Nối kết với chúng tôi

Giới thiệu sách

Để hiểu vì sao Charles Dickens là một tên tuổi vĩ đại, chắc chắn hãy đọc “Hai Kinh Thành”

Người ta nói cứ mười người Anh Quốc biết đọc thì có một người đọc Charles Dickens và kể lại cho chín người khác cùng nghe.

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Có lẽ không quá khi nhận xét rằng “nhà văn quốc dân” Charles Dickens chính là tiểu thuyết gia Anh nổi tiếng nhất mọi thời đại. Một bộ óc thiên tài, nỗ lực sáng tác miệt mài, nhiệt tâm với công chúng, lòng nhân ái bao la, tất cả đã hợp lực để đưa ông trở thành một hiện tượng văn chương sánh cùng thời đại. Trong số những tác phẩm để lại ảnh hưởng sâu rộng như Oliver Twist (1837), A Chrismas Carol (1843), Great Expectations (1861)… thì Hai Kinh Thành (A Tale of Two Cities1859) chính là tiểu thuyết mà nhà văn tự nhận hay nhất mình từng chắp bút. Đặt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Pháp và Thời kỳ Khủng bố (Reign of Terror) cuối thế kỷ 18 loạn lạc, Hai Kinh Thành đã hé lộ những góc khuất nhập nhằng giữa lý tưởng ái quốc và lòng hận thù mù quáng, khám phá những mưu mô hận thù cộng sinh cùng tình yêu lý tưởng.

Charles Dickens sinh ra tại miền quê Portsmouth năm 1812 trong một gia đình tám anh chị em tương đối khá giả. Tuy nhiên lên mười hai tuổi, ông bị gửi vào công xưởng đóng giày sau khi cha ông bị giam giữ vì nợ nần chồng chất. Điều kiện lao động khổ nhọc, cộng thêm thái độ hờ hững từ phía cha mẹ đã khắc sâu những năm tháng đen tối trong tâm trí cậu bé non nớt: “Không gì có thể diễn tả nỗi khổ tâm thầm kín của tôi… cảm giác bị bỏ mặc và tuyệt vọng hoàn toàn; nỗi nhục nhã tôi cảm thấy khi ở vị trí ấy… Toàn bộ bản tính của tôi bị sầu đau và bẽ bàng xuyên thủng.” Tuy vậy chính khoảng thời gian đó đã mài giũa trong ông một lòng bền gan trì chí, với “ý thức rằng mọi sự đều khả thi bằng quyết tâm bền bỉ”; đồng thời làm nảy sinh những quan điểm sắc sảo về công bình và cải cách xã hội, xương sống cho văn nghiệp của ông sau này.

Khởi nghiệp với nghề viết báo, Charles Dickens đã có cơ hội xuất bản các tiểu thuyết đầu tay của mình dưới dạng nhiều kỳ trên tạp chí khi ông hơn hai mươi tuổi. Hoạt động phát hành này đã giúp ông tiếp cận một lượng độc giả lớn chưa từng thấy – đưa lại khả năng tác động và truyền cảm hứng mạnh mẽ không ai sánh bằng. Về phương diện này, ông không đơn thuần là một nhà văn mà còn trở thành một nhân vật công chúng. Các tiểu thuyết của Dickens khéo léo đáp ứng thị hiếu đa dạng của độc giả, liên tục được tái dựng cốt truyện và nhân vật theo tâm tư phản hồi của người đọc. Không mưu cầu ngược dòng, phá cách, ông là người “chiều chuộng đám đông”; ấy thế mà trong tất cả những tác gia Anh Charles Dickens vẫn được mệnh danh là “the inimitable – người không thể bắt chước.”

Không phải ngoại lệ, Hai Kinh Thành cũng được in thành từng hồi trên tuần san All The Year Round do Dickens chủ biên trong vòng nhiều tháng. Xoay quanh số phận của hai cha con bác sĩ Manette gắn liền với hai người đàn ông Sydney Carton và Charles Darnay trải dài khắp London và Paris cuối thế kỷ 18, Hai Kinh Thành là một thiên truyện tuy đồ sộ nhưng có tốc độ dồn dập, kịch tính, cấu thành bởi liên tiếp các biến cố. Bằng việc phát hành dàn trải, nhà văn có cơ hội lắng nghe và tiếp thu cảm nhận của thời cuộc, cho phép độc giả có tiếng nói đối với diễn tiến câu chuyện. Như tác giả John Forster của cuốn tiểu sử The Life of Charles Dickens đã nhận xét: “Dickens cho các nhân vật của ông sự sống, không phải bằng cách miêu tả họ mà cho phép họ miêu tả chính mình.”

Để tăng độ đáng tin cậy cho cuốn tiểu thuyết lịch sử thứ hai từng sáng tác, Charles Dickens chủ yếu tham chiếu trên tác phẩm The French Revolution: A history của nhà sử học Thomas Carlyle, người có tầm quan trọng rất lớn đối với các diễn biến lịch sử thực tế và tạo hình nhân vật trong Hai Kinh Thành; cũng như tham khảo “hai thùng các tông sách từ Thư viện London.” Cùng với bàn tay tạo tác thiên tài, cuộc Cách mạng Pháp hiện lên dưới ngòi bút Charles Dickens thật sống động như ghim thẳng vào tâm trí người đọc. Ai có thể quên cảnh lầm than của khu phố Saint Antoine: “Ở mọi góc đường, ra vào mọi ngưỡng cửa, đứng trong mọi cửa sổ, quấn mình bằng mọi thứ áo xống rách rưới phần phật trong gió, là những con người đã bị xay nghiền, tán nhừ trong cỗ máy bần cùng. Cái cỗ máy đã nhào nặn họ là cỗ máy biến người trẻ thành già; lũ nhi đồng có bộ mặt lão niên và giọng nói nghiêm trọng; và trên mọi gương mặt trẻ con lẫn người lớn, hằn sâu trên những nếp nhăn tuổi tác, đều lồ lộ một dấu hiệu: Đói.”

Trái ngược với nỗi bần cùng này là sự xa hoa ngạo ngược của giới quý tộc. Chúa công Monseigneur không thể uống sô-cô-la cho trôi họng nếu không có sự trợ giúp của bốn người hầu. Đám bác sĩ làm giàu nhờ kê đủ thứ thuốc đắt giá cho những căn bệnh tưởng tượng không hề có thật.  Đám quân sư mách nước không phát minh được giải pháp làm việc nghiêm túc để tiệt trừ một căn nguyên nào trong những chuyện nan giải của quốc gia.  Đám triết gia vô đạo muốn cải tổ thế giới bằng mồm và dùng lá bài xây tháp chống trời tán chuyện… Đỉnh điểm là việc xe ngựa của ngài Hầu tước Marquis sau khi vô tình cán chết đứa bé một người nông dân, ngài chỉ hờ hững thảy một đồng tiền vàng và nói: “Ta rất lấy làm lạ, lũ dân chúng các ngươi không biết lo thân và lo cho con cái. Lũ bay không đứa này thì đứa khác cứ mãi cản đường ta. Không biết lũ bay có gây thương tích gì cho mấy con ngựa của ta không.”(!)

Những kẻ như Marquis đã gieo gió gặt bão, lòng hận thù sục sôi của công dân Pháp quốc đã đạt đến điểm tới hạn và kết cục là sự kiện tấn công ngục Bastille, mở màn cho cuộc trả thù cuồng loạn sôi máu hận khắp thành Paris. Nhưng chính tại thời điểm này, lòng cảm thông với giới cơ hàn của Charles Dickens đã xói mòn rất nhanh và thay vào đó là một tâm trạng bàng hoàng ghê rợn. Cái máy chém, biểu tượng của nền Cộng hòa, không một ngày nào khô máu, nó tự động hóa việc lấy mạng, rẻ rúng hóa sinh mệnh con người, nó là hiện thân chuẩn xác của cụm từ “hay là Chết” mà Dickens đã thêm vào khẩu hiệu của Nền Cộng Hòa Hợp Nhất Bất Khả Phân Ly: Tự do, Bình đẳng, Bác ái, hay là Chết. Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến hình tượng ám ảnh “bánh xe đá mài” dùng để mài khí giới: Bánh xe đá mài đang được quay điên cuồng bởi hai người đàn ông; vòng quay dữ dội hất ngược mái tóc dài của họ ra sau phơi bày hai bộ mặt tàn bạo và khủng khiếp hơn cả phường man di mọi rợ. Trong lúc đó mấy người đàn bà nâng cốc rượu kề môi hai tên này cho chúng uống; rượu giọt đỏ như vang, rượu giọt đỏ như huyết, thêm dòng tia lửa bắn ra từ phiến đá mài, khiến cả không gian hung ác này như tràn trề máu lửa.”

Tuổi thơ nghèo khó đã hình thành trong Charles Dickens những mầm mống đầu tiên về công bình xã hội, nhưng với ông bình đẳng không phải là luôn ủng hộ tầng lớp cơ hàn. Dickens lên án giới quý tộc tàn ngược nhưng đồng thời cũng phê phán những nhà cách mạng khát máu. Ông cảm thông với người nghèo khi bị người giàu chà đạp và ông cảm thông với người giàu vô tội khi bị người nghèo đẩy lên đoạn đầu đài: Cứ đập bẹp nhân tính một lần nữa thì lập tức nó sẽ oằn oại sinh sôi ngay dưới nhát búa trong cùng hình thù đã bị biến dạng méo mó đó. Cứ gieo xuống cũng một thứ hạt giống đặc quyền tham tàn và bạo ngược thì nhất định nó sẽ mọc ra thứ trái quả tương tự. Charles Dickens chống lại mọi hình thức áp bức ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào và ông cũng nhìn thấy trước kết cục chung quyết cho những kẻ áp bức: “tất cả rồi sẽ đều bỏ mạng dưới cỗ máy trừng phạt này trước khi nó bị loại bỏ không còn dùng tới”. Nhưng Dickens chưa bao giờ là một người yếm thế bi quan. Trong một câu chuyện bị bao trùm bởi vô vàn mảng tối, mảng tối của đêm đen, của ngục tù, của mưu hèn kế bẩn, người ta lại thấy rực rỡ hơn hết ánh sáng đến từ tấm lòng của Lucie Manette, hành động hi sinh của Sydney Carton, hay thậm chí những lời nguyện cầu nhỏ bé của bà vợ Jerry Cruncher. Tất cả những điều đó đều quý báu hơn địa vị cao sang hay lý tưởng mù quáng, vì cuộc cách mạng của tình yêu thương mới là cuộc cách mạng vĩ đại và hào hùng hơn tất thảy.

Quan trọng hơn, Charles Dickens không chỉ đơn thuần dạy chúng ta phê phán những kẻ ác tâm mà còn phải nhìn thấu những động cơ rất người ẩn sâu trong họ. Trong tuyến phản diện của Hai Kinh Thành nổi lên một nhân vật phức tạp  đa diện đầy ấn tượng mà thông qua đó Dickens đã chuyển tải thông điệp này. Là Công dân tận tụy của nền Cộng hòa, mụ vợ Defarge áp dụng kĩ thuật đan len điêu luyện để mã hóa tên của những kẻ quý tộc mà mụ muốn đưa lên máy chém. Ta dễ dàng cảm thông với người cha ám sát gã Chúa công đã cán chết con mình, thương hại bác sĩ Manette bị tống vào ngục Bastille vì dũng cảm đứng lên tố cáo hai anh em Hầu tước. Nhưng ta cũng có thể hoàn toàn thấu hiểu tham vọng cháy bỏng của mụ Defarge là xóa sổ dòng họ đã giáng họa lên gia đình mụ.Cả đời chúng ta chỉ toàn thấy chị em phụ nữ khổ sở thôi, con cái họ cũng khổ sở, toàn nghèo đói, rách rưới, đói khát, đau ốm, cơ cực, áp bức và bị bỏ mặc đủ kiểu thôi mà?” Defarge là sản phẩm và cũng là nạn nhân của bàn tay thế cuộc: thời loạn nhồi nhét vào đầu mụ đầy ý thức về sự bất công và lòng hận thù giai cấp đậm sâu, nhào nặn mụ thành loài hổ dữ sắt đá; nhưng đồng thời cũng triệt tiêu trong mụ lòng xót thương, dù là xót thương cho chính mình. Cũng vì những lý do ấy mà nhân vật này từng được bầu chọn là một trong năm tạo tác xuất sắc nhất của Charles Dickens, đồng thời cũng nằm trong số nhân vật phản diện bất hủ trong lịch sử văn học.

Tinh túy trong câu chữ, sắc bén trong hình ảnh, chan chứa trong ý nghĩa, Hai Kinh Thành là thiên truyện đau thương nhưng đầy tình người, vén màn cho bao thế hệ độc giả không chỉ những sự kiện chính trị xã hội đẫm máu mà còn cả những biến cố trọng đại của bao kiếp người phía sau. Để hiểu thêm những góc khuất của một giai đoạn lịch sử loạn lạc, hãy đọc Hai Kinh Thành; để đồng cảm cùng những kiếp người khổ nạn, hãy đọc Hai Kinh Thành; để hiểu vì sao Charles Dickens là một tên tuổi vĩ đại, chắc chắn hãy đọc Hai Kinh Thành.

Vĩnh Ngân

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giới thiệu sách

Nhà Golden, áng dụ ngôn bi tráng về nước Mỹ thế kỷ 21

“Một câu chuyện vàng, vào thời La Mã chính là cách nói hoa mỹ để chỉ một câu chuyện phi lý, một hoang tưởng điên rồ, một điều gì đó rõ ràng không có thực. Một chuyện thần tiên. Một sự dối trá.”

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Ngày 20 tháng Một năm 2009, Barack Obama tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ thứ 44 và cùng ngày hôm đó một lão gia tỉ phú người Bombay cùng ba cậu con trai đặt chân đến khu Gardens tại Manhattan và tiếp quản dinh thự đẹp nhất khu phố này. Nero Golden, ngự trong ngôi nhà vàng, viết nên câu chuyện vàng, và triều đại vàng của y, như được loan báo trong đoạn văn đầu tiên của tiểu thuyết này, đã kết thúc theo đúng như số phận của tên bạo chúa mà y lấy tên - một kết cục mang màu tận thế: cháy.

Đó là nội dung chính của Nhà Golden, tiểu thuyết thứ mười ba của Salman Rushdie. Sau thành công vang dội với loạt tác phẩm mang hơi hướng kỳ ảo, Nhà Golden là cuộc tái hồi chủ nghĩa hiện thực đầy ngạo nghễ của nhà văn lừng lẫy người Anh gốc Ấn. Xoay quanh những mốc sự kiện lịch sử có thật như cuộc tấn công khủng bố khách sạn Taj Mahal Palace năm 2008, vụ đánh bom liên hoàn tại Bombay năm 1993, cuộc lên ngôi của Barack Obama và Donald Trump tám năm sau đó (thực chất đây là một dự đoán của Rushdie bởi tiểu thuyết đã hoàn thành trước khi Trump đắc cử), Rushdie đã khắc họa một thiên truyện mang hơi thở nóng rẫy của thời đại trên nền bối cảnh náo động an ninh và tao loạn chính trị, vẽ nên một áng dụ ngôn bi tráng về nước Mỹ thế kỷ 21 trong hình hài cuộc suy vong của một gia đình nhập cư giàu có. Nhà Golden ngay khi mới ra mắt đã chễm chệ ngôi đầu bảng xếp hạng New York Best-sellers, được báo Times of India bình chọn là một trong 15 tiểu thuyết xuất sắc nhất của năm 2017 và đã và đang gây bão trong giới mộ điệu văn chương toàn thế giới.

Tìm hiểu về thân thế Salman Rushdie gần như là một điều bắt buộc trước khi ta tiếp cận bất kỳ một tác phẩm nào của ông. Là tiểu thuyết gia từng vô số lần được đề cử Nobel Văn chương, đáng chú ý khi 30 năm trước ông lại là đối tượng bị truy đuổi ám sát số một của dân Hồi giáo toàn thế giới và là nhân tố cốt yếu làm rạn nứt quan hệ của hai nước Anh - Iran. Sau khi tiểu thuyết thứ tư, The Satanic Verses (Tạm dịch Những vần thơ của Quỷ Satan) xuất bản năm 1988, Rushdie đã làm dấy lên một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong thế giới Hồi giáo vì bị coi là báng bổ đạo Hồi. Giáo chủ Iran Khomeini đã ra bản án tử hình “fatwa” đối với Rushdie và kêu gọi toàn bộ dân Hồi giáo cùng nhau bắt tay để thực hiện bản án này. Ngay giữa diễn biến sôi sục, ngày 25.06.2007, Salman Rushdie lại được Nữ hoàng Anh trao tước hiệu hiệp sĩ nhằm công nhận những đóng góp vĩ đại của ông cho văn học. Hành động này của chính phủ và Hoàng gia Anh chẳng khác gì đổ thêm dầu vào mối quan hệ nảy lửa khi đó giữa Anh và Iran. Nhiều quốc gia Hồi giáo khác cho rằng, việc tôn vinh Rushdie của Anh xứng đáng được đáp trả bằng những vụ đánh bom liều chết. Lệnh truy sát của Giáo chủ Iran phải mười năm sau mới được bãi bỏ và tình hình may mắn thay cũng theo đó mà lắng dịu.      

Phác họa đôi điều về cuộc đời Rushdie để phần nào hiểu ông là con người như thế nào và văn chương của ông hướng đến điều gì. Rushdie từng tuyên bố: “Khái niệm ‘tôn kính tôn giáo’ đã trở nên mang nghĩa ‘sợ tôn giáo’. Tôn giáo, cũng như mọi ý tưởng khác, xứng đáng với những phê bình, chỉ trích, và sự bất kính không phải sợ hãi của chúng ta.” Phát ngôn thẳng thắn này cũng thể hiện đúng tiếng nói của ông trong văn chương. Với Nhà Golden nói riêng, Salman Rushdie một lần nữa cho thấy bộ mặt không nể nang với những công kích táo bạo, những sóng từ dồn dập, những phát ngôn đanh thép, kết hợp với thứ tiếng Anh khẩn trương và nóng rẫy có khả năng gây rúng động tâm tưởng ở tầng sâu nhất. Ông phóng lao vào thói chính trị xu thời, chủ nghĩa dân tộc, giấc mơ Mỹ, ý tưởng bí mật nhân thân, thậm chí cả vị tân tổng thống Hoa Kỳ. “Gã vua hề tóc xanh môi đỏ cười hềnh hệch trong truyện tranh" The Joker, một miêu tả dễ đoán của Rushdie trong Nhà Golden đã làm dấy lên sự phản đối mạnh mẽ của công chúng ủng hộ Donald Trump. Tuy nhiên trước những lo ngại, Rushdie kiêu ngạo tuyên bố: Tôi đã từng làm phật ý người ta trước đây rồi, đến mức bị lùng giết, bây giờ còn sợ gì nữa (!).

Một điểm đặc trưng nữa trong các tác phẩm của Rushdie là sự chen chúc ý tưởng: dường như khao khát thường trực của ông là đưa nhiều nhất có thể vào câu chữ. Cụ thể Nhà Golden, như một nỗ lực nhằm tái hiện chính nước Mỹ, đã được chủ ý xây dựng đầy hỗn mang - một cái chén nung, một bát salad, một bức tranh mosaic. Từng trang từng trang tác giả dội bom hằng hà sa số những tiểu tiết về đời sống New York, vô vàn dẫn chiếu đến pop culture, dày đặc kiến thức về xu hướng tính dục, không đếm xuể những bình luận sắc sảo về chính trị-xã hội… Nếu rơi vào tay một kẻ tay mơ thì điều này chẳng sớm thì muộn sẽ gây ức chế; may mắn thay nó đã được chỉ huy bởi một bậc thầy ngôn ngữ đang ở đỉnh cao phong độ. Xuyên suốt hơn 500 trang sách là một trải nghiệm quá “đã”, quá “sướng”, một cuộc phiêu lưu hối hả ngây ngất máu chảy tê rần giữa cơn lốc chữ. Báo Boston Globe đã dành lời ngợi khen thích đáng cho tác phẩm này: “Nhà Golden dễ nhận ra là một đặc sản của Rushdie với sự nô giỡn của ngôn từ, cuộc đấu thương của câu chữ, sự hiên ngang trơ tráo, sự uyên thâm không cần biện giải, sự tinh tuý chói ngời.”

Nhà Golden có tất cả những gì chúng ta khao khát trong một tiểu thuyết đương đại: dối trá, cám dỗ, lừa lọc, mất mát; nhưng cũng là: hi vọng, niềm tin, tình người, công lý. Với một cốt truyện gay cấn đầy hấp dẫn và khả năng xây dựng nhân vật bậc thầy, cuốn tiểu thuyết là một nỗ lực phi thường nhằm đi sâu khám phá con người và đem đến bức tranh chân thực nhất về cuộc khủng hoảng căn tính thế kỷ 21. Nếu bạn chưa từng đọc Salman Rushdie hay băn khoăn trước những tiểu thuyết kỳ ảo trước đó của ông, Nhà Golden sẽ là một tựa sách hoàn hảo để bắt đầu.

Hết.  

Vĩnh Ngân

Đọc bài viết

Giới thiệu sách

Hai cuốn nhật ký: Sự bất chấp luân thường song hành với đạo nghĩa vợ chồng

“Tôi quyết định từ năm nay sẽ bắt đầu ghi lại tất cả những điều chưa từng dám viết vào nhật ký. Trước giờ, những việc phòng the, sinh hoạt vợ chồng, tôi thường không dám ghi chép tỉ mỉ lại, bởi e ngại vợ mình đọc trộm mà sinh tức giận…”

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Trong thời gian chiến đấu với bệnh tật và tuổi già, Tanizaki Junichiro vẫn không ngừng sáng tác, trong đó phải kể đến những tác phẩm đặc sắc như Bản dịch mới Truyện Genji của Junichiro, Mộng phù kiều hay Hai cuốn nhật ký. Lần đầu đăng trên tạp chí Chuuō Kōron năm 1956, Hai cuốn nhật ký được trình bày qua lời kể song song của một đôi vợ chồng tuổi trung niên theo hình thức ghi chép cá nhân. Bắt đầu từ ngày mùng một tháng Giêng trong nhật ký của người chồng: “Tôi quyết định từ năm nay sẽ bắt đầu ghi lại tất cả những điều chưa từng dám viết vào nhật ký. Trước giờ, những việc phòng the, sinh hoạt vợ chồng, tôi thường không dám ghi chép tỉ mỉ lại, bởi e ngại vợ mình đọc trộm mà sinh tức giận…”, Hai cuốn nhật ký dần mở ra cánh cửa dẫn vào cuộc sống chăn gối hoan lạc của cặp đôi buổi xế tà đang loay hoay tìm đường khơi lại ngọn lửa tình ái. Một đằng là ông chồng già cũng ham lạc thú tà dâm nhưng thể trạng yếu kém dẫn đến lực bất tòng tâm, một đằng là cô vợ đã một qua một đời sinh nở nhưng vẫn hừng hực sung mãn, ham muốn mạnh mẽ đến mức phi thường. Trạng huống trớ trêu đẩy cặp đôi “đũa lệch” ấy vào bước đường phải tìm đến những thứ “thuốc kích thích” lạ lùng để thỏa mãn nhu cầu sinh lý. Cứ thế lún sâu vào bể tình hoan lạc, họ bất chấp luân thường đạo lý, bất chấp sức khỏe và cả tính mạng cho cuộc vui nhục dục nhưng kỳ diệu làm sao vẫn có thể gọi là thực thi toàn vẹn đạo làm vợ làm chồng (!).

Là người ưa thích tìm hiểu tâm lý bệnh học, Tanizaki tích cực vận dụng kiến thức để viết rất dạn dĩ về đề tài liên quan đến những khoái cảm dị thường do lệch lạc trong tính dục sinh ra. Từ sau khi tác phẩm nhan đề Akuma (Ác ma) (1926) ra đời thì Tanizaki được xem như nhà văn đại diện cho chủ nghĩa ác ma (diabolism) của Nhật Bản. Là một phong trào văn học nghệ thuật nổi lên cuối thế kỷ XIX ở châu Âu, chủ nghĩa ác ma có khuynh hướng đề cao cái đẹp ở những gì đồi bại và kỳ quái. Tương tự, Tanizaki trong hơn nửa thế kỷ đi tìm cái đẹp cũng chỉ tập trung vào “cái đẹp có vấn đề”. Ông khai thác xu hướng ngược đãi và bị ngược đãi trong Người cắt lau, Xâm mình, bái vật trong Bàn chân Fumiko, ái thú trong Con mèo, Shōzō và hai người đàn bà hay phức cảm Oedipus trong Mộng phù kiều… Bản thân Hai cuốn nhật ký, trình bày về cuộc sống tình dục của lớp người già, khi mới xuất bản cũng gây sóng gió dư luận vì bị quy kết là truyện dâm ô. Sở thích tình dục của nhân vật chính là ông giáo sư rất chi là đa dạng: vừa tôn sùng bàn chân phụ nữ, vừa khao khát nhìn ngắm thân thể trần truồng của vợ dưới ánh sáng huỳnh quang. Tuy nhiên động lực tình dục cốt yếu của ông chính là sự ghen tuông, một loại phức cảm có tên “ham muốn bắt chước” hay “ham muốn tam giác” (mimetic desire) do nhà triết học Rene Girard đề xướng. Ở đó, người A chỉ có thể nảy sinh ham muốn vật B nếu có một “người môi giới” C cũng ham muốn vật B kia. Trong Hai cuốn nhật ký, rõ ràng “người môi giới” kích thích ham muốn cô vợ ở vị giáo sư chính là anh chàng Kimura con rể tương lai, một đối thủ tình trường trẻ trung và sung mãn hơn.

"Cứ thế lún sâu vào bể tình hoan lạc, họ bất chấp luân thường đạo lý, bất chấp sức khỏe và cả tính mạng cho cuộc vui nhục dục nhưng kỳ diệu làm sao vẫn có thể gọi là thực thi toàn vẹn đạo làm vợ làm chồng (!)."

So với Chữ Vạn, các nhân vật trong Hai cuốn nhật ký cũng mắc vào mối tình tay bốn tréo ngoe nhưng phức tạp và chồng chéo hơn rất nhiều. Nếu ở Chữ Vạn, người đẹp Mitsuko là con nhện nằm giữa nhả độc chăng tơ, giăng mắc ba nạn nhân khốn khổ sa lưới, thì ở Hai cuốn nhật ký, cho đến cuối cùng ta vẫn không biết rốt cục ai là người xấu số, ai là kẻ cao tay hơn cả. Toàn bộ câu chuyện là những chuỗi tâm lý vặn xoắn bất ngờ và hồi hộp xuất phát từ động cơ tính toán riêng biệt của cả bốn nhân vật. Ông giáo sư một lòng tôn thờ cô vợ “tốt của” nhưng sẵn sàng tạo điều kiện cho vợ gian díu với con rể tương lai để tăng cường tinh lực. Cô vợ tiết trinh cổ hủ lòng đã mau chóng ngả theo nhân tình nhưng một mực tâm niệm phải làm chồng hưng phấn. Cô con gái Toshiko phần thì căm ghét ông bố biến thái, phần thì ganh ghét với người mẹ xinh đẹp, bề ngoài thờ ơ lãnh đạm với cuộc hôn nhân sắp đặt nhưng lòng dạ ai nào tỏ cho tường? Anh con rể tương lai có lẽ đam mê bà mẹ đầy phong vận hơn nhưng biết đâu cũng chỉ lợi dụng để tiếp cận cô con gái?

Bên cạnh tuyến nhân vật đa chiều, tưởng tĩnh mà động, việc sử dụng hình thức hai ghi chép cá nhân đan lát lại càng góp phần tạo nên sự gay cấn cần thiết cho câu chuyện. Nếu Chữ Vạn chỉ được thuật lại từ một góc nhìn duy nhất, về những việc đã xảy ra và khép lại, thì những sự kiện trong Hai cuốn nhật ký không những đang tiếp diễn mà còn có thể được nhìn nhận cùng lúc từ hai phía. Cùng một ngày tháng, cùng một vụ việc ấy nhưng chồng nói gà, vợ nói vịt, dần dà mới khiến ta ngờ ngợ rằng việc ghi nhật ký của đôi vợ chồng rốt cục không phải là chép lại những sự kiện thực tế, mà là để tuần tự ra những nước cờ thách thức nhau, giấu diếm hành tung của mình với nhau, thậm chí thao túng điều khiển nhau. Tác giả đưa người đọc cùng song hành với diễn biến câu chuyện, nhưng ta đâu có khác gì những kẻ mù lòa, được dắt đi trên con đường lắm lối nhiều ngả bởi hai kẻ dẫn đường bụng dạ khó bề tin tưởng, miệng khăng khăng là mình chân thật nhưng kỳ thực trắng đen thật giả lẫn lộn, chẳng biết đường nào mà lần? Bên cạnh đó, trong nguyên tác Tanizaki còn cố ý để cho người vợ dùng kiểu chữ hiragana truyền thống, còn người chồng viết bằng kiểu chữ katakana hiện đại hơn. Điều này có thể có dụng ý riêng, liên quan đến tính cách của hai người. Người chồng rất thích khám phá và thử nghiệm những cái mới, trong khi người vợ lại rất e dè thủ cựu. Tóm lại có thể nói, lựa chọn hình thức nhật ký cho câu chuyện là một quyết định vô cùng vi tế của Tanizaki.

"...ta ngờ ngợ rằng việc ghi nhật ký của đôi vợ chồng rốt cục không phải là chép lại những sự kiện thực tế, mà là để tuần tự ra những nước cờ thách thức nhau, giấu diếm hành tung của mình với nhau, thậm chí thao túng điều khiển nhau."

Kagi nghĩa là chiếc chìa khóa. Ấy chính là chiếc chìa khóa mở ra cuốn nhật ký chất đầy ẩn ức tâm tư của người chồng, mở ra những ham muốn nổi loạn âm thầm của người vợ, mở ra một cuộc chơi tình ái mưu ma chước quỷ của cuộc sống hôn nhân. Vỏn vẹn chưa đầy 200 trang, Hai cuốn nhật ký đã khắc họa tài tình một cốt truyện gay cấn hấp dẫn, đưa đến cái nhìn mới mẻ về bản chất của tình dục - tình yêu, đặt dấu chấm hỏi về ranh giới mong manh phù phiếm của luân thường đạo lý. Tuy được sáng tác khi nhà văn đã ở những năm tháng cuối đời, nhưng Hai cuốn nhật ký vẫn xứng đáng là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất, quan trọng nhất trong văn nghiệp đồ sộ huy hoàng của Tanizaki.

Hết.

*

Tìm hiểu về tác giả Tanizaki Junichiro




Đọc bài viết

Giới thiệu sách

Mùa xuân vắng lặng & Đời sống bí ẩn của cây – Lời nhắc nhở loài người nhìn lại mối quan hệ với thiên nhiên

Biến đổi khí hậu đang trở thành nỗi lo chung của toàn nhân loại, đặc biệt tình hình càng trở nên tồi tệ hơn khi tầng ozone bị thủng. Kỷ Niệm Ngày Quốc Tế Bảo Vệ Tầng Ozone (16/9/2019) (World Ozone Day), Phương Nam Book trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc hai tác phẩm giá trị về chủ đề môi trường.

Published

on

By

Mùa xuân vắng lặng được đăng nhiều kỳ trên tờ The New Yorker trước khi xuất bản thành sách vào tháng 9 năm 1962. Từ đó đến nay, cuốn sách đã bán hơn hai triệu bản.

Hồi chuông cảnh tỉnh về môi trường, chấn động hệ thống vận hành giữa chính phủ Mỹ và ngành công nghiệp hóa chất

Cuốn sách ra đời gây ảnh hưởng mạnh mẽ trong xã hội Mỹ, như một hồi chuông cảnh tỉnh về môi trường. Không lâu sau đó, Rachel Carson xuất hiện trước Thượng viện để điều trần. Bà không chỉ nhấn mạnh những tác hại về môi trường của thuốc diệt sinh vật gây hại như đã vạch ra trong sách, mà còn đề xuất những thay đổi cần thiết về mặt chính sách. 

Mùa xuân vắng lặng (Silent Spring) - Rachel Carson

Rachel Carson luôn khẳng định rằng nội dung sách không hướng đến loại trừ tất cả chất diệt sinh vật độc hại, mà chỉ để chấn chỉnh việc sử dụng tràn lan, thiếu cân nhắc của chính phủ Mỹ. Tuy vậy Carson phải đối mặt với phản biện và chỉ trích cá nhân nặng nề từ phe công nghiệp hóa chất. Mùa xuân vắng lặng và Rachel Carson không hẳn chỉ là một lời cảnh tỉnh mạnh mẽ về môi trường, mà còn là một phong trào dân sự hiệu quả. Ở đó, hệ thống vận hành chặt chẽ của chủ nghĩa tư bản giữa chính phủ và ngành công nghiệp đã bị chấn động và lung lay.

Giải mã ngôn ngữ kỳ diệu của loài cây và bạn sẽ chỉ muốn chạy ngay đến ôm chúng mà thôi

Đời sống bí ẩn của cây (The Hidden Life Of Trees) - Peter Wohlleben

Trong khi đó, được xem là một trong những quyển sách hay nhất về cây cối, Đời sống bí ẩn của cây thoát ra khỏi một cuốn sách khoa học thường thức tầm thường mà tựa như một bài thơ, nơi tri thức thiên nhiên kết hợp cùng nghệ thuật ngôn từ. Cuốn sách mở ra một thế giới kỳ diệu về đời sống xã hội phức tạp của những khu rừng ôn đới, nơi những cái cây giao tiếp với nhau, thể hiện cá tính riêng, hỗ trợ nhau lớn lên, chia sẻ chất dinh dưỡng cho những cá nhân đang chống chọi bệnh tật và thậm chí cảnh báo nhau về những nguy hiểm sắp xảy ra… Wohlleben không chỉ khẳng định thêm lần nữa vai trò quan trọng của cây xanh và rừng rậm với những bằng chứng sống động mà ít nhiều sẽ khiến bạn thay đổi cách nhìn nhận về thế giới thực vật, đặc biệt là đời sống cùng nhu cầu cảm xúc của chúng.

Không dừng lại ở đó, Peter  Wohlleben còn khuyến khích chúng ta không nên quan tâm đến cây chỉ đơn thuần vì nguyên nhân vật chất, mà cũng nên quan tâm đến cây vì những câu đố và những điều kỳ diệu nho nhỏ mà chúng cho chúng ta thấy. Dưới tán cây xanh, những sự việc kịch tính hàng ngày và những câu chuyện tình yêu cảm động vẫn đang diễn ra. Đây là phần cuối cùng còn sót lại của thiên nhiên, ngay trên ngưỡng cửa của chúng ta, nơi những chuyến phiêu lưu sắp được trải nghiệm và những bí mật sắp được khám phá. Và ai biết được, có lẽ một ngày nào đó ngôn ngữ của cây cuối cùng sẽ được giải mã, đem đến cho chúng ta những câu chuyện tuyệt vời hơn nữa.

Mùa xuân vắng lặngĐời sống bí ẩn của cây là những lời nhắc nhở chúng ta hãy nhìn lại mối quan hệ của mình với thiên nhiên, để từ đó góp phần bảo vệ môi trường sống tốt hơn.

Ban Biên Tập

Đọc bài viết

Cafe sáng