Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Tại sao ta không nên đọc mọi thứ và không nên tin mọi thứ ta đọc?

Đăng từ

on

Con người là một loài có tính xã hội. Mỗi buổi sớm thức dậy, trước cả ánh bình minh, chúng ta bị đánh thức bởi chính hào quang của đồng loại mình. Rồi ta lao từ ổ nhỏ tới hang to, từ thị thành đến nông thôn, từ bất kỳ nơi nao nhanh chóng gia nhập vào bầy đàn ngày càng khổng lồ của xã hội. Chẳng một ai biết đích xác khởi nguyên của các đặc tính xã hội loài người, chỉ biết nó sẽ tồn tại cho đến khi nào chúng ta chưa diệt vong. Các đặc tính xã hội ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của đời sống, sự đọc cũng không ngoại lệ.

Về review

Tôi bắt đầu với chuyện đọc review. Review một cuốn sách có thể hiểu đơn giản là sự phê bình cuốn sách đó bởi một hoặc nhiều người đã đọc qua nó mà không nhằm các mục đích thương mại. Tính thương mại là một điểm rất quan trọng ảnh hưởng đến sự đọc mà tôi sẽ trình bày ở phần sau. Trên lý thuyết, review hoàn toàn có ích khi giúp chúng ta được nhìn nhận cuốn sách mà chưa cần phải đọc. Song trên thực tế, mọi chuyện lại không đơn giản đến thế. Xét về bản chất, review là thứ có tính xã hội: bạn không thể chỉ đọc duy nhất một review được và review sẽ sinh ra sự định hướng chuyện đọc của bạn. Nhưng khi đọc nhiều review thì lại không khác gì tạo ra một thống kê xã hội: khảo sát nhiều đối tượng rồi tập hợp những kết quả tương đồng vào một nhóm dưới dạng phần trăm. Và thống kê xã hội, như tên gọi của nó, sẽ có ý nghĩa xã hội: đồng nghĩa với việc tính cá nhân của nó gần như bằng 0. Vậy nên, khi đọc review, một mặt bạn bị số đông dẫn dắt đi theo thiên hướng cá nhân của họ, mặt khác bạn lại làm cho sự dẫn dắt đó ngày càng nặng nề và càng làm cho cái sự đọc sách mất đi tính cá nhân vốn có của nó. Thế thì có nên đọc review hay không?

Để trả lời câu hỏi này chúng ta hãy quay ngược lại điểm xuất phát. Bạn đọc review để làm gì: để biết cuốn sách trước mắt liệu có đáng đọc? Và ngạc nhiên chưa, khi bạn đang phân vân có nên đọc hay không thì đồng nghĩa với bạn đang muốn đọc nó. Đến lúc này, trong bạn sẽ hình thành hai luồng suy nghĩ: hoặc kiếm tìm một review thúc đẩy cái mong muốn đọc của bạn hoặc dập tắt cái mong muốn ấy, cũng lắm khi là cả hai cùng lúc. Dù lựa chọn theo cách nào thì ngay từ đầu nó đã phụ thuộc vào cách nghĩ của bạn, bạn đọc review chỉ để tìm một cái cớ hợp lý hóa cách nghĩ của mình. Câu chuyện đánh lừa bản thân này không có hại, dĩ nhiên, nhưng cũng không hề có lợi. Chẳng có gì trôi qua ngoài thời gian cả.

Tôi tin rằng bạn đang nghĩ tôi cự tuyệt review. Không, không hẳn đâu. Có một thời điểm review sẽ phát huy tác dụng của nó, đó là khi trong đầu bạn rỗng tuếch, hoàn toàn không có bất cứ một ý niệm gì ngay cả sự phân vân chần chừ đối với cuốn sách vô cùng lạ lẫm trước mắt bạn. Tôi gọi chúng là những review tình cờ, hay qua đường, hay bất chợt. Những review này xuất hiện ngẫu nhiên và vô tình bạn đọc được nó. Nhưng như đã nói ở trên, dù là tình cờ review nó vẫn mang thiên hướng cá nhân của người viết, và hơn nữa sự tình cờ thì lại thi thoảng mới xuất hiện. Để dung hòa mâu thuẫn này coi bộ không đơn giản song cũng không phải là vô phương cứu chữa. Trước hết thiên hướng cá nhân của người viết review mặc nhiên luôn luôn tồn tại, bạn không thể thay đổi hoặc làm nó biến mất. Do đó, bạn hãy chọn lựa những cá nhân có thiên hướng – hay lối suy nghĩ, cách nhìn nhận – càng giống bạn càng tốt, khi ấy những review sẽ càng trở nên tiệm cận với thế giới quan của bạn. Một sự sao chép như vậy giữ cho bạn vừa đủ cho bạn có cái nhìn từ xa về cuốn sách đồng thời không bị hút về tâm của review. Dù vậy, giống như đường tiệm cận chỉ gặp nhau ở vô cực, sẽ vẫn tồn tại những điểm khác biệt nhất định giữa review với bạn. Song vẫn tồn tại một cách cứu vãn tình thế, một đáp án mở ở ngay trước mắt. Lúc này có lẽ bạn đã nhận ra tôi muốn nói điều gì. Phải, chỉ có chính bạn mới là người review tốt nhất cho bản thân. Việc bạn cần làm không gì đơn giản hơn: hãy bắt đầu đọc cuốn sách đó. Đọc càng nhiều thì phản xạ review, nói cách khác cảm giác giống như review sẽ trở nên rõ nét hơn. Trong tương lai không xa, bạn hoàn toàn có thể biết được cuốn sách trước mặt có nên đọc hay không mà chẳng cần đến review!

Câu chuyện review thoạt nhìn trông rối rắm nhưng không khó nắm bắt. Trong khi đó tính thương mại lại âm thầm lặng lẽ ảnh hưởng đến sự đọc mà nhiều lúc chúng ta chẳng thể nhận ra được. Từ góc nhìn review, có thể quan sát phần nào những hình dáng cụ thể của đồng tiền đối với chuyện đọc sách. Đó là những bài review thương mại, những bài điểm sách thương mại, những bài pr hoặc marketing mà tôi gọi chung là những bài quảng cáo sách. Quảng cáo có đầy đủ tính chất của một bài review sách đồng thời sở hữu một cái đuôi mở rộng đáng ngờ đến mức không thể tin được. Từ ngàn xưa đến ngàn sau, từ những tiên dược trị bách bệnh của lang băm thuật sĩ cho đến cống phẩm hoàng cung, từ mớ rau răm ngoài chợ cho đến bitcoin sàn chứng khoán, tất tần tật những lời quảng cáo đều vô cùng đáng ngờ. Đặc điểm cốt tủy để nhận ra quảng cáo giữa một rừng review điểm sách chính là hình ảnh minh họa.Giống như trên bao bì gói mỳ Hảo Hảo hay chai C2, đó đều không phải giá trị thực của sản phẩm – ở đây là sách. Trong thời đại mọi thứ được định giá thì giá trị là cái khó nắm bắt nhất. Nội dung quyển sách bị che mờ bởi những lời hoa ngôn mị ngữ, nếu để ý kĩ sẽ thấy hầu như chúng chẳng hề liên quan. Tinh vi hơn là những quảng cáo sử dụng chính những thứ lấy từ trong sách: những câu trích dẫn quen gọi là quote mà khi bị tách khỏi ngữ cảnh chung sẽ thay đổi ý nghĩa theo hướng có lợi cho người quảng cáo và một thứ quen thuộc không kém chính là bìa sách. Không nói đâu xa, tôi khẳng định nhiều bạn đang đọc bài tôi viết đây chính là do đã thấy tôi giật tít đó thôi. Như vậy, bằng cách sử dụng văn hóa nghe nhìn, quảng cáo gián tiếp tác động tới văn hóa đọc. Văn hóa đọc, hay gần gũi hơn là những thói quen đọc sách của bạn bị ảnh hưởng một cách từ từ, chầm chậm mà bạn không hề hay biết. Bìa sách đẹp, những câu quote hay, tôi chắc không dưới một lần bạn đã chọn sách theo tiêu chí đó. Về cơ bản, hẳn bạn cho rằng nó chẳng ảnh hưởng là bao tới sự đọc của bạn. Tôi không phủ nhận điều đó, song nếu bạn nhìn nhận một cách tổng quan và lâu dài, thì chính thói quen này sẽ cướp đi khỏi bạn cơ hội được đọc những cuốn sách phù hợp với bạn hơn tuy bìa sách không bắt mắt, quote không hấp dẫn hoặc là ít được quảng cáo. Quảng cáo bản thân nó mang tính xã hội dù khả năng định hướng cá nhân không mạnh mẽ được như review. Có một thứ khác nằm ở đỉnh cao của tính thương mại và tác động sâu sắc tới văn hóa đọc: đó chính là best-seller.

Về best-seller

Best-seller hay nôm na sách bán chạy là thứ đậm đặc tính xã hội. Karl Marx từng nói “con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội”. Riêng trong sự đọc, cái tổng hòa đó không đâu rõ nét bằng best-seller. Từ cái tên sách bán chạy đã cho thấy nó là những cuốn sách được viết cho một số đông người đọc, và viết về đời sống của số đông người đọc đó. Ngay từ đầu, tác giả đã nhắm vào lượng độc giả đông đảo ấy, nói cách khác best-seller không phải những cuốn sách bán chạy mà là những cuốn sách được viết ra để bán chạy. Ồ có lẽ bạn sẽ cho rằng tôi cứ quanh quẩn bài toán con gà và quả trứng, chẳng có ý nghĩa gì mà cứ thích vòng vo. Nhưng không, hiểu về loại tiền trảm hậu tấu kiểu best-seller này khá quan trọng để tránh bị truyền thông dắt mũi. Trở lại với câu nói của Marx, nếu xã hội có một cái chuẩn cho việc đọc thì best-seller chính là cái trung bình cộng ấy. Cứ tưởng tượng mà xem, sẽ nhàm chán biết bao nếu đó cũng là cái chuẩn của bạn. Xã hội là 1 thì bạn cũng 1, là A thì bạn cũng A, là asdfgh thì bạn cũng asdfgh theo. Bạn suy nghĩ theo cách xã hội suy nghĩ rồi tới lượt cách nghĩ của bạn cũng chính là cách nghĩ xã hội. Một xã hội vận hành lòng vòng như thế, nói theo ngôn ngữ di truyền thì một xã hội giao phối cận huyết như thế sớm muộn sẽ nhanh chóng tới hồi thoái hóa rồi lụi tàn. Sự đa dạng mới là cái giữ cho văn hóa đọc tồn tại và phát triển, tính chất cá nhân trong sự đọc của bạn là điều quan trọng nhất để giữ sự đa dạng này. Bạn cần tạo ra một độ lệch chuẩn cho riêng mình, một mức độ lệch nhất định mang hình ảnh vệ tinh viễn thám, sẽ giữ cho bạn vừa đủ ở ngoài để nhìn rõ mọi chuyện vừa giúp bạn không mất liên lạc với những thứ ở trong. Vậy nên, có những thứ tuyệt nhiên không được tin tưởng, tỉ dụ như là: 12 cuốn sách mà ai cũng phải đọc ít nhất một lần trong đời1, 3 cuốn sách đã làm thay cuộc đời tôi2, 20 cuốn sách bạn phải đọc khi còn trẻ3, 6 cuốn sách con gái nhất định phải đọc4, vân vân và mây mây, ở đây tôi chỉ đề cập đến vài trường hợp làm ví dụ.

Trường hợp 1: Ai cũng đọc rồi làm đúng như 12 cuốn sách thì mọi người đều suy nghĩ giống nhau theo cùng lối mòn.

Trường hợp 2: Đó là những cuốn sách thay đổi đời “tôi” và nhiều khả năng sẽ chẳng làm đổi thay đời bạn vì đơn giản: “tôi” và bạn không giống nhau.

Trường hợp 3: Một sự ngụy biện rõ rành rành, nó không hơn gì một sự áp đặt rằng tuổi tác quyết định trí tuệ và sự thành công.

Trường hợp 4: Về cơ  bản cũng giống trường hợp 1, nhưng vô hình chung nó lại đặt tính nữ cao hơn tính cá nhân và làm mất sự bình đẳng trước việc đọc của nam và nữ.

Những trường hợp trên đều là những cách thức hô biến best-seller điển hình cũng như chung quy chỉ muốn xóa bỏ cái riêng để trở về cái chung. Trong khi chúng ta dành hàng ngàn năm chỉ để đạt tới tiếng nói riêng thì những từ mang hàm ý bắt buộc như “phải”, “nhất định”,… là không thể chấp nhận được. Đáng buồn thay những loại sách khuyến khích sự giống nhau như thế lại lan tràn chiếm cứ một vùng không gian đọc rộng lớn nhất dưới vô vàn lớp vỏ bọc khác nhau. Trong phần kế tiếp, tôi sẽ đi bàn sâu vào chi tiết một số đầu sách kiểu như vậy.

Về self-help

Tôi đang muốn nói tới dòng sách giúp tự phát triển bản thân và các kỹ năng, được biến đến nhiều hơn dưới tên gọi self-help. Vậy thì tại sao self-help lại có sức hút lớn như thế, đến mức gần như bất kỳ ai trong đời cũng đọc ít nhất vài ba cuốn? Tôi nghĩ mình nên dạo qua bản chất của self-help một chút. Nếu suy xét đến tận cùng, self-help rất gần với best-seller, có nghĩa là nó được và phải được viết ra dành cho số đông người đọc. Căn kẽ hơn nữa, những cuốn sách self-help tồn tại dựa trên các đặc tính xã hội, mà đặc tính xã hội là những gì tôi đã đề cập: là review, là quảng cáo, là best-seller. Từ các nhà sách siêu to khổng lồ đến những cửa hiệu nhỏ mang dáng vẻ bao cấp, từ thư viện công cộng cho đến tủ sách gia đình, từ chồng cuốn sách mới kính coong đến mớ sách cũ phủ bụi, mọi lúc mọi nơi, rất dễ để nhận ra một cuốn sách self-help. Chúng được quảng cáo rất rầm rộ mà đa phần là theo những cách trong bốn ví dụ tôi nêu ở trên. Và chúng được quảng cáo, được marketing ngay từ cái tên cuốn sách. Các tác giả self-help không ngần ngại phô diễn ý định của mình từ trang bìa với những cái tên rất kêu đánh trực tiếp vào tâm lý của người đọc: những từ như “làm giàu”, “thông minh”, “đọc vị”, “tâm hồn”,  “nghĩ như X”, “làm như Y”, “sống như Z”,… ngập tràn các mặt sách. Lòng ham muốn, óc tò mò của chúng ta bị kích thích sẽ trỗi dậy, vô hình chung bước vào con đường các tác giả đã vạch sẵn. Vậy là ngay từ khi bắt đầu, các cuốn sách self-help đã muốn kiểm soát chúng ta chứ chẳng phải là chúng ta kiểm soát mọi thứ như tiêu đề của chúng. Không dừng lại ở đó, các cuốn sách self-help mê hoặc người ta với cái bút pháp viết sao cho cái gì cũng trở nên đúng đắn. Để tạo ra sự đúng đắn giả hiệu đó, các tác giả self-help khai thác đến mức tối đa, gần như đào sâu đến mức cạn kiệt những ý nghĩ chung – những ý nghĩ mang tính xã hội mà ai ai cũng từng thoáng qua ít nhất một lần. Cứ như thế, bằng việc viết về những thứ mà ai cũng nghĩ đến, những điều ai cũng dễ dàng chấp nhận mà không cần do dự, các cuốn sách self-help tự biến mình thành chân lý. Từ khởi nguồn là những chân lý sẵn có của xã hội ấy, các tác giả không ngừng mở rộng dòng trường giang đại hải dài dằng dặc thêm những chân lý khác theo phương pháp suy luận cộng dồn theo kiểu 1 cộng 1 bằng 2, còn bạn thì không ngừng thấy cuốn sách sao mà nói gì cũng đúng. Hãy cứ tưởng tượng thế giới là một hệ tọa độ không gian vô hạn về mọi hướng, bạn, các bạn của bạn, các độc giả cùng tác giả là những điểm xác định trên hệ tọa độ đó. Sẽ luôn tồn tại một đường thẳng đưa tác giả đến bạn và luôn có một mặt phẳng được tạo ra giữa tác giả và các độc giả. Bằng cách lợi dụng những nét tương đồng giữa các độc giả, tác giả self-help ngày càng mở rộng mặt phẳng mong muốn của mình. Một khi đã bị hút vào cái mặt phẳng ấy, bạn khó lòng mà không thấy… thế giới phẳng trong khi thực tế lại muôn hình vạn trạng hơn nhiều. Tình cảnh này nom bi đát hệt câu chuyện chú ếch ở dưới đáy giếng. Để tái phát hiện ra thế giới quan của riêng bạn đã bị cái chung làm mờ mịt, tôi cho rằng một vụ phóng thử phi thuyền mang tên BẠN.01 ra khỏi hành tinh self-help, ít nhất ra là khỏi cái mặt phẳng bạn đang sống là việc làm cần thiết. Sau khi ở phía bên trong một thời gian dài, cái nhìn từ phía bên ngoài hẳn sẽ làm bạn choáng ngợp. Bạn sẽ nhận ra từ vũ trụ, Vạn Lý Trường Thành không thể thấy rõ được như người ta từng huênh hoang, hay đỉnh cao chói lọi của self-help Đắc nhân tâm chỉ là cái chấm bé tí xíu. Dale Carnegie còn nhỏ hơn, điều đúng đắn nhất ông từng nói có lẽ là “có thể thay đổi thái độ của người khác khi thay đổi sự đối xử của ta với họ”. Song những tác giả sau ông lại bám vào câu nói đó mà hô biến ra ngàn lẻ một câu chuyện self-help. Trong câu chuyện hô biến này có thể kể ra Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu? như là một ví dụ điển hình: tác giả gần như xây dựng toàn bộ cuốn sách của mình dựa trên các nền tảng của Đắc nhân tâm và những sách khác cùng thời. Đơn giản với việc chuyển những công trình nghiên cứu tâm lý hành vi đã được thực tế chứng minh của các tác giả đi trước sang ngôn ngữ hiện đại hợp thị hiếu của thế hệ trẻ tuổi – thế hệ trụ cột của sự đọc hiện nay – nghiễm nhiên Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu? trở thành best-seller bán chạy hàng đầu. Theo tôi, thành công của cuốn sách chỉ gói gọn trong phương diện thương mại, còn về mặt nội dung nó cũng giống như một góc nhỏ xíu trong hàng vạn tiếng nói giống hệt nhau cho cùng một vấn đề đơn giản, quá phí phạm thời gian và công sức.

Review là người bạn đồng hành của self-help: rất dễ để người ta truyền tai nhau những điều họ vốn luôn nghĩ nay bỗng dung xuất hiện trong một cuốn sách, còn gì đáng nói hơn thế nữa. Và thế là tam sao thất bản, lan tỏa theo cấp số nhân những điều đã biết. Từ review nhanh chóng tự diễn biến, tự chuyển hóa thành best-seller lúc nào không hay. Nhà giả kim là một ví dụ điển hình cho bộ ba quảng cáo – review – best-seller ấy, đặc biệt là ở Việt Nam. Bây giờ nếu bạn thử hỏi ai đó cho bạn một gợi ý đọc sách, thì tôi đoán sẽ có 1/3 trong đó là Nhà giả kim. Người người làm nhà giả kim, nhà nhà học giả kim thuật trong khi phần đa chẳng có tí tố chất nào của giả kim thuật cả. Tại sao bạn không sử dụng tiếng nói pháp sư, phù thủy, kiếm sĩ, du hành giả… của chính bạn mà lại cứ phải dùng tiếng nói của nhà giả kim. Như vậy thành ra rất thừa mà cũng rất thiếu, thừa giống nhau và thiếu khác biệt. Về phương diện thừa thiếu này thì không đâu sánh bằng các loại sách chiêm tinh. Chỉ từ 12 cung hoàng đạo hay 88 chòm sao mà định đoạt cuộc sống của hơn 7 tỷ người đang sống và hơn 100 tỷ người đã từng sống thì thậm chí còn diệu kỳ hơn cả việc trường pháp thuật Hogwarts phân chia học viên vào 4 nhà. Đặt niềm tin vào những thứ hư vô như thế chỉ làm cho sự đọc trở nên nhàm chán, đi vào lối mòn và mất dần ý nghĩa.

Nghe một bản nhạc, xem một bộ phim, hay đọc một cuốn sách đều hỗ trợ và làm cuộc sống thêm phần thú vị chứ hoàn toàn không quyết định được cuộc đời bạn. Vì thế, ta không nên đọc tất cả mọi thứ và không nên tin tất cả mọi thứ đọc được, bài tôi viết đây cũng không ngoại lệ. Hãy để sự đọc tựa như là đang ngồi dưới gốc cây táo buổi đầu hè, có cơn gió thổi qua làm quả táo rụng trên trang sách, ta nhặt lên và cắn một miếng, thế thôi.

Hết.

3V

Xem tất cả những bài viết của 3V tại đây.


Những bài viết có cùng chủ đề



8 bình luận

8 Bình luận

  1. Hương Nguyễn

    Tháng Tám 23, 2019 at 10:23 sáng

    Cảm ơn bạn đã viết bài này.Như vậy tôi mới có thể nhìn rộng ra và suy ngẫm vào điều.😘

  2. Thiên An

    Tháng Tám 24, 2019 at 4:25 chiều

    Tại sao chúng ta không nên đọc mọi thứ? Thật ra thì đọc xong câu hỏi này mình có cười, tại sao ư? Chúng ta làm gì có thể đọc được mọi thứ trên cuộc đời này. Nhưng “chúng ta không nên tin mọi thứ” thì mình đồng ý với bạn viết bài, góc nhìn và ” tư tưởng” của bạn tôi cũng thấy hợp lí. Về vấn đề self- help, một câu chuyện mà lúc bắt đầu nói thường sẽ tạo thành hai phe. Đắc nhân tâm, nói về cơ sở khoa học thì có thể có nhiều thứ không có căn cứ khoa học nhưng áp dụng nó khá là hợp lý.

  3. Người Giao Bánh

    Tháng Tám 27, 2019 at 6:07 sáng

    Không thể phủ nhận lợi ích của việc đọc đối với mỗi một người trong dòng chảy vận hành và phát triển không ngừng của xã hội. Nhưng để nói rằng cái lợi đó sâu sắc tới đâu thì còn tùy thuộc vào trình độ nhận thức, đánh giá, thẩm thấu của mỗi một người nữa. Vì có những cuốn sách rõ ràng trên thực tế, đối với người này rất thiết thực, đưa sang người khác lại chỉ mang ý nghĩa mơ hồ.

    Sách có câu chuyện và nội dung thông điệp của riêng mình, bởi thế mà nó được nhân rộng. Một người đọc sách chính là để phát hiện ra hình ảnh của chính mình trong những câu chuyện như vậy, thông qua văn chương lẫn cuộc đời một ai đó.

    Mình cho là, đến cùng ý nghĩa của việc đọc không chỉ dừng lại ở việc bạn đọc một tác phẩm, nghị luận về nó đơn thuần giống năm xưa học văn. Văn học phổ thông có người dẫn dắt bạn xâu chuỗi diễn biến tâm lý nhân vật, có thang điểm hỗ trợ bạn nếu bạn cảm thấy hồ nghi ; nhưng văn học sau khi bạn quyết đinh tự chinh phục hoặc tìm tòi nó lại đòi hỏi bạn phải tự định hướng con đường của riêng bản thân. Bạn học được gì, tìm thấy gì, tin vào giá trị gì…tất cả các lý thuyết đó đều nằm ở cái tầm mà bạn có thể nhận thức.

    Albert Einstein nói một câu rất hay rằng: “Người đọc quá nhiều và dùng tới bộ óc quá ít sẽ rơi vào thói quen suy nghĩ lười biếng.” Câu nói này nếu đem ứng đối với một số các mọt mình tin là sẽ thể hiện được khá nhiều các cung bậc trong nếp sống đọc nói chung. Chẳng hạn, có những người vì đọc quá nhiều mà trở nên cứng nhắc, lý thuyết, giáo điều; lại có một số khác chỉ cần cảm thấy có chút bấp bênh liền tìm đến sách như chiếc phao cứu sinh của cuộc đời mình. Nhà văn trước khi viết ra một tác phẩm, cũng giống như một con ong thợ cần mẫn, họ cũng đọc, quan sát và chiêm nghiệm mọi điều. Văn chương chỉ phản ánh một phần thôi cái mà chúng ta luôn tìm kiếm, phần còn lại, buộc chúng ta kiên nhẫn lắng nghe, để ý và thấu đáo nhiều hơn.

    Vậy nên sách không phải tất cả, tất cả nằm ở nơi bản thân mỗi người. Cái lợi sâu sắc của người biết tìm đến sách và đọc nó, trước hết thứ người đó có được là sự khiêm nhường, biết mình biết ta. Sách tuy không nói anh còn hạn chế ở những mặt này, nhưng nó đánh thức anh rằng anh phải tỉnh dậy và sáng suốt bởi những điều rộng lớn vẫn hiện diện quanh anh. Một người chỉ cần hiểu được mình nhỏ bé, sự nhỏ bé ấy chắc chắn sẽ nuôi dưỡng trái tim họ lớn lên.

    Mình không hay đọc trước review một phần cũng vì vậy, mình chỉ tin đến cùng những thứ đọng lại sẽ không nhiều. Mỗi lần mình bắt đầu với quyển sách bất kỳ nào đó, mình cố gắng đầu tiên là đọc nó kỹ nhất có thể. Cho tới khi đã hoàn thành xong tác phẩm, việc chọn làm thứ hai là đọc chậm phần nhận xét hoặc tóm gọn nội dung cuốn sách ở những trang bìa. Nếu có phần nào sâu sắc nhất giúp bạn hệ thống hóa lại và củng cố toàn bộ các chương, hồi, đoạn…bạn đã đi qua thì phần này sẽ là một phần không thể bỏ sót. Cuối cùng, trong trường hợp thật sự tò mò muốn tìm hiểu sâu hơn, mình tìm đọc review tổng hợp mọi người viết.

    Sách best seller hoặc self help không hẳn là lựa chọn phổ thông, nhưng đối với một người đọc sau khi đã định hình được cái mình muốn khám phá, biết rõ đâu mới là thể loại của mình, mình tin là trong list sách có sẵn tự họ sẽ chọn ra được cuốn sách thiết thực với mình nhất. Kể cả trong trường hợp một quyển sách không phù hợp chẳng hạn, quyển sách đó chắc chắn cũng sẽ chứa đựng một số thông điệp áp dụng được vô những mảng đời sống thường ngày. Bởi vậy nên không có cuốn sách nào thật sự vô giá trị. Sách luôn đem lại giá trị ít hoặc nhiều cho mỗi một cá nhân. Chỉ là tùy vào từng thời điểm mà bạn đọc nó, nó sẽ để lại trong bạn những dấu ấn khác nhau. Theo thời gian, thứ thay đổi không phải câu chữ có trong sách mà là cái tôi đã lớn khôn hơn và dần trưởng thành.

    Tựu chung, quan điểm của mình về vấn đề này là cái gì cũng chỉ mang tính chất tương đối. Đọc sách tuy nói rằng rất quan trọng nhưng không quan trọng bằng việc bạn đọc nó thế nào? Bạn có để cuộc đời mình bị lệ thuộc hoàn toàn vào trong đó hay không? Bạn đang tỉnh táo hay mộng mị?

    • Cháo đậu đỏ

      Tháng Ba 21, 2020 at 8:12 sáng

      Đầu tiên thực sự rất cảm ơn tác giả 3V Hiện em cũng đang cảm thấy bối rối khi những cuốn sách em thích thì lại có ít người đọc, em sợ là em sẽ bị tụt hậu và tự mình cô lập trong thế giới của riêng em. Bởi cái tập tính sống bầy đàn từ nhỏ nên khi lớn lên và đi ngược với số đông, em cảm thấy bất an và nghi ngờ bản thân mình. Nhưng nay đọc được bài viết này, em đã thở phào nhẹ nhõm. Có lẽ phủ định cái đúng đắn “hằng số” của đường mòn là cái tất yếu cho sự phát triển.
      Còn về review, nói thật là em không thích đọc tí nào. Em sợ sau khi đọc xong, tâm lý của em sẽ mặc định sẵn kiểu như người ta hiểu, em cũng phải cố hiểu và bỏ quên những cái em có thể hiểu mà chưa chắc người khác hiểu được. Em thích đọc sách với một trang giấy trắng hơn là vẽ trước một cái khung rồi áp cuốn sách ấy vào.

  4. Pingback: Mọt sách chả phải là một loại cá tính đâu – Bookish

  5. Pingback: Đằng sau một cuốn sách là con người và cuộc sống – Bookish

  6. Pingback: Fiction vs Non-fiction từ góc nhìn kinh tế – Bookish

  7. 3V

    Tháng Ba 30, 2020 at 5:00 sáng

    Cảm ơn các bạn đã góp ý 😀

Viết bình luận

Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

1 lít nước mắt – Những khác biệt giữa phim và đời thực

Trong phim, Aya không bị mất ba cái răng. Khi ngã xuống đất, Aya chỉ bị trầy trán. Khuôn mặt cô vẫn xinh tươi. Nếu trong phim làm thực tế hơn, khi nhìn thấy cảnh Aya mất ba cái răng có lẽ tôi sẽ khóc rất nhiều.

Đăng từ

on

Người đăng

Hôm qua lại tiếp tục hủy hoại sức khỏe. Thức trắng đêm để đọc cho hết 44 trang A4 quyển nhật kí 1 Litre of Tears của Aya. Nhức đầu gần chết. Hôm nay tỉnh dậy, tôi vẫn còn thấy mệt mỏi. Nhưng bản dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh của Kiwi rất truyền cảm. Dù sao, bản tiếng Anh cũng mới đi được đến gần cuối chương ba của cuốn nhật kí thôi. Còn đến những năm chương mà các fan chưa dịch xong. Ôi! Muốn đọc tiếp quá. Trong thời gian chờ đợi các fan quốc tế dịch, tôi sẽ dịch ra tiếng Việt trước những gì đã có trong tiếng Anh cho mọi người đọc và tranh thủ xem một vài film Sawajiri Erika đóng.

Chị hai đã quá khinh thường trình độ đọc của tôi. Hôm qua, lúc thấy tôi cầm xấp giấy chị mới in xong để tôi dịch, chị đã nói:

“Sao em không đọc trực tiếp trên máy tính luôn?”
“Để chi? Đọc trên máy tính nhức mắt lắm. Giờ in ra giấy rồi, em đọc cái này đỡ hơn chứ.”
“Nhưng mà trên máy tính thì dò từ điển cũng tiện lợi hơn. Chứ còn đọc như vậy mà cầm cuốn từ điển dò thì mệt lắm đó.”
“Òa. Chị khinh thường em quá à. Em tự biết lượng sức mình. Em sẽ đọc một mạch luôn, không dò gì cả đâu vì những từ trong này chủ đề chính cũng chỉ xoay quanh cuộc sống hằng ngày thôi. Đâu phải từ chuyên môn về một lĩnh vực nào đó hay là từ cổ. Cỡ như Angel Sanctuary thì mới khiến em phải bó tay và ngồi dò chứ cái này thì em sẽ đọc ngon ơ cho mà xem.”

Nói là làm. Hôm qua, tôi ngồi đọc một mạch hết 44 trang A4 luôn. Tính ra A5 là 88 trang. Không ngờ tôi đã đọc nhiều như thế. Đó là lần đầu tiên tôi đọc được chừng đó trang tiếng Anh trong vòng ba tiếng đồng hồ. Hơi chậm hơn so với đọc tiếng Việt. Nếu đọc tiếng Việt mà trong ba tiếng đồng hồ thì chắc sẽ nhiều hơn. Dù sao, tôi cũng vui vì như thế là đã cải thiện hơn được rất nhiều về trình độ đọc so với một năm trước đây. Phải cố gắng hơn nữa. Phấn đấu để làm dịch giả mà. Vậy nên, tôi đã cố gắng để không cần dò từ điển dù cũng có một vài từ không hiểu nhưng nhìn chung tôi vẫn nắm được nội dung. Và tôi thật sự sốc sau khi đọc ba chương đầu tiên. Phim hư cấu nhiều chi tiết không có trong nhật kí. Khi phát hiện ra điều đó, tôi lại càng thương Aya hơn. Tội nghiệp Aya quá. Dưới đây là một số điểm khác biệt mà tôi đã lưu ý:

1

Không hề có Asou Haruto. Lúc xem phim, tôi thấy chuyện tình của hai người thật đẹp. Nhưng thực ra, chuyện này tôi cũng đã phát hiện ngay từ khi xem phim rồi. Vì trong phim có đoạn trích lại nhật kí Aya:

“Nếu như không có căn bệnh này thì tôi đã biết được tình yêu như thế nào rồi. Tôi chỉ muốn yêu và được yêu một ai đó. Tôi muốn có một ai đó để dựa vào. Chẳng lẽ tôi lại không có cả quyền tự do để yêu thương sao?”

Nếu như Asou-kun là có thật thì sao Aya phải viết như thế. Các nhà làm phim tạo ra Asou như một sự an ủi cho Aya. Nếu có thật thì đỡ khổ cho Aya nhiều hơn vì trước khi chết đã biết được cảm giác yêu một người là như thế nào. Nhưng tiếc rằng… đó chỉ là hư cấu. Tội nghiệp Aya quá. Trong phim, nghe cách hai người gọi tên nhau cũng đau lòng. Lúc đầu thì Asou gọi Aya là Ikeuchi còn Aya gọi Asou là Asou-kun. Gọi bằng họ thật khách sáo. Lúc sau, khi đã thân nhau rồi thì Asou gọi Aya là Aya nhưng Aya vẫn mặc cảm, vẫn gọi Asou là Asou-kun mà không dám gọi là Haruto. Thật đau lòng. Đến khi gần chết, cô vẫn cương quyết giữ khoảng cách như thế.

2

Không hề có Kawamoto-senpai. Chuyện này không biết là vui hay buồn. Theo cảm nhận cá nhân của tôi thì có lẽ sẽ đỡ đau lòng hơn cho Aya rất nhiều. Kawamoto là senpai kiểu gì kì cục quá. Lúc Aya bị ngã cứ trơ mắt ra mà nhìn. Đáng lẽ chỉ cần một cái ôm là xong chuyện. Đã vậy, hẹn người ta đi chơi mà sau khi biết người ta bị bệnh thì thất hứa.

3

Aya không hề giỏi bóng rổ. Điểm này trong phim cố tình sửa lại có lẽ là để khán giả cảm thấy bi đát hơn khi Aya bị bệnh. Aya vốn học rất yếu môn thể dục. Điểm thể dục trong lớp luôn bị tụt. Năm lớp 8 thì B, lớp 9 thì C và lớp 10 là D. Nhưng trong phim không đề cập đến điều này: Aya thích môn Anh Văn. Thực tế, vì không giỏi thể thao nên Aya rất chăm học và có tiếng là thông minh. Điểm môn Nhật ngữ và Anh văn bao giờ cũng đứng đầu lớp.

4

Aya thích đọc sách. Điểm này trong phim cũng không đề cập đến. Và Aya có ước mơ trở thành nhà văn. Nhưng tội nghiệp Aya quá khi phải thốt lên câu: “Con muốn làm nhà văn nhưng vốn kiến thức của con về xã hội ít quá thì làm sao con có thể viết một cuốn tiểu thuyết được hả mẹ?” Khi đọc đến đoạn ấy, tôi tự nhủ với lòng là vì tôi có sức khỏe nên sẽ cố gắng chăm chỉ tìm hiểu cuộc đời này, cố gắng để thực hiện ước mơ của tôi và của cả Aya nữa.

Sau đó, mẹ Aya mới bảo: “Con hãy nghĩ đến những công việc nào có thể làm ngay tại nhà được. Chẳng hạn như dịch thuật.” Càng đọc, tôi càng phát hiện nhiều điểm giống nhau giữa tôi và Aya. Do đó, phần nào tôi cảm thấy tội lỗi, trong khi Aya cầm bút còn khó khăn, tôi thì gõ máy lia lịa… thế mà cũng lười viết. Từ sau khi viết xong truyện dài gần đây nhất, tôi cảm thấy hơi nản một chút. Tôi đã nói với mọi người là sẽ gác bút để thi đại học, sau đó nếu thi đậu, tôi sẽ viết tiếp. Tôi đã nghĩ ra được thêm nhiều cốt truyện lắm rồi, có nhiều cảm hứng lắm rồi, nhưng lại lười. Một phần nữa cũng vì tôi cảm thấy còn phải đọc thêm nhiều sách để cải thiện trình độ viết văn và truyền tải tư tưởng đến người đọc. Nói chung, tôi nghĩ là mình cần phải học hỏi thêm nhiều nữa rồi hẵng viết. Bên cạnh đó, bây giờ tôi cũng muốn chuyển qua viết review phim, truyện để rèn luyện cách cảm nhận, cách nhập tâm vào cảm xúc cùng nhân vật. Có như vậy thì khi viết truyện chính thức tôi mới thấu hiểu được cảm xúc của nhân vật do tôi tạo ra chứ không chỉ đơn thuần là lớp vỏ bề ngoài. Sẵn đây, tôi cũng giải thích với mọi người luôn vì cũng có nhiều người hỏi tôi rằng: “Sao em siêng viết blog thế?” Thực ra, không phải là tôi thích blog hay thích viết blog. Tôi cũng không tâm niệm blog là để liên kết tâm tư mọi người lại với nhau. Chỉ đơn thuần là tôi xem blog giống như nơi lưu trữ lại những gì mình đã viết.

5

Không hề có buổi hoà nhạc chung với cả lớp, buổi Aya đi xem Hiroki đá bóng… rất nhiều thứ phim đã hư cấu thêm. Đọc nhật kí rồi mới thấy, phim dựng từ nhật kí như thế là quá hay. Tuy những tình tiết trong phim không có thực nhưng rất cảm động, rất hợp lí. Yêu các nhà làm phim của 1 Litre of Tears quá. Ở đây, hư cấu nhưng không bóp méo sự thật mà là để an ủi và tôn vinh sự thật.

6

Có một chi tiết rất quan trọng trong nhật kí nhưng các nhà làm phim đã không đưa vào. Lúc đọc nhật kí, tôi đã bàng hoàng. Đó là chi tiết Aya bị mất ba cái răng lớn ở đằng trước. Thử nghĩ xem, một cô gái khi đang băng qua đường, đập mặt trực tiếp xuống đất, máu chảy từ trên trán rất nhiều mà không bị gãy cái răng nào mới là chuyện lạ. Lúc phát hiện mình đã vĩnh viễn mất ba cái răng, Aya buồn vô cùng:

“Căn bệnh của tôi còn tệ hại hơn cả ung thư nữa.
Nó hủy hoại đi sắc đẹp tuổi trẻ của tôi.
Tôi muốn nhanh chóng quay trở lại là Aya trước kia. Tôi cất gương soi vẫn thường hay để trên bàn. Như vậy thì tôi sẽ không nhìn thấy tôi xấu xí của bây giờ nữa…”

Người con gái nào lại chẳng tự soi gương để chăm sóc vẻ đẹp của mình. Thế mà… Aya phải cất gương đi để trốn tránh sự thật khi cô mới 16 tuổi – cái tuổi còn quá trẻ mà thân thể đã như một “người già 50 tuổi” (theo lời Aya).

Trong phim, Aya không bị mất ba cái răng. Khi ngã xuống đất, Aya chỉ bị trầy trán. Khuôn mặt cô vẫn xinh tươi. Nếu trong phim làm thực tế hơn, khi nhìn thấy cảnh Aya mất ba cái răng có lẽ tôi sẽ khóc rất nhiều.

Hết.

Kodaki

Đọc bài viết

Trà chiều

Dịch bệnh là một phần tất yếu của lịch sử

Thế kỷ XXI vẫn còn đó nỗi lo về HIV, dịch tả hay những dịch cúm theo chu kỳ. Vũ Hán hôm nay là món quà tất yếu của sự phát triển mà chúng ta không thể tránh được.

Đăng từ

on

Người đăng

Dịch bệnh, nạn đói và chiến tranh đã từng là những kẻ thù đáng sợ nhất đe dọa tới cuộc sống con người. Ngày nay, khi mà toàn cầu hóa không chừa bất cứ một lỗ hổng nào cho sự khác biệt thì ngay đến nỗi sợ cũng trở nên đa phương hóa. Thế kỷ XXI chứng kiến sự lên ngôi của cô đơn và tự do, của tôichúng ta, của những nỗi sợ hiện hữu trong thế giới tinh thần. Dịch bệnh cùng nỗi đau xác thịt dần trở thành dĩ vãng, mang theo những hoài niệm cất giữ nơi viện bảo tàng, chỉ nhìn và không được sờ vào hiện vật. Cho tới khi ai đó vô tình làm dây giọt mực, rót vào bức tranh rồng đôi mắt của sự sống. Vũ Hán là bảo tàng như thế và coronavirus là con rồng như thế. Đó là bước chuyển quan trọng, song không phải độc nhất.

Vũ Hán chỉ là pha bẻ lái cuối cùng trong một truyện trinh thám đa tầng của tạo hóa. Ngay từ đầu sự thật đã luôn hiện hữu. Ngay từ đầu dịch bệnh đã luôn ở bên ta.

1. Có thể nói dịch bệnh là bạn đồng hành của nền văn minh.

Trong suốt mấy triệu năm lịch sử, hầu như loài người không phải đối mặt với dịch bệnh. Mọi thứ bắt đầu thay đổi kể từ khoảng sáu vạn năm trước, khi nhân loại mở rộng phạm vi phân bố của mình. Từ những thị tộc nhỏ vùng Đông Phi, con người tiến về phía các đồng bằng châu thổ trù phú ven các dòng sông lớn. Từ đây, hình thành các xã hội nông nghiệp dẫn đến bùng nổ dân số. Và cũng từ đây, những dịch bệnh đầu tiên đã xảy ra. Dịch bệnh được biết đến từ rất sớm, trong các sử thi của người Sumer ở Lưỡng Hà, trong kinh Vệ Đà ở Ấn Độ và đặc biệt là trên các văn tự giáp cốt ở Trung Quốc cổ đại khi dân cư mở rộng từ Hoàng Hà phía bắc xuống lưu vực sông Dương Tử phía nam. Không còn săn bắt, hái lượm, không còn đời sống du mục, cả nhân loại và bệnh tật đều đã tìm thấy miền đất hứa của mình. Dân cư đông đúc làm tăng khả năng lây nhiễm.

Ngày nay, nhìn lại từ Vũ Hán, không cần cách ly nếu chúng ta chẳng có thành phố nào, dịch bệnh không thể xảy ra nếu chỉ có vài người. Bên cạnh đó thì dòng chảy chậm, lưu thông kém của nước và không khí cùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh dịch phát triển. Ngược lại, sự chia cắt địa lý cũng như khí hậu Địa Trung Hải giúp cho các thành bang Hy Lạp ít chịu nạn dịch tự nhiên. Như vậy, từ thuở ban sơ, dịch bệnh đã theo bước chúng ta khắp các ngả rẽ của nền văn minh.

2. Xã hội nông nghiệp không chỉ làm tăng dân số, mà còn làm tăng số lượng vật nuôi.

Trước khi làm bạn với cây lúa, chó đã là bạn của con người. Mười ngàn năm trước là heo, rồi trâu, bò, gà, cừu… Đàn vật nuôi tăng lên nhanh chóng và đến lúc này, chúng bắt đầu chịu chung số phận như loài người. Trước dịch bệnh, người và vật bình đẳng đến không ngờ, thậm chí loài vật còn ưu thế hơn khi bệnh tật có thể lây sang cả thượng đế của chúng, tức con người. Sán dây đã có từ thời Ai Cập cổ đại, và mặc cho sự linh thiêng của các vị thần, các pharaoh vẫn nhiễm như thường nếu ăn phải thịt bệnh.

Ngày nay, không khó để bắt gặp người bị giun đũa từ chó hay thậm chí là kangaroo. Tuy nhiên, đó chỉ là những ca bệnh đơn lẻ trong khi dịch bệnh thực sự thường do những sinh vật nhỏ hơn gây ra, như vi khuẩn và đặc biệt là virus. Và không phải chó hay bò, gà mới là nhân vật chính ở đây. Cúm gà hay cúm gia cầm là một loại bệnh cúm do virus gây ra cho các loài gia cầm (hay chim), và có thể xâm nhiễm một số loài động vật có vú. Virus này được phát hiện lần đầu tiên là tại Ý vào đầu thập niên 1900 và giờ đây phát hiện ở hầu hết các nơi trên thế giới. Sự thay đổi kháng nguyên làm cho virus cúm trở nên khó đối phó hơn bao giờ hết ngay cả trong thế kỷ XXI. H5N1 và H1N1 trở thành các mối đe dọa toàn cầu khi khiến hàng trăm người tử vong trong thập niên đầu thế kỷ này. Và một khi gần 8 tỷ người vẫn sống nhờ vào ngành chăn nuôi và với hơn 25 tỷ con gà thì đại dịch là điều khó có thể tránh khỏi.

3. Hoạt động nông nghiệp không phải yếu tố duy nhất gây ra dịch bệnh.

Dù cho nguy hiểm, cúm gia cầm chỉ giết chết vài ngàn người, không nhiều hơn sét đánh hay rắn cắn. Trên thực tế, thương mại mới chính là nguồn cơn của các thảm họa. Quay trở lại Hy Lạp cổ đại, khí hậu và cách ly địa lý không giúp họ miễn nhiễm với dịch bệnh. Mối giao thương giữa các thành bang đưa đến nhiều mầm bệnh, và khi điều kiện thuận lợi xảy đến, dịch bệnh sẽ nở rộ mà chiến tranh Peloponnese là một sự kiện tiêu biểu. Theo nghĩa rộng, chiến tranh cũng là một quá trình thương mại nơi máu và sắt đổi lại vàng bạc châu báu kèm theo dịch bệnh như là thuế VAT. Khi những đội quân đồng minh mang theo mầm bệnh trên các chiến thuyền hội về Athens kết hợp với tình trạng thiếu thốn lương thực đã vô tình tạo cho Athens thêm một kẻ thù hùng mạnh: liên minh giữa nạn đói, chiến tranh và dịch bệnh. Không khó nhận ra chuyện này đã vượt khỏi thẩm quyền của Athena, để rồi cuối cùng nữ thần chiến thắng buộc phải đứng nhìn quân Sparta đánh bại đô thành của mình. Đây chỉ là một phần rất nhỏ trong bức tranh giao thương – dịch bệnh. Giao thương càng mở rộng thì dịch bệnh càng có cơ hội phô diễn bản tính khó lường. Gần hai ngàn năm sau chiến tranh Peloponnese, vào giữa thế kỷ XIV, châu Âu đã phải đón nhận một món hàng vô tiền khoáng hậu.

Khởi đầu từ việc lên đường tìm viện binh chống lại Hung Nô, những tuyến đường nhỏ nối Trung Quốc với phía Tây nhanh chóng được các thương nhân tận dụng tối đa và về sau trở thành tuyến giao thương huyết mạch của thế giới, với tên gọi con đường tơ lụa. Vào giữa thế kỷ 14, những con chuột bí ẩn theo dấu chân các nhà lữ hành vượt Địa Trung Hải, mang theo Cái chết Đen đến với châu Âu. Ngày nay chúng ta biết rằng đây là bệnh dịch hạch do vi khuẩn Yersinia pestis ký sinh trên bọ chét của các loài gặm nhấm gây ra.  Nhưng ở thế kỷ XIV, sự thiếu hiểu biết khoa học càng làm dịch bệnh trầm trọng. Và cũng phải thừa nhận rằng các điều kiện có sẵn như chiến tranh, nạn đói và thời tiết đã khiến đại dịch dịch hạch trở nên khủng khiếp hơn. Chỉ trong vòng vài năm, đại dịch lan ra khắp châu Âu và châu Á, giết chết hàng trăm triệu người và là một trong những lần hiếm hoi dân số thế giới sụt giảm. Thương mại không chỉ mang đến sự giàu có thịnh vượng cho con người, nó còn là kênh lây truyền dịch bệnh mạnh mẽ nhất. Ngày nay, không cần mất đến vài tháng trời băng qua sa mạc hay biển lớn như những con chuột đồng nghiệp xưa kia, chỉ cần một chuyến bay là quá đủ để virus xuất hiện tận bên kia bán cầu.

4. Dẫu sao Cái chết Đen cũng chỉ gói gọn trong các cựu lục địa, các loài động vật không đủ sức để mang bệnh dịch vượt đại dương.

Các loài động vật không đủ nguy hiểm bằng con người. Thế kỷ XVI chứng kiến sự bùng nổ của các phát kiến địa lý, và sau hàng ngàn năm cách biệt, các dân tộc bản địa đứng trước nguy cơ bị tuyệt diệt. Người da trắng bấy giờ như những con chuột vài thế kỷ trước và virus vài thế kỷ sau, đem theo mầm bệnh lan truyền khắp thế giới. Họ trở thành vật chủ trung gian lây truyền bệnh dịch từ châu Phi sang châu Mỹ, từ châu Âu sang châu Úc, đưa bệnh tật, cùng với nô dịch và bất công trở nên toàn cầu hóa. Nhờ đó, mà ngoài cần sa và ớt, tơ tằm và kim khí, giờ đây thế giới được hưởng chung ánh sáng chói lòa của giang mai và thổ tả.

5. Nhưng không phải chỉ lịch sử mới tác động đến dịch bệnh mà ở chiều ngược lại, dịch bệnh cũng làm xoay chuyển bánh xe lịch sử.

Sự tàn phá khủng khiếp của Cái chết Đen làm lung lay cả thánh thần, là tiền đề cho những cải cách tôn giáo của phái Tin lành sau này. Dịch bệnh cũng làm thay đổi trong thiết kế nhà cửa, và những phần mái được thay thế bằng ngói tranh cho chuột trú ẩn vẫn tồn tại đến bây giờ. Dịch bệnh hủy hoại nặng nề kinh tế nông nghiệp và nâng cao vị thế công nhân trước khi Karl Marx tuyên bố điều đó hàng trăm năm. Đối với người Hán, dịch bệnh là cơ hội để đánh đuổi những kẻ xâm lăng Mông Cổ ra khỏi đất nước còn với người Do Thái, họ phải sống trong cơn ác mộng bài xích tệ hại nhất. Đầu thế kỷ 20, cúm Tây Ban Nha thậm chí còn làm kết thúc sớm Thế chiến thứ nhất mặc cho số người chết vì nó tương đương với Thế chiến thứ hai và Nạn đói lớn ở Trung Quốc.

Tuy nhiên, trong phần lớn trường hợp, dịch bệnh hóa ra lại là động lực mạnh nhất giúp cho y tế phát triển. Nhờ có đậu mùa, chủng ngừa và vắc-xin ra đời và nhờ có chủng ngừa và vắc-xin, bệnh đậu mùa đã biến mất vĩnh viễn. Thế kỷ XX đánh dấu bước ngoặc của y học khi lần đầu tổng hợp thành công kháng sinh. Từ đây, mở ra cuộc chạy đua trường kỳ của vi khuẩn và kháng sinh mà chúng ta có phần lép vế. Ngày nay, cùng với chiến tranh hạt nhân, tình trạng kháng kháng sinh là một trong những điều quyết định vận mệnh chúng ta.

6. Dịch bệnh vẫn sẽ luôn tồn tại cho đến khi nào con người còn tồn tại.

Thế kỷ XXI vẫn còn đó nỗi lo về HIV, dịch tả hay những dịch cúm theo chu kỳ. Vũ Hán hôm nay là món quà tất yếu của sự phát triển mà chúng ta không thể tránh được. Chúng ta học cách chấp nhận, chúng ta học cách chống lại. Tất cả những điều chúng ta làm đều trở thành lịch sử. Dịch bệnh là một phần tất yếu của lịch sử.

Hết.

3V

Ảnh đầu bài: Minh họa The Divine Comedy (Dante) của Gustave Dore.

Xem tất cả những bài viết của 3V tại đây.


Bài viết có thể bạn sẽ thích



Đọc bài viết

Trà chiều

Từ Sách đến Phim: Rừng Na Uy (2010)

Đăng từ

on

Người đăng

Nếu như mọi thứ trong cuộc sống này vụt khỏi tầm với quá nhanh thì người ta phải làm như thế nào?

Đặc biệt là khi những thứ ấy có tiến trình lướt qua chúng ta một cách chậm chạp. Chỉ khi đến điểm cuối cùng của giai đoạn biến mất chúng mới thật đột ngột.

Làm sao để nhận biết bước ngoặt?
Làm sao để giữ lại…
Hay là cứ để tất cả biến mất?

Sự biến mất thuộc về lẽ tự nhiên hay là vì ta đã không biết cách giữ nó lại?

She told me she worked in the morning and started to laugh
I told her I didn’t and crawled off to sleep in the bath
And when I awoke I was alone this bird had flown

Sự biến mất của một người trong cuộc đời ai đó lẽ nào lại có thể đơn giản như thế?

Đơn giản là thế nhưng…

Khi nghĩ về phim Norwegian Wood, điểm khác biệt với tiểu thuyết mà người ta dễ nhận ra nhất là hướng thời gian câu chuyện diễn ra. Phim bắt đầu bằng ngay thời điểm thực tại chứ không phải là sau đó nhiều năm để có điểm lùi cho nhân vật Toru hồi tưởng. Tuy nhiên, với tôi, dù bắt đầu câu chuyện một cách trực diện, kể bằng thời gian tuyến tính, Trần Anh Hùng vẫn cho tôi có cảm giác đây là câu chuyện đang diễn ra trong tâm tưởng. Lí do là vì những cảnh đầu tiên của phim, khi Kizuki, Naoko, Toru bên nhau, rất nhiều hình ảnh lướt qua nhanh và trong những hình ảnh ấy không có thoại, chỉ có tiếng độc thoại nội tâm của Toru. Làm như thế rất dễ cho người ta có cảm giác đây là sự hồi tưởng của Toru. Nhưng đạo diễn đã dùng góc quay rất khéo để lái người xem sang một cảm giác khác. Ở những hình ảnh khi ba người bên nhau, bao giờ Toru cũng cách Naoko và Kizuki một khoảng nhất định. Đặc biệt có góc máy bắt đầu xuất hiện với hình ảnh Naoko, Kizuki đứng dưới một tán cây. Góc máy đứng ở đó một vài giây khá lâu khiến tôi lầm tưởng chỉ có Naoko và Kizuki ở khung cảnh này. Nhưng rồi sau đó, máy nhẹ nhàng pan qua bên trái một chút và ta thấy Toru. Tiếng độc thoại nội tâm của Toru vẫn luôn vang lên từ lúc bắt đầu khung hình cho đến khi xuất hiện động tác máy đó. Cảm giác này rất khác với hồi tưởng. Nó cho tôi cảm giác Toru vừa chăm chú quan sát hai người bạn của mình nhưng đồng thời vẫn luôn tự tách mình ra với những dòng suy nghĩ miên man. Chỉ vài góc quay và thủ pháp V.O đơn giản thôi nhưng nó giúp ta nhanh chóng cảm nhận được sự cô đơn của Toru. Thế giới của Naoko và Kizuki dường như luôn lẩn khuất một điều gì đó mà anh không thể thâm nhập vào được.

Những cảnh khi ba người bên nhau không có thoại mãi cho đến khi cảnh Toru và Kizuki chơi bida với nhau mới xuất hiện thoại. Nhưng thêm một điều nữa ở đây lại khiến tôi lưu tâm là: hai người chơi bida nhưng đạo diễn không hề quay xuống cái bàn bida. Thông thường thì người ta cũng ít nhất quay một, hai lần góc cận cảnh cái bàn với những viên bi đang lăn. Nói một cách khái quát là quay như thế nào đó để người xem hình dung được diễn tiến của ván bida. Tôi nghĩ điều này cũng cần thiết vì đây là hôm cuối cùng Toru gặp Kizuki. Trong truyện Haruki đã miêu tả những ám ảnh của Toru về lần gặp định mệnh với người bạn thân này một cách kĩ càng. Vậy mà Trần Anh Hùng cũng chỉ lướt qua trận đấu đó một cách nhẹ nhàng. Giống như thể đó chỉ là một ngày bình thường. Nhịp sống trôi đi như nó vốn dĩ. Cảnh Kizuki tự sát cũng vậy. Một cú máy dài từ ống dẫn khí màu đỏ nằm ở dưới sàn nhà lên đến bên trong chiếc xe. Sau đó máy đổi góc và cố định góc nằm ở ngoài chiếc xe một khoảng thời gian dài. Kizuki bật máy khởi động xe, khói từ từ bốc lên. Anh nhào từ băng ghế đằng trước ra băng ghế đằng sau. Đến lúc này máy mới đổi quay một góc trung cận khuôn mặt của Kizuki. Ba góc quay duy nhất cho một cảnh như thế. Và trong suốt chiều dài của bộ phim, Trần Anh Hùng vẫn trung thành với phong cách của mình từ trước: ít đổi góc máy, ông chọn thật kĩ lưỡng một góc và giữ nó cố định. Cái hay của ông là tuy ít đổi góc nhưng không làm cho người xem cảm thấy chán nản. Vì những góc máy mà Trần Anh Hùng chọn đều đem lại cho người ta một suy nghĩ nào đó. Tôi vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa trong cái chi tiết ông cho Kizuki chết ở băng ghế sau xe. Tại sao phải có nó? Tại sao anh không ngồi nguyên ở vị trí ngay sau vô lăng của xe và chết? Góc quay phần nào gợi mở giúp tôi một chút cảm giác mơ hồ. Ba góc máy trong cảnh đó đều là ở ngoài khung kính của xe, không có góc nào là máy quay ở ngay trong xe cả. Nó giống như sự tách biệt của Kizuki với thế giới bên ngoài vậy. Hình ảnh chiếc vô lăng và vị trí ngồi ngay sau đó cho người ta có cảm giác người đó làm chủ được cuộc sống của mình, có thể dẫn dắt nó đi theo hướng mà mình muốn. Tôi có cảm giác như ngay từ đầu khi tự sát, Kizuki cũng không có ý niệm là phải ngồi chết đằng sau xe. Hành động đó giống như đến một cách vô thức với anh khi đang trong quá trình kết liễu sự sống của mình. Vị trí ở sau xe có gì đó thật thụ động và mệt mỏi. Vì người ngồi đằng sau đã bỏ đi tất cả, mặc cho người phía trước/cuộc đời chở/đưa đẩy mình đến đâu cũng được. Ở đoạn đối thoại lần cuối cùng giữa Hatsumi và Toru cũng diễn ra ở băng ghế sau của chiếc xe hơi. Chiếc xe cứ chạy chầm chậm và ta cũng không thấy có người lái. Có một điều gì đó tương đồng ở đây. Nhất là khi Hatsumi mệt mỏi ngả đầu vào ghế và nhắm mắt lại. Đó cũng là cách mà Kizuki đã buông xuôi tất cả. Góc máy dừng lại ở vị trí ngay cổ của cô rất lâu khiến người xem cảm thấy khó hiểu một chút. Nhưng rồi cảm giác đó chuyển thành nỗi bất an khi người ta nghe lời kể của Toru rằng sau này cô cũng tự sát.

Bên cạnh những cú long-take, cho máy trượt dài theo chuyển động nhân vật vốn thường thấy trong phim của Trần Anh Hùng, ở Norwegian Wood còn có những khuôn hình tĩnh, tuy trôi qua đơn giản như nhịp sống bình dị nhưng nó luôn ẩn chứa một chi tiết nào đó. Chi tiết ấy tuy nhỏ, xuất hiện thoáng qua rất nhanh trên khuôn hình như hình ảnh con nhện giăng tơ sau khi Kizuki mất, hình ảnh những đóa xương rồng… nhưng nó có một sự sống. Sự sống ấy nằm khuất sâu bên trong chờ đợi ta hé mở.

Mark Lee Ping Bin và những chuyến đi

Trong In the Mood for Love của đạo diễn Vương Gia Vệ, tôi rất thích những góc quay hẹp và dolly theo nhân vật của Lee Ping Bin. Ở Norwegian Wood, những góc quay tương tự như thế lại xuất hiện.

Tôi thích cách ông quay cảnh đi bộ giữa Toru và Naoko, giữa Toru và Midori. Ở cảnh quay đi bộ giữa Toru và Naoko, máy chạy song song rất nhanh với hai người và thường xuyên lẩn khuất trong những tán lá cây xanh. Có những khoảnh khắc chẳng thấy Toru và Naoko đâu, chỉ có màu xanh biếc của cây. Thế rồi hai người lại bất chợt hiện ra khi hết một khoảng màu xanh nào đó. Máy quay chao rất mềm mại ở đoạn hai người từ những bụi cây đi qua một cây cầu bắc ngang, để cuối cùng từ hướng nhìn nghiêng, máy chuyển sang quay sau lưng Naoko góc hơi cao hơn khuôn mặt cô một chút và máy quay chếch xuống. Naoko ngỡ ngàng: “Đây là ở đâu?”. Tôi thật sự thích sự di chuyển của máy quay ở phân đoạn đó, nó khiến người ta cũng rơi vào tâm trạng hoang mang giống như Naoko. Cứ bước đi mà chẳng có một chút ý niệm rằng mình đang ở đâu, mình đang đi và sẽ đi đến đâu.

Toru và Midori cũng đi dạo trong công viên có những cây xanh nhưng cách quay lại khác. Máy không quay hai người theo hướng nhìn nghiêng mà quay ở phía trước. Như thế thì có cả một khoảng không gian thoáng đãng. Và lúc hai người đi cũng chẳng có những cây xanh khuất mặt.

Ngoài ra, tôi còn thích những động tác máy khác trong phim như cảnh Toru nhận được thư của Naoko và chạy trên chiếc cầu thang của kí túc xá, máy quay đảo nhiều vòng khiến người xem như được hòa vào niềm hạnh phúc của Toru; cảnh Midori gọi điện thoại cho Toru để thông báo rằng cha cô đã mất, máy quay một bên nửa khuôn mặt của cô, dường như muốn di chuyển sang nửa bên kia nhưng cuối cùng lại như… sợ và vẫn chỉ dừng lại ở nửa khuôn mặt đó. Cách quay trong Norwegian Wood có lẽ nào là một sự ẩn giấu chăng? Những cảnh người ta cần thấy góc trung và toàn để hình dung sự việc thì lại chỉ có cận (như những cảnh làm tình trong phim và một số cảnh khác), những cảnh người ta cần thấy góc cận thì lại chỉ có trung, toàn và viễn. Tôi nhớ mãi cảnh quay một buổi sáng Naoko và Toru đi dạo trong rừng. Naoko bắt đầu kể trong cái giá lạnh của bầu trời xám xanh về chuyện giữa cô và Kizuki. Rồi cô bật khóc và chạy. Toru đứng run cầm cập một đôi giây rồi vội đuổi theo cô. Tôi cứ những tưởng rằng ở đoạn ấy, sẽ là góc quay trung hay cận bám theo Toru hay Naoko. Nhưng không. Máy cứ đứng im ở đó, từ ngay vị trí mà Toru đã đứng trước khi đuổi theo Naoko. Thật lạ là chỉ một góc quay đơn giản như vậy, chỉ một việc là giữ nguyên vị trí máy như lúc đầu, để cho hai con người ấy dần dần tiến xa ra khỏi màn hình, từ góc trung thành toàn như thế, vậy mà lại khiến tôi xúc động. Tôi nhận ra cách làm này mang lại hiệu quả tốt hơn so với những góc máy mà tôi hình dung lẽ ra phải có trong đầu. Nó đã biến góc nhìn của máy quay, của một nhân vật khách quan nào đó nhìn câu chuyện cũng có cảm xúc. Cứ như thể là cả máy quay cũng sợ chạm vào những nỗi đau khuất sâu trong tâm hồn họ và nó chỉ dám đứng lặng lẽ từ xa quan sát. Đâu phải chỉ có cận cảnh rõ ràng mới cho người ta thấy được cảm xúc của nhân vật. Qua cái cách mà máy quay quan sát nhân vật rất người như thế cũng đã đủ truyền tải cảm xúc đến khán giả rồi. Tôi thật thích cách giải quyết trong tình huống này của Trần Anh Hùng hay Lee Ping Bin (tôi không biết ai trong hai người chọn giải pháp này). Không cần cận cảnh vì trung cảnh trước đó thu lại nét mặt hoang mang, giọng nói run rẩy của Naoko đã là quá đủ. Nếu lại dùng cận cảnh để tiếp tục quan sát nỗi đau ấy chẳng phải là quá tàn nhẫn hay sao?

Giọng nói của Naoko…

Naoko là một vai diễn khó vì những mâu thuẫn nội tại trong suy nghĩ của cô. Tuy nhiên, Rinko đã hoàn thành xuất sắc vai diễn này. Tôi cho rằng điểm thành công lớn nhất là nằm ở giọng nói. Rinko diễn xuất tuyệt vời đến nỗi cả giọng nói, cách nói, cách lấy hơi thở để nói, cách ngắt câu…cũng mang cả sự sống của Naoko. Chính giọng nói đã bộc lộ ra rất nhiều sự hoang mang trong tâm thức của Naoko, nỗi sợ hãi trước thế giới con người ngoài kia. Giọng cô lúc nào cũng nhỏ nhẹ, ngắt quãng, mang hơi thở nhiều hơn là âm tiết của câu chữ phát ra. Tôi đặc biệt thích diễn xuất của Rinko ở phân đoạn ngày sinh nhật của Naoko. Trong tác phẩm của Haruki, đó là một hôm mà chính Toru cũng bất ngờ vì sự mở lòng đột ngột của Naoko. Cũng không hẳn là cô có ý định mở lòng, chỉ là đột nhiên cô nói rất nhiều và không còn tự chủ được những gì mình nói nữa. Cô nói liên tục trong nhiều giờ đồng hồ liền và những câu chuyện dường như không có mối liên hệ với nhau. Trong phim đương nhiên không thể có nhiều thời gian để diễn tả trạng thái đó của cô nhưng qua cách diễn xuất và giọng nói của Rinko, dù chỉ là một vài phút, người ta vẫn hiểu và có cảm giác dường như Naoko đã nói rất nhiều trước đó đến mức mệt mỏi và bật khóc như thế kia.

Khi giọng nói trong bức thư mà Naoko gửi cho Toru vang lên tôi cảm thấy thật buồn…vì cách mà cô nói chuyện với Toru. Đã quen biết nhau ngần ấy năm trời, cô đã biết rằng Toru rất yêu thương mình, bản thân cô cũng có tình cảm với anh vậy mà cô vẫn dùng kính ngữ. Lúc nào cũng “masu”, “desu”, “kudasai”. Tại sao lại phải như thế? Tôi nhớ có đọc trong một tác phẩm nào đó, nam nhân vật chính đã hạnh phúc như thế nào khi ngày ngày, qua những cuộc điện thoại, trò chuyện, nữ nhân vật chính từ từ bỏ đi bớt kính ngữ. Điều này giống như một cách gián tiếp cô ấy cho anh ta biết rằng cô đang để anh từ từ đi vào trái tim mình. Nhưng Naoko thì không như thế. Hình như chỉ đến những giây phút cuối cùng, khi bày tỏ với Toru mong muốn rằng anh hãy luôn nhớ cô đã từng tồn tại, Naoko mới không dùng kính ngữ nữa.


Biểu cảm trong đôi mắt cũng là một thành công trong diễn xuất của Rinko. Khi Toru lần đầu tiên đến nhà nghỉ dưỡng Ami để thăm Naoko, ở góc quay cận cảnh khuôn mặt Naoko thì thầm vào tai của Toru, mắt cô lúc ấy đã chớp thật đặc biệt. Nó như theo một chu trình vòng tròn khép kín, mơ hồ, xa vắng. Khi đọc Norwegian Wood, lúc Naoko chết, tôi chỉ thấy buồn và đau nhưng không ngạc nhiên vì tôi đã nhận thức được từ trước đó rằng đây là điều tất yếu. Vậy mà khi xem phim, tôi lại không khỏi ngỡ ngàng. Có lẽ cũng chỉ vì ánh mắt của Naoko nhìn theo bóng dáng Toru dần khuất xa trong tuyết trắng ấy buồn tha thiết quá. Ánh mắt đó làm tôi nghĩ rằng cô vẫn chưa cảm thấy cuộc sống của mình đủ đầy, vẫn mong mình sẽ tiếp tục sống. Dù trước đó, bằng lí trí, tôi đã tự đặt ra cho mình vài câu trả lời về cái chết của Naoko, thế nhưng khi thấy đôi chân trần ấy lơ lửng trong tuyết, tôi vẫn không thể tránh khỏi việc tự vấn bản thân mình quắt quay rằng: “Tại sao Naoko phải chết?” Như Toru đã nói: “Không một lời an ủi nào, không một lòng nhân từ, sự dịu dàng nào có thể xoa diệu nỗi đau khi mất đi người mình yêu thương. Chúng ta chỉ còn có thể cố gắng học được một điều gì từ sự mất mát đó. Nhưng mọi bài học cũng đều là vô nghĩa rồi…”

Những thanh âm trầm mặc

Trái với dự đoán của phần lớn mọi người, Trần Anh Hùng không sử dụng nhiều bản nhạc của The Beatles như trong tác phẩm của Haruki đã đưa ra. Ông chỉ giữ lại mỗi bản nhạc chính là tên của tác phẩm: Norwegian Wood, còn lại ông hoàn toàn sử dụng nhạc mới do Johnny Greenwood sáng tác. Và cuối cùng, âm nhạc cũng là một trong những thành công của bộ phim.

Những bản nhạc xuất hiện trong phim luôn với âm lượng nhỏ, lúc ẩn lúc hiện. Có những lúc cách chúng bắt đầu hay kết thúc thật đột ngột. Toàn bộ giai điệu các bản nhạc mang lại cảm giác chung là sự trầm mặc, tuy vậy thi thoảng có những nốt bất chợt vút cao lên đến nhói lòng. Trong đó bản Naoko ga shinda, sử dụng ở đoạn Toru đứng trước biển lớn khi Naoko vừa mới mất thật đặc biệt. Tự bản thân nó đã tràn ngập trong đó sóng biển vỗ trắng xóa, gió gào thét và cả nỗi đau đớn của Toru trước khi hình ảnh làm nhiệm vụ diễn tả lại những chi tiết ấy.

Trong phim còn sử dụng hai bản nhạc vào khoảng thập niên 70 của nhóm nhạc Can ở Đức: Mary, Mary, So Contrary; Bring Me Coffee or Tea. Nhiều đoạn trong hai bản nhạc được cấu thành bởi sự lặp lại tiết tấu giai điệu. Nhưng nó không hề nhàm chán mà đem lại cho người ta cảm giác bí ẩn vì sâu trong sự lặp lại đó là những chuyển điệu luôn sẵn sàng làm người nghe giật mình (nếu như có bị ru ngủ trước đó vì giai điệu quẩn quanh lặp lại).

Phim kết thúc khi bản nhạc quen thuộc của The Beatles vang lên:

I once had a girl or should I say she once had me
She showed me her room isn’t it good Norwegian wood

Có lẽ sự mất mát đôi khi thật đơn giản. Và cách để kể lại câu chuyện về chúng cũng như thế. Không cần cầu kì, phức tạp. Chỉ đơn giản thôi, nhẹ nhàng như hơi thở cuộc sống nhưng… cũng đã đủ để khiến người ta đau…

Với tôi, Trần Anh Hùng đã thành công trong việc kể lại Norwegian wood của Haruki. Không, nó không còn là của riêng Haruki nữa. Nó đã trở thành câu chuyện của ông theo như cách mà Haruki đã nhắn nhủ: “Hãy cứ làm một bộ phim của Hùng!”

Hết.

Kodaki

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!