Nối kết với chúng tôi

Trích đăng

Chương 1 “Đường Xưa Mây Trắng” – Thích Nhất Hạnh

“Đường Xưa Mây Trắng” là một câu chuyện vô cùng lý thú về cuộc đời của Bụt được kể lại dưới ngòi bút hùng hồn đầy chất thơ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Với văn phong nhẹ nhàng giản dị, với lối kể chuyện sinh động lôi cuốn, tác giả đã đưa chúng ta trở về tắm mình trong dòng sông Nguyên thỉ cách đây gần 2.600 năm, để được hiểu và gần gũi với một bậc giác ngộ mà cuộc đời của Ngài tỏa rạng nếp sống đầy tuệ giác và từ bi.

Đăng từ

on

Chi tiết tác phẩm

[Trích đoạn Chương 1] Đường Xưa Mây Trắng – Theo Gót Chân Bụt

Trích từ: Đường Xưa Mây Trắng – Theo Gót Chân Bụt

Tác giả: Thích Nhất Hạnh

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Tái bản: tháng 5.2019

Chương 1

Đi để mà đi

Trong bóng tre im mát, vị khất sĩ Svastika đang thực tập phép quán niệm hơi thở. Chú ngồi trong tư thế hoa sen. Từ hơn một tiếng đồng hồ, chú đã ngồi thực tập như thế một cách chăm chú. Đó đây trong tu viện Trúc Lâm, hàng trăm vị khất sĩ cũng đang ngồi thực tập thiền quán, hoặc trong bóng tre, hoặc trong những chiếc am lá nhỏ dựng rải rác khắp nơi trong tu viện, xen lẫn giữa những bụi tre xanh tươi và khỏe mạnh.

Bụt hiện đang cư trú trong tu viện này cùng với khoảng gần bốn trăm vị khất sĩ, học trò của người. Tu viện đông như thế mà vẫn thanh tịnh. Đất của tu viện rộng đến bốn chục mẫu. Những giống tre trồng ở tu viện đều là những giống tre đẹp khỏe, lấy từ khắp nơi trong vương quốc Magadha. Tu viện tọa lạc ở phía Bắc thành Vương Xá. Tu viện này do chính vua Bimbisara hiến tặng cho Bụt, và cho giáo đoàn khất sĩ của người cách đây bảy năm.

Svastika mở mắt. Chú mỉm cười. Hai bắp chân chú đã mỏi. Chú tháo chân ra khỏi tư thế hoa sen và bắt đầu xoa bóp cho máu chạy đều trong hai chân. Svastika năm nay mới hai mươi mốt tuổi. Chú chỉ mới được xuống tóc và thọ giới khất sĩ cách đây ba hôm. Thầy Sariputta, một trong những vị cao đệ của Bụt đã làm lễ truyền giới cho chú.

Svastika quê ở Uruvela gần Gaya, chú được làm quen với Bụt ngay từ hồi Bụt chưa thành đạo, cách đây đúng mười năm. Hồi đó chú mới mười một tuổi.

Bụt thương chú lắm, cách đây nửa tháng, Bụt ghé lại làng Uruvela tìm chú. Bụt đưa chú về đây, và Bụt đã bảo thầy Sariputta truyền giới khất sĩ cho chú. Được chấp nhận vào giáo đoàn của Bụt, Svastika sung sướng lắm.

Chú nghe nói trong giáo đoàn của người có rất nhiều vị khất sĩ xuất thân từ giới quyền quý, như thầy Nanda. Thầy Nanda cũng là hoàng thái tử, em ruột của Bụt. Lại có những vị hoàng thân khác như Bhaddiya, Devadatta, Anuruddha và Ananda. Chú chưa được trực tiếp chắp tay chào hỏi các vị này, tuy chú đã được trông thấy họ.

Các vị này tuy đã đi tu, tuy đã khoác những chiếc áo cà sa bạc màu trên người nhưng dáng điệu vẫn còn mang tính cách thanh lịch và quý phái. Svastika có cảm tưởng là còn lâu lắm chú mới làm quen thân được với các vị.

Bụt là một vị hoàng tử con vua thật đấy, nhưng Svastika không còn tìm thấy được sự ngăn cách nào giữa người và chú.

Có lẽ vì chú quen với Bụt lâu rồi và ngày xưa đã từng ngồi với Bụt hàng giờ hoặc trên bờ sông Neranjara hoặc dưới cội bồ đề im mát. Chú thuộc về hạng những người cùng đinh, những người thấp kém và nghèo khổ nhất ở xứ chú.

Chú đã làm nghề giữ trâu trên mười năm nay.

Trong vòng nửa tháng vừa qua, chú đã chung đụng với những người tu thuộc giai cấp quý tộc. Những người này đều là khất sĩ và là học trò của Bụt. Tuy họ rất tử tế với chú, tuy họ đã nhìn chú với con mắt có cảm tình và nhiều khi đã mỉm cười với chú, nhưng chú vẫn chưa cảm thấy thật sự thoải mái với họ. Chắc là tại chú chưa quen. Có lẽ phải sống với họ trong nhiều tháng nữa chú mới thực sự cảm thấy đây là thế giới của chú.

Nghĩ tới đây, Svastika lại mỉm cười. Ở đây ngoài Bụt ra, chú còn cảm thấy thoải mái với một người khác nữa. Đó là chú Rahula, con trai Bụt. Rahula năm nay mười tám tuổi, được theo Bụt tám năm rồi và trên đường tu học, Rahula đã bước được những bước thật dài. Hiện Rahula là bạn thân nhất của chú. Chính Rahula đã chỉ cho chú phương pháp quán niệm hơi thở. Rahula giỏi giáo lý và hành trì hơn chú nhiều nhưng sở dĩ chú ấy chưa được thọ giới khất sĩ vì tuổi chưa đến hai mươi.

Muốn được thành khất sĩ, muốn được thọ giới bhikkhu, nghĩa là giới khất sĩ thì ít nhất phải là hai mươi tuổi.

Tháng trước khi Bụt ghé vào làng Uruvela tìm Svastika thì gặp lúc Svastika không có ở nhà, chú đang chăn trâu ngoài ruộng với đứa em trai tên là Rupak. Chỉ có hai đứa em gái của chú là ở nhà.

Bala là chị Rupak năm nay lên mười sáu, còn Bhima là đứa em gái út năm nay mười hai tuổi.

Bala nhận ra ngay được Bụt. Nó đòi ra bờ sông tìm anh, nhưng Bụt nói là để Bụt tự ý đi tìm. Rồi người rủ Rahula cùng đi.

Hôm ấy đi với Bụt còn có hai mươi mấy vị khất sĩ nữa. Ai cũng theo Bụt đi ra bờ sông. Quả nhiên khi ra tới bờ sông thì Bụt gặp Svastika. Lúc ấy trời đã chiều, và Svastika đang cùng Rupak tắm cho đàn trâu. Đàn trâu của Svastika chăn có tới tám con trâu lớn và một con nghé. Hai anh em Svastika cũng nhận ra Bụt ngay tức khắc.

Svastika cùng Rupak vội chạy đến chắp tay búp sen cúi đầu chào Bụt.

“Các con đã lớn quá”, Bụt nhìn hai anh em và mỉm cười một cách thân ái.

Svastika đứng ngây người ngắm Bụt. Vẫn khuôn mặt trầm tĩnh và hai con mắt sáng ngời ngày xưa. Vẫn nụ cười bao dung và hiền hậu đó. Vẫn những lọn tóc nhỏ xoắn hình ốc trên đầu. Bụt khoác một chiếc y màu chàm, do nhiều miếng vải may kết lại. Người vẫn còn đi chân đất như thuở nào, Svastika đưa mắt nhìn các vị xuất gia đứng sau lưng Bụt. Chú nhận thấy vị nào cũng đi chân trần như Bụt. Vị nào cũng quấn y màu chàm. Chú để ý thì thấy y của Bụt dài hơn các vị thầy khác độ một tấc. Đứng gần Bụt là một thầy rất trẻ, trạc tuổi Svastika. Vị thầy này cứ nhìn chú mà mỉm cười hoài. Bụt xoa đầu Svastika và Rupak. Người bảo người đang trên đường về thành Vương Xá, tiện đường chiều này ghé lại thăm mấy anh em. Người bảo người sẽ đứng trên bờ sông, đợi hai anh em xuống tắm trâu cho xong rồi sẽ cùng về nhà.

Trên đường về làng Bụt giới thiệu chú Rahula với hai anh em. Chú Rahula là vị xuất gia trẻ tuổi nhất hồi nãy trên bờ sông cứ đứng nhìn hai anh em Svastika mà cười hoài. Rahula thua Svastika ba tuổi nhưng cũng đã cao bằng Svastika. Rahula chưa thọ giới khất sĩ, nhưng đã thọ giới xuất gia làm s’ramanera, nghĩa là một vị sa di. Trông chú không khác gì những vị khất sĩ khác. Rahula đi giữa hai anh em. Chú trao chiếc bát cho Rupak giữ, và chú đặt tay trên vai hai người một cách thân ái. Chú đã từng được nghe Bụt nói chuyện về gia đình Svastika rồi, và chú có rất nhiều cảm tình với gia đình này. Cũng vì vậy nên hai anh em Svastika cảm nhận ngay được thân tình mà Rahula bộc lộ.

Về tới nhà, Bụt hỏi Svastika có muốn theo học với Bụt và gia nhập giáo đoàn khất sĩ không. Đây là một điều mà Svastika mong ước từ lâu. Mười năm trước, Svastika đã từng tỏ lộ ước mơ ấy với Bụt. Ngày ấy Bụt cũng đã hứa là sau này sẽ thừa nhận chú làm học trò xuất gia. Và bây giờ đây người đã trở lại. Người đã không quên lời hứa. Các em của Svastika đã lớn cả rồi. Rupak em trai của Svastika đã có đủ khôn ngoan để một mình chăm sóc bầy trâu. Em gái lớn của Svastika là Bala cũng có đủ sức để làm một người nội trợ rồi.

Bụt ngồi ngoài sân, trên một ghế đẩu nhỏ.

Bụt ngồi ngoài sân, trên một chiếc ghế đẩu nhỏ. Tất cả các vị khất sĩ đều đứng sau lưng người. Nhà của mấy anh em Svastika là một túp lều lụp xụp, vách đất, làm gì có đủ chỗ để mời tất cả mọi người vào. Rupak đi lùa trâu về nhà ông chủ trâu, cũng chưa về. Bala nói với Svastika:

– Anh cứ đi theo Bụt và các thầy đi. Tụi em ở nhà cũng đủ sức lo. Thằng Rupak nó mạnh lắm, mạnh hơn cả anh hồi xưa. Anh đi chăn trâu nuôi tụi em đã hơn mười năm rồi, không lý bây giờ tụi em không đủ sức để tự lo cho chính mình sao.

Ngồi bên lu nước, con Bhima ngửng lên nhìn chị, không nói năng gì. Svastika nhìn nó. Con bé năm nay đã lớn. Hồi Svastika mới được gặp Bụt, Bhima còn chưa đầy tuổi thôi nôi. Bala hồi đó mới sáu tuổi, đã phải vừa ẵm em vừa nấu cơm. Rupak hồi đó mới có ba tuổi, cả ngày vọc đất vọc cát chơi ngoài sân. Cha chúng vừa mất được sáu tháng thì mẹ chúng cũng bỏ chúng, ngay sau khi sanh em Bhima. Svastika mười một tuổi mà đã phải làm chủ gia đình. May mắn mà nó được chăn trâu cho gia đình ông Rambhul trong xóm. Nhờ chăn trâu giỏi cho nên nó kiếm đủ thức ăn mỗi ngày cho chính nó và cho các em. Nó còn kiếm được cách xin sữa trâu cho bé Bhima nữa.

Bhima có khuôn mặt xinh xinh. Thấy anh nhìn mình như có ý dọ hỏi, Bhima mỉm cười. Nó ngần ngừ một lát rồi nói, giọng nhỏ nhẹ:

– Anh đi với Bụt đi.

Nói xong Bhima quay mặt đi nơi khác, rơm rớm nước mắt. Bhima đã từng nghe anh nói về dự tính đi theo Bụt để tu học. Nó muốn anh nó được đi, nhưng nó lại buồn khi biết anh nó sắp đi.

Vừa lúc ấy, Rupak về tới. Rupak nghe được câu nói của em. Nó hiểu tất cả. Nó nhìn Svastika, và nói:

– Anh cứ đi với Bụt đi.

Mọi người im lặng, Rupak nhìn Bụt nói:

– Bụt cho anh con được đi học với Bụt. Con ở nhà đủ sức lo cho chị và cho em con rồi.

Và quay sang Svastika, Rupak nháy mắt:

– Nhưng thỉnh thoảng anh phải xin phép Bụt về thăm tụi em.

Thế là vấn đề của Svastika được giải quyết. Bụt đứng dậy xoa đầu Bhima và nói:

– Các con đi ăn cơm và chuẩn bị đi nhé. Sáng mai, ta sẽ trở lại đây đón Svastika cùng lên đường đi Rajagaha. Bây giờ ta và các thầy khất sĩ sẽ đi về cây Bồ Đề và sẽ nghỉ đêm trong ấy.

Ra tới cổng, Bụt quay lại. Người nhìn Svastika và nói:

– Ngày mai, con không cần đem theo gì hết. Chỉ cần áo mặc trên người thôi, con nhé.

Đêm đó, bốn anh em thức khuya. Svastika dặn dò các em đủ điều. Svastika ôm từng đứa em trong vòng tay, thật lâu. Bé Bhima khóc thút thít trong tay anh. Nhưng rồi bé lại ngửng lên nhìn anh và mỉm cười. Nó không muốn anh nó buồn. Ánh sáng chiếc đèn dầu tuy tù mù nhưng vẫn soi rõ được nụ cười của bé. Tối hôm đó không ai nghĩ đến chuyện ăn cơm tối cả, dù Bala đã nấu cơm sẵn cho bốn anh em từ hồi xế chiều.

Sáng tinh sương hôm sau, khi Svastika vừa dậy thì đã thấy chị Sujata đến thăm. Chị đến để chào từ giã Svastika, bởi chiều hôm qua trên đường bờ sông chị đã được gặp Bụt và đã được Bụt báo tin cho biết là Svastika sẽ lên đường theo Bụt. Chị Sujata là con gái của ông hương cả. Chị lớn hơn Svastika hai tuổi, ngày xưa, chị cũng đã được gặp Bụt hồi người chưa thành đạo, và chị cũng từng giúp mấy anh em Svastika nhiều lần trong những cơn ốm đau hoạn nạn.

Sujata đem đến tặng Svastika một lọ dầu, nói là để đánh gió những khi bị nhức đầu. Hai chị em mới nói được vài ba câu chuyện thì Bụt và các thầy tới. Các em của Svastika cũng đã dậy và sửa soạn để tiễn đưa anh.

Chú Rahula đến ân cần hỏi thăm từng đứa em của Svastika. Chú hứa trong tương lai nếu có dịp đi ngang qua vùng Gaya thế nào chú cũng sẽ ghé thăm mấy đứa. Chị Sujata và ba đứa em của Svastika đưa Bụt và đoàn khất sĩ ra tới bờ sông. Đoàn người theo con đường ven sông để đi về phía Đông Bắc. Bốn chị em chắp tay chào Bụt, chào các thầy, chào chú Rahula và chào Svastika. Svastika thấy lòng nao nao. Đây là lần đầu tiên chú Svastika rời bỏ quê hương. Nghe nói phải đi đến mười hôm mới tới được thành Rajagaha. Bụt và các thầy khất sĩ đi thật khoan thai. Đi như thế này thì lâu đến là phải. Nhưng Svastika cũng chậm bước lại. Bước chân Svastika cũng trở nên khoan thai. Lòng Svastika bây giờ bình yên hơn. Svastika đã một lòng quay về nương tựa Bụt, nương tựa Pháp và nương tựa Tăng. Svastika đã có đường đi của mình.

Chú quay lại nhìn một lần chót. Bóng của chị Sujata và các em đã khuất sau rừng cây.

Svastika có cảm tưởng là Bụt đi để mà đi chứ không phải đi để mà tới. Đoàn khất sĩ đi theo người cũng vậy. Không ai tỏ vẻ nóng ruột hoặc hấp tấp muốn cho chóng tới Rajagaha. Mọi người bước những bước vững chắc, chậm rãi và thanh thản. Đi như là đi chơi. Không ai tỏ vẻ mỏi mệt. Vậy mà mỗi ngày đoàn người đi được rất xa. Cứ vào khoảng mười giờ sáng thì đoàn khất sĩ lại ghé vào một thôn xóm bên đường để khất thực. Họ đi thành một hàng. Bụt đi đầu, tay phải người nâng bình bát, Svastika đi chót, ngay sau chú Rahula. Đoàn người trang nghiêm vừa đi vừa theo dõi hơi thở, mắt nhìn phía trước. Thỉnh thoảng đoàn người dừng lại. Đó là khi có người trong xóm đem thức ăn ra cúng dường. Họ đứng nghiêng mình đổ thức ăn vào trong bình bát của các vị khất sĩ. Có người quỳ xuống bên đường để dâng cúng thức ăn. Các vị khất sĩ sau khi nhận thức ăn thầm lặng hộ niệm cho người thí chủ.

Đoàn khất sĩ sau khi khất thực từ từ đi ra khỏi thôn xóm và tìm tới dưới một khu rừng hay dưới một bãi cỏ. Họ ngồi xuống thành vòng tròn và chia xẻ thức ăn đã xin được cho những chiếc bình bát chưa có gì. Chú Rahula từ bờ sông đi lên mang theo một bình nước đầy. Chú cung kính mang bình nước tới trước mặt Bụt. Bụt chắp tay lại thành một búp sen. Chú đổ nước trên tay Bụt để Bụt rửa tay. Rồi chú đến trước các vị khất sĩ, cung kính đổ nước trên tay từng vị. Sau cùng chú đến đổ nước cho Svastika rửa tay. Sau đó mọi người chắp tay lại để quán niệm và chú nguyện. Rồi mọi người nâng bát lên ăn. Bữa ăn trang nghiêm và im lặng. Svastika chưa có bát. Chú Rahula đã chia thức ăn cho Svastika trên một tàu lá chuối tươi.

Thọ trai xong, đoàn khất sĩ tìm nơi nghỉ trưa. Có vị tiếp tục đi thiền hành. Có vị ngồi thiền tọa dưới gốc cây. Khi nắng bắt đầu dịu xuống, mọi người lại lên đường. Đoàn người đi cho đến khi bóng chiều ngả thì mới tìm nơi tá túc. Chỗ nghỉ đêm tốt nhất của họ là một khu rừng thưa. Mọi người đều có mang theo tọa cụ. Họ ngồi xếp bằng trong tư thế hoa sen để thiền tọa dưới một gốc cây. Có vị thiền tọa đến quá nửa đêm mới ngả lưng xuống nghỉ trên áo cà sa xếp tư của mình. Các vị khất sĩ thường mang theo mình một chiếc y khác. Họ dùng y này để đắp khi trời trở lạnh. Svastika cũng bắt chước mọi người thiền tọa, và chú cũng học cách ngả lưng ngủ dưới một gốc cây, đầu chú gối trên một chiếc rễ cây.

Buổi sáng thức dậy, Svastika thấy Bụt đã dậy từ hồi nào và đang an nhiên ngồi tĩnh tọa. Dáng điệu của người trầm tĩnh và an lạc lạ thường. Nhìn quanh, Svastika thấy nhiều vị khất sĩ cũng đã dậy và đang thực tập thiền quán. Khi trời đã sáng rõ, mọi người lại xếp y, cầm bát và chuẩn bị lên đường.

Ngày đi đêm nghỉ, như thế được mười hôm thì đoàn người tới thủ đô Vương Xá. Đây là lần đầu tiên trong đời Svastika thấy nhà cửa phố xá đông đúc như vậy. Xe ngựa rộn rịp. Tiếng cười tiếng nói vang vang. Tuy nhiên, đoàn khất sĩ vẫn đi khoan thai, nghiêm chỉnh và tịnh lạc như đi trên một bờ sông hoặc một con đường giữa hai cánh đồng lúa nơi thôn dã. Nhiều khách bộ hành dừng lại để ngắm đoàn khất sĩ. Có người nhận ra được Bụt. Họ vội sụp xuống lạy một cách kính cẩn. Đoàn khất sĩ vẫn an nhiên đi. Rồi đoàn khất sĩ về tới tu viện Trúc Lâm.

Tin Bụt về tới Trúc Lâm phút chốc đã được truyền đi khắp tu viện. Chỉ trong chốc lát, gần bốn trăm vị khất sĩ cư trú tại Trúc Lâm đã tề tựu lại tịnh xá của người để thăm hỏi. Bụt không nói chuyện nhiều, người chỉ hỏi thăm mọi người về hiện trạng tu học và hành đạo tại Trúc Lâm và tại thành Vương Xá. Rồi người giao Svastika cho thầy Sariputta. Thầy Sariputta hiện là vị giáo thọ của chú Rahula. Thầy cũng là vị giám viện của tu viện Trúc Lâm. Hiện thầy đang hướng dẫn việc tu học cho gần năm trăm vị khất sĩ tân học, nghĩa là những vị khất sĩ trẻ mới được xuất gia trong vòng vài ba năm. Người đứng đầu tu viện là đại đức Kondanna.

Chú Rahula có phận sự chỉ dẫn cho Svastika về thể thức sinh hoạt hàng ngày trong tu viện: cách đi, cách ngồi, cách đứng, cách chào hỏi, cách thiền hành, cách thiền tọa, và cách quán niệm hơi thở. Rahula cũng chỉ cho Svastika cách khoác y, mang bát, cách khất thực, chú nguyện rửa bát.

Nội trong ba hôm, Svastika theo sát chú Rahula để học tất cả những thứ đó. Rahula chỉ dẫn rất tận tình, nhưng Svastika biết rằng để có thể làm được những việc này một cách ung dung và tự nhiên như chú Rahula, chú phải thực tập trong nhiều năm. Cuối cùng thầy Sariputta gọi Svastika vào thảo am riêng của thầy. Thầy bảo Svastika ngồi xuống trên một chiếc ghế thấp bên cạnh thầy và bắt đầu giảng cho Svastika về giới luật của người khất sĩ.

Khất sĩ là người từ bỏ đời sống gia đình, nương vào Bụt như người đưa đường chỉ lối cho mình trong cuộc đời, nương vào Pháp như con đường đưa tới sự thành tựu đạo nghiệp giải thoát, và nương vào Tăng như đoàn thể của những người cùng đi trên một con đường chí hướng. Người khất sĩ phải sống đời đạm bạc và khiêm nhường. Đi khất thực là để thực hiện tinh thần ấy mà cũng là để có cơ hội tiếp xúc với dân chúng và hướng dẫn mọi người vào con đường của hiểu biết và thương yêu mà Bụt chỉ dạy.

Mười năm về trước dưới cây Bồ Đề, Svastika và các bạn đã từng được nghe Bụt nói về đạo giải thoát như con đường của hiểu biết và thương yêu, nên bây giờ chú hiểu rất chóng những điều mà thầy Sariputta đang giảng dạy. Nét mặt thầy nghiêm trang, nhưng hai mắt và nụ cười của thầy bộc lộ rất nhiều từ ái. Thầy nói sáng ngày mai Svastika sẽ được làm lễ thế phát xuất gia để được gia nhập vào giáo đoàn khất sĩ. Và thầy dạy cho Svastika học thuộc những câu nói mà chú phải nói trong lễ thọ giới.

Trong lễ thọ giới của Svastika, chính thầy Sariputta, là giới sư truyền giới. Chỉ có khoảng trên hai mươi vị khất sĩ tham dự. Bụt cũng đến tham dự lễ truyền giới này. Rahula cũng có mặt. Svastika rất sung sướng. Thầy Sariputta làm lễ xuống tóc cho Svastika. Tay cầm dao cạo, thầy im lặng một lát để chú nguyện rồi đưa dao cạo một vài đường tóc trên đầu Svastika. Sau đó Rahula nhận trách nhiệm hoàn tất việc cạo đầu cho vị giới tử mới. Svastika được thầy Sariputta trao cho ba chiếc y, một chiếc bình bát và một dụng cụ lọc nước. Đã học cách quấn y với Rahula rồi nên chú mặc y vào người một cách tự nhiên và mau chóng. Chú sụp lạy trước Bụt và đoàn thể các vị khất sĩ để biểu lộ niềm quý kính và lòng biết ơn của chú.

Ngay sáng ngày hôm ấy Svastika được tập sự đi khất thực. Chú đã là một bhikkhu. Quấn y, mang bát, chú gia nhập vào đoàn của vị y chỉ sư của mình, tức là thầy Sariputta. Rahula là thị giả của thầy Sariputta nên cũng có trong đoàn của chú. Mấy trăm vị khất sĩ trong tu viện Trúc Lâm chia nhau thành nhiều đoàn, mỗi đoàn đi khất thực trên một con đường khác nhau của thành Vương Xá. Hôm ấy Bụt không đi trong đoàn của Svastika.

Vừa bước ra khỏi tu viện, Svastika thấy ngay rằng đi hóa trai là một phương thức hành đạo. Lập tức chú trở về theo dõi hơi thở. Chú bước từng bước đoan nghiêm, đôi mắt nhìn thẳng về phía trước. Chú Rahula hiện đi ngay phía sau chú. Tuy Svastika có ý thức rằng mình là một vị khất sĩ thực thụ, chú cũng biết rất rõ là kinh nghiệm tu học của chú còn kém xa kinh nghiệm tu học của Rahula. Và chú thường nguyện nuôi dưỡng đức khiêm cung nơi chú.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

viết bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trích đăng

Tình bạn – Trích “Đời sống bí ẩn của cây”

“Nhưng tại sao cây lại là sinh vật có tính xã hội? Tại sao chúng lại chia sẻ thức ăn với cây cùng loài và thỉnh thoảng còn nuôi dưỡng cả đối thủ của chúng?”

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Đời sống bí ẩn của cây

Tác giả: Peter Wohlleben

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Phát hành: tháng 8.2019

Tình bạn

Nhiều năm trước, tôi tình cờ thấy một bãi đá hình thù kỳ lạ phủ đầy rêu tại một trong số những khu bảo tồn dẻ gai cổ thụ mọc ở cánh rừng tôi quản lý. Ngẫm nghĩ lại, tôi nhận ra mình đã từng đi qua bãi đá này rất nhiều lần mà chẳng hề lưu tâm đến nó. Nhưng ngày hôm đó, tôi đã dừng lại và cúi xuống để nhìn thật kỹ. Các tảng đá có hình dạng khác thường: Chúng hơi cong và có nhiều vùng rỗng bên trong. Thật cẩn thận, tôi gạt rêu trên một trong những tảng đá ra. Thứ tôi thấy bên dưới lớp rêu là vỏ cây. Vậy hóa ra chúng chẳng phải là đá, mà là những khối gỗ già. Tôi đã ngạc nhiên trước độ cứng của những “viên đá” này, vì thường chỉ cần ít năm thôi là gỗ dẻ gai nằm trên nền đất ẩm đã phân hủy. Nhưng điều tôi ngạc nhiên nhất chính là việc tôi không thể nâng nổi khối gỗ lên. Rõ ràng là nó đã bám chặt vào đất bằng cách nào đó.

Tôi lấy con dao bỏ túi ra và cẩn thận cạo đi một ít vỏ cây cho đến khi chạm đến lớp có màu hơi lục. Lục ư? Màu này chỉ tìm được trong chất diệp lục – thứ tạo nên màu xanh của lá non; chất diệp lục cũng được trữ trong phần thân của những cây còn sống. Điều này có nghĩa là: Khúc gỗ này vẫn còn sống! Tôi đột nhiên chú ý thấy những “viên đá” còn lại tạo thành hình rõ rệt: Chúng xếp thành một vòng tròn với đường kính khoảng 5 feet (152,4 cm). Thứ mà tôi tình cờ tìm thấy lại là phần “xương xẩu” sót lại của một gốc cổ thụ khổng lồ. Tất cả những gì còn lại là vết tích của phần rìa ngoài cùng. Phần bên trong đã hoàn toàn mục rữa thành đất mùn từ rất lâu – dấu hiệu rõ ràng cho thấy cây có lẽ đã ngã xuống ít nhất bốn hay năm trăm năm trước đó. Nhưng làm thế nào mà phần còn sót lại này có thể tiếp tục sống lâu đến thế?

Tế bào sống cần có thức ăn dưới dạng đường, chúng phải thở, và phải phát triển thêm, ít nhất cũng phải lớn hơn được một chút. Nhưng không có lá – và vì vậy không có sự quang hợp – thì việc đó là không thể. Không sinh vật nào trên hành tinh của chúng ta có thể nhịn đói hàng thế kỷ, thậm chí tàn tích của một cái cây cũng chẳng thể, và chắc chắn một gốc cây càng không tồn tại được đến giờ nếu chỉ dựa vào mình nó. Rõ ràng là có điều gì khác đang xảy ra với gốc cây này. Chắc hẳn nó đã nhận được sự giúp đỡ từ những cây sống xung quanh, cụ thể là từ rễ của chúng. Các nhà khoa học nghiên cứu những tình huống tương tự đã phát hiện sự giúp đỡ có thể đến từ rất xa thông qua hệ thống nấm nằm quanh các đầu rễ – thứ tạo điều kiện cho việc trao đổi dưỡng chất giữa các cây – hoặc có thể đến từ chính sự liên kết giữa các sợi rễ của chúng. Trong trường hợp của gốc cây mà tôi tình cờ bắt gặp, tôi không thể khám phá được điều gì đang diễn ra, vì tôi không muốn làm gốc cây già bị thương khi đào xới xung quanh nó, nhưng có một điều rõ ràng rằng: Những cây dẻ gai xung quanh đã bơm đường cho gốc cây này để giữ nó sống sót.

Nếu nhìn vào những bờ đắp bên đường, bạn có lẽ sẽ thấy được cách mà cây cối kết nối với nhau thông qua hệ thống rễ của chúng. Ở những độ dốc này, mưa thường rửa trôi đất, khiến mạng lưới rễ ngầm dưới đất lộ ra. Các nhà khoa học tại dãy núi Harz ở Đức đã khám phá ra rằng điều này thực sự là minh chứng cho cách sống phụ thuộc lẫn nhau, và hầu hết các cá thể cây cùng loài mọc ở cùng vị trí sẽ kết nối với nhau thông qua hệ thống rễ của chúng. Dường như việc trao đổi dưỡng chất và trợ giúp hàng xóm khi cần chính là luật lệ, điều này dẫn đến kết luận rằng rừng là xã hội hữu cơ có kết nối nội bộ rất giống với tổ kiến.

Tất nhiên, rất hợp lý nếu hỏi rằng liệu có thể rễ cây chỉ đơn giản lang thang lòng vòng không mục đích dưới mặt đất rồi kết nối lại khi chúng tình cờ gặp được rễ cây khác cùng loài hay không? Một khi đã kết nối, chúng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc trao đổi dưỡng chất. Chúng tạo nên thứ giống như mạng xã hội, nhưng điều chúng trải qua chỉ đơn thuần là tình cờ cho và nhận. Trong trường hợp này, sự gặp gỡ tình cờ thay thế cho hình ảnh đầy cảm động về việc chủ động hỗ trợ, mà dù chỉ gặp gỡ tình cờ thì vẫn đem lại nhiều lợi ích cho hệ sinh thái khu rừng. Nhưng thiên nhiên phức tạp hơn thế nhiều. Theo Massimo Maffei của Đại học Turin, thực vật – bao gồm cây – có khả năng tuyệt vời trong việc phân biệt rễ của bản thân chúng với rễ của những loài khác, và thậm chí với rễ của những cá thể cùng họ.

Nhưng tại sao cây lại là sinh vật có tính xã hội? Tại sao chúng lại chia sẻ thức ăn với cây cùng loài và thỉnh thoảng còn nuôi dưỡng cả đối thủ của chúng? Nguyên nhân cũng tương tự như cộng đồng loài người: Làm việc cùng nhau có lợi hơn. Một cây làm chẳng nên rừng. Chỉ một mình, cây không thể thiết lập khí hậu khu vực phù hợp. Nó sẽ phải phó thân cho gió và thời tiết. Nhưng cùng nhau, nhiều cây sẽ tạo thành một hệ sinh thái giúp làm dịu cái nóng cực độ hay cái lạnh buốt xương, giúp lưu giữ thật nhiều nước, và sản sinh thật nhiều hơi ẩm. Trong môi trường được bảo vệ này, cây có thể sống mãi đến khi thành cổ thụ. Để sống được đến đó, cộng đồng cây phải còn nguyên vẹn dù bất cứ giá nào. Nếu mỗi cây đều chỉ biết tự lo thân mình, thì khá nhiều trong số chúng sẽ chẳng bao giờ có thể thành cổ thụ. Nhiều cây chết thường xuyên sẽ tạo ra những khoảng trống lớn trên tán rừng khiến bão có thể dễ dàng lọt vào trong và làm bật rễ nhiều cây hơn. Cái nóng của mùa hè cũng sẽ tràn xuống nền rừng và khiến nó bị khô hạn. Tất cả cây trong rừng đều sẽ chịu tổn thất.

Mỗi cây, vì vậy, đều có giá trị đối với cộng đồng và đáng được giữ lại càng lâu càng tốt. Đây là lý do vì sao ngay cả những cây bị bệnh cũng được hỗ trợ và nuôi dưỡng cho đến khi chúng bình phục. Lần sau, có lẽ sẽ ngược lại: Cây từng hỗ trợ cây khác có thể trở thành cây cần được giúp đỡ. Khi những cây dẻ gai rậm rạp màu xám bạc này cư xử như vậy, chúng làm tôi nhớ đến đàn voi. Cũng như đàn voi, chúng biết tự chăm sóc bản thân và giúp đỡ những thành viên bị bệnh hoặc yếu sức hồi phục. Chúng thậm chí rất miễn cưỡng khi phải bỏ lại thành viên đã chết.

Tuy mỗi cây là một thành viên của cộng đồng, nhưng lại có nhiều hạng thành viên khác nhau. Ví dụ, hầu hết các gốc cây đều sẽ mục rữa thành đất mùn và biến mất trong vòng vài trăm năm (đây chẳng phải là thời gian quá dài đối với cây). Chỉ có một số ít duy trì được sự sống qua hàng thế kỷ, giống như những “viên đá” phủ đầy rêu mà tôi vừa mô tả. Vậy sự khác nhau là gì? Không lẽ xã hội của cây cũng có công dân hạng hai như xã hội loài người? Có vẻ là vậy, mặc dù khái niệm “thứ hạng” chưa thực sự phù hợp lắm. Đúng hơn là mức độ kết nối – hay thậm chí có lẽ là tình cảm – mới là thứ quyết định một cây xanh nhận được bao nhiêu giúp đỡ từ các “cộng sự” của mình.

Bạn có thể tự kiểm tra điều này đơn giản bằng cách nhìn lên tán rừng. Một cây bình thường sẽ cứ mọc cành ra cho đến khi chạm phải đầu cành của cây hàng xóm có cùng chiều cao. Nó không xòe rộng ra nữa vì không khí và ánh sáng tốt hơn trong không gian này đã bị lấy đi. Tuy nhiên, nó lại “gia cố” thật kỹ những cành đã vươn dài, do đó bạn sẽ cảm thấy trên tán rừng như có một trận “so tài” chen lấn. Nhưng một đôi bạn thật sự sẽ cẩn thận ngay từ đầu không đâm những cành quá rậm rạp về phía nhau. Cây không muốn lấy đi bất cứ thứ gì từ bạn mình, nên chúng chỉ phát triển các cành cứng chắc ở rìa ngoài tán lá, nghĩa là, hướng về phía những cây “không phải bạn bè”. Những đôi bạn thế này thường có rễ liên kết rất chặt và thỉnh thoảng chúng thậm chí chết cùng nhau.

Thông thường, tình bạn sâu nặng đến mức phần gốc trơ lại vẫn được chăm sóc có thể chỉ hình thành trong những khu rừng chưa bị khai phá. Cũng có thể tất cả loài cây đều làm điều này chứ không chỉ riêng gì loài dẻ gai. Tôi từng tự mình quan sát phần gốc cây sồi, lãnh sam, vân sam và linh sam Douglas còn sống sót rất lâu sau khi bị chặt. Cây trong các khu rừng được trồng – hầu hết là các rừng cây lá kim ở Trung Âu, cư xử giống như “những đứa trẻ đường phố” mà tôi mô tả trong chương 27. Do rễ bị tổn thương không thể phục hồi lúc được trồng, nên chúng dường như không có khả năng tạo ra mạng lưới kết nối với nhau. Thông thường, cây trong những khu rừng được trồng như thế cư xử giống những kẻ cô độc và chịu tổn thương vì sự cô lập này. Và kiểu gì thì hầu hết chúng cũng chẳng bao giờ có cơ hội trở thành cổ thụ. Dựa theo chủng loài, những cây này sẽ được đánh giá là sẵn sàng để thu hoạch khi chúng chỉ khoảng một trăm tuổi.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Chiến tranh trong tình yêu – Chương 1 “Tình yêu hạnh phúc có tồn tại?”

Nàng và chàng đang trong cuộc khủng hoảng, cũng như nhiều lứa đôi đương đại. Tuy nhiên, cuộc chiến chàng – nàng đã nổ ra từ rất lâu, bắt nguồn từ sự mất ổn định của chế độ phụ hệ – chế độ xã hội mà quyền lực của người cha và các giá trị nam tính nắm ưu thế.

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Tình yêu hạnh phúc có tồn tại

Tác giả: Guy Corneau

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Xuất bản: Tháng 7.2019

Giới thiệu:

Làm thế nào sự hờ hững của người cha tạo nên những “người đàn bà yêu quá nhiều” và sự ân cần quá đáng của người mẹ tạo nên những “người đàn ông sợ tình yêu”?

Làm thế nào cuộc sống của chúng ta lại tràn đầy xung đột, đặc biệt với người mình yêu thương nhất, trong khi mỗi người chúng ta đều thiết tha đi tìm hạnh phúc? Cuộc chiến đó nhằm mục đích gì? Ai là người gây chiến? Phần thưởng cho người chiến thắng là gì? Và câu hỏi nhức nhối nhất: làm thế nào để chấm dứt nó?

Chàng và nàng trên ghế sofa

Nàng

Chàng vừa đi làm về, và vừa ngồi xuống ghế sofa trong phòng khách, vẻ mệt mỏi nhưng hài lòng. Chàng ngáp và vươn vai sau khi cởi giầy. Chàng có thật nhiều điều muốn kể với nàng, chàng nói liên tục ngay cả khi nàng vào bếp lấy mấy cái ly và chai rượu. Chàng đang mặc cái áo sơ mi mà nàng rất thích (cái áo đó chính nàng đã chọn) vì nó làm chàng trông lém lỉnh và nhẹ nhàng, xua bớt vẻ trịnh trọng của chàng. Nàng thích giây phút này, khi chàng hơi mệt mỏi nên có vẻ buông thả, và chịu nói chuyện dông dài với nàng. Câu chuyện chàng nói không có gì đặc biệt hấp dẫn, nhưng chí ít chàng cũng chịu nói chuyện. Chàng nói trong khi nàng từ từ tiến tới ghế sofa, và nàng bỗng muốn hôn chàng, chẳng vì lý do gì, chỉ để hoan nghênh giây phút này. Lần này nàng sẽ chủ động. Đây là một điều nàng ít làm (và chàng cũng thường trách cứ nàng điều này). Thế là nàng tiến gần lại, vẻ lả lơi khiêu gợi.

Chàng nhìn thấy nàng tiến tới, mỉm cười, đặt cái ly lên bàn, hôn trả lại cái hôn đầu tiên của nàng với sự thích thú rõ ràng. Nhưng nàng càng tiếp tục, mọi chuyện càng tồi tệ đi. Nàng cảm thấy sự không thoải mái hiển nhiên của chàng. Nàng cảm thấy thân hình chàng trở nên cứng đờ, nụ cười vẫn còn đó nhưng gương mặt chàng có vẻ đông cứng lại. Chàng ngừng nói chuyện và lại cầm lấy cái ly.

Rõ ràng chàng khó chịu, và nàng không hiểu gì cả. Ừ, thật ra thì nàng hiểu, nhưng không muốn hiểu. Mỗi khi nàng chủ động, mọi chuyện sẽ không đi xa được, lúc nào cũng là chọn nhầm lúc, chẳng hạn như chàng sẽ viện cớ đang nhức đầu. Cứ như thể… như thể chàng là đứa con nít sợ mẹ. Ồ không, nàng không phải mẹ chàng. Nàng chẳng dính dáng gì tới mẹ chàng cả, và bây giờ nàng những muốn đóng gói chàng gửi ngược lại cho mẹ chàng trong cái thùng với dòng chữ: hàng bị lỗi.

Chàng

Nàng đã về nhà trước chàng, mùi hương nàng đã tỏa đầy khắp căn hộ, cùng ánh nắng tràn trề rọi qua cửa sổ. Nàng hỏi chàng có muốn uống một cốc rượu vang không, và chàng nói tại sao lại không nhỉ. Chàng rất thích nàng phục vụ chàng một thứ thức ăn hay thức uống gì đó, khi nàng đang vui và ân cần. Những lúc như vậy, chàng cảm thấy được cưng chiều và cuộc đời thật đẹp. Chàng kể lể một vài điều linh tinh để làm nàng cười, vì chàng biết nàng thích nghe chàng nói chuyện. Chàng cứ nói, cứ nói và đột nhiên, chàng cảm thấy muốn làm tình với nàng. A, giá như nàng chủ động nhỉ, hầu như nàng chẳng làm thế bao giờ. Ồ nếu nàng làm thế, chàng sẽ nhai sống nàng ngay.

Nhưng đúng lúc ấy, nàng chủ động thật, nàng đang tiến về phía chàng với vẻ khiêu gợi. Mong đợi thành hiện thực. Nhưng có cái gì đó không ổn ở đây. Là vẻ say đắm trong ánh mắt nàng, sự khát khao trong cử chỉ của nàng, cứ như thể cuộc sống của nàng phụ thuộc vào đó. Cứ như thể nhu cầu tình cảm của nàng lớn đến nỗi không người đàn ông nào có thể đáp ứng nổi.

Nàng đặt cái ly xuống bàn, ôm hôn chàng, xiết chặt người nàng và người chàng. Lúc này đây, nàng đang muốn nghe chàng nói “anh yêu em”. Không chứ, mọi chuyện lại bắt đầu rồi. Nàng muốn nghe chàng nói “anh yêu em” từ sáng đến tối, mọi lúc mọi nơi. Cái câu “anh yêu em” đó, chắc chàng phải thâu băng lại cho nàng có thể nghe mỗi khi nàng thích. Chàng bắt đầu thấy bực mình rồi. Ở đâu ra cái nhu cầu tình cảm lớn đến vậy, cứ như cái hang sâu hút mà chàng tránh đến gần, sợ nhỡ sảy chân rơi xuống thì hỏng. Chắc chắn nàng sẽ lặp lại câu “em thiếu tình thương của cha mà”. Thiếu tình thương của cha! Cứ làm như chàng được cha thương yêu lắm không bằng.

Sau cái hôn thứ tư, chàng chộp lấy ly rượu. Chàng hy vọng nàng không nhận ra sự khó chịu trong lòng mình. Nhưng nhạy cảm như nàng, dĩ nhiên là nàng đã thấy. Chỉ còn cách là chàng làm đổ một ít rượu xuống thảm và vì thế có thể chạy vào nhà vệ sinh, để tâm trạng bình thường trở lại.

Nàng

Vậy đó, lại thêm một lần nữa chàng chạy biến mất. Nhưng lần này, nàng thề sẽ không chạy theo đuôi chàng đâu nhé. Nàng ngán tới tận cổ thứ đàn ông lãnh cảm này rồi. Nàng đã chán ngấy việc đóng vai cô gái dễ thương rồi. Nàng đã chán phải chuẩn bị các món ăn ngon cho chàng, phải chiều những trò chơi chàng ham thích trên giường, với hy vọng đổi lại sự trìu mến dịu dàng không bao giờ đến. Nàng giận thật rồi, nhưng nàng sẽ nổi giận trong yên lặng, vì những gì nàng muốn nói bây giờ có vẻ thô lỗ, độc địa quá. Mới năm phút trước đây thôi nàng còn muốn hôn chàng, nhưng giờ nàng chỉ muốn tìm cách trả đũa. Chàng mà thò đầu ra khỏi nhà vệ sinh xem…

Chàng

Chàng tự trách phản ứng của mình. Nói cho cùng, nàng làm điều đó chỉ cốt khiến cho chàng vui lòng. Nếu chàng chiều theo sự chủ động của nàng lần này, nếu chàng
cho nàng sự âu yếm lãng mạn mà nàng mong đợi, có thể trận chiến bắt đầu từ vài ngày nay sẽ kết thúc. Thế là chàng trở lại phòng khách, lòng đầy dự định tốt lành.

Chàng nhìn thấy nàng lúc đó trông xa lạ, lạnh lẽo, đanh đá, ngồi lùi sát một góc sofa. Những dự định tốt lành bay biến hết. Nàng muốn chiến tranh chứ gì, nàng sẽ có chiến tranh! Chàng không để bị áp đảo được. Nhất là từ khi nàng bắt đầu đi tư vấn tâm lý và bắt đầu học khẳng định mình, nàng không bỏ sót một dịp gây hấn nào, mọi chuyện ngày càng tồi tệ hơn. Rồi thì nàng bắt đầu bản trường thoại của nàng về cuộc sống hai người và những hiệp ước, máu chàng bắt đầu sôi lên. Chàng nuốt một ngụm rượu, nhưng rượu lúc này có vị chua như giấm. Cái gì nàng động đến cũng chua như giấm. Buổi tối nay thế là hỏng bét. Chàng chỉ còn muốn mỗi một điều là bỏ đi khỏi nhà. Đang định mở miệng nói, nàng đã chặn trước: “Tôi cá rằng anh lại muốn bỏ đi. Anh thấy tôi quá phiền chứ gì? Anh tưởng rằng đàn bà khác sẽ chịu được anh và xử sự khác tôi sao? Có thật anh nghĩ một ngày anh sẽ tìm được người đàn bà lý tưởng? Nhìn lại mình đi, cưng à!!”

Sức nặng của giấc mơ

Vậy là bắt đầu điệu vũ của những lời chê bai và kết tội. Cả hai sẽ ngày càng lớn tiếng, sẽ dẫn đến vài cú sấm sét theo kiểu đóng sập cửa, bỏ đi và trở lại… Sẽ có vài tiếng la hét, nước mắt, cay đắng ở cả hai phía, hối hận, hôn nhau, và nếu là một tối may mắn, sẽ kết thúc bằng một pha làm tình. Và vài ngày sau mọi chuyện lại tiếp diễn.

Tôi biết, bạn nghĩ rằng chuyện này chỉ xảy ra trong nhà bạn. Xin lỗi phải làm bạn thất vọng, chuyện này xảy ra ở khắp nơi. Dĩ nhiên bạn có thể thêm thắt vào vài điểm nhấn cá nhân, có khi câu chuyện xảy ra giữa hai người đàn ông, hoặc hai người đàn bà, có khi nàng là người lãnh cảm không muốn chàng lại gần, có khi cuộc cãi vã dẫn đến ẩu đả… Nhưng nói chung kịch bản không thay đổi nhiều lắm, đến nỗi chúng ta có cảm giác là chuyện tình cảm của con người diễn ra theo một chương trình đã định sẵn.

Nàng tự thấy mình đã sẵn sàng và đi tìm một người đàn ông có ý muốn ổn định và quyết định ràng buộc. Nàng muốn được ấm áp và an toàn, từ xưa đến giờ nàng chưa có được cảm giác đó, cha đã không cho nàng. Nhưng sức nặng của sự chờ đợi như thế làm chàng phát sợ. Hơn nữa, chàng không hiểu chút gì về cái gọi là quan hệ hòa hợp thấu hiểu giữa hai giới, chàng còn không hiểu chính mình nữa là. Chàng biết cái gì là quyền lực, là chiến thắng, là cơ khí, là vận dụng đầu óc. Nhưng những gì liên quan tới tình cảm lại là chuyện khác. Hình như chàng thiếu hiểu biết về thứ gia vị gì đó để nấu món ăn tình yêu, mà nàng tự cho rằng mình biết. Bỗng nhiên chàng thấy mình thật không ra gì trên lĩnh vực tình cảm. Chàng thấy có lỗi vì không thể thỏa mãn giấc mơ mà nàng tha thiết đến thế, có lẽ chàng không thích hợp để giúp nàng điều này. Nàng cảm thấy đau khổ vì không đủ khả năng làm cho chàng hạnh phúc. Vậy mà nàng đã cố gắng bao nhiêu để giúp chàng trở thành mẫu hoàng tử mà nàng mong muốn. Chàng thì cảm thấy bị kiểm soát, dắt mũi, ép uổng thành mẫu người không phải bản chất chàng. Cảm giác khó chịu này giống như khi chàng đứng trước mặt mẹ. Bà cũng thế, bà lúc nào cũng chỉ muốn ép chàng thành hoàng tử bé. Cùng một dạng áp lực, nàng đè nặng lên chàng mà không hay biết.

Nàng không nhận ra sức nặng của giấc mơ. Chàng không nhận thấy sức nặng của sự khó tính, hờ hững nơi mình. Chàng không nhận thấy mình muốn nàng phải trả giá, phải nhận bài học vì cái giấc mơ hoang đường ấy của nàng. Và cứ thế, sự tình dần trở nên khó chấp nhận. Nàng, chờ đợi và theo chàng. Chàng, im lặng và lẩn trốn. Bằng những cử chỉ của mình, mỗi người tiết lộ điều mình mong đợi ở người kia, và lần lượt khiến cho nhau thất vọng. Hai người duy trì tình trạng này ngày này sang ngày khác như thể để xem sức chịu đựng của mình và người kia tới đâu, để xem người kia thất vọng và để tang giấc mơ ấy như thế nào. Họ tiếp tục quen nhau vì nhu nhược. Cho đến một ngày, nhận ra mình đã bị dắt mũi quá lâu, đã dậm chân tại chỗ quá lâu, họ chia tay trong chán chường. Nàng thấy mình đã bị lừa. Còn chàng thấy mình bị sập bẫy. Và cả hai đều đau khổ khi chấm dứt cuộc tình.

Điệu vũ của những tiếng thở dài từ hai phía không phải mới, chúng ta quan sát thấy nhiều từ hơn một phần tư thế kỷ nay. Chúng ta cần một cuộc khủng hoảng tận gốc để mong thay đổi nó.

Khi cuộc sống lứa đôi là chiến trường

Chế độ phụ hệ mất thăng bằng

Nàng và chàng đang trong cuộc khủng hoảng, cũng như nhiều lứa đôi đương đại. Tuy nhiên, cuộc chiến chàng – nàng đã nổ ra từ rất lâu, bắt nguồn từ sự mất ổn định của chế độ phụ hệ – chế độ xã hội mà quyền lực của người cha và các giá trị nam tính nắm ưu thế. Trong hoàn cảnh đó, câu nói: “Yêu nhau, hai người trở thành một” là không rõ. Phải trả lời thêm câu hỏi: Nhưng một đó là ai, đàn ông hay đàn bà? Và với một cặp đôi cổ điển, sự hòa hợp trong gia đình chủ yếu dựa trên sự khuất phục, hy sinh của người phụ nữ. Hai người hòa hợp để xây dựng mái ấm của người đàn ông, mái ấm sẽ tuân theo các chỉ dụ của chế độ phụ hệ. Người đàn bà thường phải chối bỏ cá tính của mình, nghĩa là chối bỏ những sở thích, tham vọng, tính sáng tạo của mình để tập trung vào việc nuôi dạy con cái.

Ngày người phụ nữ bắt đầu không chấp nhận tình trạng trên, lứa đôi dĩ nhiên sẽ lâm vào khủng hoảng, vì chúng ta không biết, không có hình mẫu nào trong lịch sử dạy ta biết phải làm gì để chung sống hòa hợp mà vẫn là hai con người toàn diện và tự chủ.

Chế độ phụ hệ là hệ thống tư tưởng chi phối tâm lý của mọi người đàn ông và đàn bà. Ý thức hệ này đặt vị trí của người đàn bà là phục tùng đàn ông, dựa trên các thành kiến là những gì người đàn ông thực hiện, sản xuất thì hiển nhiên quan trọng hơn những gì người đàn bà thực hiện, cảm thấy… Thành kiến này cũng khiến những gì liên quan đến nữ tính, tình cảm, nội trợ… bị đánh giá thấp. Chính vì thế, ý thức phụ hệ bị khủng hoảng khi ngày càng nhiều phụ nữ khẳng định mình là con người toàn diện. Cuộc chiến nổ ra dưới mỗi mái nhà, trong mỗi gia đình. Một câu hỏi giản dị được đặt ra: ai phục vụ, và ai được phục vụ. Chúng ta có thể xem phụ nữ như các mật thám của sự hiện đại hóa xã hội. Tuy từ xưa, thời nào cũng có tấm gương phụ nữ đứng lên đòi sự công bằng và tôn trọng cho phái nữ, nhưng hiện tượng này chỉ phổ biến gần đây, cùng với thuốc ngừa thai, đến làn sóng phụ nữ bươn chải làm việc để kiếm sống sau Thế chiến II. Phụ nữ thoát khỏi việc làm mẹ không chủ động và lệ thuộc về kinh tế. Phong trào nữ quyền tích cực bắt đầu từ năm 1968 đến nay đã chứng kiến sự tham gia tích cực của phái nữ trên mọi lĩnh vực hoạt động.

Biến chuyển này dĩ nhiên ảnh hưởng sâu đậm đến quan hệ lứa đôi. Và như thế, cuộc sống lứa đôi hiện đại đã trở thành bãi chiến trường, nơi chế độ phụ hệ bị đe dọa, nơi hai nền tư tưởng nam tính và nữ tính đụng độ nảy lửa trong cuộc sống ngày thường, trong nhà bếp, trong phòng ngủ…

Chế độ phụ hệ nằm trong tâm tưởng mỗi chúng ta

Trong cuộc tranh chấp này, muốn phân biệt kẻ tốt người xấu, kẻ đúng người sai chỉ là ảo tưởng. Bởi chế độ phụ hệ không chỉ đàn áp và làm khổ phụ nữ, nó cũng cắt mất người đàn ông khỏi phần quan trọng của anh ta bằng cách đưa ra kiểu mẫu người đàn ông anh hùng, cứng nhắc, không biểu hiện cảm xúc, đến nỗi nhiều người đàn bà cứ tưởng đàn ông không có tình cảm gì, không biết tổ chức gia đình hay dạy dỗ con cái. Đó là phần ngược lại của thành kiến đặt trên phái kia, cho rằng đàn bà thì không biết suy nghĩ.

Tiếp tục duy trì những tư tưởng kiểu trên là một cách để duy trì mãi chế độ phụ hệ. Tốt hơn chúng ta nên nhìn đàn ông và đàn bà là hai phe hiện đang đoàn kết, từng cùng chịu bi kịch lịch sử, và cả hai đều có cả đao phủ lẫn nạn nhân. Hai phái nên bước ra khỏi vị trí xác định sẵn cho họ trong tiềm thức. Chúng ta từng thấy nhiều phụ nữ trong dòng chảy chung cố gắng học lấy sự cứng rắn để tìm chỗ đứng trong lĩnh vực của đàn ông. Những luật lệ khắc nghiệt của chế độ phụ hệ đã thấm sâu trong mỗi người: “dù là đàn ông hay đàn bà, muốn sống sót chúng ta phải cứng rắn, không có chỗ đứng cho sự yếu mềm tình cảm”.

Một đôi lứa thấu hiểu hòa hợp là không thể có được trong bối cảnh hiện nay, khi ý thức hệ như thế còn ngự trị trong xã hội. Nam tính được quan niệm như cắt rời khỏi cơ thể và trái tim, đồng nghĩa với trấn áp sự nhạy cảm và cảm xúc, và dựa trên sự phong tỏa các biểu hiện của cảm xúc. Mọi đau khổ đều được đề nghị chữa trị bằng lý trí thống trị, bằng các nguyên tắc trừu tượng. Chúng ta đưa công việc lên trước vui chơi, nghĩa vụ lên trước quyền lợi, lý trí lên trước tình cảm. Sự tham gia của mỗi người, đàn ông lẫn đàn bà, vào niềm tin hoang đường tập thể này đã khiến hai giới ngày càng cách biệt. Vì chế độ phụ hệ không chỉ là một hệ thống tổ chức xã hội và chính trị, nó hiện hữu trong mỗi người. Cũng chính vì lý do đó, công cuộc xây dựng mối quan hệ thấu hiểu sâu sắc giữa nam và nữ, trong công bằng và hỗ trợ, là liều thuốc duy nhất có thể cứu ta khỏi những đau khổ này.

Đi tìm sự thấu hiểu thực sự

Sự thấu hiểu giữa đàn ông và đàn bà dường như chưa từng hiện hữu. Cũng gần đây thôi, chúng ta bắt đầu lấy nhau vì tình yêu, và mới hơn nữa, chúng ta cố gắng không chia tay vì tình yêu. Trong khi trước đó, hôn nhân chủ yếu để tồn tại về kinh tế, để thăng tiến trong xã hội, để giữ gìn hoặc tăng thêm của cải… Những cặp vợ chồng thế hệ trước thường cố gắng ở bên nhau để họ hàng, nhà thờ, người quen khỏi đàm tiếu. Đối với họ, sự thấu hiểu giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái không nằm trong danh sách các nhiệm vụ phải thực hiện. Với họ, vai trò của người cha, người mẹ, cũng tức là người chồng, người vợ đã được xác định từ trước. Và quan niệm tĩnh lặng này dần dần làm khô héo cuộc sống.

Đó là lý do tại sao, ngày nay tất cả đều bùng nổ. Vai trò của cha mẹ, chồng vợ không còn rõ ràng như trước. Chúng ta đặt câu hỏi ngay cả thế nào là một người đàn ông, thế nào là một người đàn bà… Những câu hỏi tầm cỡ này, trên diện rộng như thế này chưa nền văn minh nào có cơ hội để đặt ra. Cuộc khủng hoảng này chưa từng có, và nó cho chúng ta cơ hội tiến hóa không gì so sánh được. Và cũng vì thế, thời đại này vừa quyến rũ, kích thích, vừa khiến chúng ta bối rối.

Trước sự bi quan, nhiều người sẽ cảm thấy trước cuộc tàn sát này, nhà báo và nhà tâm lý học Ariane Émond trả lời: chưa bao giờ quan hệ giữa đàn ông và đàn bà lại tốt hơn bây giờ, vì lần đầu tiên trong lịch sử, hai giới bắt đầu vượt khỏi những vai trò quy định sẵn để đối thoại thực sự với nhau.

Với những hình mẫu đàn ông và đàn bà của chế độ phụ hệ, một “đôi” hạnh phúc có thể nói là không thể tồn tại. Cuộc phiêu lưu mới này đầy thách thức và kích thích. Cái được thua trong cuộc chiến này không còn là ai sẽ phải hy sinh cho ai, mà là: làm thế nào để sống hòa hợp làm một trong khi mỗi người vẫn là chính mình.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Dazai Osamu: Thư gửi Kawabata Yasunari – Trích “Trăng cười”

“Nuôi con chim nhỏ, đi xem ca múa thì cuộc sống cao sang quý phái à? Ðau lòng thì có, tôi nghĩ vậy. Ðại ác nhân.”

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Trích từ: Trăng cười – Tuyển tập truyện ngắn hiện đại Nhật Bản

Tác giả: Nhiều tác giả

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Xuất bản: Tháng 2.2016

Mối ân oán giữa hai văn hào Kawabata và Dazai Osamu bắt nguồn từ việc chọn tác giả để trao giải thưởng văn học Akutagawa lần đầu tiên vào năm 1935. Dazai Osamu rất kỳ vọng vào tác phẩm “Hoa hề” của mình nhưng giải thưởng lại được trao cho Ishikawa Tatsuzo 石川 達三 (1905-1985). Kawabata phê phán Dazai là “ Tác phẩm phảng phất cái mùi của một cuộc sống hạ đẳng do đó khiến tôi thấy tiếc cho tài năng tác giả không được phát huy một cách đúng đắn”( 作者目下の生活に厭な雲ありて、才能の 素直に発せざる憾みあった ) làm cho Dazai nổi trận lôi đình. Dazai lập tức viết bài phản kích đăng trên tạp chí “Văn nghệ thông tín” ( 文藝通信 ) tháng mười năm đó rằng: “Nuôi con chim nhỏ, đi xem ca múa thì cuộc sống cao sang quý phái à? Ðau lòng thì có, tôi nghĩ vậy. Ðại ác nhân…” ( 小鳥を飼い、舞 踏を見るのがそんなに立派な生活なのか。刺す。そうも思った。大悪党だと思った ) phê phán lại cách sống của Kawabata qua tác phẩm “Cầm thú” và “Cô vũ nữ xứ Izu”.

Chúng tôi dịch nguyên văn bức thư của Dazai gửi Kawabata để chúng ta thấy được cá tính mạnh mẽ của Dazai và phần nào sự phức tạp của làng văn nghệ Nhật Bản. Bản dịch chúng tôi dựa trên nguyên tác “Thư gửi Kawabata” ( 川端康成へ ) trên trang mạng kho sách ngoài trời Aozora:

http://www.aozora.gr.jp/cards/000035/files/1607_13766.html


Trên tạp chí “Văn nghệ xuân thu” (文藝春秋) số tháng 9, ông đã viết về tôi với những lời ác ý “…Quả thực, tác phẩm “Hoa hề” (道化の華) chứa đầy quan niệm văn học và cuộc sống của tác giả. Thế nhưng theo ý kiến của tôi, tác phẩm phảng phất cái mùi của một cuộc sống hạ đẳng do đó khiến tôi thấy tiếc cho tài năng tác giả không được phát huy một cách đúng đắn”.

Chúng ta đừng nói ra những lời dối trá tệ hại nữa. Khi đọc bài viết của ông ở nhà sách, tôi cực kỳ khó chịu. Những lời này khiến tôi nghĩ dường như ông đã tự mình quyết định giải thưởng Akutagawa nhưng đây không phải là văn chương của ông. Chắc chắn đây là thứ văn chương được viết bởi một người nào khác. Thậm chí ông còn nỗ lực để thể hiện ra điều đó.

“Hoa hề” là tác phẩm tôi viết cách đây ba năm vào mùa hè năm tôi hai mươi bốn tuổi. Chủ đề của tác phẩm là viết về biển. Tôi đã đưa cho bạn mình là Konkan Ichi, Ima Uhei đọc, khi ấy bản thảo hãy còn rất sơ sài so với bây giờ, hoàn toàn không có lời độc thoại của chàng trai là “tôi” trong đó. Tác phẩm thuần túy chỉ là một bản tóm lược mà thôi. Mùa thu năm đó, tôi mượn được quyển “Luận về Dostoyevsky” của Gide từ nhà thơ Akamatsu Gessen gần nhà để đọc. Quyển sách này gợi cho tôi nhiều suy nghĩ nên tôi đã mang tác phẩm “Biển” nguyên sơ chân chất đó chia nhỏ ra, để cho nhân vật nam là “tôi” xuất hiện tùy chỗ trong tác phẩm và ra uy với bạn bè rằng đây là tác phẩm Nhật Bản chưa từng có. Các bạn tôi như Nakamura Chihei, Kubo Ryuichiro rồi ngay cả tiên sinh Ibuse đều đọc qua tác phẩm và nhận xét rất hay. Ðược tiếp thêm sinh lực, tôi tiếp tục sửa chữa, xóa bỏ rồi viết thêm, viết lại sạch đẹp đến lần thứ năm tôi mới cẩn thận bỏ vào trong túi giấy cất cẩn thận nơi chỗ để chăn đệm. Vào dịp Tết năm nay bạn tôi là Dan Kazuo đọc được mới nói: “Cậu này, đây là kiệt tác đấy, thử mang gửi cho tạp chí văn học nào hay là mang thử đến chỗ ngài Kawabata Yasunari xem sao”. Cậu ấy nói nếu là ngài Kawabata chắc chắn sẽ hiểu được tác phẩm này đấy.

Lúc đó tôi đang bế tắc trong việc viết truyện, có thể nói là một cuộc hành trình với tâm thế sẵn sàng phơi thây ngoài nội cỏ vậy. Thế nên lời khích lệ đó làm tôi hơi phấn chấn.

Dù cho anh tôi la mắng thế nào mặc kệ, tôi chỉ muốn mượn năm trăm yên. Rồi quay trở về Tokyo với tâm niệm thử làm lại một lần nữa xem sao. Cũng nhờ bạn bè tận lực mà từ lúc này trở đi tôi nhận được của anh mình năm mươi yên mỗi tháng trong khoảng 2, đến 3 năm tới. Trong khi tôi cuống cuồng tìm nhà thuê thì cơn viêm ruột thừa phát tác phải nhập viện Shinohara ở Asahaya. Mủ tràn ra thành ruột, suýt chút nữa thì tiêu đời nhà ma. Tôi nhập viện vào ngày 4 tháng 4 năm nay. Nhà văn Nakatani Takao đến thăm nói tôi gia nhập trường phái lãng mạn Nhật Bản đi rồi thì hãy xuất bản “Hoa hề” như một món quà lưu niệm.

Chuyện là như thế. “Hoa hề” đến tay Dan Kazuo. Dan chủ trương là nên mang đến chỗ ngài Kawabata xem thử. Tôi đau đớn vì bụng mới mổ xong, không thể nhúc nhích được chút nào. Phổi tôi lại yếu đi. Tôi trải qua những ngày không tỉnh táo. Sau này vợ tôi nói lại với tôi là bác sĩ cũng không thể đảm đương trách nhiệm nữa rồi. Tôi nằm li bì trong bệnh viện cả tháng trời, ngay cả việc ngẩng đầu lên cũng phải gắng sức lắm mới được. Vào tháng năm tôi được chuyển sang bệnh viện nội khoa ở Kyodo, khu Setagaya. Tôi nằm ở đó hai tháng. Vào ngày một tháng bảy, cơ cấu bệnh viện thay đổi, toàn thể bác sĩ y tá bị thay thế, tất cả bệnh nhân phải rời đi. Anh tôi cùng với một người quen làm nghề thợ may tên là Kita Hoshiro bàn bạc và quyết định đưa tôi về Funabashi, tỉnh Chiba. Cả ngày tôi nằm dài mà ngủ trên chiếc ghế mây, buổi sáng và chiều thì đi dạo một chút. Cứ một tuần thì có bác sĩ từ Tokyo xuống khám một lần. Tình trạng đó kéo dài hai tháng, và đến cuối tháng 8 tôi đọc được tạp chí “Văn nghệ xuân thu” ở nhà sách, trong đó có bài viết của ông. Bài viết có những câu như “Tác giả phảng phất cái mùi của một cuộc sống hạ đẳng và vân vân…”. Sự thật là tôi vô cùng phẫn nộ. Mấy đêm liền không thể nào ngủ ngon giấc được cả.

Nuôi con chim nhỏ, đi xem ca múa thì cuộc sống cao sang quý phái à? Ðau lòng thì có, tôi nghĩ vậy. Ðại ác nhân. Nhưng lúc đó từ sâu thẳm trong mình tôi không ngừng cảm thấy một thứ tình yêu mạnh mẽ nóng bỏng mà cũ kỹ già nua của ông dành cho tôi như thể Nellie trong “Những kẻ tủi nhục” của Dostoyevski vậy. Không phải đâu. Không phải. Tôi lắc đầu. Tuy nhiên cái thứ tình ái quá khích và thác loạn kiểu Dostoyevski dù bên ngoài tỏ ra lạnh lùng của ông thiêu đốt cơ thể tôi. Và ông chẳng mảy may biết gì về điều đó.

Bây giờ tôi không muốn so sánh trí tuệ với ông làm gì. Trong bài viết của ông tôi cảm nhận được thế nào là “thế gian” và đã ngửi thấy cái mùi đau đớn của “quan hệ kim tiền”. Tôi chỉ muốn thông báo điều này cho hai, ba độc giả nhiệt thành mà thôi. Ðó là điều tôi phải nói. Chúng ta bắt đầu nghi ngờ vẻ đẹp đạo đức của sự nhẫn nhục phục tùng rồi nhỉ.

Tôi nghĩ đến quang cảnh Kikuchi Kan vừa mỉm cười nói “Thôi thế cũng tốt. Bình an vô sự là hay rồi” vừa lấy khăn tay mà lau mồ hôi trán mà cũng mỉm cười chơi thôi. Mọi chuyện như vậy biết đâu lại hay, tôi nghĩ thế. Tôi cũng cảm thấy hơi tội nghiệp cho Akutagawa Ryunosuke nhưng gì nhỉ, đây cũng là “thế gian”. Ông Ishikawa thì có cuộc sống nghiêm túc đàng hoàng rồi. Về điểm đó thì ông ta nỗ lực rất nghiêm túc và bền bỉ.

Chỉ có điều tôi cảm thấy đáng tiếc mà thôi. Kawabata đã cố gắng hết sức che đậy sự dối trá vô tình của mình nhưng vẫn bị phát hiện. Ðó là điều tôi không ngừng cảm thấy đáng tiếc. Cũng chẳng cần phải làm thế. Chắc chắn chẳng cần phải làm thế. Ông cần phải ý thức rõ ràng hơn nữa (trong cách cư xử) rằng một tác gia luôn luôn sống giữa sự ngu ngốc và bất toàn.

Hết.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!