thì đâu khác gì hay không tệ hơn nơi chốn mà nó hiện đang có mặt. Ngay cả khi ở đó có một người anh phản đối đứa em gái mình ban đêm cứ lảng vảng ngoài đường,’ trong khi nghĩ lẽ ra mình nên làm như người anh đó; lẽ ra người cha cũng làm như vậy. Cô ta không có mẹ, bởi vì máu của người cha căm ghét, với lòng thương yêu và kiêu hãnh, nhưng máu người mẹ, với lòng căm ghét, thì thương yêu và chung sống.

Nàng chẳng nghĩ đến tất cả mấy điều này chút nào. Nàng đang nghĩ đến những đồng tiền buộc trong cái bọc vải nằm dưới hai bàn tay nàng. Nàng đang nhớ đến bữa ăn sáng, nàng nghĩ như thế nào nàng có thể vào trong tiệm ngay lúc này và mua phó mát, bánh bích quy và ngay cả cá mòi hộp, nếu nàng thích. Ở nhà Armstid, nàng chỉ uống một tách cà phê và ăn một miếng bánh đậu bắp, có vậy thôi, dù Armstid ân cần mời nàng ăn thêm. ‘Mình đã xực một cách lễ phép’, nàng nghĩ, hai bàn tay nằm trên cái bọc vải, biết là nó chứa các đồng tiền được giấu kín, nhớ lại tách cà phê độc nhất và chỉ một miếng bánh xa lạ mà nàng ăn cho phải phép, nàng nghĩ với một thứ gì đó như niềm kiêu hãnh thanh thản: ‘Mình đã xực như một quý bà. Như một quý bà trên đường đi chơi xa. Nhưng bây giờ thì mình cũng có thể mua cá mòi hộp nữa nếu mình muốn vậy.’

Nên chi nàng có vẻ mơ màng, đưa mắt dõi theo con lộ bắt đầu lên dốc trong khi những tên đàn ông ngồi bệt vừa chậm rãi khạc nhổ vừa nhìn trộm nàng, họ tin là nàng đang suy nghĩ về thằng tình nhân và sự sinh nở đang đến gần, khi mà trong thực tế nàng chỉ đang tiến hành một trận đánh không có gì là gay gắt lắm với sự thận trọng trời cho đó đến từ cái trái đất xưa cũ này mà từ nó, do nó, với nó, nàng sống. Lần này, nàng thắng trận. Nàng đứng lên, và với những bước chân hơi vụng về, hơi cẩn thận, nàng đi xuyên qua một loạt cặp mắt đàn ông săm soi và bước vào trong cửa hàng;  tên bán hàng theo sau. ‘Mình sắp sửa làm chuyện đó’, nàng nghĩ, ngay trong khi gọi mua phó mát và bánh quy; ‘Mình sắp sửa làm chuyện đó’, và nàng nói to: “Và một hộp cá mòi.” Nàng phát âm sour10-deens. “Hộp năm xen đó nghe.”

“Tụi tôi không có cá mòi năm xen,” tên bán hàng nói. “Chỉ có loại mười lăm xen thôi.” Hắn cũng phát âm sour-deens.

Nàng do dự. “Anh có đồ hộp gì mà năm xen không?”

“Không có gì cả, trừ hộp xi đánh giày. Tôi cho là không phải thứ cô muốn. Có phải để ăn đâu!”

“Vậy thì tôi mua loại hộp mười lăm xen đó.” Nàng mở cái bọc vải và tháo giây buộc cái bao đựng tiền. Phải khá lâu nàng mới mở được mấy cái nút thắt. Nhưng nàng tháo chúng một cách kiên nhẫn, từng cái một. Nàng trả tiền rồi buộc lại cái bao và cái bọc vải, và nhận đồ đã mua. Khi nàng trở ra ngoài hàng hiên thì đã có một chiếc xe la đậu bên bậc tam cấp. Một người đàn ông ngồi sẵn trên đó.

“Xe này đi lên phố đó,” họ nói với nàng. “Thằng cha này cho cô đi theo đó.”

Khuôn mặt nàng từ từ sáng ra, ấm áp và thanh thản.

“Sao! Các chú tốt bụng quá đi,” nàng nói.

Chiếc xe di chuyển không ngừng nhưng chậm chạp, như thể ở đây, trong nỗi cô đơn đầy ánh nắng của vùng đất mênh mông này, nó nằm ngoài, vượt ra khỏi giới hạn của thời gian và mọi sự vội vã. Từ cửa tiệm Varner đến Jefferson là mười hai dặm. “Mình tới Jefferson trước giờ ăn tối chớ?” nàng nói.

Tên đánh xe nhổ nước miếng. “Hên lắm thì…,” hắn nói.

Hình như hắn chẳng khi nào nhìn nàng, ngay cả lúc nàng leo lên xe. Hình như nàng cũng chẳng khi nào nhìn hắn. Bây giờ nàng vẫn không nhìn hắn: “Tôi cho là chú đi Jefferson thường lắm.”

Hắn nói: “Nhiều lần.” Chiếc xe vừa đi, vừa kêu cọt kẹt. Các cánh đồng và các khu rừng nhỏ có vẻ như treo lơ lửng ở giữa chừng, không thể lẩn tránh được. Chúng có vẻ tĩnh và động cùng lúc, và lẹ làng như ảo ảnh. Tuy vậy, chiếc xe vẫn vượt qua chúng.

“Chú biết ai ở Jefferson tên là Lucas Burch không?”

“Burch à?”

“Tôi đi lên đó để tìm ảnh. Ảnh làm việc ở xưởng bào.”

“Không,” tên đánh xe nói. “Tui không biết là tui biết nó. Nhưng chắc có rất nhiều người ở Jefferson mà tui không biết nữa. Chắc là nó ở đó.”

“Tôi mong vậy, hẳn rồi. Thiệt tình, cứ đi đường mãi thì chán quá.”

Tên đánh xe không nhìn nàng. “Cô từ xa đến đây tìm nó?”

“Từ Alabama đó chú. Thiệt là một quãng đường xa.” Hắn không nhìn nàng. Giọng hắn khá hững hờ.

“Làm sao mà cha mẹ cô lại để cô ra đi với cái bụng như vầy chớ?”

“Cha mẹ tôi chết rồi. Tôi sống với ông anh. Chính tôi quyết định ra đi đó.”

“Hiểu rồi. Nó nhắn tin biểu cô đến Jefferson chớ gì.”

Nàng không trả lời. Hắn có thể thấy gương mặt nhìn nghiêng bình thản của nàng dưới mũ che nắng. Chiếc xe tiếp tục lăn bánh, chậm chạp, nằm ngoài thời gian. Những dặm đường bụi đỏ và thong dong trải dài dưới các bàn chân cứng cáp của các con la, dưới các bánh xe kêu cọt kẹt và răng rắc. Mặt trời giờ đây ở cao trên đầu họ; cái mũ che nắng đổ bóng trên đùi nàng. Nàng ngước mắt nhìn lên mặt trời. “Đến lúc ăn trưa rồi đó chú,” nàng nói. Hắn nhìn nàng từ khóe mắt khi nàng mở phó mát, bánh quy, cá mòi và mời hắn.

“Tui không muốn ăn chút nào,” hắn nói.

“Chú làm ơn ăn chung với tôi cho vui.”

“Tui không muốn ăn. Cô cứ tự nhiên đi.”

Nàng bắt đầu ăn. Nàng ăn từ từ và liên tục, đưa lưỡi liếm dầu cá mòi béo ngậy dính ở đầu các ngón tay với một sự hứng thú chậm rãi và trọn vẹn. Rồi nàng ngừng hẳn, một cách nhẹ nhàng, cái hàm giữ yên khi đang nhai nửa chừng, miếng bánh quy đã cắn còn cầm trên tay và mặt nàng cúi xuống một chút, đôi mắt đờ đẫn, như thể nàng đang nghe cái gì ở rất xa hay ở rất gần đến độ nàng cảm thấy nó bên trong người nàng. Mặt nàng mất sắc, mất sự nồng nhiệt và đủ đầy của máu huyết, và nàng ngồi yên, nghe và cảm thấy quả đất ngàn đời xưa cũ và da diết, nhưng không sợ hãi hay hốt hoảng. ‘Hai đứa sinh đôi là ít nhất’, nàng tự nói với mình, không động đậy đôi môi, không phát ra thành tiếng. Rồi sự co thắt qua đi. Nàng tiếp tục ăn. Chiếc xe la đã không dừng lại. Thời gian đã không dừng lại. Chiếc xe lên tới đỉnh ngọn đồi cuối cùng và họ thấy khói.

“Jefferson đó,” tên đánh xe nói.

“Ủa, thật sao?” nàng nói. “Mình sắp tới nơi rồi hả?”

Lần này, chính người đàn ông không nghe. Hắn nhìn thẳng về phía trước, xuyên qua thung lũng bên dưới, hướng về thành phố nằm ở triền đồi đối diện. Nhìn theo ngọn roi hắn chỉ, nàng thấy hai cột khói: một cái thì ở trên một ống khói lò sưởi lớn, dày đặc và nặng nề giống như khói than đá, cái kia là một cột khói vàng lớn hình như thoát ra từ một khóm cây cách phía bên kia thành phố một quãng. “Một cái nhà đang cháy đó,” tên đánh xe nói. “Thấy không?”

Nhưng nàng, đến lượt mình, lại có vẻ không đang lắng nghe và cũng không nghe. “Ôi  trời, ôi trời,” nàng nói. “Mình đi chưa đầy bốn tuần lễ mà bây giờ mình đã ở Jefferson rồi. Ôi trời, ôi trời! Thân thể té ra cũng vượt qua được mọi thứ đó chớ.”


Chú thích:

  1. Một tiểu bang ở miền Nam nước Mỹ, thủ phủ là Montgomery – ND. Xin ghi thêm về cụm từ “Light in August”: ngoài nghĩa cụ thể là “ánh sáng tháng tám”, nó còn là một thành ngữ ở vùng quê miền Nam nước Mỹ, có nghĩa là trạng thái hay thời kỳ thai nghén (pregnancy), theo sách “The Oxford Companion to Twentieth-Century Literature in English”, trích dẫn bởi John P. Anderson trong cuốn “The poltergeist in William Faulkner’s Light in August”, Universal. Publishers, USA, 2002, trang 16 – ND.
  2. Một tiểu bang ở miền Nam nước Mỹ, nằm bên bờ đông sông Mississippi, cận kề bang Alabama, thủ phủ là Jackson – ND.
  3. Banshee: nữ thần có tiếng khóc than đặc biệt, được người ta tin là báo trước cái chết trong một gia đình – ND.
  4. Casanova (1725-1798), người thành Venice (Ý), nổi tiếng giỏi chinh phục đàn bà con gái – ND.
  5. Một đô-la Mỹ có 100 xen (cent) – ND.
  6. Một tiểu bang ở miền Nam nước Mỹ, nằm ở phía Tây sông Mississippi.
    Bên kia sông là bang Mississippi – ND.
  7. Một tiểu bang lớn, nằm ở phía Nam bang Arkansas và cũng ở phía Tây sông Mississippi – ND.
  8. Ngày trước ở Mỹ, cô gái khi lấy chồng thường phải đổi họ riêng của mình sang họ của chồng – ND.
  9. Possum (còn viết là opossum), một động vật nhỏ hơi giống con chồn, ở Mỹ hay Úc, sống trên cây và mang con trong một cái túi – ND.
  10. Viết là “sardines” (cá mòi). Từ “sour” có nghĩa là chua – ND.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

1 Comment

1 Bình luận

  1. Phạm Mai Phương

    Tháng Tám 24, 2019 at 1:53 sáng

    Quào,lần đầu tiên thấy có bài dài như này

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trích đăng

Chương 1 “Tà dương” – Dazai Osamu

Published

on

Tà dương không chỉ là cuộc suy tàn của một gia đình quý tộc mà còn là cơn tan vỡ của một thời đại đầy ảo tưởng và một xã hội đầy nạn nhân. Đó là những ngày tháng phong ba và ám tối vào giữa thế kỷ hai mươi ở Nhật. Trong cái gia đình quý tộc đang dần dà trở nên khốn cùng ấy, mỗi người bám vào một thứ lương tri tự nguyện. Người mẹ sống nốt những ngày cuối cùng của cuộc chiến như một người quý tộc cuối cùng, hiền dịu, nhẹ nhàng, mang theo mình cái đẹp bi thiết của tà dương. Người con trai Naoji tan nát tâm hồn, không thể chịu đựng một sự giả dối nào, mang chủ nghĩa hư vô đi vào cái chết. Và cô con gái kỳ diệu Kazuko. Nàng không muốn làm nạn nhân của một lý tưởng nào, một luân thường nào. Không cần hôn nhân, nàng quyết định có con. Tự do, nàng cưu mang sự sống, đối mặt với những tan nát phũ phàng. Dẫu biết là bất định, nàng vẫn sống như nàng muốn. Cho ngày mới.

Trích từ: Tà dương

Tác giả: Dazai Osamu

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

*

CHƯƠNG 1
RẮN

Buổi sáng, trong phòng ăn, mẹ lặng lẽ húp một thìa súp và thốt ra tiếng kêu khe khẽ:

- Ah!

- Là tóc sao? - Tôi nghĩ trong bát canh súp có thứ gì ghê ghê lẫn vào chăng.

- Không phải.

Mẹ lại đưa một thìa súp lên miệng nuốt vào, làm như chẳng có chuyện gì xảy ra, rồi mẹ nghiêng mặt về phía cửa sổ nhà bếp, nhìn ra những cành hoa anh đào núi đang độ mãn khai. Cứ nghiêng mặt như thế, mẹ lại đưa một thìa súp lên miệng, cho vào khoảng hẹp giữa hai môi nhẹ nhàng trút xuống. Cái tính từ “nhẹ nhàng” dùng trong trường hợp của mẹ hoàn toàn không mang tính khoa trương một chút nào. Cách ăn uống đó quả thật hoàn toàn khác biệt với cách ăn uống thường thấy trên những tạp chí phụ nữ. Naoji, em trai tôi, có lần vừa uống rượu vừa nói với tôi như thế này:

- Không phải cứ có tước vị là trở thành quý tộc cả đâu. Có những người dù không có tước vị gì cũng là một quý tộc cao sang như thể trời ban cho một thiên tước vậy. Như chị em mình đây, cho dù có tước vị thì cũng chẳng ra vẻ quý tộc gì cả, mà gần với thứ tiện dân hơn. Như Iwashima ấy (tên một bá tước1 học chung lớp với Naoji), chị có cảm thấy hắn đối xử với chị còn tệ bạc hơn kẻ ma cô dắt gái ở chốn lầu xanh không? Hay Yanai (tên một tử tước chung trường với Naoji) trong đám cưới anh trai lại mặc bộ vét tông đen. Thì cứ cho là cần phải mặc bộ vét đen đi nhưng em thật muốn nôn mửa khi nghe cái giọng khoa trương kệch cỡm như đọc diễn văn của gã ngu đó. Cái sự kiểu cách chẳng liên quan một chút gì đến sự cao sang quý phái cả. Mặc dù cái bảng hiệu “nhà nghỉ cao cấp” thường thấy ở quận Hongo này nhưng hầu hết những đám quý tộc trong đó đều là một lũ “ăn mày cao cấp” cả. Quý tộc thực sự ấy nhé, hoàn toàn không phải là những thứ kiểu cách theo kiểu thằng Iwashima đâu. Ngay cả trong gia đình mình đây, chỉ có mẹ mới là quý tộc thật sự.

Có gì đó cao sang nơi bà mà chúng tôi không thể nào sánh nổi.

Như trong cách ăn súp chẳng hạn. Chúng tôi hay nghiêng nhẹ đĩa rồi dùng muỗng múc súp đưa ngang lên miệng. Nhưng mẹ tôi thì dùng các ngón của bàn tay trái tì nhẹ lên mép bàn, thẳng người, ngẩng mặt lên, đưa muỗng múc súp mà hầu như không nhìn vào đĩa. Rồi bà nhẹ nhàng và khinh khoái đưa đầu muỗng súp vào giữa hai môi theo một góc vuông khiến ta có thể hình dung tư thế ấy như một con chim én vậy. Rồi vừa như vô tình nhìn xung quanh, bà vừa nhẹ nhàng đưa muỗng súp lên xuống như vẫy đôi cánh nhỏ, không bao giờ để rơi một giọt súp cũng không bao giờ phát ra tiếng động nào cả khi chạm vào đĩa lẫn khi đưa lên miệng. Có lẽ đó không phải là kiểu cách ăn uống được quy định chính thức lễ nghi, nhưng trong mắt tôi nó lại vô cùng khả ái, và tôi cho đó mới chính là cái cốt cách của quý tộc chân chính. Hơn thế nữa, sự thực là cách uống súp theo kiểu thẳng người lên, đưa đầu muỗng súp vào miệng thì ngon hơn rất nhiều so với cách cúi đầu xuống và húp súp từ muỗng theo chiều ngang. Tuy nhiên, tôi cũng chỉ là thứ hành khất quý tộc đúng như Naoji nói nên chẳng thể nào sử dụng muỗng một cách khinh khoái và thuần khiết như mẹ tôi được. Thành ra chẳng còn cách nào hơn, tôi đành cúi đầu xuống và húp súp một cách buồn bã theo kiểu “lễ thức chính quy”.

Không chỉ có món súp, cách ăn uống của mẹ tôi hầu hết đều đi lệch ra ngoài khuôn khổ. Chẳng hạn như khi ăn bít tết, bà nhanh chóng dùng dao và nĩa cắt thịt ra từng miếng nhỏ rồi bỏ dao đi, chuyển cái nĩa sang tay phải rồi cứ thế xiên từng miếng một khoan khoái đưa lên thưởng thức.

Hơn thế, mỗi khi ăn một miếng thịt gà có xương, trong khi chúng tôi khổ sở tách xương ra cố không gây tiếng động nào nơi đĩa thì mẹ tôi lại nhẹ nhàng dùng đầu ngón tay cầm chỗ xương ấy đưa lên miệng rồi tách phần thịt và xương. Cái hành động thô lậu ấy khi mẹ tôi trình diễn lại vô cùng dễ thương, thậm chí còn có đôi chút gợi tình nữa. Đúng là quý tộc tinh hoa có khác. Không chỉ xương gà mà trong bữa trưa, khi ăn những món như đùi lợn muối hay xúc xích mẹ tôi cũng hay dùng tay cầm lên để ăn.

- Các con có biết tại sao món cơm nắm ngon như vậy không? Vì nó được nắm chặt bằng bàn tay người đấy.

Có lần mẹ nói như thế.

Thực ra cũng có lúc tôi nghĩ ăn bằng tay như thế chắc ngon lắm, nhưng lũ khất thực cao cấp như chúng tôi nếu bắt chước một cách tệ hại thì chẳng phải đã trở thành một kẻ ăn mày thực sự hay sao, nên tôi đành gắng chịu đựng vậy.

Ngay cả thằng em tôi Naoji cũng đã nói mẹ chúng ta là số một, còn tôi sau nhiều lần chật vật bắt chước bà thì cảm thấy vô cùng tuyệt vọng.

Có một lần, vào đêm trăng sáng đầu thu, trong vườn sau nhà, tôi và mẹ ngồi dưới bóng cây bên bờ ao ngắm trăng, vừa nói chuyện trời sao mây gió vừa cười đùa. Chợt mẹ tôi đứng dậy đi sâu vào bụi hoa hagi kế bên rồi từ giữa đám hoa màu trắng ấy, mẹ ló gương mặt trắng ngần đẹp hơn cả hoa cười ra hỏi tôi rằng:

- Kazuko à, con xem mẹ đang làm gì này?

- Hái hoa chứ gì?

- Không, mẹ đi tiểu đấy.

Mẹ tôi cất giọng cười tươi trả lời.

Quả thật nơi mẹ tôi có một vẻ gì cao quý vô cùng mà tôi không tài nào bắt chước được.

Bắt đầu từ câu chuyện món súp sáng nay mà lan man đến như vậy thì có lẽ đi hơi quá xa, nhưng vì gần đây tôi có đọc một quyển sách nói rằng những quý phu nhân vương triều Louis thường bình thản tiểu tiện ở những góc hành lang hay trong các khu vườn ở cung điện. Sự ngây thơ đáng yêu ấy mới thật dễ thương làm sao và tôi nghĩ rằng không chừng người như mẹ tôi là một phu nhân quý tộc chân chính cuối cùng còn lại?

Trở lại chuyện sáng nay, khi húp một thìa súp, mẹ tôi kêu lên khe khẽ. Và khi tôi hỏi rằng có phải tóc không thì mẹ đáp rằng không.

- Có lẽ vì quá mặn chăng?

Món súp sáng nay được tôi chế biến từ đậu bina đóng hộp do Mỹ cấp và ngay từ đầu tôi đã không tự tin chút nào nên dù mẹ nói không tôi cũng lo lắng hỏi như vậy.

- Con nấu ăn ngon lắm.

Mẹ tôi nói nghiêm túc như vậy và sau khi dùng hết chén súp mẹ còn ăn thêm một vắt cơm nắm cuộn rong biển.

Từ nhỏ, phải sau 10 giờ sáng tôi mới ăn điểm tâm thấy ngon miệng vì không cảm thấy đói. Lúc đó tôi chỉ húp qua loa chén súp cho xong chuyện, rồi đặt vắt cơm nắm lên đĩa dùng đũa dẽ vụn ra, sau đó lấy đũa gắp từng miếng y như khi mẹ tôi dùng muỗng húp súp vậy. Tôi đưa đũa vuông góc với miệng như thể đang đút mồi cho một con chim sẻ nhỏ và ăn một cách lề mề chậm chạp. Trong khi đó mẹ tôi đã dùng xong bữa sáng, lặng lẽ đứng dậy, dựa lưng vào bức tường đang hứng ánh sáng buổi mai, nhìn cách tôi ăn và nói:

- Kazuko à, vẫn chưa được đâu con. Phải tập làm sao để có thể ăn sáng một cách ngon lành nhất mới được.

- Còn mẹ thì sao? Có thấy ngon không ạ?

- Đương nhiên rồi, mẹ đâu còn là bệnh nhân nữa.

- Vậy thì Kazuko cũng chẳng phải bệnh nhân đâu.

- Không được, không được - Mẹ vừa lắc đầu vừa cười với vẻ cô đơn vô hạn.

Năm năm trước, tôi từng bị bệnh phổi và phải nằm miệt mài trên giường nhưng tôi biết đó chỉ là thứ bệnh ích kỷ của tôi mà thôi. Tuy nhiên điều làm tôi lo lắng lại chính là chứng bệnh u sầu của mẹ dạo gần đây. Vậy mà mẹ lại chỉ toàn lo lắng cho tôi.

- Ah! - Tôi nói.

- Gì vậy con? - Lần này đến mẹ lên tiếng.

Hai mẹ con nhìn nhau và tôi có cảm giác dường như chúng tôi thấu hiểu tâm tư nhau nên tôi cười khúc khích còn mẹ thì khẽ mỉm cười.

Những lúc cảm thấy ngượng ngùng với điều gì đó, tự nhiên tôi thường khe khẽ thốt ra tiếng “ah” kỳ diệu ấy. Bây giờ đột nhiên nhớ đến chuyện ly hôn sáu năm về trước, buồn bã nên tôi bất chợt thốt ra tiếng kêu “ah” như thế, nhưng còn mẹ thì sao? Không lẽ mẹ cũng giống như tôi đang nhớ về kỷ niệm đau lòng nào? Không phải. Vậy thì có chuyện gì đây?

- Mẹ à, lúc nãy hình như mẹ vừa nhớ ra chuyện gì phải không? Chuyện gì vậy mẹ?

- Mẹ quên rồi.

- Chuyện của con hả?

- Không phải.

- Vậy thì chuyện của Naoji?

- Ừ - Mẹ nghiêng nghiêng đầu nói - Hình như là vậy.

Thằng em tôi khi đang học đại học thì bị triệu tập nhập ngũ đến vùng đảo phía Nam, từ đó bặt vô âm tín. Chiến tranh kết thúc nhưng vẫn không rõ tung tích, mẹ nói đã chuẩn bị tinh thần là không thể gặp lại nó rồi nhưng tôi biết mẹ chưa một lần chấp nhận suy nghĩ đó mà lúc nào cũng nuôi hy vọng sẽ gặp lại Naoji.

- Mẹ định từ bỏ hy vọng về Naoji rồi nhưng ăn canh súp con nấu ngon quá làm mẹ nhớ em không chịu nổi. Phải chi mẹ làm được nhiều điều cho em nó hơn.

Thằng Naoji từ khi vào trường trung học, đã chọn ngành văn chương và bắt đầu cuộc sống ăn chơi quậy phá như một thiếu niên hư hỏng, không hiểu rằng mình đã gây cho mẹ bao nỗi buồn phiền khổ sở. Vậy mà mẹ tôi ngay cả khi ăn súp vẫn nghĩ đến Naoji. Tôi nuốt cơm và cảm thấy nóng máu.

- Không sao đâu mẹ. Naoji không sao đâu. Thằng hư hỏng như Naoji dễ gì mà chết. Người chết thường là những người hiền lành, dịu dàng và đẹp đẽ thôi. Chứ còn thằng Naoji ấy có lấy cây đập nó cũng không chịu chết cho đâu.

Mẹ mỉm cười trêu tôi:

- Vậy thì người chết sớm sẽ là Kazuko rồi.

- Sao vậy được chứ? Con là chị của thằng du côn đó mà, nên đến tám mươi tuổi vẫn còn khỏe đấy.

- Vậy sao? Vậy thì chắc đến chín mươi tuổi mẹ vẫn còn minh mẫn nhỉ?

- Đúng đấy - Tôi nói và bất chợt cảm thấy ngại ngùng. Kẻ ác thì thường sống lâu, người đẹp lại thường yểu mệnh. Mẹ tôi rất đẹp, nhưng tôi lại muốn bà được sống lâu. Tôi cảm thấy mình thật khó hiểu.

- Mình thật tệ - Tôi nói, đôi môi run lên và nước mắt khẽ ứa tràn.

Có lẽ giờ nên chuyển sang chuyện những con rắn. Một buổi chiều của chừng bốn năm ngày trước, bọn trẻ trong làng tìm thấy khoảng mười cái trứng rắn ở góc hàng rào tre trong vườn.

- Đây là trứng rắn độc mamushi đó. - Bọn trẻ khăng khăng.

Tôi nghĩ nếu trứng nở ra chừng mười con rắn thì mình làm sao còn có thể đi dạo quanh quẩn trong vườn được nữa nên mới bảo bọn trẻ:

- Mình hãy đốt nó đi!

Bọn nhỏ vui mừng nhảy cẫng lên và chạy theo tôi. Chúng tôi thu gom lá cây, cành khô ở gần hàng rào lại, châm lửa và ném từng cái trứng vào trong đám cháy. Những cái trứng mãi vẫn không chịu cháy. Bọn trẻ chất thêm củi, lá khô làm cho lửa bùng mạnh hơn nhưng mấy cái trứng vẫn không hề hấn gì.

Cô bé nhà làm nông ở cuối làng đứng bên ngoài hàng rào vừa cười vừa hỏi:

- Chị đang làm gì đấy ạ?

- Bọn chị đang đốt trứng rắn độc mamushi. Nếu để nó nở thành con thì ghê lắm.

- Trứng đó to cỡ nào chị?

- To cỡ như trứng cút và màu trắng.

- Vậy thì đó chỉ là trứng rắn bình thường chứ không phải là trứng rắn độc mamushi đâu. Trứng sống thì làm sao đốt cháy được!

Cô bé cười tinh quái rồi bỏ đi.

Đốt mãi chừng ba phút nhưng mấy cái trứng vẫn không cháy, bọn trẻ mới khều ra và đem chôn dưới gốc cây mơ. Tôi gom mấy viên sỏi và đắp thành mộ bia cho chúng.

- Nào các em, mình cùng khấn vái nhé!

Khi tôi ngồi xổm xuống và chắp hai tay vái thì bọn trẻ phía sau tôi dường như cũng ngoan ngoãn chắp tay theo.

Sau đó tôi và bọn trẻ chia tay nhau. Tôi chậm rãi bước lên thềm đá và thấy mẹ đang đứng đó, dưới bóng của tàn cây cát đằng.

- Con vừa làm một việc thật tội lỗi đó. - Mẹ tôi nói.

- Vì con tưởng đó là rắn độc nhưng hóa ra chỉ là rắn bình thường. Nhưng con đã chôn cất chúng tử tế, nên chắc không sao đâu.

Mặc dù nói vậy nhưng tôi nghĩ chuyện như thế mà để mẹ nhìn thấy thì thật không hay chút nào.

Đương nhiên mẹ không phải là người mê tín nhưng mười năm trước, sau khi cha tôi qua đời tại tư gia ở thành phố Nishikata mẹ trở nên rất sợ rắn. Ngay trước khi cha mất, mẹ nhìn thấy có sợi dây đen đen dài dài bên gối nằm của cha, mẹ định nhặt lên thì mới hay ra đó là con rắn. Nó trườn đi, ra tới hành lang rồi mất hút. Chứng kiến cảnh tượng ấy chỉ có mẹ và chú Wada, hai người nhìn nhau nhưng vì không muốn làm kinh động đến phút ra đi của cha nên đều im lặng. Lúc đó, tôi cũng có mặt tại phòng khách nhưng không hề hay biết gì.

Nhưng chính tôi đã chứng kiến cảnh rắn bò lóp ngóp trên bờ ao, trên ngọn cây ở ngoài vườn vào buổi tối ngay ngày cha tôi qua đời. Bây giờ tôi là bà cô hai mươi chín tuổi nhưng khi cha mất vào mười năm trước, tôi cũng đã mười chín tuổi rồi. Không còn là trẻ con nữa nên cho dù mười năm đã trôi qua ký ức đó vẫn còn rõ ràng, không hề sai trật. Khi đi cắt hoa cúng, tôi bước dọc về phía bờ ao, đến bên cây đỗ quyên, ngước mắt nhìn thì thấy trên đầu cành cây có một con rắn nhỏ đang quấn mình. Khi định ngắt cành hoa cúc yamabuki tiếp theo cũng thấy trên cành hoa có rắn, tôi hơi ngạc nhiên. Trên cành cây ô liu, rồi cây phong, cây hoa đậu, dây cát đằng, cây hoa anh đào kế bên cũng có..., nói chung nơi nào có cây là nơi đó thấy rắn. Tuy nhiên tôi lại không thấy sợ hãi lắm. Tôi chỉ cảm thấy rắn cũng giống như tôi, buồn thương về sự ra đi của cha, nên chúng mới rời hang bò ra ngoài vái lạy vong linh của cha tôi. Khi tôi lặng lẽ báo cho mẹ biết về chuyện có rắn trong vườn, mẹ nghiêng đầu như đang suy nghĩ điều gì đấy nhưng không nói ra.

Nhưng sự thật là sau lần thứ hai thấy rắn đó, mẹ tôi đâm ra vô cùng ghét rắn. Có lẽ hơn cả ghét nữa mà là kính rắn, sợ rắn, như một cảm giác kinh sợ nên kính nhi viễn chi vậy.

Tôi nghĩ việc đốt trứng rắn mẹ nhìn thấy khi nãy chắc chắn đã khiến mẹ có cảm giác đó là việc vô cùng bất thường, còn tôi cũng thấy rất sợ vì mình đã đốt trứng rắn và cứ lo lắng không biết đó có phải là lời nguyền ác nghiệt nào lên mẹ hay không? Đến ngày hôm sau, hôm sau nữa tôi vẫn không thể quên nhưng sáng nay nơi nhà ăn, tôi đã lỡ miệng nói xằng bậy thiếu suy nghĩ rằng người đẹp sẽ chết, không thể nào rút lại lời nói được nữa, tôi chỉ đành khóc; vừa dọn dẹp bữa sáng tôi vừa cảm thấy sâu thẳm trong ngực mình, có cái gì đó như một con rắn đang trườn vào âm mưu rút ngắn sinh mệnh của mẹ, một cảm giác bức bối không tài nào chịu nổi.

Rồi ngày hôm đó, tôi lại nhìn thấy rắn trong vườn. Đó là một ngày đẹp trời và vô cùng yên tĩnh nên sau khi làm xong việc ở nhà bếp, tôi mang một chiếc ghế mây ra bãi cỏ sau vườn để ngồi đan len. Nhưng khi vừa đặt chiếc ghế xuống bãi cỏ, tôi nhìn thấy ở bụi cây chỗ tảng đá nơi góc vườn có một con rắn. “Á, thật là đáng ghét!” Lúc đó tôi chỉ nghĩ vậy thôi chớ không suy nghĩ gì sâu xa hơn rồi mang ghế đặt ngay chỗ lối đi, ngồi xuống và đan len. Cho đến chiều, tôi muốn xem tập tranh của Marie Laurencin2 ở trong thư viện nhà tôi, vốn là một cái chòi nơi góc vườn nên đã cất bước và lại thấy trên bãi cỏ một con rắn đang chậm chạp trườn đi. Nó giống y như con rắn ban sáng. Một con rắn dài thanh mảnh quý phái. Tôi nghĩ nó là rắn cái. Nàng ta từ từ băng qua bãi cỏ, đến dưới bụi hoa hồng thì ngừng lại ngẩng đầu lên, thè lưỡi đung đưa như ngọn lửa. Làm ra vẻ nhìn ngắm xung quanh một hồi lâu, nàng gục đầu, rũ xuống đất một cách uể oải. Lúc đó, tôi chỉ nghĩ đây là một con rắn thật đẹp rồi đi đến thư viện góc vườn lấy tập tranh. Khi quay trở lại, tôi thử tìm con rắn lúc nãy nhưng nàng không còn ở đó nữa.

Đến gần chiều, tôi cùng mẹ uống trà trong căn phòng bài trí kiểu Trung Hoa, nhìn ra vườn tôi lại thấy nàng rắn ban sáng đang nằm trên bậc thang đá thứ ba. Mẹ cũng nhận ra.

- Con rắn kia là...?

Mẹ đi đến chỗ tôi, nắm tay tôi và cứ đứng yên như thế. Nghe mẹ hỏi, tôi chợt nghĩ ra và nói:

- Con rắn mẹ của những cái trứng đó đúng không?

- Đúng, đúng đấy con à - Mẹ thì thầm.

Chúng tôi nắm chặt tay nhau, nghẹt thở, im lặng quan sát con rắn. Nó ngóc đầu uể oải rồi bắt đầu trườn đi như thể đang run rẩy, băng ngang qua bậc thang đá về phía bụi hoa diên vĩ.

- Nó cứ đi vòng quanh vườn từ sáng nay đấy mẹ ạ - Tôi khe khẽ nói.

Mẹ thở dài rồi ngồi xuống ghế:

- Vậy sao? Nó đi tìm trứng đấy mà. Thật tội nghiệp - Mẹ trầm giọng.

Tôi chỉ đành cười trừ trong căng thẳng.

Ánh chiều soi sáng gương mặt mẹ, mắt mẹ sáng lấp lánh gần như một màu xanh, gương mặt dường như mang một chút gì giận dữ đẹp vô cùng, khiến người khác phải động lòng. Tôi chợt nghĩ gương mặt mẹ và con rắn đẹp đẽ khi nãy có một cái gì đó giống nhau. Tôi cũng không hiểu tại sao lại có cảm giác con rắn xấu xí như con rắn độc mamushi đang uốn éo trong ngực tôi như muốn ăn tươi nuốt sống con rắn mẹ đẹp đẽ vô chừng và buồn rầu sang trọng đó.

Tôi đặt tay lên bờ vai mềm mại và mảnh mai của mẹ, cảm nhận được một nỗi muộn phiền không rõ lý do.

Chúng tôi đã rời bỏ căn nhà nơi khu phố Nishikata, Tokyo để chuyển về một sơn trang xây theo kiểu Trung Hoa ở Izu này từ tháng mười hai năm Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện. Sau khi cha tôi mất, việc kinh tế của gia đình đều do một tay chú Wada, em trai và là người thân duy nhất của mẹ lo liệu. Nhưng thế cuộc đổi thay từ khi chiến tranh kết thúc, chú Wada cũng chẳng còn cách nào khác là phải bán nhà, giải tán hết người làm rồi bàn với mẹ tôi rằng cách tốt nhất bây giờ là mua một căn nhà nhỏ đâu đó ở miền quê để sống qua những tháng ngày yên ổn. Mà mẹ tôi thì chuyện tiền nong còn kém hiểu biết hơn cả một đứa trẻ con, khi nghe chú Wada nói thế chỉ gật đầu mà rằng “vậy chú làm sao được thì làm" rồi thôi.

Vào cuối tháng mười một, chú tôi gửi điện báo nói rằng “ngôi biệt thự của tử tước Kawada trên tuyến đường sắt Sunzu3đang rao bán, ngôi nhà nằm trên nền cao bằng phẳng, tầm nhìn khoáng đạt và có vườn rộng chừng một trăm tsubo4; vùng này cũng nổi tiếng là một chốn để ngắm hoa mơ, mùa đông ấm áp, mùa hè mát mẻ, em nghĩ chị sống nơi đó sẽ rất thích hợp nhưng vì cần phải gặp và nói chuyện trực tiếp với chủ biệt thự nên nếu được ngày mai chị có thể ghé văn phòng em ở khu Ginza một chút”.

- Vậy mẹ có đi không? - Tôi hỏi.

- Đi chứ, vì chú ấy đã yêu cầu như vậy còn gì - Mẹ nói với một nụ cười cô đơn vô hạn.

Ngày hôm sau, mẹ nhờ chú Matsuyama, người tài xế cũ, đưa đi từ quá trưa đến khoảng 8 giờ tối mới cùng chú Matsuyama trở về nhà.

Mẹ vào phòng của tôi, chống tay lên bàn, ngồi xuống với vẻ rã rời và buông một câu.

- Mẹ quyết định rồi.

- Quyết định cái gì vậy mẹ?

- Tất cả.

- Nhưng mà...

Tôi kinh ngạc:  

- Nhà cửa như thế nào mẹ còn chưa xem qua mà.

Mẹ tựa khuỷu tay lên bàn, sờ trán và khẽ thở dài:

- Bởi vì chú Wada nói đó là một nơi rất tốt. Mẹ cảm thấy chúng ta cứ nhắm mắt mà dọn đến ngôi nhà đó thì cũng đượcchứ sao.

Mẹ ngẩng mặt lên cười yếu ớt. Gương mặt ấy hơi tiều tụy nhưng đẹp vô cùng.

- Đúng vậy.  

Tôi gật đầu biết mình đã thua niềm tin đẹp đẽ của mẹ đối với chú Wada và cũng tán đồng.

- Vậy thì con cũng nhắm mắt mà dọn đi.

Hai mẹ con cùng cất tiếng cười nhưng sau đó là một nỗi rầu buồn vô hạn.

Sau đó, mỗi ngày đều có phu khuân vác đến thu xếp hành lý và chuyển đi. Chú Wada cũng đã đến giúp cắt đặt mọi việc. Tôi cùng cô hầu Okimi bận rộn với bao nhiêu việc, nào là sắp xếp quần áo, rồi mang những thứ linh tinh ra vườn đốt, vậy mà mẹ không phụ giúp gì dù chỉ là đụng đến một ngón tay, cứ suốt ngày chôn mình trong phòng thờ thẫn.

- Sao vậy ạ? Mẹ lại không muốn chuyển đến Izu nữa à? - Tôi lấy can đảm hỏi mẹ.

- Không phải vậy đâu - Mẹ mơ màng đáp.

Mười ngày sau, chuyện thu dọn hành lý cũng hoàn tất. Buổi tối khi tôi cùng Okimi đốt giấy vụn và rơm khô ngoài vườn, mẹ cũng từ trong phòng bước ra, đứng ở lối đi và lặng lẽ nhìn những tàn lửa cháy. Cơn gió tây lạnh lẽo như màu tro xám thổi qua, làn khói bay là đà sát mặt đất, tôi vô tình ngước lên nhìn gương mặt của mẹ, thấy thần sắc vô cùng nhợt nhạt, nét mặt này tôi chưa nhìn thấy bao giờ.

- Mẹ à, sắc mặt mẹ xanh xao quá!

Khi tôi hoảng hốt la lên như vậy thì mẹ cười nhẹ đáp lời:

- Không có gì đâu con.

Rồi lặng lẽ quay về phòng.

Tối hôm đó, vì chăn chiếu đã đóng hành lý nên Okimi ngủ ở trường kỷ trên tầng hai, còn tôi và mẹ nghỉ trong phòng của mẹ, hai người nằm chung trên một tấm futon mượn của nhà kế bên.

Khi tôi vừa định chúc mẹ ngon giấc thì bất ngờ mẹ nói với giọng run run yếu ớt:

- Vì có Kazuko nên mẹ mới đến Izu. Chính vì có Kazuko đi cùng mẹ đấy.

Tôi giật mình hỏi lại:

- Nếu không có Kazuko thì sao?

Đột nhiên mẹ bật khóc.

- Mẹ thà chết đi còn hơn. Mẹ muốn chết trong ngôi nhà mà cha con đã qua đời.

Mẹ nghẹn ngào và khóc thổn thức.

Từ trước đến giờ chưa lần nào mẹ tỏ ra yếu đuối trước mặt tôi, cũng chưa khi nào để tôi nhìn thấy mẹ khóc đau khổ như vậy. Cho dù là lúc cha tôi mất, lúc tôi đi lấy chồng, lúc tôi bụng mang dạ chửa quay về nhà, rồi đứa bé bị chết non trong bệnh viện, hay lúc tôi bệnh nằm liệt giường, rồi ngay cả khi Naoji quậy phá nữa, mẹ cũng tuyệt đối không cho ai thấy thái độ yếu ớt như thế.

Mười năm kể từ ngày cha tôi mất, mẹ không thay đổi một chút nào, vẫn lạc quan và hiền dịu. Chúng tôi cứ thế tha hồ làm nũng với mẹ. Tuy nhiên, giờ thì mẹ đã hết sạch tiền. Vì tôi và Naoji, mẹ trang trải tiêu pha hết chẳng tiếc nuối một chút gì. Và giờ đây mẹ phải rời ngôi nhà thân thương này để dọn đến một sơn trang nhỏ ở Izu, cùng tôi bắt đầu cuộc sống mới, lủi thủi chỉ có hai người.

Phải chi mẹ là người hẹp lòng, la mắng chúng tôi, lặng lẽ tiết kiệm một chút cho riêng mình thì dù cuộc thế đổi thay thế nào cũng không đến mức cùng quẫn chỉ muốn chết như thế này. Mà cái chuyện không có tiền đúng là một địa ngục đáng sợ và thê thảm vô vọng nhất mà tôi lần đầu tiên từ lúc sinh ra đến giờ mới nhận thấy. Ngực tôi nghẹn thắt lại, muốn khóc nhưng không thể nào khóc được. Không biết cái cảm giác lúc này có phải thứ mà nhân gian thường hay nói là “sự nghiêm túc của cuộc đời” hay không? Tôi cứ ngửa mặt nhìn lên trần nhà, cảm thấy người mình như một tảng đá, không tài nào nhúc nhích nổi.

Ngày hôm sau, quả thật sắc mặt mẹ rất xanh xám, có vẻ dùng dằng muốn ở lại căn nhà này lâu hơn chút nữa, không muốn rời đi. Chú Wada nhìn thấy được điều này nên nói rằng hành lý đã gửi đi hết rồi, hôm nay phải khởi hành đi Izu. Lúc này, mẹ mới miễn cưỡng mặc áo khoác, khẽ cúi chào cô hầu Okimi cùng những người làm khác cũng đang nói lời tạm biệt, rồi cùng chú và tôi ba người rời khỏi căn nhà ở Nishikata.

Chuyến xe lửa khá vắng vẻ nên cả ba chúng tôi đều tìm được chỗ ngồi. Trong xe, chú tôi cao hứng ngâm nga vài đoạn kịch No còn mẹ thì sắc diện rất xấu, ủ rũ gục đầu và như co ro vì lạnh. Đến Mishima, chúng tôi đổi qua chuyến tàu đi Sunzu, đến Izu Nagaoka thì xuống tàu đi xe buýt chừng 15 phút là tới nơi. Chúng tôi từ từ leo lên con dốc hướng về phía núi và thấy một ngôi làng nhỏ, ở rìa làng có một sơn trang xây theo kiểu Trung Hoa khá kỳ công.

- Mẹ ơi, nơi này tuyệt hơn nhiều so với hình dung của mình nhỉ? - Tôi nói hổn hển.

- Đúng vậy đấy.

Mẹ đứng trước cổng sơn trang với một thoáng vui hiện lên trong mắt.

- Thứ nhất là không khí trong lành. Thật tinh khiết biết bao!

Chú nói đầy vẻ tự hào:

- Đúng như thế.

Mẹ mỉm cười đáp lại:

- Thật tuyệt! Không khí ở đây thật tuyệt!

Và cả ba chúng tôi mỉm cười.

Chúng tôi thử bước vào bên trong thì thấy hành lý từ Tokyo đã được chuyển đến chất đầy từ hành lang cho đến tận trong phòng.

- Thứ hai là phong cảnh từ phòng khách nhìn ra rất đẹp.

Chú cao hứng kéo hai mẹ con tôi vào phòng khách và bắt chúng tôi ngồi xuống.

Lúc này khoảng ba giờ chiều, khí trời mùa đông dịu nhẹ lan tỏa trên bãi cỏ trong vườn. Dưới chân bậc thềm đá nơi bãi cỏ là một cái ao nhỏ với rất nhiều cây hoa mơ, ở phía cuối vườn là một mảng vườn cam trải dài, ở đó có con đường làng, theo đó là ruộng lúa nước, xa xa là rừng thông và tít bên kia rừng thông là biển. Nếu ngồi ở phòng khách như thế này thì mực nước biển cao ngang ngực tôi.

- Cảnh vật thật yên bình - Mẹ nói đầy vẻ ưu tư.

- Chắc tại bầu không khí. Ánh nắng dường như khác hẳn với Tokyo, đúng không mẹ? Những tia nắng trông giống như tơ lụa.

Tôi phấn khởi lên tiếng.

Căn nhà có một phòng mười chiếu, một phòng sáu chiếu, một phòng khách kiểu Trung Hoa, hành lang rộng khoảng ba chiếu, phòng tắm cũng oảng chừng ba chiếu, rồi phòng ăn và phòng sinh hoạt chung, rồi một phòng trên tầng hai thiết kế theo kiểu Tây bên trong kê một cái giường lớn dành cho khách. Chỉ có bấy nhiêu phòng thôi nhưng với hai mẹ con tôi, à không, cho dù Naoji trở về nữa thì đối với ba người, căn nhà cũng không chật chội chút nào.

Chú đến cửa hàng duy nhất trong sơn thôn này để đặt mua thức ăn. Khi cơm hộp được mang tới, chúng tôi bày ra trong phòng khách, chú lấy rượu whisky đem theo ra thưởng thức. Chú vui vẻ kể chuyện về chuyến đi du lịch Trung Quốc với tử tước Kawada, người chủ trước của sơn trang này. Mẹ chỉ cầm đũa chấm mút chút ít và khi trời vừa chạng vạng tối, mẹ cất giọng khe khẽ.

- Để cho mẹ ngủ một chút.

Tôi soạn hành lý lấy chăn đệm trải cho mẹ nằm nghỉ. Nhưng có điều gì đó nơi mẹ khiến tôi lo lắng. Tôi tìm cái nhiệt kế và thử đo thân nhiệt cho mẹ thì thấy lên đến ba mươi chín độ.

Chú tôi cũng hoảng hốt và vội vàng đi đến cuối làng tìm bác sĩ.

- Mẹ ơi!

Tôi gọi nhưng mẹ chỉ nằm thiêm thiếp. Tôi nắm chặt bàn tay nhỏ nhắn của mẹ và nức nở khóc. Mẹ thật tội nghiệp biết bao, mà không, cả hai mẹ con mình thật là đáng thương. Tôi vừa khóc vừa nghĩ đến việc chết đi cùng mẹ. Thôi, chúng tôi không cần bất cứ thứ gì nữa. Cuộc sống của mẹ con tôi đã kết thúc kể từ khi bước chân ra khỏi ngôi nhà ở Nishikata.

Khoảng hai tiếng sau chú đưa một vị bác sĩ trong làng về, ông có vẻ khá già, mặc áo hakama thượng phẩm và chân mang tất trắng.

- Không chừng bị viêm phổi đấy. Tuy nhiên, dù bị viêm phổi đi nữa cũng không cần lo lắng gì đâu.

Sau khi chẩn bệnh, bác sĩ nói một cách mập mờ như vậy rồi chích thuốc cho mẹ xong thì ra về.

Ngày hôm sau mẹ vẫn không hạ sốt.

Chú Wada đưa cho tôi hai ngàn yên và căn dặn nếu phải nhập viện thì hãy gửi điện báo về Tokyo cho chú, rồi quay về trong ngày hôm đó.

Tôi lấy trong hành lý ra một số vật dụng nấu ăn cần thiết, nấu cháo mời mẹ ăn. Mẹ vẫn nằm như thế và húp đến muỗng cháo thứ ba thì lắc đầu.

Vào buổi trưa hôm ấy, vị bác sĩ làng lại ghé thăm bệnh. Lần này ông không mặc áo hakama nhưng chân vẫn đi tất trắng.

- Có nên đưa vào bệnh viện không ạ? - Tôi hỏi.

- Không cần thiết đâu. Hôm nay tôi sẽ tiêm một mũi thuốc liều cao và phu nhân có lẽ sẽ hạ sốt đấy.

Câu trả lời của bác sĩ cũng mơ hồ như hôm trước. Sau đó ông tiêm thuốc cho mẹ rồi ra về.

Dường như mũi thuốc đó có hiệu quả, quá trưa hôm đó sắc mặt mẹ trở nên hồng hào, mồ hôi ra đầm đìa và cười nói khi tôi thay áo ngủ cho mẹ.

- Có lẽ đây là danh y chăng?

Sốt đã hạ xuống còn 37 độ. Tôi vui mừng không tả xiết, vội chạy đến quán trọ cuối làng nhờ bà chủ mua giùm mười quả trứng gà mang về luộc lòng đào mời mẹ ăn. Mẹ ăn được ba quả và chừng nửa chén cháo.

Hôm sau, vị bác sĩ, lại mang tất trắng, đến thăm bệnh. Khi tôi bày tỏ lòng cảm ơn về liều thuốc hiệu nghiệm ngày hôm qua thì ông cúi đầu đáp lễ với vẻ mặt như muốn nói "đương nhiên phải có hiệu quả rồi". Ông khám bệnh cho mẹ một cách cẩn thận và quay sang nói với tôi:

- Phu nhân đã khỏi bệnh. Vì vậy, từ bây giờ có thể ăn bất cứ thứ gì và làm gì cũng được hết đấy.

Đúng là cách nói chuyện lạ lùng, tôi kiềm chế lắm mới không bật cười.

Tôi tiễn vị bác sĩ ra tận cổng, khi quay lại phòng khách thì thấy mẹ đã ngồi dậy được.

- Đúng là danh y. Mẹ đã khỏi rồi.

Mẹ trông rất vui tươi, thì thầm như nói với chính mình.

- Mẹ à, con mở cửa ra nhé? Bên ngoài tuyết đang rơi đấy.

Tuyết nhẹ nhàng rơi rơi từng phiến mỏng như những cánh hoa mẫu đơn. Tôi kéo cánh cửa và ngồi bên cạnh mẹ, ngắm tuyết Izu qua lớp kính.

- Khỏi bệnh rồi.

Mẹ lại thì thầm một mình.

- Ngồi như thế này, mẹ có cảm giác những chuyện trước đây thoáng qua như một giấc mơ thôi. Nói thật, lúc sắp chuyển nhà đến Izu trong lòng mẹ cứ chán nản thế nào ấy. Mẹ chỉ muốn ở thêm dù chỉ một ngày, thậm chí nửa ngày trong ngôi nhà ở Nishikata. Khi lên xe điện là lúc mẹ nhận ra lòng mình đã chết đi một nửa và khi đặt chân đến đây, lúc đầu mẹ cảm thấy tâm trạng vui lên một chút nhưng khi trời chập choạng tối mẹ như kiệt sức vì da diết nhớ Tokyo.

Đây không phải là căn bệnh bình thường đâu. Thần linh đã cho mẹ tái sinh thành một người khác hoàn toàn với ngày hôm qua đấy.

Rồi từ đó đến nay, cuộc sống nơi sơn trang chỉ hai mẹ con tôi cứ lặng lẽ và yên bình trôi qua. Những người ở đây đối xử rất tử tế với chúng tôi. Chúng tôi chuyển đến đây từ tháng mười hai năm ngoái, vậy tính đến hôm nay là đã bốn tháng trôi qua rồi. Ngoài việc chuẩn bị cơm nước ra chúng tôi đan len ở ngoài sân vườn, đọc sách trong phòng bày trí kiểu Trung Hoa hay lặng lẽ thưởng trà, sống một cuộc sống hầu như biệt lập với thế gian. Vào tháng hai hoa mơ nở rộ, cả sơn thôn ngập chìm trong sắc hoa. Tháng ba nhiều ngày bình yên lặng gió nên những cánh hoa mơ độ mãn khai càng tươi tắn, khoe sắc cho đến cuối tháng. Dù sáng trưa chiều hay tối, những cánh hoa mơ vẫn đẹp đến nao lòng. Lần nào tôi mở cửa, hương hoa cũng lan tỏa khắp gian phòng.

Vào cuối tháng ba, buổi chiều thường hay có gió, khi tôi thưởng thức trà chiều trong phòng ăn, những cánh hoa mơ ngoài cửa sổ theo gió bay vào trong tách trà. Sang tháng tư, tôi và mẹ đan len ngoài sân và thường nói về kế hoạch làm vườn sắp tới. Mẹ nói là muốn giúp tôi.

Ah, dù cho chúng tôi - như lời mẹ nói - đã chết đi để tái sinh thành hai con người hoàn toàn khác nhưng phải chăng sự phục sinh như chúa Jesu đối với người phàm là không thể được? Mặc dù mẹ nói đã quên đi chuyện đã qua nhưng rõ ràng khi húp muỗng súp mẹ lại nhớ đến Naoji và thở dài. Và vết thương trong lòng tôi, thực ra cũng chưa bao giờ lành lại.

À, tôi muốn kể mọi chuyện rõ ràng không che đậy tí gì cả. Thỉnh thoảng tôi thầm nghĩ sự bình yên ở sơn trang này chỉ là giả dối ngụy tạo mà thôi.

Cho dù đây có là khoảng thời gian nghỉ ngơi ngắn ngủi mà thần linh đã ban cho mẹ con tôi đi nữa, thì tôi cũng không ngừng nhận thấy rằng trong sự yên bình này có một bóng đen tăm tối và bất thường đang tiến lại gần chúng tôi. Mẹ tỏ ra hạnh phúc nhưng mỗi ngày lại cứ tiều tụy đi. Trong ngực tôi, con rắn độc mamushi đang trú ngụ, dù gắng đè nén đến đâu nó cũng đang lớn dần lên bằng sự hy sinh của mẹ. Ah, giá như đây chỉ là do thời tiết mà thôi thì hay biết mấy. Nhưng gần đây tôi cứ cảm thấy cuộc sống này thật chán chường không chịu nổi. Chắc hẳn là việc đốt trứng rắn là một trong những điều dại dột làm tôi cứ lo lắng bồn chồn như vậy. Nếu cứ thế này mãi thì sẽ làm cho mẹ ngày càng chìm sâu vào nỗi buồn phiền và suy nhược hơn thôi. Còn nếu viết về tình yêu thì tôi đã không thể nào viết gì được nữa.

-Còn tiếp-

Chú thích:

  1. Giai cấp quý tộc được quy định bởi Hiến Pháp Minh Trị xếp theo thứ tự lần lượt là Hoàng tộc 皇族, Hoa tộc 華族 (gồm công tước 公爵, hầu tước 侯爵, bá tước 伯爵, tử tước 子爵, nam tước 男爵), Sĩ tộc 士族 và bình dân 平民 - ND.
  2. Marie Laurencin (1885-1956): nữ họa sĩ Pháp, chuyên vẽ tranh chân dung - ND.
  3. Sunzu 駿豆: viết tắt của hai vùng Suruga 駿河 và Izu 伊豆 - ND.
  4. Tsubo (坪): đơn vị đo diện tích ở Nhật. Một tsubo chừng 3,306 mét vuông - ND.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Trích đăng “Những cảnh đời tỉnh lẻ – Tuổi thơ” (J. M. Coetzee)

Bộ ba tác phẩm hợp thành “Những cảnh đời tỉnh lẻ” như một bức chân dung buồn bã pha lẫn khôi hài về cuộc đời của một nghệ sĩ, người luôn phải xoay trở để tìm ra hướng đi của riêng mình giữa các mối quan hệ trong giới học thuật và chính trường Cape Town sục sôi dưới chế độ Apartheid.

Published

on

Trích từ: Những cảnh đời tỉnh lẻ - Tuổi thơ

Tác giả: J. M. Coetzee

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Tái bản: tháng 6.2020

Giới thiệu tác phẩm: Những cảnh đời tỉnh lẻ - Tuổi thơ

Từ xưa đến nay không có nhiều nhà văn vừa được giới phê bình khen ngợi lại vừa chinh phục được đông đảo độc giả. J. M. Coetzee nằm trong số đó. Tuy nhiên, tác giả Nam Phi này hiếm khi nói về bản thân mình, cho đến khi Tuổi thơ được xuất bản vào năm 1997, hé mở những hồi ức chân thực về sự khởi đầu của nhà văn trẻ với lối tự thuật bậc thầy. Tiếp theo đó là những năm tháng dịu dàng và mãnh liệt của Tuổi trẻ và cách kể chuyện hài hước, khác thường ở Mùa hè.

Bộ ba tác phẩm hợp thành Những cảnh đời tỉnh lẻ như một bức chân dung buồn bã pha lẫn khôi hài về cuộc đời của một nghệ sĩ, người luôn phải xoay trở để tìm ra hướng đi của riêng mình giữa các mối quan hệ trong giới học thuật và chính trường Cape Town sục sôi dưới chế độ Apartheid.

Trong đó, Những cảnh đời tỉnh lẻ - Tuổi thơ là bản miêu tả sâu sắc và cực kỳ thuyết phục về một thời thơ ấu ở Nam Phi với lối kể chuyện mộc mạc và tiết chế như những bình nguyên bằng phẳng ở Karoo - nơi đã tạo nên bối cảnh cho câu chuyện.

*

Lời người dịch

Một cậu bé da trắng sinh ra ở Nam Phi, sống những ngày thơ bé giữa một bên là chế độ Apartheid chớm hình thành, một bên là những tương giao hồn nhiên với những con người đại diện cho chủng tộc bị coi rẻ. Một đứa con của hai nền văn hóa: dòng dõi Afrikan – hậu duệ của những người da trắng chiếm lĩnh và lập nên nhà nước Nam Phi từ bao đời trước – và nền giáo dục hướng về Anh quốc. Một thanh niên mộng thành nghệ sĩ, nhưng lại trở thành lập trình viên máy tính. Một người Nam Phi xem miền đất gắn liền với tổ tiên là một phần cốt lõi của chính mình, đồng thời lại tin rằng mình chẳng có tư cách kế thừa miền đất đó. John Coetzee, nhân vật chính của cuốn sách này, hội tụ nơi mình bao mối mâu thuẫn.

Qua các tên gọi và gốc gác, qua các chi tiết tương đồng với đời thực, ta dễ dàng có cảm tưởng đây là câu chuyện cuộc đời của chính nhà văn – J. M. Coetzee, chủ nhân của giải Nobel Văn chương 2003 và những tác phẩm soi chiếu xã hội Nam Phi đầy rẫy xung đột sắc tộc.

Thế nhưng, không thể gọi Scenes from Provincial Life – Những cảnh đời tỉnh lẻ –là hồi ký hay tự truyện của J. M. Coetzee.

Ta không thường thấy người viết tự truyện nói về mình ở ngôi thứ ba. Ta không thường thấy họ tập trung mô tả chính mình theo chiều hướng đáng phê phán, có khi đến mức thiếu phẩm cách như J. M. Coetzee đã làm. Quan trọng hơn hết, ta chắc chắn không có tự truyện nào tiếp diễn đến tận khi nhân vật chính đã chết, chỉ còn hiện diện trong lời kể của những người đã từng quen biết mình.

Không tuân theo lối kể chuyện truyền thống, cũng chẳng bị giới hạn vào một lối kể đơn nhất, Những cảnh đời tỉnh lẻ là một tác phẩm tự sự đa chiều. Ở chiều kích nổi trội nhất, bao trùm cả phần 1 Boyhood Tuổi thơ và phần 2 Youth Tuổi trẻ, tác phẩm được trình bày hoàn toàn từ điểm nhìn của John Coetzee, ngôi thứ ba, thì hiện tại, tựa hồ những quan sát được thảo ra trong thời gian thực – như thể người kể chuyện đang đồng hành cùng John từ đời sống đến nội tâm, như thể có một phần linh hồn trong John đang tách ra một góc và quan sát chính bản thân mình. Chiều kích thứ hai, bắt đầu với phần 3 Summertime Mùa hè, vẫn với ngôi thứ ba và thì hiện tại, là những trang nhật ký của John, đi kèm ngày tháng và những lời tự vấn, tự nhắc nhở mình. Và chiều kích cuối cùng, cũng trong Mùa hè, dưới hình hài những cuộc phỏng vấn, là các đối thoại song phương và hồi ức – đối thoại về John, hồi ức về John, khi con người ấy không còn ở thế gian.

Nếu cần phải dựa vào một từ ngữ để nắm bắt bản chất tác phẩm khi đọc, ta có thể nhìn nhận Những cảnh đời tỉnh lẻ một cách giản dị là tiểu thuyết tự thuật. Một tiểu thuyết đầy màu sắc tự thuật. J. M. Coetzee vẫn luôn đưa yếu tố tự thuật vào những tác phẩm của mình, nhưng có thể nói phải đến Những cảnh đời tỉnh lẻ, khía cạnh này mới nổi bật hẳn lên, và phô bày đậm đà dấu ấn riêng của tâm hồn tự thuật. Vẫn ngòi bút súc tích, nhưng cảm xúc không còn kìm nén, lời văn không còn dè dặt, như ta từng thấy qua những Disgrace – Ruồng bỏ, Life and Times of Michael K – Cuộc đời và thời đại của Michael K. Tâm hồn ấy phô bày trái tim mình ra khắp trang viết, từ những lý tưởng cao vời, những khát vọng cháy bỏng, đến những bí mật đê hèn, những suy tư nghiệt ngã.

Quý độc giả sẽ dễ dàng thắc mắc: Vì sao Những cảnh đời tỉnh lẻ, một tác phẩm đậm tính tự thuật, lại chuyển hướng ở phần Mùa hè, theo những chiều kích hoàn toàn khác lúc ban đầu? Hẳn là có nhiều hơn một nguyên do đằng sau nghệ thuật kể chuyện ấy, những nguyên do mà chỉ một đôi dòng ở đây không thể nào khai phá hết. Điều quan trọng là, với lối kể ấy, câu chuyện đã vượt hẳn ra ngoài khuôn khổ thế giới của John Coetzee, mở rộng thành một bức tranh hợp từ nhiều mảnh đời, và một lần nữa cho thấy sự đa chiều của nó, ở bình diện tâm lý. Rồi khi những cá tính và số phận đã dự phần vào cuộc đời John phô bày chính mình, ta thấy, bằng cách này hay cách khác, vì lẽ này hay lẽ khác, họ đều là những kẻ dị biệt – hoặc họ đứng ngoài xu thế chung của cộng đồng mình, hoặc họ lạc lõng giữa đất nước mà mình đang sống. Và nổi lên từ câu chuyện của những kẻ dị biệt ấy là đời sống chính trị và xã hội bất ổn của Nam Phi những năm 1940, 1960 và 1970, đất nước Nam Phi mà lúc bấy giờ cũng chính là một quốc gia dị biệt so với phần còn lại của thế giới.

Bằng cách ấy, từ không gian tự thuật hư cấu tưởng chừng riêng tư, J. M. Coetzee khơi mở dần những vấn đề chung của dân tộc, của đất nước, của từng thế giới vi mô mà nhân vật chính và các nhân vật phụ góp mặt vào: thế giới học đường với đòn roi và những kẻ bắt nạt; thế giới nhà nông đầy niềm vui thuần phác lẫn hiện thực tàn nhẫn; thế giới xám xịt của những lập trình viên máy tính; thế giới bấp bênh về đời sống lẫn tâm tư của tuổi trẻ chập chững tìm chỗ đứng cho chính mình; thế giới của những người nhập cư lao đao giữa một nền văn hóa mới… Nam Phi và Anh quốc có thể là những vùng đất xa xôi với chúng ta, độc giả Việt Nam, nhưng những vấn đề của con người mà nhà văn chạm tới, chúng ta có thể nhìn thấy trên chính đất nước mình, xã hội mình, và đôi khi trong đời sống của mình nữa.

Nhờ sự sáng tạo về điểm nhìn và lối kể chuyện, Những cảnh đời tỉnh lẻ không chỉ là một bức tranh tinh tế về đời sống con người, mà còn là một phương thức giúp nhà văn mở lòng hơn, bộc bạch nhiều hơn với thế giới – với những ai quan tâm đến văn chương ông, những ai chưa từng đọc ông, và cả những ai không thích ông vì phong thái khép kín xa cách mà ông thể hiện trong những tác phẩm trước. John, dù là hiện thân bao nhiêu phần trăm của nhà văn, cũng phản chiếu lòng thành thật của một người cầm bút về những niềm tin, mơ ước và góc tối trong chính mình. Không gian tâm lý đa chiều trong tác phẩm, dù có bao nhiêu phần trăm là lấy từ đời thực, cũng phản chiếu ý nguyện nhìn nhận những góc khuất trong tâm hồn và thân phận con người, nhìn nhận sự phức tạp về thế giới quan và hoàn cảnh của mỗi người chúng ta, nhìn nhận sự đa dạng mà hạn chế trong góc nhìn của chúng ta về nhau. Như một nhân vật trong Mùa hè đã nói, “anh nên thận trọng với việc bỏ người ta vào những cái hộp nhỏ hẹp, gọn ghẽ, và dán nhãn lên đó”, J. M. Coetzee có lẽ cũng mong chúng ta thận trọng và đón nhận mọi người quanh mình bằng cái nhìn rộng mở.

Mối duyên của tôi với Những cảnh đời tỉnh lẻ bắt đầu từ nhiều năm trước khi tôi may mắn được dịch nó. Ngay những ngày đầu ấy, khi đọc Mùa hè, tôi đã tìm thấy niềm vui được tận hưởng cái đẹp của lối kể chuyện lạ thường, thẳng thắn, hóm hỉnh, vượt ra ngoài mọi khuôn khổ mình từng biết. Và ngay những ngày đầu ấy, tôi đã thấy mình đồng cảm với John, với thế giới tự thuật hư cấu của tác phẩm – qua những suy nghĩ và cảm xúc, những trải nghiệm đẹp đẽ lẫn đau thương của các nhân vật ấy, tôi nhận ra chính con người mình.

Tôi hy vọng rằng, qua bản dịch này, thế giới tâm lý đa chiều, nghệ thuật kể chuyện tài hoa và những bộc bạch chân tình của J. M. Coetzee cũng sẽ khơi dậy niềm vui, niềm đồng cảm sâu đậm nơi con tim các bạn.

Hương Châu

*

PHẦN 1
TUỔI THƠ

Họ sống trong một khu nhà ở quy hoạch1 nằm ngoài thị trấn Worcester, giữa tuyến đường ray và Quốc lộ. Các con đường trong khu nhà mang tên các loài cây, nhưng chẳng có bóng cây nào. Địa chỉ nhà họ là số 12 Đại lộ Cây Dương. Các nhà trong khu đều mới và giống hệt nhau. Chúng được dựng trên những lô đất sét đỏ rộng rãi, nơi chẳng có gì mọc lên, và được ngăn cách với nhau bằng hàng rào dây thép. Ở sân sau mỗi nhà đều có một căn nhà nhỏ gồm một phòng ở và một buồng vệ sinh. Tuy không có người giúp việc, họ gọi các không gian đó là “phòng người giúp việc” và “phòng vệ sinh của người giúp việc”. Họ lấy phòng người giúp việc làm kho chứa đồ: giấy báo, chai lọ rỗng, một chiếc ghế gãy, một tấm nệm xơ dừa cũ.

Cuối sân, họ bố trí một bãi thả gia cầm với ba con gà mái để lấy trứng. Nhưng lũ gà này chẳng sinh sôi. Nước mưa không thấm được vào bề mặt của đất sét, đọng thành từng vũng trên sân. Bãi gia cầm trở thành một bãi lầy bốc mùi kinh khiếp. Chân cẳng lũ gà sưng phồng lên gớm ghiếc, trông như da voi. Đau ốm, bực dọc, chúng thôi đẻ trứng. Mẹ hắn hỏi ý kiến chị gái bà ở Stellenbosch, và chị gái bà bảo lũ gà sẽ chỉ đẻ trứng lại khi nào lớp màng sừng dưới lưỡi chúng được cắt đi. Thế là mẹ hắn kẹp lần lượt từng con gà một vào giữa hai đầu gối, ấn vào diều chúng cho đến khi chúng há mỏ ra, rồi chọc mũi dao tỉa vào lưỡi chúng. Chúng quang quác và vùng vẫy, mắt lồi cả ra. Hắn rùng mình quay mặt đi. Hắn nghĩ đến cảnh mẹ quẳng thịt hầm lên kệ bếp và cắt miếng thịt thành từng khối vuông; hắn nghĩ đến những ngón tay bết máu của bà.

Các cửa hiệu gần nhất nằm cách nhà một dặm2, trên một con đường hiu quạnh có những hàng cây bạch đàn. Mắc kẹt trong khối nhà hình hộp giữa khu dân cư này, mẹ hắn chẳng có gì để làm cả ngày ngoài việc quét tước, dọn dẹp. Mỗi bận gió thổi, một lớp bụi sét màu hoàng thổ cuộn xoáy qua các khe cửa, len qua những kẽ nứt trên khung cửa sổ, dưới máng xối và những mối nối của trần nhà. Sau một trận bão kéo dài cả ngày, bụi đã phủ cao hàng tấc2 trên mặt tường chính diện.

Họ mua máy hút bụi. Sáng sáng, mẹ hắn kéo rê chiếc máy từ phòng này sang phòng kia, hút mớ bụi vào cái bụng rống ì ầm in hình một con yêu tinh3 đỏ mỉm cười búng mình lên như đang nhảy rào. Sao lại là một con yêu tinh?

Hắn chơi với cái máy hút bụi, xé vụn giấy ra và quan sát những mẩu giấy bay tung lên trước miệng vòi như lá cây trong gió. Hắn chĩa vòi vào một bầy kiến, hút chúng vào trong đến chết.

Ở Worcester có kiến, ruồi, dịch bọ chét. Worcester chỉ cách Cape Town4 chín mươi dặm, nhưng mọi thứ ở đây đều tồi hơn. Chân hắn có một quầng những vết cắn của bọ chét ngay trên rìa tất, và những đốm vảy do hắn gãi mà thành. Có những đêm hắn không ngủ được vì ngứa ngáy. Hắn không hiểu vì sao gia đình hắn phải rời Cape Town.

Mẹ hắn cũng bứt rứt. Bà nói, ước gì tôi có một con ngựa. Ít nhất thì tôi cũng được cưỡi nó dạo chơi trên thảo nguyên. Một con ngựa! Cha hắn thốt lên. Mình muốn làm phu nhân Godiva5 chắc?

Mẹ hắn không mua ngựa. Thay vào đó, chẳng hề báo trước, bà mua một chiếc xe đạp nữ, hàng cũ, sơn đen. Chiếc xe to và nặng đến nỗi khi hắn thử chạy nó trong sân nhà, hắn không vần nổi bàn đạp.

Mẹ hắn không biết chạy xe đạp; có lẽ bà cũng chẳng biết cưỡi ngựa nốt. Bà mua chiếc xe vì cho rằng điều khiển nó cũng đơn giản thôi. Giờ thì bà chẳng tìm được ai có thể dạy mình chạy xe.

Cha hắn không giấu được vẻ hả hê. Ông bảo, phụ nữ không chạy xe đạp. Mẹ hắn vẫn ngang ngạnh. Bà đáp, tôi sẽ không làm tù nhân trong cái nhà này. Tôi sẽ tự do.

Thoạt đầu hắn thấy thật là tuyệt khi mẹ có một chiếc xe đạp của riêng mình. Hắn thậm chí còn hình dung ra cảnh cả ba người, tức mẹ và hai anh em hắn, cùng đạp xe xuống Đại lộ Cây Dương. Nhưng giờ đây, khi nghe những lời bông đùa của cha, những lời mà mẹ chỉ biết đáp lại bằng sự im lặng bướng bỉnh, hắn bắt đầu dao động. Phụ nữ không chạy xe đạp: nếu cha hắn nói đúng thì sao? Nếu mẹ hắn không tìm được ai sẵn lòng dạy bà chạy xe, nếu chẳng bà nội trợ nào khác ở Reunion Park có xe đạp, thì có khi phụ nữ đúng ra không nên chạy xe đạp thật.

Một mình trong sân sau, mẹ hắn nỗ lực tự học cách chạy xe. Bà vươn thẳng chân ra hai bên và đẩy xe lăn bánh xuống con dốc hướng về bãi thả gà. Chiếc xe chao nghiêng và chững lại. Vì xe không có sườn ngang, bà không bị ngã mà chỉ lắc lư lảo đảo một cách ngớ ngẩn trong khi vẫn siết chặt tay lái.

Hắn ngoảnh lòng đi với mẹ. Tối đó, hắn tham gia vào màn nhạo báng của cha. Hắn ý thức rõ về sự phản bội này. Giờ thì mẹ hắn chỉ còn một mình.

Tuy nhiên, bà vẫn tự học được cách chạy xe, dù là chạy loạng choạng không vững, phải gắng gồng để xoay trở bộ giò dĩa nặng nề.

Sáng sáng bà lại khởi hành đi thám hiểm Worcester, khi hắn đã đến trường. Duy chỉ một lần hắn thoáng thấy bà đạp xe qua. Bà mặc áo kiểu trắng và váy sẫm màu. Bà đang đạp về cuối Đại lộ Cây Dương, hướng về nhà. Tóc bà tung bay trong gió. Trông bà trẻ như một thiếu nữ, thanh tân và huyền bí.

Hễ trông thấy chiếc xe đạp đen nặng nề dựa vào vách tường là cha hắn lại giở giọng bông đùa. Trong những câu đùa ấy thường có hình ảnh các công dân Worcester bỏ ngang công việc, đứng hết dậy mà há hốc mồm trước người thiếu phụ vất vả đạp xe qua. Họ gọi ơi ới, chế nhạo bà: Trap! Trap! Đạp đi!6 Những câu đùa chẳng buồn cười tí nào, tuy hắn và cha luôn cùng phá ra cười sau đó. Về phần mẹ, bà không bao giờ đối đáp lại. Bà không giỏi khoản đó. “Cứ cười nếu thích,” bà nói.

Rồi một ngày kia, không lời giải thích, bà thôi chạy xe đạp. Chẳng bao lâu sau chiếc xe biến mất. Chẳng ai nói lời nào, nhưng hắn biết rằng bà đã bị đánh bại, đã bị đặt trở lại vị trí của bà, và rằng hắn phải gánh một phần trách nhiệm. Hắn tự hứa với chính mình: một ngày nào đó mình sẽ đền bù cho mẹ.

Ký ức về mẹ trên chiếc xe đạp không rời khỏi hắn. Bà đạp hướng về đầu Đại lộ Cây Dương, vùng thoát khỏi hắn, vùng thoát về phía khát vọng của riêng bà. Hắn không muốn bà đi. Hắn không muốn bà mang khát vọng cho riêng mình. Hắn muốn bà luôn luôn ở trong ngôi nhà này, đợi chờ hắn khi hắn trở về. Hắn không thường cùng cha lập bè phái để chống lại mẹ: xu hướng chung của hắn là lập bè phái cùng mẹ chống lại cha. Nhưng trong trường hợp này, hắn thuộc về cánh đàn ông.

*

Hắn không sẻ chia gì với mẹ. Hắn giấu kín bưng cuộc sống trường lớp của mình, hắn giấu bà thật kín. Bà sẽ không biết chút gì, hắn quyết vậy, trừ những gì hiện ra trên bản báo cáo học tập hằng quý không tì vết của hắn. Hắn sẽ luôn đứng đầu lớp. Hạnh kiểm của hắn sẽ luôn đạt loại Giỏi, tiến độ của hắn sẽ luôn đạt loại Xuất Sắc. Chừng nào bản báo cáo còn hoàn hảo, bà sẽ không có quyền truy vấn gì. Đó là bản giao kèo hắn tự lập ra trong đầu mình.

Một chuyện xảy ra ở trường là bọn nam sinh bị đánh đòn. Nó xảy ra hằng ngày. Bọn chúng bị bắt khom mình xuống, tay chạm ngón chân, và bị quất roi.

Hắn có đứa bạn học cùng lớp Ba tên Rob Hart, một đứa mà thầy cô đặc biệt thích đánh đòn. Giáo viên lớp Ba là cô Oosthuizen, một phụ nữ dễ kích động với mái tóc nhuộm bằng bột lá móng. Không rõ từ đâu mà cha mẹ hắn biết đến cô dưới cái tên Marie Oosthuizen: cô có tham gia trình diễn trên sân khấu, và chưa từng lấy chồng. Hiển nhiên là cô có cuộc sống bên ngoài trường học, nhưng hắn không hình dung ra nổi. Hắn không hình dung nổi bất kỳ một giáo viên nào có cuộc sống bên ngoài trường học.

Cô Oosthuizen nổi cơn thịnh nộ, gọi Rob Hart ra khỏi chỗ ngồi, bắt cậu ta khom mình, và quất vào mông cậu ta. Những đòn tiếp nối nhau thật nhanh, cái roi gần như không có đủ thời gian để nảy lên nữa. Khi cô Oosthuizen đã đánh xong, mặt Rob Hart đỏ bừng. Nhưng cậu ta không khóc; thật ra thì có khi cậu đỏ mặt chỉ vì phải khom mình. Cô Oosthuizen, trái lại, ngực phập phồng và trông như sắp trào nước mắt – nước mắt cùng những thứ tuôn trào khác nữa.

Sau những đợt phát cuồng vô kiểm soát mê muội này, cả lớp học nín lặng, và cứ thế nín lặng đến lúc chuông reo.

Cô Oosthuizen chẳng bao giờ thành công trong việc làm Rob Hart khóc; có lẽ đó là lý do vì sao cô nổi cơn thịnh nộ với cậu như vậy và đánh cậu mạnh nhường ấy, mạnh hơn bất kỳ ai khác. Rob Hart là đứa con trai lớn tuổi nhất lớp, hơn hắn gần hai tuổi (hắn là đứa nhỏ nhất); hắn có cảm giác giữa Rob Hart và cô Oosthuizen đang diễn ra điều gì đó mà hắn không được phép biết.

Rob Hart cao ráo và điển trai theo kiểu ta-đây-bấtchấp7. Mặc dù Rob Hart không thông minh và có thể còn có nguy cơ ở lại lớp, hắn bị cậu ta cuốn hút. Rob Hart thuộc về một thế giới mà hắn chưa tìm ra cách nào bước chân vào được: thế giới của tình dục và đòn roi.

Về phía hắn, hắn không hề muốn bị cô Oosthuizen hay bất kỳ ai khác đánh đập. Chỉ riêng ý tưởng bị đánh thôi đã khiến hắn quằn quại vì hổ thẹn rồi. Chẳng có gì mà hắn sẽ không làm để bảo vệ mình khỏi cảnh đó. Ở khía cạnh này hắn không bình thường, và hắn biết vậy. Hắn sinh ra trong một gia đình đáng hổ thẹn và không bình thường, trong đó chẳng những trẻ con không bị đánh, mà người lớn còn gọi nhau bằng tên riêng, chẳng ai đi nhà thờ và ngày nào mọi người cũng mang giày.

Mỗi giáo viên ở trường, dù là nam hay nữ, đều có một cái roi và được tự do sử dụng nó. Mỗi cái roi mang một nhân cách, một cá tính, mà đám con trai biết và không ngừng bàn đến. Với tinh thần am hiểu, bọn nó cân đo cá tính của những cái roi và hạng mức đau đớn mà chúng mang lại, so sánh kỹ thuật tay và cổ tay của những vị giáo viên sử dụng chúng. Chẳng ai nói đến nỗi hổ thẹn khi bị gọi lên, bị bắt cúi mình và bị đánh vào mông.

Vì chẳng có kinh nghiệm gì của riêng mình, hắn không tham gia vào những cuộc chuyện trò này được. Tuy nhiên, hắn biết sự đau đớn không phải là điều cần xét đến nhất. Nếu những đứa con trai khác chịu được đau đớn, thì hắn, người có sức mạnh ý chí lớn hơn rất nhiều, cũng chịu được. Thứ mà hắn sẽ không chịu đựng được là sự hổ thẹn. Hắn sợ rằng nỗi hổ thẹn sẽ tồi tệ và làm thoái chí đến mức hắn sẽ bám chặt vào bàn mà từ chối đi lên khi bị gọi. Và chính hành động đó sẽ là một nỗi hổ thẹn lớn hơn nữa: nó sẽ làm hắn bị tách biệt, đặt những đứa con trai khác vào thế chống lại hắn. Nếu có bao giờ hắn bị gọi lên đánh đòn, đó sẽ là một cảnh tượng tủi nhục đến mức hắn sẽ không đời nào quay lại trường học được nữa; và cuối cùng sẽ chẳng có cách nào thoát khỏi nó ngoài việc tự sát.

Đó chính là mối đe dọa. Đó chính là nguyên do hắn không bao giờ phát ra một tiếng động trong lớp. Đó chính là nguyên do hắn luôn ngăn nắp, luôn hoàn thành bài tập về nhà, luôn biết câu trả lời. Hắn không dám sơ suất. Nếu hắn sơ suất, hắn sẽ có nguy cơ bị đánh đòn; và dù có bị đánh hay có chống cự lại việc bị đánh, thì cũng thế thôi, hắn sẽ chết.

Điều lạ lùng là, chỉ cần một trận đòn thôi thì cái bùa chú kinh hoàng đã và đang kìm kẹp hắn sẽ bị phá vỡ. Hắn ý thức rõ điều này: nếu, bằng cách nào đó, hắn mau mau qua được trận đòn trước khi kịp cứng người lại mà kháng cự, nếu sự xâm phạm thể xác có thể hoàn tất nhanh chóng, bằng vũ lực, hắn sẽ thoát qua phía bên kia như một đứa con trai bình thường, góp mặt dễ dàng vào những cuộc tranh luận về giáo viên và các cây roi của họ cùng các cấp bậc và mùi vị đau đớn đầy phong phú mà chúng khơi ra. Nhưng hắn không thể nào tự mình nhảy qua cái rào cản ấy.

Hắn đổ lỗi cho mẹ vì đã không đánh hắn. Vừa lấy làm mừng rằng mình được mang giày, được mượn sách từ thư viện công cộng và nghỉ học khi bị cảm cúm – tất cả những điều tách biệt hắn khỏi bạn bè – hắn vừa giận mẹ vì đã không sinh ra những đứa con bình thường và đã không bắt chúng sống một cuộc đời bình thường. Cha hắn, nếu cha hắn nắm quyền kiểm soát, sẽ biến gia đình hắn thành bình thường. Cha hắn bình thường trong mọi mặt. Hắn biết ơn mẹ vì đã bảo vệ hắn khỏi sự bình thường của cha, cụ thể là, khỏi những cơn thịnh nộ xanh mắt thi thoảng và những lời đe dọa đánh đập hắn của ông. Đồng thời hắn giận mẹ vì đã biến hắn thành một thứ khác thường, một thứ cần được bảo vệ nếu phải tiếp tục sống.

Trong số những cái roi, cái của cô Oosthuizen không phải là cái cho hắn ấn tượng sâu sắc nhất. Cái dễ sợ nhất là của thầy Lategan dạy nghề mộc. Cái roi của thầy Lategan không dài và mềm dẻo như kiểu hầu hết giáo viên ưa thích. Nó ngắn, dày và mập, giống một cái gậy hay dùi cui hơn là roi. Theo lời đồn thì thầy Lategan chỉ dùng nó đánh bọn nam sinh lớn, rằng nó quá mức chịu đựng đối với đám con trai nhỏ. Theo lời đồn thì với cái roi của mình thầy Lategan đã làm cả những nam sinh trung học năm cuối phải thổn thức, nài nỉ xin tha, tè ra quần và tự bôi nhọ mình.

Thầy Lategan là một người đàn ông thấp bé có mái tóc tỉa sát dựng đứng và bộ ria mép. Thầy bị mất một ngón tay cái: một vết sẹo tím tái lấp gọn vào chỗ cụt ngón. Thầy Lategan ít khi mở miệng nói. Thầy luôn ở trong tâm trạng xa cách, bực bội, như thể việc dạy nghề mộc cho đám con trai nhỏ tuổi là một công việc dưới tầm của thầy mà thầy miễn cưỡng phải làm. Suốt phần lớn buổi học thầy đứng bên cửa sổ nhìn ra vuông sân trong lúc lũ con trai ngập ngừng đo đạc, cưa bào. Thỉnh thoảng thầy cầm cái roi mập bên mình, uể oải gõ lên ống quần trong lúc tư lự. Khi rảo quanh kiểm tra, thầy khinh khỉnh chỉ ra chỗ sai, rồi nhún vai một cái mà đi tiếp.

Bọn nam sinh được phép bông đùa với giáo viên về những cái roi của họ. Trong phạm trù này, những lời trêu ghẹo nhất định dành cho thầy cô được chấp nhận. “Bảo nó hát đi thầy!” Khi bọn trẻ nói thế, thầy Gouws liền vung cổ tay cho cái roi dài (cái roi dài nhất trường, tuy thầy Gouws chỉ là giáo viên lớp Năm) xé gió huýt lên.

Chẳng ai đùa với thầy Lategan. Thầy Lategan được kính sợ vì những gì thầy có thể làm bằng cái roi của mình, với những đứa con trai đã sắp thành đàn ông.

Khi cha hắn cùng anh em tụ tập ở nông trang vào mùa Giáng Sinh, những cuộc chuyện trò luôn xoay về thời học sinh của họ. Họ hồi tưởng về các giáo viên và những cái roi; họ nhớ lại những sáng mùa đông lạnh lẽo, khi cái roi làm nổi lên trên mông họ những lằn xanh tái và cảm giác nhức nhối còn vương vấn mấy ngày liền trong ký ức của da thịt. Lời lẽ của họ toát lên nỗi hoài cảm và nỗi sợ đầy khoan khoái. Hắn nghe say sưa nhưng giữ mình kín đáo hết mức có thể. Hắn không muốn họ quay sang hắn, trong một lúc ngưng nghỉ nào đó giữa cuộc chuyện trò, và hỏi về vị trí của cái roi trong đời hắn. Hắn chưa từng bị đánh, và lấy làm hổ thẹn sâu sắc về điều đó. Hắn không thể nói về những cái roi theo cách dễ dãi, am tường của những người đàn ông này.

Hắn có cảm giác mình bị hư hại. Hắn có cảm giác thứ gì đó, như một bức tường, một lớp màng ngăn, đang chầm chậm rách toạc ra bên trong hắn mọi lúc. Hắn cố giữ mình chắc chắn hết mức để hạn chế vết rách. Để hạn chế vết rách, không phải để ngăn nó lại: chẳng có gì ngăn nó được cả.


Chú thích:

  1. Nguyên văn: housing estate, một khu dân cư quy hoạch chung, gồm các nhà ở xây theo lối đồng bộ. (Tất cả các chú thích từ đây về sau là của người dịch biên soạn lại từ các nguồn tư liệu trên Internet.)
  2. Nguyên văn: mile, đơn vị đo chiều dài của Anh, cũng được sử dụng tại các nước thuộc địa cũ của Anh. Chín mươi dặm bằng xấp xỉ 145km. 2 Nguyên văn: inches, một trong các đơn vị đo lường được thiết lập và sử dụng dưới thời Đế chế Anh, bắt đầu từ năm 1825. Nước Anh từ 1995 đã chuyển sang lấy hệ mét làm hệ đo lường chính, nhưng inch vẫn được sử dụng ở nhiều nơi trên Vương quốc Anh, cũng như ở nhiều nước từng là thuộc địa Anh – cụ thể trong trường hợp này là Nam Phi. Một inch bằng 2,54cm.
  3. Nguyên văn: goblin, loài sinh vật kỳ dị thường xuất hiện trong văn học dân gian châu Âu, thường được mô tả là nhỏ thó, tinh ranh, mê châu báu, có phép thuật.
  4. Thủ đô Nam Phi.
  5. Nữ bá tước sống ở Anh vào thế kỷ 11. Theo một huyền thoại có từ thế kỷ 13, để thuyết phục chồng mình là bá tước Leofric giảm thuế cho người dân Coventry, phu nhân Godiva đã làm theo lời thách thức của chồng: khỏa thân cưỡi ngựa đi qua khắp các con đường của thị trấn.
  6. Trong cuốn sách này, Coetzee có sử dụng một số câu, từ bằng tiếng Afrikaans, một trong các ngôn ngữ chính thức của Nam Phi. Các câu, từ này được in nghiêng, với câu, từ tiếng Anh tương đương đi kèm ngay sau đó. Người dịch giữ nguyên phần tiếng Afrikaans và dịch phần tiếng Anh ra tiếng Việt. Trong trường hợp này, Trap là từ tiếng Afrikaans chỉ hành động ấn bàn đạp xe đạp, đi kèm với từ tiếng Anh “push” (ấn, đẩy) mà ở đây được dịch thoát ý là “Đạp đi!”
  7. Nguyên văn: devil-may-care, chỉ thái độ vô tư và bạt mạng.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Chương 1 “Chuyện xứ Dran xưa” (Lâm Trung Châu)

“Chuyện xứ Dran xưa” miên man theo dòng hồi ức của một “ông già” hóm hỉnh đi vào miền sương khói hoang vu của một thời quá vãng. Trong dòng chảy hoài niệm ấy, Dran hiện ra mơ màng, sống động. Dran – vùng đất ai cũng từng nghe tên một lần nhưng để hình dung thưòng khó ai miêu tả được. Lâm Trung Châu với hết đời người gắn bó với vùng đất này để dắt tay người đọc qua thăng trầm của lịch sử, qua những gương mặt người, qua biến động thời cuộc.

Published

on

Trích từ: Chuyện xứ Dran xưa

Tác giả: Lâm Trung Châu

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Tái bản: tháng 7.2020

Chi tiết tác phẩm

*

Tôi tha thiết muốn kể chuyện Dran xưa

Một lần dạo chơi trên Danhim.net, tôi tình cờ được biết có một số bạn trẻ muốn nghe chuyện Dran xưa. Chợt nghĩ, ừ nhỉ, sao mình không kể cho các bạn ấy nghe. Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng dễ chừng hơn nửa năm sau tôi mới quyết định viết ra.

Thực lòng mà nói, cái trí nhớ của một người U751 rất chi là tồi tệ, chợt nhớ chợt quên như trời chợt mưa chợt nắng. Đó cũng là lý do vì sao tôi cứ mãi phân vân, do dự trước khi viết loạt bài Dran Xưa. Rất vui khi bài viết được các bạn nhiệt tình đón đọc. Riêng tôi, mỗi khi đọc lại vẫn chưa thấy hài lòng. Nó thiêu thiếu thế nào ấy. Thì ra, cái trí nhớ khốn khổ của mình đã bị thời gian bào mòn một cách khủng khiếp. Tỉ như, lứa học sinh đầu tiên của Thiên Mẫu, lẽ ra phải nhắc đến Lâm Tuyết, Hồ Thị Kim thì mình lại quên béng đi. Tỉ như, chuyện đánh nhau với bọn “giặc Tàu” đâu phải chỉ đơn giản cầm ná thun rồi bạ thứ gì cũng lượm lên làm đạn. Không, không phải thế đâu! Muốn bắn tốt phải có đạn tốt; muốn có đạn tốt phải vất vả lắm chứ. Trước tiên phải tìm một miếng đất sét loại tốt, thêm tí nước vào rồi nhồi cho thật nhuyễn, lăn cho miếng đất sét thành hình một sợi dây dài rồi ngắt ra từng miếng, vo tròn lại như viên bi sau khi đã cho vào giữa một viên muối hột, sau đó đem phơi một nắng. Chẳng biết ai bày ai biểu là cho một viên muối hột vào giữa thì “thương tích” sẽ trầm trọng hơn. Không hiểu tác dụng thực hư ra sao nhưng đứa nào cũng làm. Chi tiết quan trọng như thế mà cũng quên. Đã trót thì phải trét. Đã kể thì phải kể cho đàng hoàng, tử tế. Cố nhớ thêm một tí nữa xem sao. Và tôi xin tiếp tục kể chuyện Dran xưa, nhớ đâu kể đó…

Đã gọi là nhớ đâu kể đó thì nó không thể theo trình tự thời gian. Câu chuyện đôi khi sẽ thiếu mạch lạc, đọc nghe tưng tức. Những mẩu chuyện riêng rẽ, cái này chẳng dính dáng đến cái kia, lại có phần khô khan nhưng mong các bạn hãy chấp nhận như thế, vì dẫu sao nó vẫn là một phần trong cuộc sống của Dran thuở ấy.

Tôi viết hoàn toàn theo trí nhớ lại càng không mang chất sử liệu, tất nhiên có đôi chỗ thiếu chính xác. Vì vậy, nếu biết rõ hơn, bạn hoàn toàn có quyền tự sửa chữa hoặc góp ý. Hy vọng đã cung cấp được cho các bạn đôi điều về Dran xưa và nếu các bạn là người trong cuộc, tin rằng các bạn sẽ có được những kỷ niệm xưa ùa về. Bằng không, thì nói như Nguyễn Du: “Mua vui cũng được một vài trống canh”. Cám ơn bạn!

Bây giờ, mời các bạn cùng tôi dạo quanh một vòng Dran Xưa.

*

NGÀY XƯA Ở XỨ DRAN

Cây đa giếng nước

“Làng tôi có cây đa cao ngất tầng xanh. Có sông sâu lơ lửng vờn quanh êm xuôi về Nam… Làng tôi, bao mái tranh san sát kề nhau…” Có lẽ chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà lời bài hát Làng Tôi của Chung Quân lại đúng là hình ảnh của làng tôi với cây đa giếng nước của thuở xa xưa.

Làng tôi có cái tên xấu xí, dị hợm: Càn Rang, đúng hơn là Cần Răng. Người phương xa nghe vậy thường trêu, cần gì không cần lại cần răng, răng ai mà chẳng có, khéo vẽ. Thực ra, nó còn có một cái tên khá quý phái, tên Tây đàng hoàng: Dran. Với cái tên này, nó nghiễm nhiên có mặt trên tất cả các tấm bản đồ chính thống.

Làng tôi, ý tôi muốn nói là làng tôi của cái thuở trên dưới sáu mươi năm về trước2, cái thuở mà làng vẫn còn là làng. Cái thuở mà làng chưa nhuốm bụi trần ai.

Từ Saigon ra, từ Dalat xuống hoặc từ Phanrang lên đến ngã ba đầu làng người ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh đầu tiên đó là cây đa, giếng nước.

Ngoài một số cơ ngơi kinh doanh của người Pháp được xây dựng kiên cố, vài ba chục ngôi nhà gỗ lợp tôle (tôn), còn lại chỉ là nhà tranh vách đất đơn sơ. Cả làng dùng chung một cái giếng. Giếng nằm ngay ở đầu ngã ba (giờ hay gọi là ngã ba Trung Dung). Không phải giếng tròn như ta thường thấy mà là giếng vuông, thành giếng cao ngang bụng, trên có mái ngói chữ A. Nước giếng trong leo lẻo.

Chiều chiều, nhà nào cũng có người đến đây gánh nước. Giếng còn là trung tâm thu phát tin tức trong làng. Ai thích hóng chuyện, cứ đến ngồi đây khắc biết tất tần tật, từ chuyện con Gái xóm trên bỏ nhà theo gánh Sơn Đông mãi võ, tới chuyện thằng Ghẻ mê cô đào hát cải lương, ôm quần áo theo đoàn xin được một chân kéo màn.

Nhắc đến thằng Ghẻ thì có nhiều chuyện để kể. Tỉ như chuyện ghẻ của nó nói hoài cũng không hết. Chẳng hạn, buổi sáng ngồi sưởi nắng, nó thường gỡ mày ghẻ bỏ vào miệng nhai có vẻ ngon lành lắm. Hoặc như nó thường xuống sông ngâm hai cái chân ghẻ dưới nước rồi để mặc cho lũ cá lòng tong xúm nhau rỉa rói, vài hôm sau khắc lành… Chuyện cô Ba cứng tuổi rồi, buồn chuyện tình duyên hay tiền bạc gì đó treo cổ tự tử hai ngày sau người ta mới biết… Gần như là tất cả chuyện buồn vui của mọi gia đình đều được phơi bày bên giếng nước này.

Chếch vào bên trong một tí là cây đa. Chẳng biết cây bao tuổi mà lớn quá chừng chừng, tán cây xòe ra che mát cả một khoảng rộng. Đây là điểm hẹn của bọn trẻ chúng tôi. Chiều nào cũng vậy, cơm nước xong, đứa trước đứa sau lần lượt tề tựu về đây. Những đêm trời tối om om, bọn chúng tôi chia phe chơi trò u mọi nhờ vào ánh sáng từ những ngọn đèn măng-sông (manchon) từ trong nhà hàng hắt ra. Cuộc chơi kéo dài đến khuya lơ khuya lắc.

Dòng sông Danhim lượn lờ uốn quanh làng. Ban ngày, ngoài giờ học chúng tôi đóng đô ở bãi sông, suốt ngày bì bõm. Nước sông trong vắt. Đôi lúc lại thách nhau, làm dấu một viên đá rồi ném ra giữa sông, đứa nào lấy được về trước thì được cõng một vòng. Vậy mà tụi nó tìm ra như chơi. Nói như thế để bạn biết rằng, nước sông trong đến ngần nào. Chẳng thế mà các hộ ven sông đều lấy đó làm nguồn nước sinh hoạt.

Từ ngã ba, một con đường nhỏ chạy xuyên làng. Đến cuối đường, qua khỏi trường học là một dòng suối. Suối trong leo lẻo, thấy rõ từng đàn cá lòng tong tung tăng bơi lội. Hai bên bờ suối đoạn này thoai thoải, không có cầu. Xe trâu, xe bò chở rau quả cứ lội thẳng xuống suối rồi lên. Bên kia bờ suối là nhà bà Sáu Tiết, đây là điểm tham quan định kỳ hằng năm của chúng tôi.

Nhà bà Sáu cũng chỉ là một liếp nhà tranh đơn sơ có gì mà tham quan? Tôi đâu có ý nói tham quan nhà. Chả là nhà bà Sáu có một cây nhãn, phải nói là ngon hết ý.

Mùa quả chín, hương nhãn thơm lừng lựng điếc cả mũi. Cơm nhãn dày, mọng nước, ngọt lịm, cái vị ngọt vô cùng quyến rũ đến con kiến còn phải tương tư chứ chẳng đùa. Không ăn bỏ qua rất uổng. Cứ tầm trưa trưa, áng chừng bà Sáu đang an giấc là cả bầy gần chục đứa tấn công vào, thoáng một cái đã vắt vẻo trên cành như một bầy khỉ. Bà Sáu sống một mình. Mỗi khi nghe tiếng động, bà chỉ la í ới lên vài tiếng là bầy khỉ khắc biến mất…

Thời gian trôi đi. Làng tôi như mơ. Làng tôi ngu ngơ trở nên phố thị lao xao nửa quê nửa tỉnh. Làng tôi ngày xưa, giờ đây còn đâu bình yên.

Cây đa giếng nước còn chăng chỉ là trong ký ức.

Thời gian vẫn trôi đi…

Đâu phải Dran xưa bé tí teo

Nếu bạn nghĩ Dran chỉ là một nhúm ba khu phố lèo tèo thêm chín thôn lân cận thì đó là một nhầm lẫn lớn. Dran xưa thuộc vùng đất Hoàng Triều Cương Thổ (Domaine de la Couronne). Người ở nơi khác đến phải có người địa phương bảo lãnh. Còn người ở Dran muốn đi xa phải xin giấy “Laissez-Passer” (giấy thông hành). Dran xưa rộng lắm.

Để xem nên bắt đầu từ đâu. Thôi thế này nhé, mình cứ lấy cái vòng xoay ở ngã ba trước café Lễ Ký làm điểm xuất phát. Nào, cùng đi về hướng tây…

Không biết tại sao, rõ ràng là một con đèo – đèo Dran, thế mà xưa kia nó không được gọi là đèo. Người ta chỉ gọi nó là dốc – dốc Hòn Bồ.

Dốc Hòn Bồ chạy theo hướng nhà thờ, lượn quanh ôm gần trọn một vòng Đồi Cam. Lại phải dừng ở đây một tí để tìm hiểu vì sao gọi là Đồi Cam. Rất đơn giản, vì nguyên quả đồi chỉ trồng toàn là cam. Giống cam rất ngon, phần nhiều dùng để chế biến thành công-phi-tuya (confiture)3 ngay tại trung tâm thị trấn. Đặc biệt ở chân đồi, khoảng từ sau chùa Giác Hoàng đến cua Lan Can có trồng xen kẽ mận. Giống mận vàng, trái có vị chua ngọt, tuy không ngon bằng mận Trại Hầm nhưng cũng đủ sức làm bọn học trò chúng tôi mê mẩn.

Rời Đồi Cam ta đến Cua Đôi (còn gọi là cua Cánh Chỏ), qua Cầu Xéo rồi vượt Cầu Treo là đến Ac-broa-dê (Arbre Broyé) tức Trạm Hành, cái tên nghe kỳ cục.

Nhắc đến Trạm Hành tôi lại nhớ đến nhà thơ Phạm Cao Hoàng (thầy giáo Phạm Công – Phòng Giáo dục Đức Trọng) lúc dạy học tại đây đã có bài thơ Mẹ ơi, con đang ở Trạm Hành trong đó có những câu:

Con đi qua rừng cao quá đỗi...
Con đi về rừng quá đỗi cao...
Núi cao đụng trời con đụng nỗi đìu hiu…

Nhắc đi nhắc lại từ “cao” để biết rằng Trạm Hành nằm ở độ cao xấp xỉ 1.600m, cao hơn cả Dalat. Chính độ cao này cùng với cái rét cắt da quanh năm đã cho các cô gái nơi đây sở hữu một làn da mịn màng hồng thắm như thứ rượu hồng đào chưa uống đã say…

Rời Trạm Hành ta đến Ân-Tray (Entre-Rays) là tên gọi xưa của Cầu Đất. Nói đến Cầu Đất là phải nói đến Sở Trà.

Dân Cầu Đất một số ít buôn bán lẻ, còn hầu hết sống nhờ vào cái Sở Trà này. Trà Cầu Đất không ngon, chẳng mấy ai dùng. Nhưng ít ai biết rằng cái loại trà mà ai cũng chê ỏng chê eo đó đã được đóng bao xuất khẩu để rồi sau khi được “cà, giũa, bôi keo”, nó thay hình đổi dạng rồi ẩn mình trong chiếc hộp thiếc sang trọng mang nhãn hiệu Tê-noa (Thé noir) tức trà đen. Lúc ra đi giá rẻ như bèo, khi trở lại bằng trăm lần giá xuất. Một ly Thé noir mà cho vào hai viên đường Hiệp Hòa, loại đường cát trắng tinh được nén thành viên hình hộp cỡ lóng tay cái, đã trở thành thức uống cao cấp của giới trưởng giả.

Ra khỏi Cầu Đất, qua cầu Xui Giục chạy thêm một quãng nữa là đến Bốt-kê (Bosquet) còn gọi là Trạm Bò. Phía tây tạm dừng tại đây vì đi thêm chút nữa là đến Trại Mát thuộc thành phố Dalat rồi.

Ngược xuống đông thì sao?

Từ ngã ba đi dọc theo đường Lê Lợi, các bạn nhìn thấy những dãy phố cũ nát hai bên, từ Lễ Ký đến Tân Mỹ, từ Tư Lén đến café Tín, nói chung những ngôi nhà xây ấy đều có chung một sở hữu chủ người Pháp là ông A-vi-a (Aviat), kể cả khu xưởng cưa, kho lương thực, nhà thương cũ. Aviat chiếm lĩnh gần hết vùng trung tâm. Riêng chỗ Trung Dung xưa là Ret-tô-rân – Ba Đăng-xinh (Restaurant – Bar dancing) phục vụ cho người Pháp. Chủ nhân của nó là một viên sĩ quan tên Lores. Cả vùng đất đó từ đầu đường Hai Bà Trưng cho đến sau rạp hát là trại gia cầm của ông ta.

Đi đến cuối đường Lê Lợi, bên trái là chợ Lạc Nghiệp. Chợ Lạc Nghiệp không phải là chợ Dran. Chợ Dran xưa rất nhỏ, nằm đối diện với rạp chiếu bóng tức khu đất trước nhà ông Bảy Nóc mà giờ người ta thường gọi là chợ cũ.

Sở dĩ tôi kể về chợ Lạc Nghiệp vì nó có câu chuyện hay hay. Là người Dran chắc bạn từng nghe câu vè: Chùa (của) ông Dậu

Chợ (của) ông Danh
Xã (của) ông Thành
Gỗ xăng (của) ông Phú

Người ta nói vậy có lẽ thuận miệng cho vui thôi vì thấy nhân vật này quá gắn bó với sự việc kia chứ chùa làm sao là của riêng ông Dậu? Xã đâu thể nào là của ông Thành? Gỗ xăng thì chắc chắn của ông Phú rồi vì ông là doanh nhân mà. Riêng chợ ông Danh thì cần xem lại. Tất nhiên chợ không thể nào là của ông Danh nhưng nhờ có ông nên mới có chợ. Ông được coi như là người hiến kế để ông TouProng-Hiou hiến đất xây chợ. Hiến đất xây chợ vừa được danh vừa có lợi tại sao không hiến? Ông Tou-Prong-Hiou hiến diện tích đất vừa đủ xây ngôi chợ nhưng được phân lô bán nền phần đất chung quanh.

Có lẽ nên phác họa đôi nét về nhân vật này. Ông TouProng-Hiou là một địa chủ thực sự. Gần hết cánh đồng khóm III là của ông. Ông cũng là mạnh thường quân có nhiều đóng góp cho Dran. Gia đình Tou Prong cùng với gia đình Hán Đăng ở Diom là hai gia đình người Thượng nhưng sống theo phong cách Âu tây. Nhắc đến nhà Tou Prong chắc chắn là phải nhắc đến các cô gái xinh đẹp Tou Prong Nay

Thương, Tou Prong Nay Sương, Tou Prong Nay Annette… Thôi, mình qua cầu Dran nhé!

Chiếc cầu này được xây xong năm 1922. Cầu hẹp, đó là cầu cũ. Còn cầu hiện nay được công binh xây lại sau trận lụt 1970. Từ đầu cầu xuống đến ngã ba Đường Mới gọi là xóm Đường Dầu chứ chưa có tên là Đường Mới. Phía bên phải là một sân vận động cực lớn. Đây là nơi tổ chức các lễ hội hằng năm như đá bóng, đua ngựa, đua xe đạp, thi điền kinh, v.v… (Trong một cuộc thi chạy cự ly 3.000m có một vận động viên mang áo số 7. Anh ta chạy mới hai phần ba đường thì đuối sức nên xẹt vào trong bụi rậm bên lề nằm thở dốc. Thế là đất Lạc Thiện có một nhân vật mang chết tên Bảy Xẹt).

Chúng ta đi tiếp nhé. Hết quãng Đường Dầu đến ngã ba Đường Mới mình nên rẽ phải để vào thăm thác Hòa Bình. Thác Hòa Bình tuy không hùng vĩ nhưng rất đẹp, đặc biệt khi ta lội ngược dòng để chiêm ngưỡng vẻ đẹp thác chồng lên thác.

Mình nghỉ chân một lúc ở chùa Bà Xám.

Tại sao lại có tên chùa Bà Xám? Bà Xám là một phụ nữ Việt có chồng người Pháp – ông Houiller. Tứ thời bát tiết, mỗi khi ra đường ông luôn mặc bộ complet màu xám. Dân địa phương cứ gọi là ông Xám cho tiện, lâu ngày thành tên. Bà Xám là người mộ đạo, bỏ tiền ra xây dựng ngôi chùa này nên mới gọi là chùa Bà Xám. Chùa còn có tên là Giác Nguyên nhưng chẳng mấy ai dùng tên này. Ngày nay, chùa Giác Nguyên được sửa sang, xây dựng thêm đồ sộ hơn, rực rỡ hơn nhưng đã mất đi cái không gian yên tĩnh, trầm mặc trước kia mà mỗi khi ai có tâm sự gì buồn, cứ lên chùa ngồi trước cổng tam quan lắng nghe tiếng chuông chùa nhẹ rơi, mắt nhìn về dòng Danhim lượn lờ trôi thì bao phiền muộn đều tan biến.

Bạn sinh ở Lâm Tuyền? Thế bạn có biết Bàu Nước ở đâu không? Xin thưa, Bàu Nước chính là Lâm Tuyền đó. Cuối Lâm Tuyền mình xuống dốc La-Se (Lachaise). Tên dốc Lachaise chỉ có từ khi ông Lachaise về cư ngụ ở đây. Trước kia nó được gọi là Dốc Am Bà. Ở đây cây cối um tùm, rậm rạp, đường sá vắng tanh hiếm thấy bóng người, cảnh vật cứ rờn rợn. Bọn chúng tôi mỗi lần đi ngang đây, đứa nào cũng lấy ngón tay cái bấm đầu ngón áp út làm ấn Kiết Tường để… đuổi ma!

Thế là mình đã đến Suối Cát tức Phú Thuận. Xin nhắc rằng, trước năm 1955 không hề có những địa danh như Lâm Tuyền, Phú Thuận… Suối Cát còn gọi là Eo Gió, nếu muốn cho Tây hơn cũng có thể gọi là Ben-lờ-vuy (Bellevue). Bellevue cũng là tên nhà ga xe lửa và cả của con đèo từ Dran xuống Krôngpha. Đèo Bellevue quanh co trên 25km được đổi thành đèo Ngoạn Mục cũng sát nghĩa vô cùng. Thả xuống dốc quãng chừng 9km ta đến Ac-brơ-xec (Arbre Sec) – Cây Khô. Bót gác Cây Khô là chốt chặn cuối cùng, mình phải quay lại vì nếu thò chân sang bên kia là giẫm phải Ninh Thuận rồi.

Về phương nam có gì?

Lên hướng Nhà Thờ đường hẹp và hơi thiếu vệ sinh. Xuống hướng cầu thì nhà cửa san sát nên từ café Lễ Ký đến cầu Lạc Thiện có thể coi là đoạn đường đẹp nhất. Hai bên đường toàn dã quỳ. Đêm đến, quãng đường này là nơi hẹn hò của các đôi bạn, họ sóng vai nhau tỉ tê trò chuyện, đi đến cầu Lạc Thiện thì quay lại. Chỉ thế thôi mà có lúc nó được gọi bằng cái tên thơ mộng “Con đường tình ta đi”.

Bạn có để ý không, phía bên trái khi đến gần cua Lạc Thiện có xóm nhà ga, đó là ga Càn Rang. Không, phải gọi cho đúng là ga Cần Răng. Có lẽ hai chữ Cần Răng đọc nghe thô thô, cưng cứng thế nào ấy nên người ta đọc trại thành Càn Rang.

Lạc Thiện là lãnh địa của Ô-gia-ri (Osari) người Pháp. Hội trường Lạc Thiện bây giờ, xưa vốn là chuồng bò của Osari. Tới cây số 2 tức Cua Đá. Đoạn đường này nhiều cây cối to cao rậm rạp, tán cây che phủ hai bên. Đây là nơi đêm đêm lũ cọp thường ra rình rập. Rủ nhau đi bắn chim mà vào đến đây được xem là “ghê gớm” lắm. Qua Lạc Xuân mình đến La-bui (Labuye). Đây là vùng của người dân tộc nhưng có một hộ người Kinh là ông Xu Nghĩa. Nhắc đến ông Xu Nghĩa không phải vì ông là dưỡng phụ của bà Dương Thị Kiêm (cô giáo Kiêm) mà vì ông đã trồng dâu và chế biến thành loại rượu dâu được nhiều người ưa thích. Rượu ông làm ra không bán ngay mà phải lưu giữ một thời gian lâu mới bán. Vì thế rượu rất ngon. Một ly rượu dâu cho thêm đá vào chắc chắn là một thức uống tuyệt vời.

Vùng Lạc Viên, Lạc Lâm, Lạc Sơn chỉ xuất hiện sau cuộc di cư 1954. Trước đó, vùng này chỉ lau lách, rừng rậm. Thạnh Mỹ ngày nay công sở tòa ngang dãy dọc, đường xá thênh thang, đèn đêm rực sáng, nhưng các bạn có biết M’Lon mới là tên cúng cơm của Thạnh Mỹ? Người ta thường gọi là Lọn cho nó gọn. M’Lon là vùng của người dân tộc thiểu số, lưa thưa vài mươi hộ người Kinh. Dân ở đây muốn mua sắm thứ gì thì phải ra Dran, còn trẻ em nếu có điều kiện đi học phải kiếm nhà quen để ăn ở trọ.

Qua Fimnom rồi đến Liên Khương, còn gọi là Liên Khàng, nếu rẽ phải chạy một mạch thì đến Cội Gia hay La Ba. Xứ La Ba cho ta một giống chuối rất ngon mà mãi cho đến bây giờ nó vẫn giữ được thương hiệu: chuối La Ba. Trong các siêu thị ở Sài Gòn hiện nay chuối La Ba bán cao giá hơn các giống chuối khác.

Còn nếu chạy thẳng ta sẽ đến Gougah (Phú Hội) vì vùng Tùng Nghĩa chỉ xuất hiện sau năm 1954, nơi phần đông người tộc Thái sinh sống. Thác Gougah là một danh thắng nằm trong tour du lịch của Đà Lạt. Rời Phú Hội chạy thêm non chục cây số là Đại Ninh, nơi vừa xây xong một đập thủy điện khá đẹp, nghe đâu trong tương lai đây sẽ là một điểm dừng chân mới cho du khách bốn phương.

Đến đầu cầu Đại Ninh, phương nam dừng tại đây.

Các bạn thấy Dran xưa rộng lớn đấy chứ!

-Còn tiếp-

Chú thích:

  1. Khi tập sách này được in ra thì tác giả đã bước sang tuổi 83. Những bài viết trong tập này được viết rải rác trong khoảng mười năm, chủ yếu đăng tại diễn đàn Danhim.net.
  2. Tức là khoảng trước năm 1950.
  3. Mứt trái cây.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Cafe sáng