Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Nghịch lý trong việc thi văn và đọc văn bản văn học của chúng ta

Nhân dịp đọc đáp án thi Tốt nghiệp Văn 2019, mình nhớ lại mùa thi tốt nghiệp THPT năm 2006. Thi xong môn Ngữ văn, mình và đám bạn thở phào coi như trút bỏ được nỗi “phiền phức” đã đeo bám suốt mấy năm Phổ thông. Ra khỏi phòng thi, bạn bè hỏi làm bài thế nào, mình chỉ nói rằng câu nghị luận mình viết được mười chín dòng, sau đó nhảy lên xe đạp đi về.

Đăng từ

on

Nghịch lý là ở chỗ, mình rất yêu văn chương và nhận được sự giáo dục của Ông già từ sớm. Ông già mình mặc dù là một nhà vật lý (thế hệ Liên Xô) nhưng ông rất coi trọng việc học văn. Để lấy ví dụ thì vào năm lớp 9, ông đã biên tập cuốn truyện Nắng ban mai – tác phẩm đầu tay của Phạm Tiến Duật (khi đó học lớp 12 – bạn thân của ông Bác mình). Ông già có phương pháp rất cơ bản, ông chỉ hướng mình tới hai việc: một là “thấy sao viết vậy, nghĩ sao viết vậy, viết sao nghĩ vậy, viết sao nói vậy” và thứ hai là “phải đọc thật nhiều và đọc đi đọc lại văn bản văn học”.

Năm bảy tuổi mình đọc truyện rất hăng, vì mới biết đọc nên rất khoái, đọc lấy đọc để. Ông già đưa ngay cho cuốn Thời thơ ấu của Maxim Gorky. Ở tuổi lên bảy thì đây có thể coi là một tác phẩm khó đọc. Đặt cạnh những Dế Mèn phiêu lưu ký hay Cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer thì nó là truyện đòi hỏi kĩ năng đọc cao hơn. Mình đọc chậm chậm, vừa đọc vừa phải kể lại cho Ông già nghe, chỗ nào kể chưa phù hợp, chưa đúng thì ông chỉnh sửa lại. Hai bố con đọc ròng rã một truyện như vậy suốt một mùa hè.

Ấn tượng thời nhỏ của mình về Thời thơ ấu là hình ảnh A-Lếch-Xây đứng cạnh một cái cây khẳng khiu khắc khổ, Bà ngoại hiền hậu, mảnh sân sau tù đọng đầy những kẻ nát rượu, nóc lò sưởi cũ, Ông ngoại khó tính và người Mẹ bất hạnh xuất hiện loáng thoáng như để làm trọn vẹn thêm sự cô đơn của đứa con. Đọc xong chỉ biết có thế, đến năm chín tuổi lại đọc lại một lần nữa, hiểu hơn một chút, mười hai tuổi lại đọc, lại hiểu hơn một chút, cứ thế cho đến tận bây giờ. Từ một cậu bé đọc văn bản văn học, dần dần mình đã bắt đầu đọc nó với thái độ đọc một văn bản có giá trị phê bình văn học (theo cái cách mà Ông già thường nhấn mạnh ở tác phẩm này).

Và đó là sự tiếp nhận văn bản mà mình áp dụng từ nhỏ. Đến năm 25 tuổi, khi vợ chồng anh trai mình sinh cháu thì cũng là lần đầu tiên mình xúc động rơi nước mắt trong một chương của Thời thơ ấu – dưới ảnh hưởng từ những cảm xúc riêng tư đến từ đứa cháu bé bỏng. Ở thời điểm ấy, với vốn sống, sự quan sát, khả năng mô hình hóa cùng sự liên tưởng đã làm việc “đọc” của mình đối với văn bản đó có thể gọi là “đạt”. Và như thế thì một văn bản văn học trở thành một tác phẩm văn học.

Có tồn tại một khoảng đệm giữa hai khái niệm nói trên. Quá trình ấy được gọi là “tiếp nhận”. Giá trị duy nhất của lý thuyết tiếp nhận là lý thuyết này đề cao thành tố bạn đọc khi cho rằng văn bản văn học chỉ trở thành tác phẩm văn học khi đã có sự “đọc”. Quá trình này chỉ diễn ra khi người thầy không được phép “đọc hộ” học trò. Tuy nhiên đây lại là thứ diễn ra một cách hiển nhiên trong cách dạy học văn ở Việt Nam.

Nghịch lý là ở chỗ đó.

Thầy “đọc hộ” trò, trò chưa biết gì thì thầy đã nhồi nhét một hằng hà sa số các ý kiến nhận định, gán ghép cho văn bản một loạt những “giá trị” văn học mà thậm chí chính người dạy đôi khi còn hoài nghi về nó. Tất nhiên, giáo dục văn chương ở tuổi thiếu niên cần hướng tới các văn bản có tính “trường quy” (hướng tới lứa tuổi cụ thể với trình độ, nhận thức ở lứa tuổi đó), thế nhưng nhiệm vụ của người thầy có lẽ nên đẩy mạnh ở việc hướng dẫn và gợi ra các vấn đề khái quát cho học sinh. Điều này phải dựa trên nền tảng lý luận của người dạy thì bài giảng mới hay. Lý luận văn học thì có liên quan đến văn bản, cốt truyện, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, thể loại văn học, quá trình văn học và phong cách văn học, cấu trúc, hình tượng, luật thơ… Tất nhiên, có lẽ chỉ có một số lượng rất ít giáo viên THPT nắm vững các vấn đề này vì nó đòi hỏi kiến thức liên ngành (ngành dọc và ngành ngang).

Cũng phải thẳng thắn nhìn nhận sự thật là nhiều giáo viên văn đọc sách không nhiều và ít cập nhật. “Đọc” ở đây không phải chỉ là đọc những kiến thức chuyên môn phục vụ cho việc giảng dạy một chuyên ngành, một cấp, một bài… mà đọc mọi lĩnh vực, thậm chí cả lĩnh vực khoa học tự nhiên. Có tri thức đa ngành như vậy, khi giảng dạy mới có thể tích hợp một cách tự nhiên vào giờ dạy. Dạy văn thì phải tích hợp và rất cần “tích hợp dọc”, nghĩa là liên hệ các vấn đề văn chương với triết học, lịch sử, nghệ thuật. Giáo viên văn của chúng ta, nhiều thầy cô cả đời chỉ đọc một hai tác phẩm luận và chỉ biết đúng một vài vấn đề nghệ thuật trong nội dung giảng dạy. Vượt ra các tác giả hay phong trào văn học, nghệ thuật của những nền văn hóa bề thế như văn học Anh hay văn học Đức thì có thể nói là thầy thường kém cả trò (trong tính đa dạng). Trên cái nền đơn sơ đó, thẩm mĩ văn chương của người dạy không đủ để thuyết phục người nghe và rồi ở cái cương vị giáo viên thiếu chiều sâu thì hẳn sẽ dẫn tới giáo điều.

Ba năm cấp ba mình đã được chứng kiến điều này đủ nhiều để hiểu rằng nó gây ra những tổn thương lớn ra sao đến người đi học.

Nghịch lý là ở cả thầy và trò.

Văn chương thì đẹp đẽ nhưng học sinh Việt Nam sẽ hò reo nếu môn này được loại ra khỏi danh sách môn thi bởi vì các em không được dạy tiếp nhận văn bản. Quá trình tiếp nhận văn học là rất quan trọng, phải có thảo luận, phải có đặt vấn đề và phải tự do. Bởi vì từng cá nhân có trải nghiệm, vốn sống, cá tính khác nhau nên cách tiếp cận văn bản sẽ có khác nhau. Giả sử khi học Truyện Kiều, có thể khẳng định tất cả các giáo viên văn ở ta đều là bậc thầy về “ca ngợi” Truyện Kiều, bởi vì phần lớn họ chỉ làm đúng một cái việc như vậy trong đời. Tác phẩm có thể rất hay, thế nhưng cứ bám riết vào nó thì người thầy không tránh khỏi việc “khua môi múa mép”. Thời mình đi học, có lần phát biểu thấy rằng Truyện Kiều nội dung quanh quẩn, một đôi nam nữ đêm hôm trèo tường trổ ngõ yêu đương, về phong hóa đạo đức phong kiến có thể coi là việc làm bất chính, vậy sao có thể đem ra răn dạy người đời sau. Để đáp lại, cô giáo chỉ nói rằng phát biểu ấy rất linh tinh và thảo luận dừng lại luôn (!). Đó chính là cái thiếu sót của người giáo viên khi không nhận ra rằng học sinh được phép tiếp nhận văn bản theo hướng có logic – mà ý kiến ở trên đã đạt được một mức độ cụ thể.

Thế nên, học sinh học văn của ta, phần lớn là những em chuyên về “ngợi ca”, “Vẽ phấn bôi son, tô toàn màu đỏ; La liệt đầy đường hoa nở, chim kêu”, chứ các em đó còn ở rất xa với cái gọi là “có ý kiến” về văn học. Có rất nhiều em tán “Kiều” tới bến nhưng lại chưa từng đọc hết toàn bộ văn bản này. Một số khác thì thờ phụng Tố Hữu dù có thể các em mới đọc được độ vài ba bài thơ của ông. Và ngoài các văn bản trong sách ra thì gần như các em không đọc thêm bất cứ thứ gì khác.

Nghịch lý cũng là ở chỗ đó.

Năm mình mười lăm tuổi, sau khi mình trình bày các lý do để không cổ súy cho thơ Tố Hữu xong, Ông già mình đưa luôn cho tập thơ Việt Bắc và bảo rằng mình cần thận trọng hơn bởi vì các ý kiển ấy chỉ mới dựa trên vài ba bài thơ thì còn phiến diện lắm. Mình thừa nhận, rồi mình đọc hết ba tập: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng. Đọc xong thì mình tin ở cái nhận định rằng đem so cả tập Việt Bắc của Tố Hữu cũng không bằng một bài Cha tôi của Lê Đạt. Truyện Kiều cũng thế, có lẽ mình là học sinh duy nhất trong lớp đã đọc hết văn bản này từ đầu đến cuối. Sau quá trình “đọc” rất nghiêm túc thì Ông già tôn trọng các ý kiến của mình vì ông thấy rằng mình có lý trong việc “yêu”, “ghét” cụ thể.

Tuy vậy, điều này khó lòng xảy ra trong nhà trường của chúng ta, nơi mà học sinh được rèn để “tán” một câu cho hay, “nịnh” một lối cho lạ. Quá trình này tạo ra những học sinh hoàn toàn không có “ý kiến” gì cụ thể – các em chỉ chăm chăm xem thầy cô ngả theo bên nào thì các em ngả theo bên đó và cạnh tranh nhau ở cái sự khéo léo mà thôi. Khi ra đời, các em cũng sống như vậy, trở thành những kẻ thiếu chính kiến. Điều này trái ngược với những nền giáo dục tiên tiến khi mà học sinh phải chú trọng việc đặt ra vấn đề của chính mình sau quá trình đọc văn bản. Phương pháp đọc hiểu giúp học sinh trở nên thành thạo trong việc viết luận. Bài luận của trẻ con phương Tây thì được đánh giá dựa trên độ sâu, sự mới mẻ và đa dạng trong cách tiếp cận vấn đề. Nó không phải là chuyện vặn vẹo, lý sự trong cách nghĩ – mà chỉ đơn giản là đòi hỏi người đọc cần phải đọc nhiều, đọc rộng và phải có ý kiến riêng. Đôi khi có dịp hướng dẫn sinh viên nước ngoài hệ đại học thảo luận mình cũng vẫn áp dụng cách này và mình thường phải tự đọc thêm rất nhiều vì sinh viên châu Âu có vốn hiểu biết xã hội rất đa dạng.

Học sinh Việt Nam có thể viết được những bài văn dài, muồi mẫn, theo một dàn ý phức tạp và áp dụng nhiều kĩ thuật viết lách. Thế nhưng bao trùm lên chúng, người chấm bài khó đánh giá được cá tính hay phẩm chất chất của người viết. Bởi vì về cơ bản thì những điều mà học trò viết ra, phần lớn chứa đựng sự dối trá ở các mức độ khác nhau. Như mười ba năm trước, khi mình làm bài thi, thì đó là mười tám dòng dối trá, có nhiều bạn khác thì là ba mươi dòng, hoặc thậm chí là ba – bốn tờ giấy thi là chuyện bình thường.

Nghịch lý nó là như vậy.

Rõ ràng, quá trình “tiếp nhận” xảy ra ở giữa việc đọc văn bản văn học và hiểu tác phẩm văn học ở Việt Nam còn bị xem nhẹ. Và khi đó ta cần phải đặt ra câu hỏi rằng: Giáo dục văn chương cuối cùng chỉ dừng lại ở việc rao giảng để ngăn cản học sinh được nêu lên ý kiến thực sự của mình hay sao?

Giáo dục có ảnh hưởng tới xã hội. Thời nào cũng thế, xã hội loạn cũng chỉ bởi con người ta nói dối thành quen.

Ảnh: Cuối tuần đi bảo tàng đang có triển lãm đôi của Mantegna và Bellini (bộ sưu tập từ thế kỉ XV), tình cờ mình gặp môt bác giáo già đang đứng cặm cụi chép tranh. Lúc sau nói chuyện phiếm bác bảo tuần trước sinh viên tao nó đặt các câu hỏi cũng hay mà tao không trả lời được nên cuối tuần đến đây vẽ nghiên cứu bằng chì một vài bức, may ra giải đáp được phần nào các vấn đề của sinh viên. Cũng giống như hội họa, văn học khó có chuẩn mực chung nhất, người ta phải dành cả đời để tiếp nhận nó một cách trung thực.

Hết.

Lê Quang


Những bài viết có cùng chủ đề


3 bình luận

3 Bình luận

  1. Vũ Tịch

    Tháng Bảy 9, 2019 at 11:30 sáng

    Xàm ngôn lộng ngữ. Gì mà cả tập Việt Bắc cũng không bằng bài cha tôi. Nghe là đã thấy thiếu khách quan. Huống chỉ cái hay cái đẹp rất khó đo mà đem ra cân như cân cua cân ốc
    Bị kịch là những cái khó lượng lại phải quy về những cái dễ đo. Năng lực bị quy về điểm số. Năng lực văn học bị quy thành năng lực phục vụ công tác giảng dạy văn học, học tập văn học. Học sinh mới bước ra đời, chưa có đủ phông văn hoá, đủ tầm kiến thức để hoàn toàn làm chủ việc đọc hiểu cho đến bình giảng, cả ngợi hay phê phán
    Cái chính là không gian bó hẹp của bộ môn đã khiến giáo viên buộc phải nhồi nhét cho đủ yêu cầu về lượng kiến thức. Cái thuộc về bản lĩnh văn học suy cho cùng ít được rèn luyện trong trường. Nhưng biết vượt qua cơ chế ấy cũng là bản lĩnh vậy

  2. Pingback: Văn chương & Toán học: Vì sao chẳng dễ dàng chinh phục cả hai lĩnh vực? – Bookish

  3. Pingback: “Tại sao cậu lại viết văn?” – Bookish

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đọc bài viết

Trà chiều

Ba bước đơn giản để luận bàn về một tác phẩm văn chương theo kiểu nouveau riche

Đăng từ

on

Người đăng

Cả thế giới đang hướng về một thế giới với những binh đoàn hợp chủng quốc nouveau riche ngang tàn và bạo sát và giương cờ khởi nghĩa. Họ quét qua những nẻo đường miễn là nơi đó có tri thức, họ đánh sập những hệ thống giáo điều và nghiên cứu dài lâu của Friedrich Nietzsche, Martin Heidegger,… để thốt lên những điều thâm sâu, có khi vô lý nhưng rất thuyết phục (với đại đa số chúng ta, nên họ được tung hê ở mọi nơi mọi lúc, nhất là trên phiếc-búc lúc chờ trà hãm), về cuộc đời, về tồn tại và lời nào là hiện sinh lời đó. Lời nào là thấy cảm động đến tận tâm can lời đó, khiến ai nấy cũng đều vỗ tay thán ngạc không thôi, ai nấy cũng đều thấy mình cần phải làm gì đó để sánh vai với những đại nouveau riche đó. Thế là họ quên thân cống hiến cho đội quân bằng những triết lý và lời lẽ riêng (mới lượm lặt được) của mình như ngày ấy sử ta viết ông Nguyễn Trãi dâng Bình Ngô sách, còn bây giờ họ không cần nhiều nhời như thế, chỉ cần like, share, subscribe là đã thật dụng công rồi. Những diễn ngôn của họ làm lay động hàng triệu thính giả (nhất là những nouveau riche khác) bằng cách như thế đấy, điều mà Carl Jung có mãi thăm dò trong tiềm thức hay Albert Camus tìm hết đời mình xem liệu cuộc đời vô lý đến chừng nào thì cũng chẳng thế nào có được số lượng tín đồ hùng cường đến thế.

Đến đây, có lẽ quý vị độc giả không hiểu rằng liệu tên nhãi tác giả đang huyên thuyên về cái gì thế này, nươ-vồ rít-che là gì mà ghê gớm? Có phải là tên một bọn buôn thịt bán người lai phối cùng hội giải cứu niềm tin đổ vỡ tuổi mười nhăm hay không. Thưa rằng, chẳng được huy hoàng như thế. “Nouveau riche” tiếng Pháp dịch ra tiếng ta chỉ một tầng lớp quý tộc mới nổi với xuất thân là nhà nghèo, nhờ các biến chuyển xã hội thời đại mà giàu có lên. Hiểu nôm na, một cái thùng rỗng, một ông-nghè-chưa-đỗ-đã-đe-hàng-tổng, một trưởng giả, một nhân vật hát dở tuồng lâu. Nghe có vẻ chướng tai gai mắt, thế thì tại sao nhiều người lại cố gắng đi theo dòng chảy của nouveau riche đến như vậy? Câu trả lời nằm trong chính định nghĩa mà tôi đã sơ sài kể cùng quý bạn, những biến chuyển thời đại. Ta đang sống trong một thời đại tri thức kiệt cùng, tri thức khắp mọi nơi nài nỉ người tri nhận, tri thức có mặt trong tất cả những gì quý bạn thấy, ăn, ngửi, thậm chí là cảm giác sâu thẳm nhất trong con người của chúng ta, từ thời hang đá ở lùm đến ở skycraperspenthouse. Ta được “văn học” và văn hóa đại chúng quét qua người từng giây từng phút, tâm hồn ta rộn rã và tràn ngập tiếng chim ca như thi sĩ Tố Hữu. “Văn học” đó đến với ta dưới nhiều dạng thức: những tản mạn, tùy bút, tùy tiện bút, bán phóng sự bán tự sự,… của những nhân vật thành đạt post lên trang cá nhân của mình, những chia sẻ tuổi thầm kín của một cô ca sỹ nhạc dance về nhân sinh quan, của một f-boy về hoa và nhà chùa. Điều đó kết nối những tâm hồn nhạy cảm với nhau, trên cái sân chơi cyber-world, với ước muốn đem những cảm xúc riêng tư của mình sục sạo tìm những tâm hồn đồng điệu (nếu đồng điệu hãy like, thả tim, bình luận). Làm nouveau riche đồng nghĩa với việc hóa bản thân mình thành một tập đoàn tảo lục hùng mạnh, chăm chút cho sự thông minh có hạn của nhau, cùng nhau thỏa mãn với kiến thức của mình, đặc biệt, phù phiếm cảm xúc cùng với nhau.

Bao nhiêu đặc quyền của việc trở thành một nouveau riche tôi chỉ nói được có thế, trong dung lượng của bài. Vậy, nếu đủ mẫn cán và dụng công, quý bạn sẽ có cơ hội trở thành một quý tộc mới ngay trong những status tới trên wall nhà mình. Sau đây, trong khuôn khổ của một trang tin về sách báo chí, tôi xin mạn phép giới thiệu những bí quyết vỡ lòng để trở thành một nhân vật bất hủ trong thời đại hôm nay chỉ với những phương pháp viết luận những tác phẩm văn chương (điểm sách, review sách, PR sách, tham gia thi cảm thụ sách,… thậm chí rất hữu dụng để viết nghị luận văn học trong chương trình phổ thông từ lớp 6 đến lớp 12) mà bạn có thể áp dụng ngay trong lần tới.

1. Trích dẫn những tác phẩm – tác giả thật hàn lâm và xa rời chủ đề

Đừng bao giờ quên rằng, cách để mọi người biết mình là một nouveau riche qua những bài luận là có những kiến thức thâm sâu và uyên bác bậc nhất về văn học, nền văn học, tác giả, phong cách sáng tác,… Nhưng chẳng có ai dư dả thời gian để tới nghe bạn trình chiếu powerpoint về Vladimir Nabokov hay một cái ông đã chết lẩu lâu. Trích dẫn không ngừng nghỉ vào trong bài viết của quý bạn là một giải pháp toàn vẹn cả đôi đường. Nhiều khi bạn không cần đọc Ulysses để trích dẫn James Joyce, hãy search chúng, và đặt cốt truyện cùng những chương văn xuôi cách điệu và sáng tạo của văn hào Ireland kia vào trong bài của bạn. Thật sáng tạo và nhiều tri thức làm sao! Bạn đã tạo ra trong tác phẩm của bạn những gương mặt có máu có me trong làng văn và chắc chắn ai ai cũng ngưỡng mộ, dù phần lớn, sẽ tra xem đó là ai, ngoài tác phẩm được trích còn có gì, hoặc tra thêm bút pháp, rút gọn nhất có thể, vừa thời gian uống một cốc latte.

Cũng đừng ngần ngại rằng liệu những tác phẩm mà quý bạn đem vào thực sự nó có giúp ích, nâng cao hay thậm chí, chỉ là minh hoạ cho chủ đề, cuốn sách bạn đang nói về hay không. Tin tôi rằng, nếu ngoan tay một tí, tất cả những cuốn sách trong cuộc đời này đều liên quan tới nhau, đều là những câu chuyện phiếm không đầu không cuối góp trong một lần nhiều chuyện trong chợ lúc giã giề. Hãy dùng Paulo Coelho mà nói về Finnegans Wake (nhân tiện, thì Happy Bloomsday!), một người thật mainstream và một văn nhân thập cổ lai hi chẳng ai thèm đọc ư? Chẳng sao cả.

Hãy sưu tập những cái tên nổi tiếng ngay bây giờ để trích dẫn vào bài viết của mình, dù chỉ sẽ dùng như là những cái tên sau ngàn dấu phẩy liệt kê để dẫn nhập vào tác giả mà mình muốn nói. Giả dụ, Mỹ-La tinh sao có thể bỏ qua Jorge Luis Borges, Gabriel Garcia Marquez. Đông Âu làm sao quên László Krasznahorkai, Bruno Schulz,… Ứng với đó, Borges có Cuốn sách cát, Khu vườn những lối đi phân nhánh, Mê hồn trận; Marquez làm sao quên Trăm năm cô đơn, Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, Tình yêu thời thổ tả; László Krasznahorkai rối rắm với Nỗi buồn kháng cự (thêm phim của Bela Tarr nữa thì còn gì bằng), Chiến tranh và chiến tranh trong khi Schulz có Những cửa hiệu quếPhố cá sấu.

Nhưng hãy chú ý rằng, đừng bao giờ đem những cái tên mà những người khác đã đem vào hàng trăm lần rồi, nhưng cũng đừng vận công vào những nhà văn chẳng có ai biết. Ernest Hemingway, Lev Tolstoy, Honore de Balzac, Truyện Kiều, Vội vàng là lựa chọn phù hợp, nhưng không phải lúc nào cũng an toàn.

2. Rước cho mình một giọng văn như nhà phê bình chán đời và khó tính

Dù quý bạn khó tính hay không khó tính, dù quý bạn có nhìn đời bằng màu hồng hay màu mực, khi muốn tỏ ra là một người giàu kinh nghiệm, hãy tỏ ra khó nhằn. Tại sao lại như thế, việc tung hê ai đó một cách sỗ sàng thường được gán cho vài tính từ hạ bệ kinh khủng đối với người viết: bợ đít, níu váy,… Và dĩ nhiên các nhà nouveau riche không hề thích thú làm gì việc đó. Nên dù khi đối mặt với một trang văn không tì vết và hợp gu đến lạ lùng (đó là tôi khi đọc Friedrich Durrenmatt) thì đừng có mà suồng sã khen một cách tới tấp. Hãy học cách Joseph Conrad giải mã chậm và ẩn ý, bằng việc phân tích một cách lớp lang: tổng, phân, tích, kết. Hãy chê bai thứ gì đó, ví dụ chê đời sống tình dục và phàm ăn tục uống của ông Balzac khi chẳng còn gì để chê (hoặc sợ chê sai), hoặc nếu khó khăn để bới móc, hãy lôi ai đó vào, và chê bai chép miệng, như một người bạn thân thiết biết rõ từng tính nết của gã ta (nhà văn, nhà thơ,…).

3. Dùng những ngôn ngữ lạ lùng

Đó không phải là những dạng thức teencode vung vãi trên từng dòng tin nhắn của quý bạn trên mạng xã hội khi muốn người khác nhìn bạn với tất cả sự dễ thương và hóm hỉnh, đó chính là những thuật ngữ khoa học chính cống và rất mang sức đánh động. Dù có hơi khó khăn để nhớ vì rối rắm, hãy rước cho mình những câu từ quý phái để làm một nhà bình phẩm chính cống: sự nới lỏng tổ chức (looseness of association), hiện thực thậm phồn (hyperreality), rễ chùm (rhizone),… Có vô vàn thuật ngữ sang trọng để quý bạn cho vào trong bài viết của chính mình để mà tô điểm. Dù đó là một công trình nghiên cứu rất cật lực và từ ngữ mang nhiều sắc thái và luận đề, hãy cứ bỏ nó vào một tình tiết hay nghệ thuật nào đó bất kỳ, vì thật may mắn làm sao, tất cả những ngôn từ, bình dân đến bác học, mới phù phiếm và tự do vận động đến bất ngờ. Một số cuốn sách nên đọc với lượng từ khổng lồ để sưu tầm là Văn học hậu hiện đại (Lê Huy Bắc), Cấu trúc thơ (Thụy Khuê), Triết học của tự do (Nikolai Alexandrovich Berdyaev),…

Không chỉ thế, thật ấn tượng làm sao nếu bạn đã đọc bản gốc của tác phẩm và trích nó lại bằng chính ngôn ngữ của nó. Thậm chí trích luôn D. H Lawrence, T.S Eliot hay Charles Dickens bằng tiếng Pháp thì chẳng ai phàn nàn gì, mà chỉ thấy ôi, sao mà giỏi thế!

Có rất nhiều bí kíp để thực hành làm một nouveau riche đúng điệu qua từng lời nói và bài viết của bạn, về văn học nói riêng và cuộc đời nói riêng. Việc mua những cuốn sách của Paul Valery hay Wittgestein và chẳng hiểu gì thật là trác tuyệt, việc cặp kè Franz Kafka và thảo luận liên hồi về kafkaesque, iceberg theory, lost generation,… mới hiểu biết làm sao, việc coi Bắt trẻ đồng xanh (J. D. Salinger) và Bay trên tổ chim cúc cu (Ken Kesey) là tuyên ngôn đi tìm chính mình của quý bạn thật sâu sắc nhường nào. Đó là lúc bạn đã trở thành một nouveau riche vang dội.

(Bài viết vận dụng những bí kíp chia sẻ, dù tác giả chẳng mặn mà gì mấy.)

Hết.

Gia Bin


Xem tất cả những bài viết của Gia Bin tại đây.


Đọc bài viết

Trà chiều

Thật tâm mà nói, cổ tích là một dạng tiểu thuyết trinh thám

Khám phá thế giới tăm tối và dị dạng trong những câu chuyện cổ tích kinh điển.

Đăng từ

on

Người đăng

FAIRY TALES ARE REALLY JUST HARD-BOILED CRIME
Steph Post

Những điều tồi tệ vẫn luôn xảy ra trong truyện cổ tích. Cho người tốt. Cho kẻ xấu. Cho bọn rồng, lũ phù thủy, các cô công chúa và những đứa trẻ bẳn tính. Thông thường, những câu chuyện này sẽ có kết cục viên mãn: chàng trai lấy cô gái, cô gái trả được thù, vương quốc bỗng choàng tỉnh, người nông dân không bị xơi tái mà tiếp tục sống cuộc đời khốn khổ của mình. Nhưng để có được cái kết đầy viên mãn trên, trước tiên một số tội ác phải diễn ra. Đó có thể là sự bội phản đầy tính sử thi, chẳng hạn như ngoại tình hay tội giết trẻ con; nhưng cũng có thể là những tội nhỏ: xâm nhập trái phép, trộm cắp vặt hay các hành vi gây rối trật tự. Và sau đó là những kẻ biến thái, những trường hợp loạn dâm với súc vật, ái tử thi và những thứ tương tự như thế.

Tiểu thuyết trinh thám thời nay không thể so bì với sự tài tình, tàn bạo và đơn giản chỉ là kỳ quái của những hành vi phạm tội trong các câu chuyện cổ tích thời xưa. Hơn thế, cổ tích thường tàn nhẫn. Tiểu thuyết trinh thám hiện đại độc chiếm tình thế nước đôi về mặt đạo đức, trong khi cổ tích không hề có chút nhân từ với kẻ ác và cũng không ban phát sự cứu chuộc. Khoan dung không phải là điều thường thấy trong dòng văn học này, và thậm chí nàng hầu gái tử tế nhất – một khi đã lột xác thành công chúa – thì cũng chẳng ngại ngần loại bỏ bà mẹ kế độc ác của mình.

Gạt sang một bên các bà tiên đỡ đầu, những chú yêu tinh tốt bụng, những cái cây ma thuật và bộ xương biết hát, tất cả những gì còn lại là một loạt các tội ác tàn nhẫn như thể chúng ra đời từ tiểu thuyết của Raymond Chandler hay Patricia Highsmith, của Agatha Christie hay Michael Connelly và những tác giả tương tự. Dưới đây là một trong số những câu chuyện yêu thích mà tôi thu thập từ khắp thế giới.

“Cô con gái giết chết cả nhà bằng hộp sọ rực lửa nhưng không bị bỏ tù

Gần đây, tôi đã khám phá ra gia tài cổ tích dân gian xứ Slavic và bị ám ảnh bởi những câu chuyện về Baba Yaga. Trong số đó, phổ biến nhất là câu chuyện Nàng Vasilisa xinh đẹp. Trung thành với khuôn mẫu cổ tích, Vasilisa là người tuyệt đẹp, cần cù và là cái gai trong mắt nhân vật mẹ kế và con gái riêng của mụ. Họ cố trù dập nàng bằng cách sai nàng đến nhà Baba Yaga, mụ phù thủy trong rừng sâu, để tìm một ngọn đèn. Vasilisa hoàn hảo đến mức Baba Yaga không thể làm gì được nàng, và thay vì hãm hại bằng cách nhai ngấu nghiến nàng, bà đã gửi nàng trở về nhà cùng với một hộp sọ đầy lửa. Khi Vasilisa chìa “ngọn đèn” như người mẹ kế yêu cầu, nó đã thiêu sống mụ ta và cả hai đứa con gái riêng, thiêu rụi luôn cả ngôi nhà. Mặc dù vậy, giống như cách Daenerys Targaryen đã thoát khỏi giàn hỏa thiêu với rồng thiêng, Vasilisa sống sót qua trận hỏa hoạn, bình an vô sự và cuối cùng kết hôn với một vị vua.

“Đứa trẻ bị bỏ rơi giết một bà già bằng cách nướng sống bà ta”

Tất nhiên, đây là câu chuyện Hansel và Gretel từ tuyển tập truyện kể của anh em nhà Grimm. Câu chuyện này có tất cả mọi thứ: từ người mẹ kế ác độc, những đứa trẻ bị vứt bỏ rồi vì lòng tham mà lạc trong rừng, ngôi nhà làm từ bánh kẹo ăn được, và mụ phù thủy không-được-sáng-trí-lắm cuối cùng cũng bị trừng trị. Trong truyện cổ tích, phụ nữ ít khi nhận được tiếng thơm; họ thường bị phán xét là thụ động, một thứ huân chương vô tri để nam giới rước về nhà, và thường thì phán xét trên là đúng. Nhưng những cô gái chưa kết hôn lại có một số lượng đáng kinh ngạc những ý tưởng. Họ sống sót nhờ trí thông minh, và Hansel và Gretel là ví dụ hoàn hảo cho sự xảo quyệt của những cô gái trong truyện cổ tích. Trong khi Hansel bị nhốt trong cũi chờ vỗ béo cho bữa ăn tối của mụ phù thủy, Gretel đã lừa được mụ vào trong lò, nơi mụ bị thiêu cháy thành than ngay lập tức. Gretel có những ngày đầy hạnh phúc trong ngôi nhà đầy kẹo.

“Nàng công chúa mất ngai lợi dụng ngựa chết để trả thù tình địch”

Sẽ rất khó để chọn ra câu chuyện cổ tích Grimm nào được tôi yêu thích nhất, vì có đến hơn hai trăm lựa chọn, nhưng nếu bắt buộc phải lựa chọn, tôi sẽ chọn Cô gái chăn ngỗng (The Goose Girl). Nó vừa bệnh hoạn lại vừa kỳ dị đến đáng sợ, và chắc chắn không phù hợp cho trẻ em. Chứng tự hại, lời tiên tri bằng giọt máu, con ngựa bị chặt đầu và các hình thức tra tấn thời trung cổ đầy rẫy từ đầu đến cuối. Nó là một câu chuyện quanh co, nhưng về bản chất, nó kể lại những thử thách của một nàng công chúa bị ả hầu gái ép buộc phải đổi chỗ với ả trên đường đến lễ cưới của mình. Vua cha bị lừa, nàng công chúa thật cuối cùng biến thành người chăn ngỗng và tâm sự với một cái đầu ngựa đã chết. Bất ngờ thay, cái đầu ngựa đáp lời cô và cuối cùng tiết lộ về kế hoạch đào mỏ của ả hầu. Sau đó, ả công chúa giả mắc mưu nhà vua và vô tình chọn hình phạt cho chính mình – bị lột trần truồng, bị nhồi vào một cái thùng rượu đính đầy đinh và lăn lông lốc xuống một ngọn đồi – trong khi đó nàng công chúa thật nhận lấy vị trí xứng đáng của mình và trở thành nữ hoàng của vương quốc. Nếu đây không phải là một câu chuyện lá cải phù hợp với một cuốn tiểu thuyết trinh phám, thì tôi không còn biết nó còn có thể là gì nữa.

“Tay nghiện cờ bạc tham gia bắt cóc trẻ con với gã khổng lồ đáng sợ

Trong truyền thuyết của người Nepal, Gurumapa là một gã khổng lồ nanh nọc gớm ghiếc, thu thập những đứa trẻ không vâng lời cha mẹ. Trong câu chuyện Kesh Chandra, ta bắt gặp một lão già bị đuổi khỏi nhà chị gái mình sau khi lão không thể ngừng đánh bạc, đến mức lão đánh cắp dao nĩa của bà để bán và nuôi thói quen đánh bạc. Lão lang thang ở Kathmandu một thời gian, cho đến khi một vài con chim bồ câu thương hại và biến chất thải của chúng thành vàng. Cái loài chim này vốn khoái ị nên dĩ nhiên, có rất nhiều vàng. Kesh trở nên tham lam và đòi hỏi phải có tất cả số vàng trước mắt. Ông ta thuyết phục Gurumapa – một gã khổng lồ hung dữ, chuyên ăn thịt người đang tình cờ lang thang gần đó – khiêng tất cả chỗ vàng hộ lão và hứa sẽ tổ chức cho y một bữa tiệc thịnh soạn. Kesh Chandra cũng nói với người khổng lồ rằng y được phép bắt cóc bất cứ đứa trẻ bất tuân nào trong làng. Kẻ nghiện cờ bạc ấy được Gurumapa cho vào nhà và sống trong căn gác mái khổng lồ, miễn là lão đặt điều cho những bậc cha mẹ trong làng khi bọn trẻ đi học và không trở về. Đó là một giao kèo không tưởng và hai bọn ấy trở thành cặp đôi hoàn hảo: Kesh tha hồ tận hưởng đống vàng và thói nghiện cờ bạc, trong khi Gurumapa đánh chén đám trẻ con thỏa thê.

“Bà mẹ tự tử sau khi con gái riêng được ban phước bởi những cái đầu biết nói, thất vọng về chính đứa con ruột của mình

Chết vì tự tử là tội ác thực sự duy nhất trong câu chuyện kỳ ​​lạ Ba cái đầu bên giếng nước (The Three Heads of the Well), nhưng trong thời đại hiện nay, khi tồn tại rất nhiều bậc cha mẹ quá tham vọng, tôi nghĩ câu chuyện này vừa thích hợp mà vừa lạ lùng đến khoái chá. Đúng như dự đoán, trong câu chuyện có một vị Vua cha, một bà mẹ kế, một cô em kế và dĩ nhiên là một cô con gái với bà mẹ đã mất – cô sẽ bước chân hòa nhập với thế giới để tìm kiếm vận may, tránh xa khỏi cái gia đình phiền toái này. Cô đối xử tử tế với một ông lão, và để đáp lại ân huệ này, ông khuyên cô đến thăm một cái giếng nơi có ba cái đầu, vâng, đang chờ đợi ai đó gội đầu chải tóc cho. Sau khi làm đúng như thế, ba cái đầu ban cho cô những món quà kì diệu: sắc đẹp, giọng nói tuyệt vời và ngôi vị hoàng hậu. Khi rời khỏi giếng, cô tình cờ chạm mặt đứa Vua xứ khác. Bị quyến rũ bởi vẻ đẹp và giọng nói của cô, chàng ngay lập tức kết hôn với cô. Bấy giờ, người mẹ kế khi nghe tin này đã gửi con gái của mình đi và đinh ninh rằng cô ta sẽ phù hợp với đức Vua hơn. Cô gái này tuy thế lại thô lỗ với ông già và ba cái đầu; từ đó họ khiến cho cô bị hủi, giọng nói khiếp đảm và kết hôn với một anh thợ sửa giày. Người mẹ kế tị hiềm khi nghe tin này liền phát điên và cuối cùng treo cổ tự vẫn. Câu chuyện kết thúc với việc Vua cha ăn mừng cái chết của người vợ tàn độc và sự xấu xí của con gái riêng. Eo ôi.

“Người đàn ông ăn cắp vịt, mọc lông và bỗng dưng thích bị ngược”

Câu chuyện kỳ lạ này đến từ Trung Quốc, ngắn gọn và xoay quanh một tội ác đơn giản. Trong Tên trộm vịt (Theft of a Duck), một người đàn ông đã ăn cắp một con vịt từ người nông dân nọ. Sáng hôm sau, y thức dậy và phát hiện ra mình đã mọc lông khắp người trong đêm. Nó ngứa kinh khủng nhưng trong đêm kế tiếp, y mơ thấy mình sẽ được cứu rỗi nếu y sang nhà người nông dân và nhờ anh ta gọi mình bằng từ ngữ miêu tả đúng những gì y đã làm: một “tên trộm bẩn thỉu”. Ngày hôm sau, y đến gặp người nông dân và cố gắng lừa anh gọi một người hàng xóm khác là một “tên trộm bẩn thỉu”. Thế nhưng mánh lới này thất bại vì người nông dân không muốn trở nên xấu tính như vậy. Cuối cùng, gần như tuyệt vọng, tên trộm xé áo phô ra lông vũ và cầu xin người nông dân gọi anh ta là một tên trộm bẩn thỉu. Người nông dân là một người tốt, thương hại và mắng mỏ cho đến khi đám lông biến mất.

“Kẻ mắc chứng nói dối phản bội cha, trở thành nạn nhân của nạn buôn người và giả chết

Pinocchio. Khi còn là một đứa trẻ, tôi không chắc giữa PinocchioDumbo, bộ phim Disney nào làm tôi kinh hoàng hơn. Tôi nghĩ tôi đã cố ý xóa bỏ phần lớn ký ức về phiên bản của Disney, nhưng khi trưởng thành và đọc nguyên bản tiểu thuyết dài kỳ Pinocchio, tôi mới nhận ra rằng câu chuyện cổ tích Ý này thực sự đáng lo ngại đến mức nào. Chúng ta đều biết cốt truyện cơ bản từ bản hoạt hình: con rối gỗ, người cha tốt bụng, nàng tiên xanh và dế Jiminy, những mong muốn hão huyền. Nhưng sau đó, tôi lại thấy Pinocchio nói dối, giết chết chú-dế-kiêm-người-dẫn-đường, chạy trốn khỏi nhà, bị lừa và nhốt vào một chương trình múa rối kỳ cục tại một “hòn đảo khoái lạc”, bị một con cá voi nuốt chửng, phát hiện ra người cha từng bị cá voi nuốt chửng, cuối cùng chết và sau đó sống lại như một bé trai thực sự. Và đó là phiên bản của Disney! Trong bản gốc, Pinocchio thậm chí còn giống một tên đần hơn. Con rối độc ác không chỉ nói dối, lừa gạt, lừa đảo; mà còn hành hạ động vật, bạo hành thể xác Geppeto, và là một thằng khốn toàn diện – ngay cả khi mọi người tiếp tục cho hắn cơ hội lần hai. Pinocchio sau chót là kẻ trơ tráo: giả chết, chơi trò con rối để có được sự đồng cảm, đam mê mọi thứ từ uống rượu đến đánh bạc để lừa những con rối khác. Nói tóm lại, Pinocchio là hỏa ngục của tội ác và tội lỗi. Nhưng đặc biệt là cuối cùng, Pinocchio hoàn toàn không phải chịu hậu quả cho những hành vi của mình.

*

Và sau đó, ta còn có có Bạch Tuyết và bảy chú lùn (hiếp dâm), Rapunzel (giam giữ trái phép), Công chúa ngủ trong rừng (đột nhập và xâm nhập), Râu xanh (giết người hàng loạt), Cô bé quàng khăn đỏ (bạo hành động vật), Chàng rể tương lai (ăn thịt đồng loại) và Cây đỗ tùng (lạm dụng trẻ em) – và tất cả đều chỉ giới hạn trong những câu chuyện của anh em nhà Grimm. Hỡi các nhà văn, nếu bạn có bao giờ cần cảm hứng cho cốt truyện trinh thám thì không cần tìm đâu xa ngoài những câu chuyện cổ tích mà tất cả chúng ta đều lớn lên cùng. Tất cả những tội ác muốn có sẽ luôn ở đó, ngay sau những cái kết hạnh phúc viên mãn nhất.

Hết.

minh. dịch

Bản gốc được thực hiện bởi Steph Post và đăng tại CrimeReads.


Những bài viết có cùng chủ đề cổ tích




Đọc bài viết

Trà chiều

Từ sách đến phim: Tản mạn về tiểu thuyết “Mắt biếc” và chuyển thể điện ảnh

Đăng từ

on

Người đăng

Mắt biếc là tiểu thuyết thành công của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, ra mắt vào năm 1990 và đã đi vào lòng nhiều thế hệ người đọc ở cả Việt Nam và quốc tế. Cuối năm 2019, độc giả yêu mến nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã được mãn nhãn với sự ra mắt của bộ phim Mắt biếc được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên. Theo cá nhân tôi đánh giá, đây là một bộ phim thành công trong việc cụ thể hóa hình tượng các nhân vật trong nguyên tác một cách khá hợp lý; bối cảnh và kỹ thuật quay phim cũng rất ấn tượng… Tuy nhiên, đối với những người đã đọc và yêu mến nguyên tác thì bộ phim vẫn còn nhiều vấn đề cần phải bàn luận lại.

Hà Lan có từng yêu Ngạn hay không?

Trong chuyển thể điện ảnh, tình cảm của Hà Lan đối với Ngạn đã được đoàn làm phim khẳng định rõ ràng qua phân cảnh trong rừng sim, trước lúc mà Hà Lan lên thành phố. Cụ thể hơn, nhân vật Hà Lan trong phim đã có những biểu cảm ngại ngùng, chờ mong, thất vọng… trong cái khoảnh khắc mà Ngạn “suýt” hôn mình. Điều đó chứng minh rằng Hà Lan chắc chắn đã từng yêu Ngạn. Vậy còn trong nguyên tác, khi mà những biểu cảm đó chưa từng xuất hiện thì sao? Hãy cùng phân tích tiểu thuyết gốc để trả lời câu hỏi này nhé.

Cũng như trong phim, Hà Lan và Ngạn trong tiểu thuyết có một tuổi thơ êm đềm và gắn bó. Chưa biết giữa họ có tình yêu hay không, nhưng phải khẳng định rằng Hà Lan và Ngạn có một tình bạn thân thiết, và tình bạn đó đã tiến thêm một bước nhỏ nữa bằng những lời hát nồng nàn của Ngạn. Giữa Hà Lan và Ngạn đã manh nha tồn tại một chút gì đó “trên tình bạn nhưng dưới tình yêu”; họ đã biết tìm những khoảng không gian cho riêng nhau, cảm thụ tình cảm của nhau…

“Tôi về làng với Hà Lan. Tất nhiên chúng tôi đi chung với cả một đám bạn. Nhưng dọc đường, hai đứa tôi cố tình đi tụt lại phía sau. Thoạt đầu, bạn bè còn dừng xe lại chờ. Về sau, thấy chúng tôi không có vẻ gì muốn tiến lên phía trước, tụi nó chán quá, liền vọt thẳng. Còn lại hai đứa, tôi với Hà Lan thong thả đạp xe đi. Sau một tuần lễ vùi đầu vào học tập, ngày thứ bảy là một ngày thảnh thơi tuyệt diệu. Chiều loang nắng, chúng tôi lặng lẽ đi bên nhau, lòng êm đềm và thanh thản.”

Sỡ dĩ tôi cho rằng mối quan hệ này “trên tình bạn, dưới tình yêu” là dựa vào phân tích các phản ứng của của nhân vật Hà Lan trong nguyên tác. Cụ thể hơn, Hà Lan trả lời rằng cô đã biết những bài hát mình được nghe là của Ngạn sáng tác, nhưng biểu cảm lúc đó lại là hờ hững, là “tỉnh khô”. Hơn nữa, Hà Lan còn có phản ứng trốn chạy vào nhà khi Ngạn hát những câu từ yêu thương “rõ ràng” hơn bình thường.

“Một mình anh đang ngồi
Không dưng em bước tới
Anh bỗng thành song đôi.”

Nếu nói Hà Lan trốn vì ngại ngùng thì quá gượng ép. Rõ ràng Hà Lan tuy đã hiểu tình cảm của Ngạn, nhưng cô chỉ muốn tình cảm đó dừng ở một mức độ mập mờ và không muốn Ngạn tiến xa hơn nữa. Phản ứng của Hà Lan có thể là biểu hiện của một phức cảm rất nguyên thủy và thường thấy ở con người, cái cảm giác thỏa mãn khi được người khác giới yêu thương hay khi được nghe những ngôn từ chỉ thuộc về bản thân mình, cho dù bản thân chưa chắc có thể đáp lại tình cảm đó.

Dựa vào những phân tích trên, cá nhân tôi cho rằng Hà Lan vẫn chưa từng yêu Ngạn trong nguyên tác. Tình cảm của Hà Lan đối với Ngạn tuy vẫn có tồn tại, nhưng chỉ ở một mức độ mông lung, không rõ ràng, không đến mức độ của tình yêu. Tâm lý Hà Lan trong nguyên tác hoàn toàn phù hợp với tâm lý thực tế của một cô bé mới lớn và vẫn còn lạ lẫm với chuyện yêu đương. Đó là phản ứng nên có ở một thiếu nữ thích thú khi lần đầu nếm được tình yêu từ một người khác giới, và chính việc tình cảm của Hà Lan thay đổi quá nhanh từ khi gặp Dũng đã chứng minh tình cảm của cô dành cho Ngạn là ở mức độ nào rồi.

Về tình cảm giữa Trà Long và Ngạn

Theo tôi, Trà Long và Ngạn là hai nhân vật ít có sự thay đổi giữa chuyển thể điện ảnh với nguyên tác nhất. Dưới góc nhìn của một độc giả yêu mến nguyên tác, tôi đánh giá cao khi đoàn làm phim đã truyền tải khá chính xác tình cảm của hai nhân vật này. Vậy nên ở phần tản mạn này tôi xin phép phân tích chung về tình cảm của hai nhân vật, không có sự so sánh, đối chiếu giữa hai phiên bản.

Như chúng ta đã biết, Trà Long là con gái của Hà Lan với Dũng, cô bé được gửi về quê từ lúc còn tấm bé. Không chỉ vì hoàn cảnh kinh tế, mà còn vì Hà Lan lúc này rất muốn quên Dũng. Làm sao Hà Lan có thể quên đi khi luôn giữ kết tinh máu thịt của Dũng bên mình? Vậy nên cô đã chọn cách rời xa con và dùng công việc để quên dần những lầm lỡ của tuổi thanh xuân. Còn Ngạn, anh đã chọn quê hương từ rất lâu và thời điểm này Ngạn đã chứng minh điều đó. Ngạn trở về ngôi làng Đo Đo yên bình và thân thuộc, nơi có những kỷ niệm đẹp nhất của riêng anh, và cũng ở nơi này, Ngạn tìm thấy một hình ảnh nho nhỏ để bám víu vào – đó chính là Trà Long.

Ban đầu, tình cảm của Ngạn đối với Trà Long rất gần với tình cảm cha con. Hay nói đúng hơn, Ngạn mong muốn được thay Dũng làm cha của cô bé Trà Long tội nghiệp. Cái hi vọng nhỏ nhoi về một gia đình ba người đã nhen nhóm trong Ngạn từ lúc mà Trà Long được sinh ra, và Ngạn đã thực sự cố gắng để điều đó thành hiện thực. Ngạn đã ở bên cạnh, đã yêu thương và chăm lo cho Trà Long như với đứa con ruột của chính mình, và có lẽ Trà Long cũng từng rất muốn Ngạn làm được điều đó.

Từ lúc lên lớp năm, Trà Long đã đủ thông minh và tò mò để tìm hiểu về người cha ruột và không ai có thể trả lời cho cô bé. Với sự thông minh của mình, Trà Long có lẽ đã hiểu rằng cha ruột mình là một người cha không xứng đáng, thế nên mỗi khi Hà Lan về thăm, Trà Long đều cố gắng để cả ba người Hà Lan-Ngạn-Trà Long được ở bên nhau. Hành động của Trà Long đã chứng minh cho mong muốn của cô bé, mong muốn Ngạn trở thành một người cha thực thụ của mình.

Mọi thứ thay đổi từ lúc Trà Long lớn lên thành thiếu nữ. Cô bé ngày càng giống mẹ “như hai giọt nước”, giống đến mức khiến Ngạn đôi lúc lầm lẫn giữa cả hai. Khi ngắm nhìn khung cảnh quen thuộc đầy kỷ niệm, tâm trí sẽ kích động mà hồi tưởng về những ký ức liên quan, trường hợp của Ngạn chính là như vậy. Hơn thế nữa, bên cạnh Ngạn còn có một bản sao của Hà Lan. Như vậy làm sao mà Ngạn có thể dằn lại được sự rung động của trái tim? Làm sao còn có thể coi Trà Long là cô con gái nhỏ bé của mình? Đúng vậy, Ngạn đã yêu Trà Long dưới cái bóng của Hà Lan và chắc chắn anh đã hoảng sợ khi nhận ra điều đó. Tình cảm này là không đúng đắn đối với Ngạn và anh buộc phải bỏ chạy để bản thân không phải phạm sai lầm.

Với Trà Long, cô bé yêu thương Ngạn vì mặc cảm tội lỗi. Trà Long đã quá hiểu tình cảm của Ngạn dành cho mẹ mình và còn hiểu hơn nữa việc tình cảm đó sẽ không có kết quả. Cô bé chỉ muốn bù đắp cho Ngạn những tổn thương mà Hà Lan mang lại chứ không hẳn là tình yêu. Có lẽ, Ngạn đã nhận ra điều đó khi quyết định trốn chạy Trà Long – cũng chính là trốn chạy chính bản thân mình.

Tại sao đoàn làm phim lại thêm nhân vật Hồng?

Hồng là nhân vật không hề tồn tại trong tiểu thuyết gốc của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Đoàn làm phim muốn nhấn mạnh một điều gì đó, một ý nghĩa nào đó khi thêm nhân vật nữ phụ này vào bộ phim – vậy ý nghĩa tồn tại của nhân vật này là gì? Nó có đủ lớn để nhân vật tồn tại hay không?

Như Xuân Diệu đã từng than thở:

“Yêu, là chết ở trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?”

Trong tình yêu ai mà chẳng một lần đơn phương. Không có ai bắt buộc Ngạn phải yêu thương Hà Lan và cũng không có sức mạnh nào có thể làm điều ngược lại. Đối với Hồng cũng vậy, Hồng chỉ tồn tại như một phần của chuyến tàu tình yêu trái ngang, nơi mà những toa tàu nối đuôi nhau trong một hành trình vô định. Hà Lan mãi chạy theo bóng hình của Dũng; Ngạn nối đuôi theo mắt biếc của đời mình trong nỗi khổ đau; Hồng dõi theo Ngạn… và những người mà cô đã từ chối là những toa tàu ở đằng sau, sau nữa, kéo dài nỗi khổ đau đến một điểm vô cùng.

Có ai đã từng tưởng tượng một viễn cảnh khác, khi mà Ngạn có thể từ bỏ tình yêu với ngôi làng Đo Đo để làm việc ở thành phố, để ở bên cạnh Hà Lan cái lúc mà cô đang dùng công việc để quên đi nỗi đau của mình. Nếu Ngạn có thể làm như vậy thì liệu Hà Lan có chấp nhận anh hay không? Câu trả lời đã được đoàn làm phim đáp lại bằng nhân vật Hồng, khi mà Hồng đã từ bỏ tương lai để quay về Đo Đo cùng Ngạn. Hồng không yêu ngôi làng của mình quá nhiều như Ngạn và cô trở về chỉ vì có Ngạn ở đó (điều này được chứng minh qua lời bộc bạch cuối cùng của Hồng trước khi ra đi). Cuối cùng, Ngạn không thể chấp nhận Hồng, và có lẽ nếu Ngạn làm theo cách của Hồng thì Hà Lan cũng sẽ không chấp nhận Ngạn.

Như vậy, có thể thấy mục đích mà đoàn làm phim thêm nhân vật Hồng vào chuyển thể điện ảnh là để nâng cao, để nhấn mạnh phần nào giá trị ý nghĩa của nhân vật Ngạn. Hơn thế nữa, nhân vật Hồng là một nhân vật cần thiết để hiển thị rõ cái thứ được coi là nghịch lý của tình yêu, cái thứ mà chúng ta vẫn thường gọi là “đơn phương” một cách đầy đớn đau, đầy ảm đạm.

Tản mạn về cái kết

Cái kết là phần mà cá nhân tôi không thích nhất trong chuyển thể điện ảnh. Đoàn làm phim “không cho” Hà Lan lấy chồng như nguyên tác và dẫn đến tình tiết nhân vật này bỗng nhiên chấp nhận tình cảm của Ngạn ngay lúc biết tin anh lên tàu quyết định ra đi. Ý tưởng của đoàn làm phim có thể là người ta chỉ biết trân trọng khi đã mất đi, đây là một ý tưởng hay – nhưng không phù hợp và phần nào đã làm giảm giá trị mà nguyên tác muốn truyền tải.

Với một chuyển thể điện ảnh dạng chiếu rạp thì đây vẫn là một đoạn kết hợp lý, nó phù hợp với phần lớn những người yêu thích phim và chưa đọc qua nguyên tác. Cái kết không quá buồn và tuyệt vọng, lại phần nào tạo ra một cái kết mở để người xem có thể tự dự đoán tương lai của Ngạn và Hà Lan. Có thể Hà Lan sẽ đi theo và tìm được Ngạn, có thể là một ngày nào đó Ngạn quay về thăm và thấy Hà Lan vẫn chờ, cũng có thể cả hai sẽ liên lạc được với nhau qua thư từ để rồi tìm về với nhau… rất nhiều chuyện “có thể” xảy ra khiến cái kết giảm đi nhiều sự hụt hẫng và đến gần với nhiều người xem hơn là cái kết theo đúng nguyên tác mang lại.

Việc thay đổi cái kết tỷ lệ cao là sẽ mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho nhà làm phim. Thế nhưng, cái mất đi ở đây là giá trị cốt lõi của nguyên bản, cái giá trị khiến cho độc giả phải đọc đi đọc lại, cái cảm giác buồn rười rượi và day dứt khó quên sẽ khó mà đạt được ở phiên bản điện ảnh này. Dĩ nhiên, chuyển thể điện ảnh của đạo diễn Victor Vũ vẫn là một sản phẩm nghệ thuật đáng khen trên nhiều phương diện, việc ấn phẩm đưa nguyên tác đến rộng rãi người xem hơn cũng là một điểm thành công rất đáng để những độc giả yêu mến nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đón nhận phiên bản chuyển thể này.

Hết.

Nguyễn Đình Duy Lộc


Nếu bạn yêu tác giả Nguyễn Nhật Ánh…


Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!