Nối kết với chúng tôi

Trích đăng

Chương 1 “Những đốm lửa lưu lạc” – Celeste Ng

Một câu chuyện xúc động về sự gắn kết mãnh liệt của tình mẫu tử, sức nặng của những bí mật, bản chất của nghệ thuật và tính đồng nhất trong một cộng đồng, như những ngọn lửa âm ỉ ủ trong vẻ ngoài tĩnh lặng, cứ chực chờ bùng cháy.

Published

on

Chi tiết tác phẩm

[Trích đoạn Chương 1] Những đốm lửa lưu lạc

Trích từ: Những đốm lửa lưu lạc

Tác giả: Celeste Ng

Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

Tái bản: tháng 3.2019

1

Ở Shaker Heights mọi người vẫn đang bàn tán về chuyện xảy ra vào mùa hè năm ấy: tại sao mà con bé Isabelle, đứa con út của gia đình Richardson, lại có thể phát điên mà châm lửa đốt nhà. Suốt mùa xuân, chuyện về bé Mirabelle McCullough trở thành chủ đề buôn chuyện – hoặc, tùy bạn đứng về phía nào, mà có thể gọi bé là Châu Mai Linh – còn bây giờ, rốt cuộc cũng có chuyện mới, một đề tài hấp dẫn để bàn luận. Một sáng thứ Bảy của tháng Năm, vừa non trưa, nhiều khách đang đẩy xe hàng mua sắm trong siêu thị Heinen’s đã nghe tiếng xe cứu hỏa inh ỏi chạy loạn xạ, hướng thẳng về phía hồ vịt. Khoảng 12 giờ 15 phút, bốn chiếc xe cứu hỏa đỗ thành một dãy đỏ lộn xộn dọc đường Parkland Drive, nơi cả sáu phòng ngủ của gia đình Richardson đang ngùn ngụt cháy, ai nấy trong vòng nửa dặm đều thấy khói bốc lên từ những ngọn cây giống như đám mây giông đen ngòm dày đặc. Sau đó, người ta đồn rằng từ lâu đã xuất hiện nhiều dấu hiệu rõ ràng: rằng Izzy là con nhỏ điên loạn, rằng gia đình Richardson lúc nào cũng có gì đó kỳ lạ, rằng vừa nghe tiếng còi báo động vào sáng hôm ấy thì họ biết chắc có chuyện khủng khiếp đã xảy ra rồi. Dĩ nhiên, lúc bấy giờ Izzy vẫn mất tích, không ai biện hộ cho cô và thiên hạ có thể – hoặc đã – đồn đoán bất cứ thứ gì mà họ thích. Dù khi xe cứu hỏa đến, và rồi sau đó một lúc, cũng không ai biết được chuyện gì đã xảy ra. Những người hàng xóm nép sát hết mức vào rào chắn tạm thời – chiếc xe tuần dương của cảnh sát, đỗ chắn ngang cách xa vài trăm mét – để quan sát đội cứu hỏa tháo các cuộn ống trong nét mặt khắc nghiệt của người đã nhận ra sự vô vọng. Bên kia đường, đàn ngỗng trong hồ vẫn ngụp đầu xuống nước lặn tìm rong, hoàn toàn không chút xáo trộn trước sự hỗn loạn này.

Bà Richardson đứng trên bờ cỏ, tay túm chặt cổ áo choàng màu xanh nhạt. Dù trời đã sang chiều, bà vẫn còn đang ngủ khi đầu báo khói rú lên. Bà đã đi ngủ muộn, cố vào giấc, tự nhủ thầm phải gắng nghỉ ngơi sau một ngày dài khó nhọc. Tối hôm qua, từ cửa sổ tầng trên, bà nhác thấy một chiếc xe hơi cố đậu lại trước nhà. Lối lái xe vào nhà vừa xa vừa vòng, hình cung trũng kiểu móng ngựa uốn cong từ lề đường đến trước cửa rồi trở ra – vì vậy con đường chính chỉ cách cỡ trăm bước, nhưng với bà nó xa đến mức bà khó lòng nhìn rõ, dù bây giờ vẫn đang là tháng Năm1, huống hồ lúc đó là chín giờ rưỡi đêm, trời đã sầm tối. Tuy vậy bà nhận ra chiếc Volkswagen cỡ nhỏ màu nâu vàng nhạt của vị khách thuê nhà, cô Mia, với chiếc đèn pha sáng rực. Cửa phụ mở ra, một dáng người mảnh mai xuất hiện, khép hờ cánh cửa: đứa con gái tuổi teen của Mia, là Pearl. Đèn dưới mui chiếu sáng bên trong khiến chiếc xe giống như một hộp trưng bày, nhưng chiếc xe xếp đầy nào hộp, nào túi đến gần chạm trần và bà Richardson chỉ có thể nhận ra chiếc bóng mờ nhạt tạo ra từ đầu cô Mia với búi tóc rối bù ngự trên đỉnh đầu. Pearl cúi xuống hộp thư, và bà Richardson chỉ có thể hình dung được tiếng cót két yếu ớt phát ra khi cửa hộp thư mở ra, rồi đóng lại. Sau đó Pearl nhảy lò cò trở vào xe và đóng cửa. Đèn phanh xe lóe lên đỏ rực sau đó chớp tắt, chiếc xe tất tả lao vào màn đêm đang buông đầy. Lòng thấy nhẹ nhõm, bà Richardson xuống chỗ hộp thư và nhìn thấy bộ chìa khóa đặt trên một chiếc nhẫn trơn, không một lời nhắn. Bà định sáng mai sẽ xem xét kỹ lưỡng cũng như kiểm tra căn hộ ở đường Winslow, dù bà biết rõ hai mẹ con họ đã đi rồi.

Nhờ biết chuyện này nên bà mới chịu đi ngủ, và bây giờ là mười hai giờ rưỡi, bà đang đứng trên bờ cỏ trong chiếc áo choàng tắm, chân xỏ đôi giày tennis của cậu con trai Trip, nhìn căn nhà của gia đình đang cháy thành tro bụi. Khi bị đánh thức bởi tiếng rít ầm ĩ từ đầu báo khói, bà chạy hết phòng này đến phòng khác tìm cậu, tìm Lexie, tìm Moody. Thật ngạc nhiên khi bà không tìm Izzy, có vẻ như bà đã đinh ninh rằng Izzy là đứa gây nên tội. Phòng nào cũng trống trơn nhưng lại nồng nặc mùi xăng cùng ngọn lửa nhỏ đang cháy tanh tách ngay giữa mỗi chiếc giường, y như có con điên đang cắm trại trên đó. Đến khi bà kiểm tra phòng khách, phòng sinh hoạt gia đình, phòng giải trí và phòng bếp thì khói đã bắt đầu lan rộng bao phủ hoàn toàn, cuối cùng bà tháo chạy ra ngoài, nghe tiếng còi báo động, tín hiệu phát ra từ hệ thống an toàn của căn nhà. Ngoài ngõ vào, bà thấy chiếc Jeep của Trip không còn, cả chiếc Explorer của Lexie, xe đạp của Moody cũng vậy và dĩ nhiên chiếc ô-tô mui kín của chồng bà cũng vắng mặt. Người ta phải gọi cho ông từ sở làm. Sau đó bà sực nhớ Lexie, ơn trời, tối qua con nhỏ qua đêm ở nhà Serena Vương. Bà tự hỏi liệu Izzy đã đi đâu. Bà tự hỏi liệu mấy đứa con trai của bà đang ở đâu, và làm cách nào tìm được chúng để báo chúng biết chuyện gì đã xảy ra.

Khi ngọn lửa được dập tắt, ngôi nhà chưa đến mức bị thiêu rụi hoàn toàn nhưng bà Richardson vẫn còn rất sợ hãi. Tất cả cửa sổ đều cháy rụi nhưng khung gạch của ngôi nhà vẫn còn, ẩm ướt, đen nhẹm đi và bốc đầy hơi nước, phần lớn mái nhà, các tấm bảng màu đen bóng bẩy lấp lánh giống như những chiếc vảy cá họ mới vừa ngâm tẩm. Trong vài ngày tới, gia đình Richardson không được vào nhà cho đến khi các kỹ sư của sở cứu hỏa kiểm tra xong tất cả những thanh xà còn trụ lại, tuy vậy, chỉ cần đứng từ bờ cỏ – nơi gần nhất với bảng CẢNH BÁO màu vàng mà họ được phép đến – họ vẫn nhìn thấy chút gì đó còn sót lại trong căn nhà đổ nát.

“Trời ơi,” Lexie sửng sốt. Cô ngồi ngay mép mui xe của mình, chiếc xe đang đỗ bên kia đường, trên bãi cỏ giáp cái hồ vịt. Cô và Serena vẫn đang say ngủ, lưng đâu lưng cuộn tròn trong chiếc chăn cỡ queen2 của Selena thì bác sĩ Vương lay vai cô, nói nhỏ, “Lexie. Cục cưng Lexie. Dậy nào. Mẹ con vừa gọi đấy.” Họ đã thức đến hơn hai giờ sáng, nói chuyện – như họ đã làm suốt mùa xuân – về bé Mirabelle McCullough, tranh luận về việc quyết định của quan tòa là đúng hay sai, liệu bố mẹ nuôi của con bé có nên nhận được quyền giám hộ hoặc liệu có nên trả nó về với mẹ ruột. Cuối cùng Serena nói “Thậm chí Mirabelle McCullough cũng không phải tên thật của con nhỏ, ôi trời,” và Lexie đáp lại, “Mẹ nó đã từ bỏ nó, đồng nghĩa cô ta từ bỏ luôn quyền đặt tên cho nó,” rồi họ rơi vào không khí tĩnh lặng ảm đạm cho đến khi cả hai ngủ thiếp đi.

Bây giờ Lexie nhìn đám khói cuồn cuộn bốc ra từ cửa sổ phòng ngủ của cô, cái cửa sổ hướng ra bãi cỏ, và nghĩ đến mớ đồ đạc trong phòng chẳng còn gì. Mỗi chiếc áo phông trong ngăn tủ kéo, mỗi cái quần jean trong tủ quần áo. Mớ ghi chú mà Serena đã viết cho cô từ hồi lớp Sáu hãy còn xếp lại thành các quả banh giấy, chúng được cất giữ trong một hộp giày đặt dưới giường; cả cái giường, các tấm ga trải giường và chiếc chăn bông đều cháy rụi thành than. Đóa hồng cài áo mà bạn trai Brian đã tặng trong chuyến hành hương được treo trên bàn trang điểm đến khô đi, những cánh hồng đỏ thắm, sẫm lại hóa đỏ bầm. Giờ chẳng còn gì ngoài tro tàn. Đột nhiên Lexie nhận ra rằng, trong bộ đồ vừa thay mà cô mang đến nhà Serena, thì cô còn khá khẩm hơn các thành viên còn lại trong nhà: trên ghế sau cô có cái túi du lịch, cái quần jean và bàn chải đánh răng. Bộ đồ ngủ. Cô liếc vội mấy đứa em, nhìn qua mẹ, mẹ hãy còn mặc áo choàng tắm đứng nơi bờ cỏ, và cô nghĩ, Thật luôn, mọi người chẳng còn gì ngoài bộ đồ dính trên người. “Thật luôn” là một trong những từ cửa miệng của Lexie, thậm chí cô gán nó vào những tình huống chẳng thật chút nào. Trong trường hợp này, chí ít một lần, không ít thì nhiều cô cũng dùng chính xác.

Ngay cạnh cô, Trip thất thần đưa tay xước tóc. Lúc này mặt trời đang đứng bóng, mồ hôi làm cho những lọn tóc quăn của cậu cứ ngang tàng dựng ngược. Cậu đang chơi bóng rổ tại trung tâm cộng đồng thì nghe tiếng xe cứu hỏa rền rĩ, nhưng cậu chẳng mấy để ý. Ngay sau đó, mọi người đói bụng và quyết định nghỉ chơi, cậu lập tức lái xe về nhà. Đúng kiểu Trip, thậm chí cửa xe có đang hạ xuống thì cậu cũng không bận tâm đến đám khói khổng lồ phảng phất bay về phía mình mà chỉ bắt đầu nhận ra chuyện không ổn khi thấy xe cảnh sát phong tỏa con đường. Sau mười phút giải thích, cuối cùng cậu cũng được phép đỗ chiếc Jeep của mình ở phía bên kia ngôi nhà, nơi Lexie và Moody đang ngồi đợi từ lúc nào. Ba chị em ngồi trên mui xe theo thứ tự, như thứ tự trong các bức ảnh chân dung gia đình từng treo chỗ cầu thang, những bức ảnh giờ đã thành tro bụi. Lexie, đến Trip, Moody: học sinh năm cuối, năm ba, năm hai. Cạnh bên, mấy chị em nhận ra chỗ trống mà Izzy, học sinh năm nhất, “con cừu đen”3 trong nhà, một đứa bất định, đã để lại.

“Rồi chúng ta sẽ ở đâu?” Trip hỏi. Phút lặng thinh bỗng chốc vây lấy ba chị em khi họ nhìn lại tình cảnh của nhà mình.

“Chúng ta sẽ đến khách sạn hoặc nơi nào đó đại loại thế,” cuối cùng Lexie trả lời. “Chị nghĩ trước đây gia đình Josh Trammell cũng làm vậy.” Ai cũng biết chuyện này: vài năm trước, Josh Trammell, một học sinh năm hai đã ngủ quên khi đèn cầy còn cháy làm căn nhà của bố mẹ cậu bị thiêu rụi. Nhiều năm qua, ở trường trung học vẫn đồn rằng nguyên nhân không phải cây đèn cầy mà vì hút cần sa4, nhưng bên trong ngôi nhà đã bị hủy hoại hoàn toàn nên chẳng thể nào biết được, và Josh mắc kẹt trong chuyện cây đèn cầy của chính mình. Người ta vẫn xem cậu là thằng đầu đất đốt nhà, dù chuyện này đã trôi qua nhiều năm, và mới đây Josh đã tốt nghiệp Đại học Ohio State với tấm bằng danh dự. Giờ đây, dĩ nhiên, đám cháy của Josh Trammell không còn là vụ hỏa hoạn lừng danh nhất ở Shaker Heights này nữa.

“Một phòng khách sạn? Cho cả bọn?”

“Sao cũng được. Thì hai phòng. Hoặc chúng ta sẽ đến khách sạn Embassy Suites. Chị không biết.” Lexie nhịp mấy ngón tay lên đầu gối. Cô muốn làm một điếu, nhưng sau những gì vừa xảy ra – và trước mắt mẹ với mười người lính cứu hỏa – cô không dám châm điếu. “Bố mẹ sẽ tính toán thiệt hại. Và phía bảo hiểm sẽ bồi thường cho nhà mình.” Mặc dù chỉ hiểu biết mơ hồ về thủ tục bảo hiểm, thì suy nghĩ này của cô nghe có vẻ hợp lý. Dù sao đi nữa, đây là chuyện của người lớn, không phải của bọn trẻ.

Những lính cứu hỏa cuối cùng đang từ nhà bước ra, kéo chiếc mặt nạ bảo hộ ra khỏi mặt. Khói từ đám cháy hầu như đã không còn, nhưng cảm giác oi bức vẫn bao phủ khắp nơi rất giống bầu không khí phòng tắm sau khi tắm nước nóng. Mui xe nóng dần lên và Trip duỗi chân xuống kính chắn gió, di mũi dép tông đẩy đẩy vào cần gạt nước. Rồi cậu phì cười.

“Gì mà vui vậy?” Lexie hỏi.

“Chỉ đang tưởng tượng cảnh con Izzy chạy loanh quanh để đánh diêm khắp nhà.” Cậu khịt mũi. “Cái con điên.”

Moody đang ngồi vắt chéo chân trên bãi cỏ cạnh chiếc xe đạp của mình. “Sao ai cũng khẳng định là nó?”

“Thôi đi.” Trip nhảy khỏi xe. “Là Izzy chứ ai. Chúng ta đều ở đây. Mẹ cũng ở đây. Bố thì trên đường về. Còn thiếu ai nữa?”

“Vì Izzy không có ở đây. Nên nó là đứa duy nhất có khả năng gây ra hay sao?”

Thủ phạm?” Lexie cắt ngang. “Izzy á?”

“Bố đang ở sở làm,” Trip nói tiếp. “Chị Lexie ở nhà Serena.

Em thì đang chơi bóng bên đường Sussex. Còn em, Moody?”

Moody ngập ngừng. “Em đạp xe đến thư viện.”

“Đó. Chị thấy chưa?” Với Trip, đáp án quá hiển nhiên. “Kẻ tình nghi duy nhất chỉ còn Izzy và mẹ. Mà mẹ thì đang ngủ.”

“Biết đâu đường điện nhà mình bị chập. Hoặc giả có người quên tắt lò nướng thì sao.”

“Đội cứu hỏa nói có nhiều mồi lửa rải khắp nhà,” Lexie nói. “Rất nhiều điểm phát lửa. Khả năng có cả chất xúc tác. Không phải sự cố.”

“Chúng ta đều biết con nhỏ đó thần kinh mà.” Trip ngả người tựa vào cửa xe.

Bên kia đường, xe cứu hỏa bắt đầu cuộn ống vào guồng. Ba đứa trẻ còn lại của nhà Richardson dõi theo đội cứu hỏa buông rìu xuống và cởi bỏ những lớp áo khoác vàng ám đầy mùi khói.

“Đứa nào qua đó ngồi với mẹ đi,” Lexie bảo, nhưng chẳng ai nhúc nhích.

Sau một phút, Trip tuyên bố, “Khi bố mẹ tìm thấy Iz, họ sẽ nhốt nó vào bệnh viện tâm thần đến hết đời.”

Không ai bận tâm đến việc cô Mia và Pearl vừa rời khỏi căn hộ ở đường Winslow. Bà Richardson, đang quan sát đội trưởng đội cứu hỏa tỉ mỉ ghi chép vào hồ sơ tạm nên đã hoàn toàn quên mất hai vị khách thuê cũ của mình. Bà còn chưa báo với chồng hay bọn trẻ về chuyện đó; nhưng sáng sớm hôm ấy, Moody đã phát hiện sự vắng mặt của họ và cậu vẫn không chắc mình nên làm gì. Phía cuối đường Parkland Drive, đốm xanh nhỏ – chiếc BMW của bố chúng – đang tiến lại gần.

“Sao anh biết chắc họ sẽ tìm ra nó?” Moody hỏi.


Chú thích:

  1. Ở Mỹ, vào mùa hè có những nơi tới 20 – 21 giờ đêm trời vẫn còn nắng.
  2. Giường cỡ queen có kích thước 1,6m x 2m.
  3. Con cừu đen chỉ một đứa con hư, khác với các anh chị em còn lại trong nhà (theo ý nghĩa tiêu cực).
  4. Từ gốc: “a joint”(tiếng lóng) – chỉ điếu cần sa nhỏ bằng điếu thuốc lá, chứa độc chất gấp 4 lần điếu thuốc lá.

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trích đăng

Đại sương mù? – Trích “Giành lại không khí sạch”

Published

on

By

“Một kẻ giết người vô hình” sinh ra từ xe cộ và các quy trình công nghiệp mà chúng ta đang không mảy may biết đến. Nhà báo về môi trường Tim Smedley, thông qua quyển sách Giành lại không khí sạch, đã kể một câu chuyện đầy đủ về những gì đã xảy ra với không khí mà chúng ta đang hít thở, bao gồm nó là gì, hóa chất nào có hại, chúng đến từ đâu và quan trọng nhất, chúng ta có thể làm gì với chúng. Giữa những con số thống kê đáng sợ, Tim Smedley hé mở hy vọng vẫn còn cho hành tinh.

Sách lọt vào danh sách rút ngắn của giải thưởng Royal Society Science Book Prize 2019 - giải thưởng tôn vinh các quyển sách hay về khoa học và những tác giả không chỉ là người viết, mà còn là những nhà tiên phong.

*
CHƯƠNG 1
Đại Sương Mù

London 1952
Cả cha và mẹ tôi đều sinh năm 1952. Ông ngoại của tôi, Selwyn Bate, là luật sư địa phương ở Tamworth, thành phố quê hương của tôi, và là giảng viên tại Trường Luật Birmingham. Thỉnh thoảng – mặc dù cố gắng tối đa để tránh điều đó – ngoại tôi vẫn phải đi đến London. Dì Claire của tôi nhớ mỗi khi ngoại đi tàu tới London mang theo Bộ Luật của Elizabeth, được viết trên da cừu, để giải quyết tranh chấp tại Tòa án Tối cao. Ông ngoại ghét thủ đô. Quá đông đúc và quá bẩn. Ông thường tắm rửa ngay mỗi khi trở về nhà từ London. Khi nghe những câu chuyện này, tôi đã từng giả định rằng đó là một kiểu hợm hĩnh nghịch lý. Vì là một người Lancaster, sống tại Tamworth thuộc vùng miền trung, ông chỉ muốn nam tiến đến đó là hết mức bởi không thích miền nam nước Anh. Sau đó, tới khi tôi biết về vụ Đại Sương Mù năm 1952, tôi đột nhiên hiểu được ý nghĩa của việc ông ngoại Bate tránh London như bệnh dịch hạch.

Thời tiết đầu mùa đông ở London vào năm 1952 rất lạnh, với tuyết rơi dày đặc trên toàn miền nam nước Anh. Để giữ ấm, người London phải đốt một lượng lớn than trong nhà của họ. Trong những thời điểm đặc biệt lạnh như thế này, ban đêm hầu hết các hộ gia đình đều “tiếp thêm những lớp than mới” vào lò sưởi để nó có thể cháy đến sáng. Điện được cung cấp bởi các nhà máy điện nội thành tại Battersea và South Bank, các nhà máy này đốt than và xả khói từ các ống khói cao hơn các ngọn tháp của nhà thờ. Vào mùa đông, không chỉ người ta đốt nhiều nhiên liệu hơn và tạo ra nhiều khói hơn, mà còn điều kiện “nghịch nhiệtI ” cũng sẽ xảy ra: nếu không khí gần mặt đất lạnh hơn không khí ở trên cao, nó sẽ bị giữ lại ở tầng thấp. Với bầu trời trong xanh, không có gió và mặt đất ẩm ướt, sương mù cũng hình thành. Và London từ lâu đã nổi tiếng với biệt hiệu “soup đậu” theo kiểu nói tiếng lóng của người vùng cực Đông của London (ý chỉ sương mù ô nhiễm London có màu vàng và đặc như soup đậu) được lãng mạn hóa trong những câu chuyện của Dickens và Conan Doyle và những bức tranh của Turner và Monet (người thích đến thăm vào mùa đông vì bị hút hồn bởi màu vàng u uẩn của sương khói ảo ảnh London).

Vào Thứ sáu ngày 5 tháng 12 năm 1952, làn sương mù dày đặc quen thuộc lại xuất hiện trên khắp London. Đám sương mù ấy cứ trơ ì đó, không bay lên cao được vào ngày hôm sau, hoặc ngày tiếp sau đó. Hiện tượng nghịch nhiệt kéo dài đã cho thấy nồng độ khói bụi tăng cao tới 56 lần so với mức độ bình thường. Các hồ sơ chính thức cho thấy tầm nhìn ở một số nơi giảm chỉ còn một thước Anh, mức thấp nhất từng được ghi nhận trong thành phố. Mọi người thậm chí không thể nhìn thấy đôi chân của mình. Do sương mù mà nhiều hành khách bị hổng chân từ những cây cầu xuống sông Thames băng giá và hụt chân rơi từ những thềm ga xuống đường ray khi tàu đang lao tới. Trong vòng 12 giờ kể từ khi khói bụi xuất hiện, hàng ngàn người bắt đầu gặp vấn đề về hô hấp và số ca nhập viện tăng đáng kể.

Theo hồ sơ ghi nhận của Met OfficeI , dải khói bụi kéo dài 13 dặm và chứa các chất gây ô nhiễm bao gồm: 1.000 tấn hạt khói (mà ngày nay chúng ta gọi là “carbon đen” hoặc PM10), 2.000 tấn carbon dioxide, 140 tấn acid clohydric và 14 tấn fluorine. Điều tồi tệ nhất trong địa ngục đó chính là 370 tấn lưu huỳnh dioxide ngưng tụ bởi các hạt nước trong sương mù đã biến đổi thành 800 tấn acid sulphuric. Nó cứ treo lơ lửng như thế này, dày đặc trong không khí, trong 5 ngày.

Tại Nhà hát Sadler’s Wells, vở opera La Traviata đã phải dừng lại do khán giả không còn có thể nhìn thấy sân khấu. Tại chợ gia súc Smithfield, những người nông dân phải đeo những chiếc mặt nạ làm từ vải bao bố tẩm whisky cho những con bò để cố gắng bảo vệ chúng. Khói bụi dính lên những tấm kính chắn gió như những vết sơn, buộc tài xế phải bỏ mặc phương tiện của mình. Phóng viên Phố Fleet của tờ báo Northern Whig đưa tin vào Thứ bảy ngày 6 tháng 12, “Nó đã len lỏi vào các cửa và văn phòng, nơi đèn đã bật sáng cả ngày… “Làn sương khói dày đặc” không những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người dân, mà các hóa chất độc hại nó mang theo còn ăn sâu vào cấu trúc của các tòa nhà, đốt cháy và “nhuộm đen” cây cối”. Có một sự giễu cợt đầy lo lắng trong những bản tường thuật đầu tiên. Tờ Daily Telegraph đưa tin về thương vong đầu tiên: “Một chú vịt trời, được cho rằng đã bị che khuất bởi màn sương, đã đâm vào ngài John Maclean khi ông đang trên đường về nhà tại đường Ifield, Fulham. Cả hai đều bị thương nhẹ.” Tờ The Times thậm chí còn đưa một dòng tít giễu cợt hơn, tuyên bố rằng “Làn sương mù là những người Briton cổ đại. Họ đã gặp thuyền của tổ tiên bộ tộc Boadicea… họ đi lại xung quanh… một cách tự do trước khi bất cứ ai nghe về vấn đề giảm khói ô nhiễm”. Và có lẽ để dẫn đầu xu thế, phát ngôn chính trị ban đầu từ Đảng Bảo thủ của Churchill rất cao tay. Harold Macmillan, Bộ trưởng Bộ Nhà ở, nói với Hạ viện rằng “những cân nhắc quy mô rộng về kinh tế cần được đưa vào xem xét” – nói theo cách khác, những nhu cầu của công nghiệp được ưu tiên hơn những mối lo ngại về thời tiết.

Roy Parker, một sinh viên năm ba tại Đại học Kinh tế London vào thời điểm đó, hồi tưởng lại tại “Đại Sương Mù: 50 năm sau sự kiện màn sương khói khổng lồ London 1952”, một hội thảo dành cho các nhân chứng của sự kiện được tổ chức tại Trung tâm Lịch sử Sức khỏe Cộng đồng vào ngày 10 tháng 12 năm 2002, khi đó các báo cáo tin tức hầu hết chỉ quan tâm đến việc hủy bỏ các sự kiện thể thao: cả tôi lẫn họ đều không dành nhiều sự chú ý cho những hệ lụy về sức khỏe của con người. Tôi đáng lẽ ra đã phải nhận ra mức độ nghiêm trọng của thảm họa ấy, bởi vì cha của tôi, khi đó là một người điều khiển đầu máy hơi nước, và trước đó bị nhiễm khói độc một phần trong cuộc chiến tranh 1914-1918, đã có rất nhiều triệu chứng của việc hít phải bụi than và lưu huỳnh. Hầu hết thời gian ông đều gặp khó khăn trong việc hô hấp. Lúc đó ông 56 tuổi, và khi chúng tôi gặp nhau vào cuối tuần, ông đang ở trong tình trạng hết sức đau đớn, thở hổn hển để lấy hơi, chật vật, [nhưng] kiên quyết rằng mình sẽ đi làm bằng xe đạp… Thật khó để đánh giá mức độ phổ biến của bệnh viêm phế quản mãn tính đối với tầng lớp lao động công nghiệp ở đất nước này… Trong gia đình tôi, tất cả đàn ông đều có những triệu chứng như vậy.

Đến ngày thứ tư, thái độ của công chúng đã thay đổi. Tờ Hartlepool NorthernDaily Mail gọi nó là “màn sương mù đen đặc… dày đặc đến mức xe tuần tra của cảnh sát cũng bị tê liệt, và họ phải xử lý những cuộc gọi khẩn cấp 999 bằng cách đi bộ”. Số gia súc tại chợ Smithfield khi đó cũng đang chết dần, những con còn lại cũng bị mổ thịt sớm “theo yêu cầu của chủ”. Một phóng viên Phố Fleet viết cho một trong số những bài báo sáng Thứ hai tuyên bố: “Đây không phải là sương mù bình thường: nó chứa mọi thứ hổ lốn – bữa khai vị, cá, món ngọt, món mặn, cà phê đen và vẻ cau có của người bồi bàn. Nó làm cho mắt cay, cho hơi thở trở nên hôi thối… Tại Quảng trường Trafalgar tôi có thể nghe thấy tiếng của những hồ phun nước, nhưng chúng vô hình… [một người đồng nghiệp của tôi] tìm thấy một người đàn ông đang tìm ga tàu điện ngầm trong khi đang ở giữa Cầu Blackfriars.”

Khi sương mù biến mất vào ngày thứ năm – Thứ ba ngày 9 tháng 12, báo cáo về các bệnh viện quá tải bắt đầu tràn về, và sự nghiêm trọng của sự kiện trở nên rõ ràng. Giống như thảm họa tại Donora, Pennsylvania xảy ra 4 năm trước đó, các nhà tang lễ hết sạch quan tài và không còn hoa ở cửa hàng. Do tắc nghẽn giao thông và tầm nhìn gần như bằng không, số người chết tại nhà còn cao hơn số người kịp đi đến bệnh viện. Rosemary Merrit hồi tưởng lại với đài BBC World Service vào năm 2012 rằng cha của cô đi bộ một dặm rưỡi qua làn sương từ nơi làm việc đến nhà. Đêm hôm đó “ông ho nặng đến mức người ông trở nên tái xanh, và mẹ cô phải đánh thức hàng xóm dậy để cứu giúp… họ không thể đưa ông đến bệnh viện bởi lúc đó không hề có xe cứu thương”. Ông qua đời vào ngày hôm sau. Thi thể của ông được đặt ở phòng phía trước trong nhà họ trong suốt 3 tuần cho đến khi một người khâm liệm làm việc quá sức cuối cùng cũng có thể chôn cất ông, ngay trước Giáng sinh. “Tôi không bao giờ còn muốn ở trong căn phòng phía trước đó”, cô nói. “Nó luôn luôn lạnh lẽo.”

Chỉ tính riêng trong tuần đó, 4.703 người đã chết ở London – nhiều hơn 3.000 trường hợp so với bình thường. Một thảm họa môi trường, chính màn sương mù nổi tiếng của thành phố đã gây ra thương vong cho người dân London nhiều hơn bất cứ chiến dịch đánh bom 5 ngày nào của Đức chỉ vài năm trước đó. Không chỉ có người già và những người có sức đề kháng kém bị tổn hại. Một chiếc xe cứu thương chở một thủy thủ 21 tuổi đang phục vụ quân ngũ; vị bác sĩ chữa trị cho anh ấy, Horace Pile, về sau tường thuật lại trong bộ phim tài liệu Killer Fog của UK Channel 4 vào năm 1999 rằng ông “chưa từng thấy điều tương tự ở bất cứ người trẻ nào ở độ tuổi đó, với những khó khăn về hô hấp và tim dần ngừng hoạt động một cách tuyệt vọng”. Khi xe cứu thương đến nơi, bệnh viện đã đầy ắp các bệnh nhân. Và cả bệnh viện thứ hai cũng vậy. Vào lúc xe cứu thương xuất phát đến bệnh viện thứ ba, người thủy thủ đã chết trên đường đi. Con số thương vong cuối cùng được tin rằng có thể đạt mức từ 8.000 đến 12.000, cộng thêm hàng ngàn trường hợp mắc các vấn đề sức khỏe kéo dài cả đời bao gồm các bệnh về phổi và tim.

Vào những năm 1930 và 1940, hệ thống giao thông công cộng trên mặt đất của London chủ yếu là những chiếc xe điện không phát thải, bao gồm cả xe hai tầng. Tuy nhiên, chúng liên tục bị thay thế bởi các phương tiện chạy bằng động cơ đốt trong. Xe buýt chạy diesel thế chỗ chiếc xe điện cuối cùng ở London vào ngày 5 tháng 6 năm 1952, chỉ 5 tháng trước Đại Sương Mù. Tính đến tháng 12, 8.000 chiếc xe buýt chạy diesel mới đã được vận hành, tiếp tục thải thêm khói vào làn sương mù mùa đông. Tiến sĩ Barry Gray, một bác sĩ hô hấp tại Bệnh viện King’s College, người đã được phỏng vấn trong phim tài liệu Killer Fog, miêu tả sự chuyển đổi từ xe điện sang xe buýt chạy diesel trong những năm 1950 như “một thảm họa có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người dân ở London”.

Sau những trải nghiệm cá nhân với tư cách là một học sinh trong thảm họa Đại Sương Mù, Roy Parker đã cống hiến sự nghiệp của mình cho việc nghiên cứu về ô nhiễm môi trường. Anh đã tính toán rằng có khoảng 12 triệu hộ gia đình đốt lửa bằng than tại Vương Quốc Anh vào năm 1952. Ngoài ra còn có 20.000 tàu lửa chạy hơi nước đốt than chất lượng thấp, trong khi riêng nhà máy năng lượng Battersea đã đốt 10.000 tấn than mỗi tuần. Ý tưởng về việc không có xe hơi chạy bằng xăng hoặc dầu diesel trên đường ngày nay cũng khó để hình dung như việc loại bỏ tàu lửa chạy bằng hơi nước và đốt lửa bằng than đối với một người dân ở London vào những năm 1950. Nhưng thật đáng ngạc nhiên, trong chỉ hơn một thập kỷ, đó chính xác là điều đã xảy ra. Năm 1952, Ủy ban về Ô nhiễm Không khí báo cáo rằng có một sự liên quan giữa ô nhiễm và các bệnh về đường hô hấp, từ đó đặt nền móng cho Đạo luật Không khí sạch của Vương Quốc Anh (1956). Quá trình hiện đại hóa hoàn toàn hệ thống đường sắt của Anh được công bố vào năm 1955, đánh dấu thời đại của động cơ hơi nước chạy bằng than chấm dứt. Nhà máy năng lượng Battersea sau cùng cũng đóng cửa vào năm 1975. Cho đến cuối thập niên 1970, đặc sản “soup đậu” của London đã trở thành dĩ vãng. Giáo sư Peter Brimblecombe đã chủ trì buổi hội thảo các nhân chứng của sự kiện tại Trung tâm Lịch sử Y tế Công cộng vào năm 2002. Tôi hỏi ông liệu có một cảm xúc chung tại sự kiện, rằng giờ đây vấn đề ấy đã được giải quyết sau 50 năm thảm họa Đại Sương Mù không? “Ôi tất nhiên rồi”, ông trả lời ngay lập tức. “Tôi nghĩ rằng chắc chắn là có cảm giác ấy… họ tin rằng mọi thứ đã thay đổi rất nhiều.”

London: những năm 2010
Vào một buổi sáng tháng 4 lạnh lẽo năm 2016, tại Quảng trường Trafalgar của London, một người biểu tình đã trèo lên công trình biểu tượng của thành phố, Đài tưởng niệm Nelson. Alison Garrigan đã lên kế hoạch cho việc này trong nhiều tháng. Trong ánh bình minh dịu nhẹ, cô cùng một đồng phạm đã đeo chiếc mặt nạ phòng độc trắng bóng loáng lên khuôn mặt màu đen được phủ bởi bồ hóng của Đô đốc Nelson. Là một nhà hoạt động xã hội kỳ cựu của tổ chức Hòa Bình Xanh, cô hy vọng sẽ làm nổi bật lên tình trạng ô nhiễm không khí ở London. Đại học Y Hoàng gia và Đại học Hoàng gia về Nhi khoa và Sức khỏe Trẻ em gần đây đã ước tính rằng mỗi năm có tới 40.000 ca chết sớm do ô nhiễm không khí tại Anh Quốc, 10.000 trong số đó là người London. Trẻ em ở một số Giành lại không khí sạch 27 khu vực bị ô nhiễm của London có dung tích phổi thấp hơn 5 đến 8% so với mức trung bình của độ tuổi. Vào năm 2013, Ella KissiDebrah, chín tuổi, đến từ phía nam London, đã tử vong sau khi nhập viện nhiều lần vì bệnh hen suyễn, dẫn đến một cuộc điều tra về tác hại của ô nhiễm không khí.I Vào tháng 1 năm 2017, nữ Nam tước Jones của Viện Quý tộc đã đưa ra cáo buộc “Tội vô trách nhiệm của một chính phủ không có mong muốn bảo vệ sức khỏe của công dân” trong một bài báo trên tờ The Times “Kêu gọi hạn chế giao thông sau tình trạng khói bụi kéo dài 10 ngày khiến 300 người chết”.

Nếu cho rằng London đã giải quyết được vấn đề này vào những năm 1970, thì điều gì đã trở nên tồi tệ đến vậy? Trong cuốn cẩm nang bảo tồn năm 1972 Trận chiến mới của nước Anh, tác giả H. F. Wallis đưa ra lời cảnh báo từ lịch sử: “Khói bụi kiểu Los Angeles – gây ra bởi tác động của ánh sáng mặt trời lên hơi xăng – có thể xảy ra ở Vương Quốc Anh… những chiếc xe mới trên đường vẫn có thể đầu độc không khí ở mức độ như hiện tại và tất nhiên, chúng sẽ còn xuất hiện nhiều hơn.”

Wallis lưu ý rằng giữa năm 1957 và 1967 “mạng lưới đường sắt của công ty Đường sắt Anh giảm mạnh từ 14.622 dặm xuống chỉ còn dưới 10.000 dặm” trong khi một phần năm các dịch vụ xe buýt biến mất. Mọi người không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chuyển sang xe cá nhân. Vào thời điểm viết bài, chỉ có 14 triệu chiếc ô-tô trên đường phố tại Vương Quốc Anh. Vào cuối năm 2017, đã có 37,7 triệu phương tiện được cấp phép tại nơi này, khoảng 31 triệu trong số đó là xe hơi. Và 12,4 triệu trong số đó – gần bằng với tổng số xe ở thời của Wallis – là những chiếc xe động cơ diesel.

Khi Giáo sư David Newby bắt đầu nghiên cứu về ô nhiễm không khí vào đầu những năm 2000, ông cho rằng – giống như những người sống sót qua sự kiện Đại Sương Mù – ô nhiễm không khí tác động lên sức khỏe đã là tin tức của ngày hôm qua. Cho đến những năm 1990 và 2000, những nhà máy điện than nội thành tại Victoria từng làm London ngạt thở đã chuyển đổi thành các trung tâm văn hóa; nhà máy điện Tate Modern và Battersea giờ đây “nhả ra” tiền của du khách, không phải khói. Những nhà máy ấy chính là những di tích cao chót vót cho một thời kỳ khai sáng của chúng ta. Nhưng Newby, hiện là giáo sư tim mạch tại Trung tâm Nghiên cứu Xuất sắc của Quỹ Tim mạch Vương Quốc Anh, khi đó đã chuẩn bị thực hiện một nghiên cứu có thể thay đổi hoàn toàn hiểu biết của ông, và chúng ta, về ô nhiễm không khí. Vào năm 2007, Newby và đội ngũ của ông tuyển những tình nguyện viên khỏe mạnh, đưa họ vào một căn buồng phơi nhiễm, cố định họ trên một chiếc xe đạp và bảo họ bắt đầu đạp. Chiếc buồng sau đó được bơm đầy khí thải động cơ diesel. “Mọi người nghi ngờ chuẩn mực đạo đức của tôi”, ông thừa nhận. “Nhưng tôi chỉ ra rằng mức độ ô nhiễm bên ngoài, trên con đường họ đi đến nơi nghiên cứu có lẽ còn tồi tệ hơn.” Những gì họ phát hiện ra đã thực sự gây sốc. Khi bị phơi nhiễm với mức độ khí thải động cơ thông thường trên đường phố, máu trở nên đặc hơn và có khả năng bị đông. Những dấu hiệu của áp lực lên tim xuất hiện ngay lập tức. Huyết áp tăng và các động mạch bị mỏng đi rõ rệt. Nó rất giống với hút thuốc lá – thứ mà Newby gọi là “ô nhiễm không khí tự gây ra” – ngoại trừ việc, với ô nhiễm trên đường phố, không có lựa chọn từ bỏ. “Mọi người đang hấp hối không phải do hen suyễn mà do bệnh tim và đột quỵ gây ra bởi ô nhiễm không khí… Rất nhiều người cảm thấy ngạc nhiên, trong đó có tôi.”

Chất lượng không khí kém không chỉ là vấn đề quá khứ. Trên thực tế, có nhiều hạt ô nhiễm trong không khí ở thời điểm hiện tại hơn trong khoảng thời gian cuộc Đại Sương Mù xảy ra ở London. Sự khác biệt ở đây đó là hạt vật chất/ bụi (PM) từ các nguồn ô nhiễm hiện đại là quá nhỏ để có thể nhìn thấy.

Gần hai phần ba dân số tại Anh Quốc đang sống ở những khu vực có mức độ ô nhiễm không khí vượt ngưỡng cho phép của Liên minh Châu Âu. Dan Thorpe, ban ngày là giáo viên tiểu học địa phương, thời gian còn lại là một ủy viên hội đồng được bầu của quận Greenwich, nói với tôi: “Trường học của tôi, Tiểu học Windrush, nằm ngay bên cạnh Đập Sông Thames, vì vậy chúng tôi có phà Woolwich và vòng xuyến ở một đầu, khu công nghiệp thì ở phía sau… họ xếp các xe tải chở hàng nặng [lên phà], và khi họ vào vòng xuyến, chỉ cần một sự cố nhỏ là giao thông sẽ bị dồn ứ và bạn có một sự cố [ô nhiễm] nghiêm trọng sau đó… Một khi bạn biết được chuyện gì đang xảy ra thì đó giống như là một tình huống thảm họa rồi.”

Là một người miền nam London, thuộc gia đình lâu đời tại đây, Nick Hussey đã lớn lên với việc đua xe đạp. Trong khi bạn bè hứng thú với bóng đá, thần tượng của anh là nhà vô địch Tour de France Miguel Induráin và Greg LeMond. Kể từ đó, anh đạp xe thường xuyên và giấc mơ đua xe dần nhường chỗ cho một cuộc sống bình thường hơn của một người đạp xe đi làm. Vào tháng 5 năm 2005, ở tuổi 32 và đang sống tại London, cơn “sốt hoa cỏ” hay còn gọi là viêm mũi dị ứng của anh bắt đầu. “Tôi vẫn còn nhớ cảm giác đau nhói, cay xè trong mắt và không thể thở bình thường”, anh nói với tôi. “Không lâu sau đó, tôi bắt đầu gặp vấn đề với việc ăn một số loại thực phẩm. Tôi dường như đang phải vật lộn với một vấn đề histamine lớn. Tôi bắt đầu cảm thấy khó khăn khi đạp xe, đặc biệt là trong những tháng trời nóng. Nhưng những điều này dường như không khớp với sốt hoa cỏ. Tôi đã không thực sự hiểu về điều này.” Sinh sống gần một tuyến đường lớn ở phía tây nam London, việc hô hấp của anh chuyển biến xấu đến mức anh đã hai lần phải vào Khoa Tai nạn và Cấp cứu. “Hệ thống Y tế Quốc gia thực ra đã kiểm tra xem tôi có điều gì không ổn khá nhanh. Họ phát hiện ra rằng thực chất tôi có dung tích phổi lớn hơn nhiều so với dung tích phổi trung bình, vì vậy tôi đáng ra không nên có vấn đề về hô hấp. Họ làm các xét nghiệm và thu hẹp nguyên nhân. Họ loại trừ phấn hoa. Họ loại trừ chế độ ăn.” Cuối cùng, một chuyên gia trong một căn phòng tư vấn xám xịt của bệnh viện đã đưa tin. “Ông ấy chỉ nói: “Phải, đó là ô nhiễm không khí: chào mừng đến London.” Giống như đó là điều bình thường nhất trên đời, như thể ông ta thấy nó xảy ra hàng ngày.” Anh ấy nghe có vẻ khó chịu khi nói với tôi. “Nếu điều đó đơn giản và rõ ràng đến vậy, tại sao chúng ta không biết nhiều hơn về nó? Và tại sao mọi người lại không cảm thấy giận dữ hơn về điều này?”

Theo luật của Liên minh Châu Âu, một thành phố được phép vi phạm giới hạn phát thải nitrogen dioxide (NO2 ) tính theo trung bình giờ tối đa 18 lần trong một năm dương lịch. Năm 2016, London chỉ trong vòng 7 ngày đã vượt qua giới hạn cho phép hàng năm đó. Trong năm 2017, con số giảm xuống còn 5 ngày, số thời gian được phép vi phạm hàng năm được sử dụng hết vào ngày 5 tháng 1. Vào tháng 10 năm 2017, kế hoạch cắt giảm ô nhiễm NO2 của chính phủ mờ nhạt đến nỗi nó bị Tòa án Tối cao coi là bất hợp pháp và không thỏa đáng. Ngay cả Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp Quốc cũng vào cuộc, đưa ra một báo cáo dài 22 trang về ô nhiễm không khí tại Anh Quốc, trong đó ước tính rằng tác động của không khí chất lượng kém khiến nước Anh tốn khoảng 18,6 tỷ bảng Anh mỗi năm cho chi phí y tế. Bản báo cáo năm 2017 của tổ chức này đã chỉ trích: “Ô nhiễm không khí tiếp tục hoành hành tại Anh Quốc… Trẻ em, người già và những người có vấn đề về sức khỏe từ trước có nguy cơ cao bị nhiễm bệnh, tàn tật và tử vong, và rủi ro càng tăng cao đối với người nghèo và dân tộc thiểu số.”

Thay vì học hỏi từ những bài học trong cuộc Đại Sương Mù, vào những năm 2000, London trở thành trung tâm toàn cầu của khói thải diesel, một trong những nguồn NO2 và hạt vật chất gây ô nhiễm lớn nhất.I Vào năm 1950, có khoảng 35 triệu ô-tô trên toàn cầu. Ngày nay, chỉ tính riêng ở Anh Quốc lượng ô-tô đã gần bằng con số trên. Trong khi đó, các lò sưởi đốt than và củi trong hộ gia đình, vốn đã bị nghiêm cấm ở các vùng nội thành bởi Đạo luật Không khí sạch, đang trở lại một cách bất ngờ. Được đổi tên thành “các lò đốt sinh khối” sử dụng “nhiên liệu tái tạo”, chúng được khuyến khích sử dụng một cách tích cực. Một tài liệu tham vấn của chính phủ vào năm 2018 đã thừa nhận rằng sự “gia tăng đốt cháy các loại nhiên liệu rắn trong các hộ gia đình cũng đang có tác động đến chất lượng không khí và hiện là nguồn phát thải PM lớn nhất quốc gia”. Tại trung tâm London, việc đốt gỗ củi là nguồn gây ra 31% PM2.5 có nguồn gốc từ đô thị – có lẽ là lần đầu tiên kể từ những năm 1950.

Báo cáo của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc kết luận, “Qua việc không hành động một cách khẩn trương và hiệu quả nhất có thể, cũng như không thực hiện mọi biện pháp có thể để làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và gia tăng tuổi thọ, chính phủ Anh Quốc đã thất bại trong việc hoàn thành nghĩa vụ bảo vệ tính mạng, sức khỏe và sự phát triển của trẻ em trong phạm vi quyền hạn của mình”. Trong số 51 thị trấn và thành phố của Anh Quốc được liệt kê trong cơ sở dữ liệu chất lượng không khí năm 2018 của WHO, có 44 thành phố và thị trấn vi phạm các giới hạn PM2.5 theo khuyến cáo của WHO.

Hiện tượng “Ngày tận thế vì ô nhiễm không khí” tại Bắc Kinh
Năm 2008, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Bắc Kinh đã đưa ra một quyết định gây tranh cãi. Ở một quốc gia không có dữ liệu chính thức nào về ô nhiễm không khí được cung cấp đến người dân, Đại sứ quán Hoa Kỳ đã lắp đặt một cảm biến ô nhiễm không khí trên sân thượng, cụ thể là máy đo MetOne BAM 1020 và Ecotech EC9810. Cũng trong năm đó, họ thiết lập một tài khoản Twitter, @beijingair, để tự động đăng tải nồng độ PM2.5 theo trung bình giờ, cập nhật hàng giờ trong ngày. Mặc dù nhiều lần bị chính quyền Trung Quốc yêu cầu gỡ bỏ, đại sứ quán vẫn tiếp tục đăng tải chỉ số PM2.5. Phó Thủ tướng về Bảo vệ Môi trường Wu Xiaoqing phát biểu trong một cuộc họp báo: “Các nhà ngoại giao có nghĩa vụ tôn trọng và tuân thủ các quy định và luật pháp [địa phương]… Chúng tôi mong muốn các đại sứ quán và lãnh sự quán sẽ tôn trọng luật pháp Trung Quốc và ngừng đăng tải dữ liệu về chất lượng không khí.” Mark Toner, thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đáp trả: “Chúng tôi cung cấp cho cộng đồng người Mỹ, cùng với nhân viên đại sứ quán và lãnh sự quán của chúng tôi… thông tin mà họ có thể sử dụng để đưa ra các quyết định thường nhật tốt hơn liên quan đến sự an toàn của các hoạt động ngoài trời.”I

Những lý do đằng sau hành động ấy là rõ ràng. Bầu trời khắp Trung Quốc và đặc biệt là tại phía bắc tỉnh Hà Bắc, đang dần xám xịt theo năm tháng. Năm 2004, nhà báo Trung Quốc Chai Jing đã hỏi một đứa trẻ rằng em đã từng nhìn thấy những ngôi sao bao giờ chưa? Câu trả lời của em là chưa. Em đã bao giờ nhìn thấy bầu trời xanh chưa? “Chỉ xanh nhạt thôi”, đứa bé nói. Vậy còn những đám mây trắng? “Chưa.” Cho đến năm 2009, Cục Bảo vệ Môi trường Trung Quốc đã thực hiện dự án thí điểm tại các thành phố lớn của mình để theo dõi “khói mù” – một cách nói giảm nói tránh cho khói bụi, trước khi khói bụi chính thức được thừa nhận là có tồn tại – và phát hiện ra số ngày có khói mù hàng năm dao động từ mức thấp 51 ngày lên mức cao 211 ngày trong năm.

“Lần đầu tiên tôi để ý đến nó, khi thực sự bắt đầu nhìn thấy là vào cuối những năm 1990”, doanh nhân người Mỹ Manny Menendez nói khi chúng tôi gặp nhau ở Bắc Kinh vào tháng 12 năm 2017. Manny đã làm việc tại Trung Quốc kể từ khi đất nước này mở cửa biên giới cho phép thương mại quốc tế, là người đàm phán cho thỏa thuận liên doanh đầu tiên giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc vào năm 1980. “Tôi nhớ vào những ngày đầu tiên… hoạt động công nghiệp diễn ra ở trung tâm thành phố, vì như vậy rất dễ [tiếp cận]. Từ quan điểm bền vững hoặc thiết kế đô thị, điều đó đơn giản là không hiệu quả.” Manny thừa nhận, nhiều thập kỷ làm việc ở Trung Quốc đã gây ra cho anh những vấn đề về sức khỏe. “Tôi bị thở khò khè. Tôi có khẩu trang nhưng lại không sử dụng nhiều. Nếu tình trạng khí thải trở nên tồi tệ và chỉ số PM2.5 thực sự cao…” Anh dừng lại để ho khi nói điều này, như thể bị kích động bởi ý nghĩ đó, “… thì tôi sẽ bị thở khò khè kéo dài ít nhất một tuần đến 10 ngày. Nó không hết hẳn”. Manny có những đối tác kinh doanh đã cùng gia đình chuyển ra khỏi Bắc Kinh vì “không muốn con cái họ lớn lên với các vấn đề về hô hấp”.

Khi Viện Công vụ & Môi trường (IPE), một tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Bắc Kinh, công bố Chỉ số Chất lượng Không khí Minh bạch (AQTI) đầu tiên vào năm 2010, không có dữ liệu về chất lượng không khí hàng ngày tại bất kỳ thành phố nào tại Trung Quốc. Bản báo cáo của IPE đã phải sử dụng dữ liệu của ngành công nghiệp và các thông tin ít ỏi có trong “Báo cáo về Tình trạng Môi trường tại Trung Quốc” hàng năm của chính phủ, trong đó không đưa ra mức độ chi tiết nào ngoài tỷ lệ các thành phố (không nêu tên) đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia (không xác định) từ cấp độ 1 cho đến 3. Đáp lại, bản báo cáo đầu tiên của IPE đã không khoan nhượng, gây ngạc nhiên cho nhiều người ở Trung Quốc và giới quan sát phương Tây: “Trong những năm gần đây, ô nhiễm không khí đã trở thành một trong những vấn đề môi trường cấp bách mà các thành phố tại Trung Quốc phải đối mặt”. Với tuyên bố vào năm 2010, IPE trở thành một trong những tổ chức đầu tiên công khai phát biểu về điều này. “Chất lượng không khí kém không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng trăm triệu cư dân đô thị mà còn đe dọa đến sức khỏe và sự an toàn của họ. Trung Quốc đang trải qua giai đoạn phát triển công nghiệp và đô thị nhanh chóng, cũng chính là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm không khí tại nhiều thành phố của nước này… Hiện tại, Trung Quốc chưa xây dựng được một mạng lưới theo dõi sức khỏe và ô nhiễm không khí quốc gia toàn diện.” Không giống như bản báo cáo mơ hồ của chính phủ, IPE liệt kê các “thủ phạm” chính: “Ô nhiễm khói than… các vấn đề về ô nhiễm lưu huỳnh dioxide (SO2 ) và hạt bụi phát tán tại khu vực thành thị… số lượng xe cơ giới làm gia tăng mức độ nghiêm trọng của ô nhiễm khí thải. Các vấn đề ô nhiễm không khí như khói mù, sương mù quang hóa và mưa acid… đang nghiêm trọng hơn theo từng ngày.”

Trong khi đó, thiết bị giám sát chất lượng không khí của Đại sứ quán Hoa Kỳ vẫn tiếp tục đăng bài. Bản thân ứng dụng Twitter đã bị chặn bởi Đại Tường lửa của Trung Quốc vào năm 2009, nhưng dù vậy một số ứng dụng trên điện thoại di động và Weibo (ví như bản tiếng Trung của Twitter) vẫn đăng các chỉ số trên @beijingair. Nếu chỉ số PM2.5 vượt quá 200 microgram trên một mét khối không khí (µg/m3), tài khoản @beijingair sẽ tự động đưa ra cảnh báo “rất có hại cho sức khỏe”; trên 400 µg/m3, cảnh báo trở thành “nguy hiểm”. Tuy nhiên, với mức trên 500 µg/m3, được cho là khó có thể xảy ra đến mức tài khoản được lập trình một cách bất cẩn để thông báo rằng không khí “tệ kinh khủng”. Vào ngày 18 tháng 11 năm 2010, điều không thể đã xảy ra. Cảnh báo “tệ kinh khủng” đầu tiên được đưa ra vào lúc 8 giờ tối, khi chỉ số tăng lên 503 µg/m3 (và đạt đỉnh vào ngày hôm sau ở mức 569 µg/m3) – khiến cho cả Đại sứ quán Hoa Kỳ và chính quyền Trung Quốc phải lúng túng. Nó được nhanh chóng sửa đổi thành “vược quá mức hiển thị”, nhưng đã quá muộn. Cảnh báo “tệ kinh khủng” được lan truyền mạnh mẽ. “Mạng xã hội Trung Quốc bắt đầu dành sự quan tâm và đăng tải lại cảnh báo này trên Weibo”, Kate Logan, giám đốc của IPE, hồi tưởng lại khi tôi đến thăm văn phòng IPE tại Bắc Kinh. “Người dân Trung Quốc đã bắt đầu để ý.”

Sau đó, “Ngày tận thế vì ô nhiễm không khí” xảy ra vào năm 2013. Nếu như Đại sứ quán Hoa Kỳ từng khiến người dùng Twitter xôn xao về chỉ số 500 µg/m3 vào năm 2010, thì vào ngày 12 tháng 1 năm 2013, nó đã báo cáo chỉ số hơn 800 µg/m3. Ngay cả Cục Bảo vệ Môi trường Bắc Kinh, lúc này đã bắt đầu miễn cưỡng công bố vài chỉ số chính thức, cũng cho thấy mức PM2.5 vượt quá 700 µg/m3. Liam Bates, một người Anh gốc Thuỵ Sĩ đang sinh sống tại Bắc Kinh, hồi tưởng: “Cảm giác như lúc đó đang là 6 giờ chiều, mặt trời đang lặn và mọi thứ bắt đầu tối dần – nhưng thực chất chỉ mới là giờ ăn trưa. Chuyện đó thật điên rồ. Thực sự có cảm giác như ngày tận thế – khi ấy đang là giữa ban ngày, và bầu trời dần chuyển màu đen kịt… mọi người bắt đầu hoảng hốt… Ngay cả những người [trước đây] nghi ngờ cũng nghĩ, “chết rồi, chuyện này thật là kinh khủng”.”

Từ ngày 10 đến 14 tháng 1, chỉ số µg/m3 không bao giờ ở dưới mức ba chữ số; mức trung bình cả tháng ở vào khoảng 200 µg/m3. Để làm rõ hơn về điều này, nó còn dày đặc hơn cả không khí ở bên trong một phòng hút thuốc thông thường tại sân bay (167 µg/m3, theo một nghiên cứu năm 2012 của Hoa Kỳ). Ngưỡng an toàn cho sức khỏe hàng ngày do WHO thiết lập chỉ ở mức 25 µg/m3. Trong khoảng thời gian xảy ra “Ngày tận thế vì ô nhiễm không khí”, tờ South China Morning Post cho biết Bệnh viện Nhi Bắc Kinh đang tiếp nhận hơn 7.000 bệnh nhân mỗi ngày, với số trẻ em đang được điều trị bệnh hô hấp cao nhất trong vòng 5 năm.

Vào năm xảy ra “Ngày tận thế vì ô nhiễm không khí”, Trường Quốc tế Bắc Kinh, một trường tư thục dành cho con cái của người nước ngoài và người dân địa phương giàu có, đã dựng lên một mái vòm áp lực khổng lồ trên sân chơi ngoài trời để tránh bầu không khí giờ đây không thể thở được của thành phố. Cấu trúc mái vòm được nâng đỡ bởi những chiếc quạt áp suất khổng lồ thanh lọc không khí, cho phép những học sinh trả phí được tiếp tục vui chơi “ngoài trời”. Cũng trong năm đó, những lon nước được bơm đầy không khí nén không chứa PM, bao gồm nhiều “hương vị”, trong đó có “Tây Tạng Nguyên chất”, đã được bày bán trên đường phố ở Bắc Kinh. Nó đáng ra đã là một tác phẩm nghệ thuật trình diễn hoàn hảo, nếu không vì thực tế là người làm ra những chiếc lon này, Chen Guangbiao, là một doanh nhân ở đỉnh cao của sự bùng nổ kinh tế Trung Quốc. Anh này sau đó đã bán được 12 triệu lon, thu về 7 triệu đô-la (hơn 5 triệu bảng Anh). Người dân đang cần một bầu không khí sạch hơn và sẵn sàng trả tiền cho nó.

Trên thực tế, “Ngày tận thế vì ô nhiễm không khí” không phải là một sự kiện ô nhiễm không khí đơn lẻ. Nó chỉ là điều tồi tệ nhất trong số những điều xảy ra đều đặn vào mỗi mùa đông. Trong vòng 30 năm tính đến 2015, tỷ lệ ung thư phổi ở Trung Quốc đã tăng thêm 465%, trong giai đoạn mà thực chất tỷ lệ hút thuốc lá lại giảm xuống. Vào năm 2013, một bé gái 8 tuổi ở tỉnh Giang Tô trở thành bệnh nhân ung thư phổi trẻ nhất Trung Quốc; bác sĩ điều trị cho cô tin rằng nguyên nhân là do phơi nhiễm với ô nhiễm không khí. Trong Cuộc đua Marathon Bắc Kinh 2015, 6 người lên cơn đau tim do mức độ PM2.5 vào ngày hôm ấy. Một bài báo trong năm đó chỉ ra rằng vào những ngày tồi tệ nhất ở Bắc Kinh, một người dân bình thường hít thở phải không khí bị ô nhiễm sẽ tương đương với việc hút 25 điếu thuốc lá. Ngày tồi tệ nhất được ghi nhận vào năm 2015 tại thành phố Thẩm Dương của Trung Quốc đã chứng kiến mức ô nhiễm PM đạt tới 1.400 µg/m3 (gần bằng 3 ngày “tệ kinh khủng” cộng lại) – tương đương với việc hút 64 điếu thuốc lá. Ngay cả những người khỏe mạnh và hút thuốc thường xuyên nhất cũng sẽ gặp khó khăn với tần suất dày đặc này.I Sự khác biệt đương nhiên là tại thành phố Thẩm Dương, nơi khói thuốc tác động lên trẻ sơ sinh và người ốm yếu liên tục.

Tình trạng khói bụi tại Trung Quốc đã gói gọn những vấn đề trong cả quá khứ lẫn hiện tại của London: than nội địa và khói thải từ nhiên liệu rắn, ô nhiễm do hoạt động công nghiệp và khói thải từ phương tiện giao thông hiện đại. Trung Quốc chỉ có 18 triệu phương tiện giao thông vào năm 2001. Cho đến năm 2015, số lượng phương tiện đã đạt 279 triệu.

Delhi: năm 2017
Vào ngày 6 tháng 11 năm 2017, Vua Philippe và Nữ hoàng Mathilde của nước Bỉ đã tham dự một buổi lễ tại Delhi. Trong khi đang tưởng niệm những người lính Ấn Độ đã chiến đấu tại Flanders trong Thế chiến thứ nhất, một màn sương đã che phủ đội lính danh dự, gợi nhớ lại đám khói từ hỏa lực pháo binh và khí mù tạt của thế kỷ trước. Tuy nhiên, đây không hề là một kế hoạch tái hiện. Vào thời điểm 11 giờ sáng ngày hôm đó, nồng độ PM2.5 tại Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Delhi đã đạt mức độ gây ngạt thở 986 µg/m3. Khi Thủ tướng Modi cùng cặp đôi hoàng gia Bỉ chuẩn bị chụp ảnh, họ còn không thể nhìn thấy đội lính danh dự. Ngày hôm sau, chỉ số PM đạt đỉnh 1.486 µg/m3 – một trong những mức cao nhất từng được ghi nhận. Chỉ số không giảm xuống dưới mức ba chữ số cho đến ngày 17 tháng 11 (và kể cả đến lúc đó thì cũng chỉ xê dịch một chút).

Theo Trung tâm Khoa học và Môi trường, một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Delhi, “những nguyên nhân chính dẫn đến kiểu khói bụi này tại Delhi và vùng lân cận là các phương tiện giao thông; hoạt động xây dựng không được kiểm soát và khói bụi đường phố; việc đốt rác, đốt rơm rạ của nông dân ở các bang Punjab, Haryana… trong điều kiện thời tiết gần như lặng gió; sự khởi đầu của mùa đông; và đương nhiên là, pháo nổ tại lễ hội ánh sáng Diwali”. Trước tình trạng này, Arvind Kejriwal, thủ hiến của thành phố, đã yêu cầu các trường học đóng cửa trong 3 ngày, tạm dừng hoạt động xây dựng và phá dỡ trong 5 ngày và đóng cửa nhà máy than Badarpur tại trung tâm thành phố trong 10 ngày. Báo chí quốc tế đã đăng tải những dòng tiêu đề như “Tôi cảm thấy bất lực”: Cư dân Delhi trong cuộc khủng hoảng khói bụi (tờ Guardian, ngày 8 tháng 11 năm 2017) và “Chất lượng không khí tại New Delhi tệ hơn cả việc hút 50 điếu thuốc mỗi ngày” (tờ Sky News, ngày 11 tháng 11 năm 2017).

Vào ngày 19 tháng 11, kênh truyền hình Ấn Độ NDTV đã khởi phát chương trình tranh luận với phần giới thiệu đầy cảm xúc: “Trong tuần này, nếu bạn sinh sống ở Bắc Ấn Độ, có lẽ bạn đang ước là không phải một màn khói bụi độc hại đã lần lượt bao trùm xuống khắp các thành phố. Dù vậy, cuộc sống dường như vẫn tiếp diễn bình thường. Khi chất lượng không khí chuyển từ nghiêm trọng sang rất kém, chúng ta thực ra lại ăn mừng… Có một sự im lặng đến từ các nhà lãnh đạo khi các bộ trưởng môi trường phát biểu rằng “ít nhất thì nó cũng không tệ như thảm họa Popol”, ngay cả khi hàng loạt nghiên cứu chỉ ra rằng hàng triệu người Ấn Độ đang chết dần chết mòn vì đợt ô nhiễm này. Làm thế nào để chúng ta, với tư cách là các công dân, và các chuyên gia về chăm sóc sức khỏe của chính phủ, có thể cùng nhau tìm cách cứu lấy bản thân khỏi tình trạng khẩn cấp về sức khỏe này?”

Vào ngày 22 tháng 11, tôi đặt chân đến Delhi. Khi chuyến bay của tôi bắt đầu hạ cánh, hai cánh của máy bay cắt qua một dải mây xám xịt đang chờ bên dưới. Tuy nhiên, khi chúng tôi xuống thấp hơn, dải màu xám trông quá phẳng và đều đó có thể là mây. Và nó trong mờ – có thể nhìn xuyên qua để thấy được các tòa nhà, như những viên sỏi dưới đáy của một vũng bùn. Tôi nhận ra rằng hôm đó là một ngày nắng, không có mây: đây là màn khói bụi.

Tại sân bay, tôi tìm một thẻ SIM địa phương cho điện thoại của mình và gọi taxi – hối hận vì không sử dụng phương tiện giao thông công cộng, nhưng chiếc taxi là cần thiết để biết được về câu chuyện lúc bấy giờ của Delhi. Tôi cần phải nhìn tận mắt những con đường. Giao thông di chuyển theo kiểu dừng‑đi gián đoạn, hiếm khi có ít hơn bốn hoặc năm hàng xe, và bất kể có bao nhiêu làn đường đi chăng nữa, mỗi lái xe đều cố gắng lấp đầy những khoảng trống nhỏ nhất vừa xuất hiện, tìm kiếm một lợi thế vô hình. Ở ghế sau của chiếc taxi, máy đo Laser Egg của tôi hiển thị nồng độ PM2.5 trên 300 µg/m3: mức độ mà cá nhân tôi chưa từng trải qua. Tôi tập trung làm mọi thứ chậm nhất có thể để kiểm soát nhịp thở và nhịp tim của mình. Trong những ngày sau đó, tôi dần quen thuộc với một âm thanh xuất hiện liên tục trên đường phố Delhi: tiếng khạc khô khan do viêm xoang. Những người lái xe và đi bộ đều buộc phải loại bỏ dịch nhầy bằng cách nhổ nó xuống đất. Điều đó có vẻ thô lỗ nếu nó không thật sự cần thiết. Tại nhiều thời điểm trong chuyến đi, tôi cũng bất đắc dĩ phải làm vậy.

Tại phòng B&B của tôi, chủ nhà Vandana chào đón tôi bằng bánh mì nướng và trà nóng (cô ấy hẳn là hiểu rất rõ về người Anh). “Thật là một ngày tuyệt vời để đến nơi này”, Vandana kêu lên. “Màn khói bụi đã biến mất!” “Biến mất ư?” Tôi ngạc nhiên trả lời, nghĩ đến màu trắng đục ảm đạm trên bầu trời và chỉ số trên máy đo của tôi. “Ồ phải. Tuần trước nó ở vào khoảng 1.000”, cô nói, ý muốn nhắc đến AQI.I “Nhưng bây giờ chỉ còn 200 hoặc khoảng đó. Màn khói bụi đã biến mất cách đây một vài ngày.” Dù vậy, cô ấy vẫn khuyên tôi nên mua khẩu trang, kể cả khi tôi chỉ đi bộ bên đường. “Cổ họng của cậu có thể sẽ cảm thấy đau rát vào cuối ngày”, Vandana nói, “nhưng nếu chuyện đó xảy ra – chỉ cần đun một ít nước ấm và súc miệng. Giống như đi tắm vậy. Thông thường thì nó sẽ có hiệu quả”. Khi cô ấy rời đi để tôi dỡ đồ, tôi quay sang chiếc máy lọc không khí trong nhà và tăng thêm một nấc. Nhưng như chiếc màn cửa dập dờn bên khung cửa sổ lỏng lẻo, tôi biết rằng nó sẽ không có nhiều tác dụng. Khi tôi đi ngủ, máy đo không bao giờ giảm xuống dưới mức 70 µg/m3. Sáng hôm sau, một số ít công nhân đang dùng tay phá dỡ từng viên gạch một của khối nhà đối diện căn hộ nơi tôi đang ở. Họ thắp lửa để giữ ấm và nấu ăn. Tôi không thể nhìn thấy họ đang đốt thứ gì nhưng nó có mùi ngọt đến khó chịu. Chỉ số trên máy đo vượt mức 200 µg/m3.

Sau đó, tại Viện Công nghệ Ấn Độ [IIT], những bãi cỏ rộng lớn và những con đường riêng ôm lấy những khối nhà vững chắc từ thập niên 1970 của các ban ngành, chỉ một số ít cao hơn ba tầng, trải dài đến tận chân trời; trên tầng hai của dãy nhà dành cho ngành Kỹ thuật Xây dựng Dân dụng, tôi tìm đến cánh cửa màu nâu với bảng tên “Giáo sư Mukesh Khare”.

“Tôi gia nhập IIT Delhi với tư cách là giáo sư vào năm 1991, và làm việc trong lĩnh vực chất lượng không khí kể từ đó”, Giáo sư Khare nói với tôi. “Delhi từng gặp vấn đề với CO [carbon monoxide] vào những năm 1990. Nhưng… vấn đề hiện nay là NO2 và CO, xuất phát từ nhiên liệu nhiệt độ cao, và cả PM2.5. Diesel cũng là một nguyên nhân khác.” Gần đây Delhi đã được xếp hạng là thành phố lớn ô nhiễm nhất thế giới xét về ô nhiễm không khí xung quanh. Nồng độ PM2.5 trung bình hàng năm theo tài liệu chính thức tại Delhi vào năm 2014 là 153 µg/m3, gấp 15 lần so với khuyến nghị của WHO, với nồng độ hàng ngày thường vượt quá 550 µg/m3 (cao hơn mức “tệ kinh khủng” 500 của Bắc Kinh).

Khi tôi đến thăm Viện Nghiên cứu Đường bộ Trung tâm (CRRI), Tiến sĩ Niraj Sharma, nhà khoa học trưởng cấp cao về môi trường, người đã nghiên cứu về khí thải đường bộ trong suốt 25 năm qua, vừa nói vừa thò tay vào ngăn kéo bàn của mình. “Tôi rất thích sưu tầm những mẩu báo được cắt ra”, ông giải thích. “Cậu có thể lướt qua những thứ này.” Ông lôi ra một tập dày những bài báo mà ông ấy đã cẩn thận cắt. Tôi đọc thành tiếng một vài tờ trong số đó: “Chất lượng không khí cải thiện đôi chút tại Delhi, một lần nữa ở mức rất kém”, “Ô nhiễm suy giảm tại Delhi vào dịp lễ hội ánh sáng, nhưng chất lượng không khí vẫn tệ, vượt quá mức độ an toàn”, “Chính phủ thông báo rằng ô nhiễm không khí tăng vọt sau khi bắn pháo hoa”, “Tốc độ gió thấp khiến chất lượng không khí Delhi rất kém”, “Delhi, ngươi đang giết ta”, “Khói bụi làm ngạt thở thành phố, các bác sĩ tuyên bố tình trạng khẩn cấp về sức khỏe”. Ông có đồng ý với điều đó không, tôi hỏi – đó có phải là một trường hợp khẩn cấp về sức khỏe? “Đúng. Lần này thì là có. Lần đầu tiên sau 25 năm, khoảng 10 ngày trước, tôi cảm thấy như bị nghẹt thở khi ở ngoài trời… Tôi đã từng cảm thấy khó chịu [trước đây] nhiều lần, nhưng giờ đây tôi cảm thấy như đang bị bóp nghẹt.”

Dân số của Delhi, thành phố lớn thứ hai trên thế giới tại thời điểm viết bài, được Liên Hợp Quốc dự báo sẽ tăng từ 24,9 triệu vào năm 2014 lên 36 triệu vào năm 2030. Khi thành phố mở rộng, số lượng ô-tô và đường sá cũng vậy. Tiến sĩ Sharma nói với tôi rằng trong năm 2010, số lượng phương tiện giao thông ở Delhi là khoảng 6 triệu; “Giờ đây con số là 10 triệu.” Ô nhiễm do phương tiện giao thông được xác định là chiếm khoảng 72% tổng lượng ô nhiễm không khí tại Delhi, so với chỉ 23% vào năm 1970-1971. Các thành phố khác của Ấn Độ đã không chọn cách phát triển tương tự. Greater Mumbai chỉ tăng từ 1 triệu đến 1,7 triệu xe so với cùng kỳ, mặc dù có dân số đông tương tự với 20,7 triệu người.

Shubhani, một nữ doanh nhân ở Delhi, nói với tôi: “Hằng năm bạn thấy rằng những đứa trẻ phải sử dụng máy xông mũi họng, chúng bị ho, ốm yếu – đặc biệt là những bé nhỏ tuổi. Một trong những người bạn của tôi có con phải liên tục sử dụng một loại thuốc nào đó. Và thực sự không còn gì khác [như một nguyên nhân], ngoài không khí mà chúng ta hít thở.” Mong muốn cho tôi xem một số bằng chứng, cô ấy tìm kiếm hình ảnh đã lưu trên điện thoại của mình. Đó là trang nhất của một tờ báo từ vài tháng trước, cho thấy các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Ấn Độ: năm 1990, năm nguyên nhân hàng đầu là tiêu chảy, biến chứng đường hô hấp dưới, biến chứng trước sinh, bệnh lao và sởi. Cho đến năm 2016, bệnh tim đột nhiên đứng đầu danh sách, chiếm 8,7% tổng gánh nặng bệnh tật, so với chỉ 3,7% vào năm 1990. Đứng thứ hai là bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, sau đó lại là tiêu chảy, rồi đến biến chứng đường hô hấp dưới, rồi đến đột quỵ. Mọi nguyên nhân mới xuất hiện trong danh sách đều có sự liên kết mạnh mẽ với ô nhiễm không khí.I Người đứng đầu phòng thí nghiệm không khí trong Ban Kiểm soát Ô nhiễm Trung ương nói với tờ Hindustan Times vào tháng 7 năm 2017 rằng Delhi đã không có một ngày nào trong 535 ngày trước đó có chất lượng không khí được đánh giá là “tốt”.

Jyoti Pande Lavakare là một nhà kinh tế, nhà báo tài chính và tự nhận mình là một “bà mẹ trường trung học tại Delhi”, hỗ trợ điều hành một đội ngũ trong chiến dịch dành cho các bậc cha mẹ đang lo lắng. Tại ngôi nhà của cô trong một khu phố trung lưu nhiều cây cối, các công viên công cộng xuất hiện giữa mọi dãy nhà, được tưới nước quá mức. Bảo vệ ngồi ở bên ngoài mỗi cổng ra vào. Những khu phố như vậy đáng lẽ ra phải không bị ảnh hưởng bởi thứ gì đó phiền phức như ô nhiễm, song máy đo của tôi vẫn hiện chỉ số 280 µg/m3. Những tia nắng vỡ vụn soi rọi không gian ngoài trời trông giống như bụi bặm trong một căn gác mái. Jyoti nói với tôi rằng một số đại sứ quán nước ngoài hiện phân loại Delhi là một “bài toán khó” – họ không gửi các nhà ngoại giao cùng gia đình đến Delhi nữa. United Airlines gần đây đã hủy các chuyến bay đến Delhi trong khoảng thời gian tồi tệ nhất của đợt khói mù tháng 11. “Nó dần được hình thành trong cộng đồng quốc tế như là một bí mật mở”, cô nói. “Nó trở thành thứ mà mọi người đều biết đến nhưng không muốn thảo luận.” Điện thoại của cô ấy reo vang với nhạc chuông là bài Yellow của Coldplay. “Tôi sẽ nhận cuộc gọi nếu đó là từ các bác sĩ”, cô ấy nói một cách hối lỗi. “Ổn rồi, nó không phải… Đó là điều kỳ lạ, Tim. Giờ đây tôi tham gia cuộc chiến đấu này vì lý do cá nhân. Mẹ tôi mới đây được chẩn đoán mắc bệnh ung thư phổi. Bà là một công dân Delhi lâu năm. Chúng tôi không có tiền sử mắc bệnh ung thư trong gia đình mình… bà không phải là người hút thuốc. Bà chỉ hít thở bầu không khí của Delhi.”

Chỉ vài ngày sau khi tôi rời Delhi, một trận đấu cricket quốc tế được tổ chức tại thủ đô – trận đấu kinh điển giữa Ấn Độ và Sri Lanka – đã chứng kiến mức khói bụi tệ đến nỗi trọng tài đã tạm dừng trận đấu trong 20 phút để tham khảo ý kiến các bác sĩ của hai đội. Đó là trường hợp đầu tiên được ghi nhận của một trận đấu cricket quốc tế bị tạm dừng do khói bụi. Trận đấu lại tiếp tục nhưng hai cầu thủ giao bóng rời sân và phàn nàn về việc khó thở. “Chúng tôi có những cầu thủ ra sân rồi nôn mửa”, huấn luyện viên của đội Sri Lanka phàn nàn với các phóng viên. “Có cả bình oxy ở trong phòng thay đồ.”

Hiện tượng “sương mù quang hóa” tại LA
Màn khói bụi đầu tiên xuất hiện tại Los Angeles là vào năm 1943. Nhiều người khi ấy lo sợ rằng đó là một cuộc tấn công hóa học của Nhật Bản, khiến cho đường phố trở nên hoảng loạn. Nhưng trên thực tế, hiểm họa ấy lại xuất phát từ chính nơi này và sự xuất hiện của nó là có thể dự đoán được. Los Angeles, giống như Mexico City và Bắc Kinh, là một chiếc bẫy ô nhiễm tự nhiên. Khu vực này có địa hình dạng lòng chảo (với diện tích khoảng 1.630 dặm vuông) bị bao quanh bởi một vành núi cao, chính vành núi này đã giữ không khí lại ở phía dưới. Đầu thế kỷ XX, khói bốc lên từ các nhà máy thép, nhà máy hóa chất và lò đốt chất thải dần dần lấp đầy lòng chảo. Sau màn khói bụi năm 1943, các cơ quan chính phủ đã nhờ đến Tiến sĩ Arie Haagen-Smit, một nhà hóa sinh học tại Viện Công nghệ California, để điều tra những gì đang xảy ra. Nghiên cứu sau đó của ông đã phát hiện ra quá trình gây ô nhiễm ozone và đặt ra cụm từ “sương mù quang hóa”.

Bài viết “Kiểm soát ô nhiễm không khí tại Los Angeles” của Haagen-Smit, được xuất bản trong ấn bản tháng 12 năm 1954 của tờ Engineering and Science, kết luận rằng: “Phân tích hóa học của màn khói bụi cho thấy sự hiện diện của một lượng lớn các chất thành phần, trong đó có lưu huỳnh dioxide và bụi, được biết đến như những “kẻ gây rối” ở các khu công nghiệp khác nhau… Phát hiện về quá trình oxy hóa quang hóa của chất hữu cơ đi kèm với sự hình thành ozone đã [cung cấp] thêm bằng chứng khoa học cho sự cần thiết của việc kiểm soát khí thải hydrocarbon.” Cáo phó của Haagen-Smit trên tờ New York Times, năm 1977, có ghi: “Ông đã đương đầu với ngành công nghiệp dầu mỏ và ô-tô trong một cuộc chiến gần như tay đôi chống lại ô nhiễm từ nhiên liệu bị đốt cháy… thuyết phục ngành công nghiệp lọc sạch khói thải từ các ống khói nhà máy, thúc giục các nhà máy ô-tô phát triển phần cứng làm giảm khí thải và nhấn mạnh sự cần thiết của việc phải có kế hoạch kiểm soát phát triển công nghiệp.” Tuy nhiên, có một điều ông không thể ngăn cản, đó là tình yêu của thành phố dành cho xe hơi. Tiến sĩ Devra Davis ước tính rằng cho đến năm 1955, khoảng một nửa trong số 5 triệu dân của thành phố có một chiếc ô-tô, đốt cháy tổng cộng 58.000 tấn nhiên liệu mỗi năm. Los Angeles trước đó được biết đến với những chiếc xe điện, với 1.500 dặm đường ray, nhưng – giống như ở London – chúng đã bị gỡ bỏ để nhường chỗ cho ô-tô. Davis viết rằng, vào năm 1954, “những ngọn lửa trại khổng lồ được thắp lên khi những chiếc xe và tàu điện từng một thời chạy tại Hollywood bị tẩm dầu hỏa và đốt cháy”. Nếu có một hình ảnh tóm gọn sự sai lầm của việc ủng hộ nhiên liệu hóa thạch thay vì điện khí hóa vào giai đoạn giữa thế kỷ XX, thì đó chắc chắn là hình ảnh này.

Từ năm 1950 đến 1970, dân số miền nam California đã tăng gấp đôi, trong khi số lượng phương tiện giao thông tăng gấp ba. Ronald Reagan đã kêu gọi cư dân vào năm 1974 hạn chế “di chuyển bằng xe hơi ngoại trừ trường hợp thực sự cần thiết” và lái xe chậm hơn để giảm thiểu khí thải, nhưng lời kêu gọi của ông hầu như không có tác dụng. Các nghiên cứu ở California vào những năm 1980 đã bắt đầu kiểm tra các tác động tới sức khỏe của ô nhiễm khí thải phương tiện giao thông và phát hiện ra tỷ lệ chết sớm do bệnh tim mạch cao bất ngờ.

Mary Nichols, chủ tịch Hội đồng Tài nguyên không khí (CARB) từ năm 1979 đến 1983, hồi tưởng, “chỉ riêng việc giảm lượng [các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi, hay VOC] trong không khí… đã gây ra rất nhiều tranh cãi, và nó đã vướng phải kiện tụng. Điều đó đồng nghĩa với việc dành hàng giờ tại các phiên điều trần với những công ty như Southern California Edison, những công ty đã chiến đấu quyết liệt cùng rất nhiều các chuyên gia khoa học từ nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm thuyết phục rằng chúng ta không nên cố gắng [kiểm soát khí thải]”. Ở tình trạng tồi tệ nhất của nó, màn khói bụi tại LA “thiêu đốt phổi khi bạn hít phải và có mùi rất tệ – nó thực sự có mùi và vị – và không khí thì đáng ra không nên có đặc điểm đó”, Nichols nói. “Nó có vị của hóa chất và công nghiệp. Và nó cũng thật xấu xí – bạn có thể nhìn thấy nó, nó khiến cho mọi thứ trong tầm nhìn trở nên u ám. Và bạn có thể thấy những hậu quả mà nó để lại, trên các tòa nhà, các di tích, nơi nó ăn mòn đá và cẩm thạch. Và theo như cảm nhận của con người lẫn động vật – bởi vì thú nuôi cũng trải qua điều này – hơi thở trở nên đau đớn, khó nhọc và khả năng ở ngoài trời của chúng ta bị giảm thiểu. Mọi người được khuyên không nên đi ra ngoài… họ bị mắc kẹt trong chính ngôi nhà của mình.”

Sam Atwood là một phóng viên nhật báo trong những năm 1980 tại tờ San Bernardino Sun và tờ Santa Fe New Mexican. Năm 1990, ông đã giành một giải thưởng báo chí quốc gia cho một loạt tám bài về ảnh hưởng sức khỏe của khói bụi. “Vào năm 1987, cơ hội để làm việc cho một tờ báo tại Nam California xuất hiện”, ông nhớ lại, “vì vậy tôi đã bay đến để phỏng vấn – và bạn vẫn có thể có trải nghiệm này vào thời nay… bạn biết đấy, bạn đang thực sự bay thẳng vào một màn khói bụi… Dãy núi San Gabriel thật đẹp, nó cách sân bay chưa đến 10 dặm nhưng bạn hoàn toàn không thể nhìn thấy nó… tôi gần như bắt đầu lên cơn hoảng loạn và suy nghĩ, mình đang làm gì ở đây… mình sẽ hít phải những thứ này ư?!”

Máy bay của Sam hạ cánh khi đang có một trong nhiều cảnh báo khói bụi Giai đoạn 1, báo hiệu nồng độ ozone ở mức cao: “Ở mức đó, bất cứ ai cũng sẽ cảm nhận được ảnh hưởng, rất khó để Giành lại không khí sạch 47 hít thở sâu, bạn cảm thấy như có một quả tạ đè nặng trên ngực và không thể phủ nhận thực tế là chất lượng của không khí đang ảnh hưởng đến tất cả ai hít thở nó.” Los Angeles, ông nói, “đã luôn luôn có vấn đề ozone ở mức kinh khủng và nó sẽ tiếp tục là thử thách lớn nhất đối với chúng ta”.

Từ năm 2012 đến 2014, Los Angeles đã có 81 ngày nồng độ ozone ở mức “báo động đỏ”; ngược lại, toàn bộ tiểu bang Florida chỉ có một. Suzanne Paulson, giáo sư tại UCLA (Đại học California, Los Angeles) và giám đốc của Trung tâm Không khí Sạch, giải thích rằng vấn đề ngày nay “vẫn là những chiếc ô-tô sử dụng động cơ đốt trong [cùng với] các nguồn khác như xe địa hình, phương tiện sử dụng cho hoạt động xây dựng, máy bay, tàu hỏa và tàu thủy: chúng tôi có một lượng hàng hóa khổng lồ được vận chuyển đến Los Angeles, khoảng một nửa trong số đó được đưa từ châu Á đến Hoa Kỳ và được nhập vào thông qua các cảng tại Los Angeles và Long Beach”. Tóm lại, Paulson nói, “nếu chúng ta đột nhiên loại bỏ được tất cả việc đốt cháy, thì chúng ta gần như sẽ giải quyết được triệt để [ô nhiễm không khí]”.

Bản báo cáo về Tình trạng Không khí năm 2016 của Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ đã phát hiện ra có 12 thành phố tại California ghi nhận sự gia tăng ô nhiễm ozone so với cùng kỳ năm trước, trong đó Los Angeles đứng đầu danh sách “ô nhiễm nhất” của 15 trong số 16 bản báo cáo gần đây. Trong năm 2016, 5 thành phố tại các quốc gia phương Tây đã có những đợt ô nhiễm hàng ngày ngắn hạn tồi tệ nhất kể từ khi tiến hành việc báo cáo, phần lớn là do sự gia tăng của những cơn hạn hán vào mùa hè và những đám cháy rừng, mặc dù đó không phải là những nguồn duy nhất. Những ngày có nồng độ hạt ô nhiễm cao thường là hậu quả của việc sử dụng lò sưởi củi để giữ ấm, bão bụi, cháy rừng và các loại hình thời tiết đã giữ lại khí thải từ các nhà máy điện, xe tải, xe buýt, tàu hỏa, tàu thủy và các nguồn liên quan tới hoạt động công nghiệp. Trên toàn quốc, cứ 10 người Mỹ thì có hơn 4 người (44%) sống ở các hạt có nồng độ ô nhiễm ozone hoặc hạt ở mức không tốt cho sức khỏe, tỷ lệ này cao hơn so với giai đoạn từ năm 2009-2011. Chỉ riêng PM2.5 đã gây ra số ca tử vong hàng năm cao gấp đôi so với tai nạn giao thông ở Mỹ. Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ cũng cảnh báo về những thế lực mạnh mẽ đang tìm cách “làm suy yếu Đạo luật Không khí sạch [Hoa Kỳ]… và suy giảm khả năng của quốc gia trong việc chiến đấu vì một bầu không khí lành mạnh”. Với việc chính quyền Trump lên nắm quyền, họ sẽ sớm chứng minh điều này là đúng.

Paris: khí thải NOx độc hại
Khi tôi đặt chân đến văn phòng của tổ chức Airparif tại bờ nam sông Seine, Amélie Fritz đã xin lỗi vì vẻ ngoài mệt mỏi của mình. Hôm ấy là một ngày sau sự kiện “Journée sans Voiture – Ngày không xe hơi” của thành phố, hiện là một sự kiện diễn ra hàng năm trong đó Paris cố gắng thuyết phục cư dân của mình di chuyển mà không sử dụng xe hơi trong một ngày. Fritz, một nhà sinh học môi trường tại Airparif, tổ chức giám sát chất lượng không khí chính thức của thành phố, đã nói chuyện với các nhà báo cho tới tận đêm khuya. Cô ấy đã thực hiện cuộc phỏng vấn truyền hình cuối cùng tại nhà của mình – “Tôi đã quá mệt mỏi để ở lại làm việc, vì vậy tôi nói: Được rồi, nhưng bạn phải đến nhà tôi ngay bây giờ.”

Cô ấy chỉ cho tôi lên trên tầng để đến văn phòng của cô, ở trong là một cái bàn tràn ngập những bản báo cáo và các bài báo khác nhau. “Paris khá là may mắn nếu xét về điều kiện địa lý”, cô mở đầu. “Vùng đất có địa hình rất bằng phẳng, chúng tôi không bị bao quanh bởi những ngọn núi, không có ngành công nghiệp “đồ sộ” nào, đây cũng không phải là một khu công nghiệp, có nhiều gió và mưa – điều này khá tốt cho chất lượng không khí… Nhưng nếu khi bầu trời xuống thấp, không có gió – thì về cơ bản, không khí giống như khi bạn vẫn để xe chạy trong gara nhà mình vậy.”

Từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 17 tháng 12 năm 2016, khu vực Paris mở rộng đã trải qua một trong những giai đoạn ô nhiễm kéo dài và dữ dội nhất trong vòng một thập kỷ. Nồng độ PM10 cao do các nguồn phát thải địa phương từ giao thông và lò sưởi tại gia, cộng với việc trời lặng gió, đã khiến cho toàn bộ Paris như bị mắc kẹt trong gara với một chiếc xe vẫn đang chạy. Vào Thứ tư ngày 30 tháng 11, chỉ số PM2.5 hàng giờ tại Saint-Denis, trung tâm Paris, đạt mức cao nhất là 195 µg/m3, trong khi NO2 đạt đỉnh ở mức gây khó thở 283 µg/m3 tại Quảng trường Nhà hát lớn vào ngày hôm sau. Tình hình cải thiện vào cuối tuần, nhưng sau đó chỉ số lại tăng trở lại vào tuần sau. Tất cả các phương tiện giao thông công cộng cùng với các chương trình cho thuê xe đạp và xe điện công cộng của thành phố đã được cung cấp miễn phí để cố gắng ngăn chặn cư dân sử dụng xe hơi của họ. Hơn 2.000 trẻ em bị bệnh hen suyễn đã được điều trị ở các phòng cấp cứu tại bệnh viện của Paris. Đến ngày 8 tháng 12, trang nhất của tờ nhật báo 20 Minutes đã đăng dòng tít “La fumée tue” (Màn khói giết người). Kênh tin tức truyền hình France 24 bình luận rằng “chính quyền địa phương và chính phủ hiện đang bất đồng ý kiến, đổ lỗi cho nhau về mức độ ô nhiễm hiện nay”, trong khi trang web của chiến dịch “Ngăn chặn ô nhiễm” tuyên bố: “Sống ở Paris trong thời kỳ ô nhiễm cao điểm này tương đương với việc hít khói từ 8 điếu thuốc mỗi ngày trong căn phòng rộng 20 mét vuông.”

Theo cơ quan y tế công cộng quốc gia (Santé publique France), ô nhiễm không khí giết chết 48.000 người mỗi năm tại Pháp, 34.000 trong số đó được cho là những cái chết “có thể tránh được”: “Ở các khu vực đô thị có hơn 100.000 dân, kết quả cho thấy, trung bình, có sự suy giảm 15 tháng tuổi thọ mỗi 30 năm do PM2.5; trong những khu vực [có dân số] từ 2.000 đến 100.000, độ suy giảm tuổi thọ trung bình là 10 tháng; ở các vùng nông thôn, trung bình, tuổi thọ được ước tính sẽ giảm đi 9 tháng.” Nhưng điều quan trọng là những phát hiện này không chỉ liên quan đến các đợt cao điểm như vào tháng 12 năm 2016. Một nghiên cứu của cơ quan y tế công cộng quốc gia về 17 thành phố tại Pháp từ năm 2007 đến 2010 khẳng định, “chính sự phơi nhiễm hàng ngày và lâu dài với ô nhiễm đã có ảnh hưởng lớn nhất đến sức khỏe, trong khi các đỉnh điểm ô nhiễm chỉ có ảnh hưởng không đáng kể”.

Nhiều vấn đề trong số đó bắt đầu vào những năm 1970. Chợ Les Halles bị phá hủy để nhường chỗ cho những con đường rộng hơn dọc theo bờ sông Seine và một đường hầm dưới lòng đất được xây dựng để giúp cho trung tâm Paris trở nên dễ tiếp cận hơn bằng ô-tô. Thành phố sau đó được bao quanh bởi một đường vành đai, Boulevard Périphérique, được hoàn thành vào năm 1973. Thay vì làm giảm tắc nghẽn giao thông, con đường này lại thu hút nhiều phương tiện hơn. Trong năm 2010, khoảng 3,6 triệu cư dân vùng Île-de-France (những người sống ở khu vực xung quanh Paris) có khả năng bị phơi nhiễm với NO2 có nguồn gốc từ giao thông vượt quá giá trị giới hạn hàng năm, đồng thời mức độ NO2 ngoài đường cũng đã tăng lên hàng năm kể từ năm 1997. Trong khi vấn đề về PM2.5 tại Paris có vẻ không đáng kể khi so sánh với Delhi hoặc Bắc Kinh, vấn đề NOx (NO2 + NO) tại đây còn tồi tệ hơn ở cả hai thành phố. Báo cáo thường niên của Airparif năm 2010 giải thích, “sự gia tăng của nồng độ nitrogen dioxide, cả trong không khí và trên các tuyến đường có thể liên quan đến nguồn phát thải NO2 chính đến từ các phương tiện giao thông chạy bằng diesel. Mặc dù các bộ lọc hiện đang được trang bị cho hầu hết các loại xe diesel mới có góp phần làm giảm lượng phát thải hạt ô nhiễm, nhưng chúng cũng làm tăng đáng kể lượng khí thải NO2 . Hiện tại, việc tỷ lệ NO2 trong khí thải NOx đang tăng lên đều đặn đã được xác nhận”. Quy trình cảnh báo người dân Paris về mức độ ô nhiễm cao đã được kích hoạt vào 44 ngày đặc biệt trong năm 2012. Cho đến năm 2013, đã có 14,6 triệu chuyến đi bằng ô-tô trong khu vực Île-de-France mỗi ngày, ước tính 65% trong số đó diễn ra tại Paris.8 Bản báo cáo năm 2017 của Airparif phát hiện ra rằng nồng độ NO2 trên các con đường lớn cao gấp đôi so với những con đường ở xa và cũng thường gấp đôi giới hạn hàng năm của EU.

Amélie cho biết, ô nhiễm không khí tại Paris hiện nay là sự kết hợp của “NO2 cùng với PM10 và PM2.5. Vẫn còn một số vấn đề tồn đọng với benzen. Và với nồng độ ozone bên ngoài thành phố, ở cấp độ khu vực… Đồng thời cũng có khá nhiều khói được thải ra từ hoạt động nông nghiệp và đốt củi”. Cô ấy nói với tôi rằng ô nhiễm không khí hiện nay là “một trong những mối quan tâm chính [của công chúng]” – nó thực sự chỉ đứng thứ hai xếp sau việc làm. Vì vậy, về cơ bản đây là một mối quan ngại lớn và người dân đang rất lo lắng về sức khỏe của họ”. Cuộc thăm dò ý kiến được thực hiện bởi Airparif khẳng định rằng một nửa số cư dân tại Paris lo ngại về việc nồng độ NO2 vượt quá ngưỡng an toàn cho sức khỏe.

Vào năm 2017, Clotilde Nonnez, một cư dân Paris và là một giáo viên yoga 56 tuổi, đã thực hiện một việc chưa từng có tiền lệ khi đưa chính phủ Pháp ra tòa vì không bảo vệ cô khỏi tác động của ô nhiễm không khí. Sinh sống ở Paris đã được 30 năm, cô nhận thấy sức khỏe của mình ngày càng suy giảm mặc dù chế độ ăn uống và tập luyện của cô vô cùng lành mạnh. Khi nó trở nên tồi tệ hơn bao giờ hết vào đợt khói bụi tháng 12 năm 2016, cô nghi ngờ rằng có một mối liên kết. Bác sĩ của cô xác nhận điều đó.

“Bác sĩ điều trị cho tôi nói rằng không khí tại Paris ô nhiễm đến mức chúng ta như đang hít thở không khí bị thối rữa”, cô nói với France Info. “Cô ấy có những bệnh nhân khác cũng có tình trạng giống như tôi, bao gồm cả trẻ em và em bé sơ sinh nữa. Bác sĩ tim mạch của tôi cũng nói điều tương tự.” Luật sư của Nonnez, François Lafforgue, nói với báo Le Monde rằng cần phải có hành động để ngăn chặn 48.000 cái chết của người Pháp mỗi năm: “Chúng tôi đang chỉ trích chính phủ vì chúng tôi nghĩ rằng những vấn đề y tế mà các nạn nhân của ô nhiễm phải gánh chịu là hậu quả của sự thất bại trong các hành động của chính quyền nhằm giải quyết ô nhiễm không khí.”

Vào ngày 15 tháng 2 năm 2017, Ủy ban Châu Âu đã gửi cảnh cáo cuối cùng tới Pháp vì đã không giải quyết các vi phạm liên tục về ngưỡng giới hạn NO2 ở 19 vùng chất lượng không khí, trong đó có Paris. Lời cảnh cáo tuyên bố: “Luật pháp của EU về chất lượng không khí xung quanh và làm sạch không khí tại châu Âu (Chỉ thị 2008/50/EC) đặt ra các ngưỡng chất lượng không khí không thể bị vượt quá ở bất cứ nơi nào trong Liên minh Châu Âu và buộc các quốc gia thành viên phải hạn chế sự phơi nhiễm của công dân đối với các chất có hại gây ô nhiễm không khí. Bất chấp nghĩa vụ này, chất lượng không khí vẫn còn là một vấn đề [tại Paris]… Trong tổng lượng NOx thải ra từ phương tiện giao thông, khoảng 80% đến từ các phương tiện chạy bằng diesel.”

Ô nhiễm không khí: vấn đề toàn cầu
Năm thành phố được đề cập ở trên chỉ tóm gọn về những gì đã trở thành vấn đề toàn cầu cho đến những năm 2010. Ô nhiễm không khí đã vượt qua hệ thống vệ sinh yếu kém và nguồn nước bẩn để trở thành yếu tố môi trường hàng đầu dẫn đến tử vong sớm trên thế giới. Theo ước tính mới nhất từ WHO thì có khoảng 4,2 triệu người chết vì ô nhiễm không khí ngoài trời hàng năm, lớn hơn nhiều so với con số của HIV/AIDS, bệnh lao và tai nạn xe hơi cộng lại. Theo số liệu của WHO năm 2018, 9 trong 10 người trên toàn thế giới hiện đang hít thở không khí chứa hàm lượng chất gây ô nhiễm cao. Unicef tin rằng hai tỷ trẻ em đang sống ở những khu vực có mức độ ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn chất lượng không khí theo khuyến nghị của WHO, trong khi gần 600.000 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong hàng năm do các bệnh mà ô nhiễm không khí gây ra hoặc làm trầm trọng thêm.

Đây rõ ràng là một vấn đề không chỉ giới hạn ở châu Âu, Ấn Độ, Trung Quốc hay Mỹ. Theo cơ sở dữ liệu về ô nhiễm không khí xung quanh của WHO, thành phố ô nhiễm nhất thế giới vào năm 2016 là Zabol ở Iran. Đại diện của châu Phi trong “top 50 thành phố ô nhiễm nhất” là Bamenda ở Cameroon, Kampala ở Uganda và Kaduna ở Nigeria (mặc dù WHO rất muốn chỉ ra rằng “Châu Phi và một số khu vực ở Tây Thái Bình Dương thiếu trầm trọng dữ liệu về ô nhiễm không khí”). Cao độ lớn của các thành phố Nam Mỹ như Bogotá, Colombia cũng đồng nghĩa với việc chúng sẽ bị bóp ngạt bởi ô nhiễm khí thải diesel vốn bị mắc kẹt trong các bồn địa. Trên thực tế, gần như tất cả – 97% – các thành phố ở các nước thu nhập thấp và trung bình không đáp ứng được các hướng dẫn của WHO về chất lượng không khí.

Cả thế giới đều gặp vấn đề về khói bụi gây ô nhiễm không khí. Nếu có thứ gì đó có thể cháy được – và đặc biệt nếu nó là nhiên liệu hóa thạch – thì chúng ta sẽ vui vẻ đốt nó, và rất ít quan tâm đến những gì có trong làn khói hay việc nó sẽ đi về đâu. Vậy thì, có những gì ở trong làn khói đó? Và nó sẽ đi về đâu?

-Còn tiếp-

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Ảnh đầu bài: Tòa nhà cao tầng ở Sài Gòn bị che mờ bởi lớp bụi sáng ngày 19.11.2019.
Chụp bởi Thanh Nguyen/VnExpress

Đọc bài viết

Trích đăng

Gặp gỡ Zuckerberg – Trích “Always Day One”

Published

on

By

Always Day One là một ấn bản rất được mong đợi của Alex Kantrowitz. Cuốn sách đem lại một cái nhìn thú vị về phong cách lãnh đạo, văn hóa doanh nghiệp, quy trình và công nghệ của những gã khổng lồ công nghệ, thông qua cách viết và kể chuyện hấp dẫn, trực tiếp của tác giả. Những nhận định trong cuốn sách từng được dẫn lại trên nhiều nguồn uy tín như The New Yorker, The Wall Street Journal...

Tác giả Alex Kantrowitz là nhà báo kỳ cựu chuyên mảng công nghệ của BuzzFeed. Trang tin tức cá nhân Big Technology của ông thường tập trung phân tích cách thức vận hành của những gã khổng lồ gồm Amazon, Apple, Facebook, Google và Microsoft. "Sách đem đến cái nhìn vào sâu bên trong nền văn hóa đã và đang giúp cho những gã khổng lồ đánh bại các đối thủ mới hình thành của mình trong cuộc chiến công nghệ. Thận trọng và đầy nghiêm khắc, Alex Kantrowitz nhắc chúng ta phải luôn lạc quan về một tương lai chung sống cùng những công ty công nghệ quyền lực nhất thế giới." -  Scott Galloway, tác giả của The Four và The Algebra of Happiness

  • Trích từ: Always Day One
  • Tác giả: Alex Kantrowtiz
  • Phát hành: Tháng 12.2020
  • Đơn vị giữ bản quyền: Phương Nam Book

*
Gặp gỡ Zuckerberg

Vào tháng Hai năm 2017, Mark Zuckerberg đã mời tôi tới trụ sở công ty của anh ấy ở Menlo Park, California. Đó là lần đầu tiên tôi trò chuyện với vị giám đốc điều hành của Facebook, và câu chuyện đã diễn ra không như dự đoán của tôi.

Công ty của Zuckerberg, như thường lệ, bị những tranh cãi bủa vây. Việc họ đẩy mạnh phát triển các sản phẩm nhưng lại miễn cưỡng kiểm duyệt nội dung đã để cho những thông tin sai lệch, giật gân, cùng các hình ảnh bạo lực xuất hiện tràn lan trên các sản phẩm đó. Zuckerberg dường như đã sẵn sàng chia sẻ về công ty, còn tôi thì rất háo hức lắng nghe.

Trụ sở chính của Facebook – một cấu trúc bê-tông mở và rất rộng lớn – là một nơi không dễ bước vào. Tòa nhà có chín hành lang cùng hai lớp bảo vệ, và các nhân viên an ninh sẽ yêu cầu bạn ký vào bản thỏa thuận không tiết lộ. Khi vào trong, tôi đi về phía một phòng hội nghị có tường bằng kính, nằm ngay giữa tòa nhà, nơi Zuckerberg tổ chức các cuộc họp. Sau khi nói gì đó với COO Sheryl Sandberg của công ty, anh ấy tiến về phía tôi và Mat Honan, biên tập viên của tôi, để bắt đầu cuộc trò chuyện ngay giữa thanh thiên bạch nhật.

Zuckerberg đã rất nỗ lực để đưa ra bản “Tuyên ngôn” của mình.[1] Đó là một bài đăng dài 5.700 từ, nói về quan điểm của Facebook, không chỉ đối với những nội dung đang gây rắc rối mà, rộng lớn hơn, là cả vai trò của họ trong cuộc sống của người dùng. Trước khi tới Melon Park, tôi đã hình dung về một cuộc gặp CEO điển hình: đầu tiên là một bài thuyết trình, rồi tới một chút thời gian ngắn ngủi cho các câu hỏi. Nhưng sau một phác thảo tổng quát ngắn gọn, Zuckerberg bắt đầu yêu cầu tôi cho ý kiến. “Ông thấy có gì không rõ ràng trong những thứ chúng ta đã nói tới không?’’, anh ấy hỏi, “Còn thiếu sót gì không?”.

Zuckerberg lắng nghe rất chăm chú những câu trả lời của tôi. Tư thế ngồi không thay đổi. Hoàn toàn tập trung. Và phản ứng của anh ấy – trước tiên là một cuộc tranh luận nhẹ nhàng về việc tôi muốn Facebook chú ý nhiều hơn tới quyền  lực của họ, và sau đó là một sự thừa nhận – cho thấy rõ việc anh ấy yêu cầu tôi cho ý kiến không phải để làm màu. Tôi chưa bao giờ thấy một CEO nào làm như vậy, nói gì tới một người có tiếng cố chấp như Zuckerberg. Có vẻ rất khác biệt đây, và cũng rất đáng để tìm hiểu nữa.

Sau cuộc gặp ấy, tôi đã hỏi tất cả những người tôi biết về sự khao khát phản hồi khá kỳ lạ của Zuckerberg. Điều đó có bình thường không? Có bao giờ anh ấy hỏi bạn chưa? Sau nhiều cuộc trò chuyện, tôi đã có câu trả lời: việc đặt câu hỏi chỉ đơn giản là một cái nhìn thoáng qua về cách anh ấy điều hành Facebook. Zuckerberg đã đưa sự phản hồi vào từng thớ thịt của Facebook. Các cuộc họp quan trọng kết thúc bằng các phản hồi về chính các cuộc họp đó. Những poster trong các văn phòng của Facebook thể hiện rõ rằng PHẢN HỒI LÀ MỘT MÓN QUÀ. Và không ai trong công ty quan trọng hơn phản hồi, kể cả chính Zuckerberg.

Là một phóng viên công nghệ ở Thung lũng Silicon, tôi đã trực tiếp dõi theo cuộc đua độc đáo để giành vị thế thống trị của những gã khổng lồ công nghệ. Thay vì đi theo vòng đời điển hình của một công ty – phát triển, chậm lại, vấp ngã và biến mất, những công ty như Apple, Amazon, Facebook, Google và Microsoft lại ngày càng lớn mạnh theo năm tháng. Và có lẽ ngoại trừ Apple (tôi sẽ đề cập nhiều hơn trong phần sau), các công ty đang có đôi chút dấu hiệu buông xuôi mà thôi.

Khi quan sát họ, tôi đã rất ấn tượng với cách các công ty này vận hành bộ máy của mình. Ví dụ như, sau rất nhiều lần phỏng vấn các giám đốc điều hành, tôi đã tin rằng các CEO hàng đầu thế giới chính là những người bán hàng bẩm sinh, những người đã sử dụng sức mạnh nhân cách của họ để tập hợp được những người khác dưới ngọn cờ của mình. Nhưng khi nhìn vào Zuckerberg và những người như Jeff Bezos của Amazon, Sundar Pichai của Google, Satya Nadella của Microsoft, bạn sẽ thấy họ là những kỹ sư được đào tạo háo hức với việc hỗ trợ hơn là ra lệnh cho người khác. Thay vì trả lời, họ đưa ra các câu hỏi. Thay vì nói nhiều, họ biết lắng nghe và học hỏi.

Sau cuộc gặp ở Menlo Park, tôi bắt đầu đào sâu, quan sát rộng hơn vào hoạt động nội tại của những gã khổng lồ công nghệ – các hoạt động lãnh đạo, văn hóa, công nghệ cùng các quy trình làm việc của họ, và tự hỏi liệu có mối liên hệ nào giữa thành công và cách vận hành độc đáo của họ hay không. Khi các mô hình phổ biến xuất hiện, mối liên hệ đó ngày càng trở nên không thể phủ nhận. Rồi tôi bị ám ảnh với việc phải phát hiện chính xác những gì họ đang làm, và tại sao chúng lại hiệu quả. Cuốn sách này là sản phẩm của cuộc hành trình dài hai năm và hơn 130 cuộc phỏng vấn sau đó.

Những gì bạn sắp đọc là công thức đã giúp những gã khổng lồ công nghệ đạt được và duy trì sự thống trị của họ. Đây là một cuốn sách nói về văn hóa và nghệ thuật lãnh đạo, nhưng rộng hơn, là về các ý tưởng và phát minh, cùng các mạch nối chúng lại với nhau. Cuốn sách này nói về một mô hình kinh doanh mới trong thời đại mà các công ty có thể tạo ra các sản phẩm mới chỉ trong chớp mắt, khi mà những thách thức luôn hiện hữu, và không một lợi thế nào là an toàn cả. Dựa vào một loạt các công nghệ nội bộ, mà phần lớn đều là tự tạo để vận hành công ty một cách khác biệt, những gã khổng lồ công nghệ đã phát hiện ra công thức mới này từ rất sớm. Và giờ là lúc tiết lộ nó cho tất cả mọi người.

Các công ty được miêu tả trong cuốn sách này không hoàn hảo – thậm chí còn xa mới đạt được mức đó. Trong nỗ lực không mệt mỏi để phát triển, họ đã khai thác nhân viên đến xương tủy, ngó lơ sự lạm dụng rõ ràng các công nghệ của mình, và có cả việc trả thù những người bất đồng nghiêm túc nhất trong nội bộ. Những hành vi thái quá như vậy đã khiến chính phủ Hoa Kỳ cân nhắc việc siết chặt luật, và các chính trị gia kêu gọi họ giải thể. Phần lớn những chuyện đó đều có nguyên nhân cả. Vì vậy cần phải nói rõ rằng: cuốn sách này không đề cập tới sự phát triển, cách để phát triển, hay cách đánh bại các công ty nhỏ hơn. Cuốn sách này nói về việc xây dựng các nền văn hóa sáng tạo, mà tôi tin rằng mọi người đều có thể học hỏi được. Và đối với những người đang tìm cách chế ngự các công ty này, việc hiểu được cách hệ thống nội bộ của họ hoạt động cũng có thể là một lợi thế mang tính chiến lược. Để chẩn đoán bệnh một cách hiệu quả thì không chỉ cần phải xem xét các triệu chứng, mà còn cần nắm được sinh lý học của cơ thể.

Nếu tri thức của những gã khổng lồ công nghệ vẫn chỉ nằm trong tay họ, thì thế giới kinh doanh rộng lớn hơn, cùng các cơ quan quản lý, sẽ gặp bất lợi. Nhưng nếu nó nằm trong tay chúng ta, thì chúng ta sẽ có cơ hội cân bằng sân chơi.

Luôn là Ngày Đầu Tiên

Tại một cuộc họp toàn thể công ty Amazon vào tháng Ba năm 2017[2] , một Jeff Bezos chỉnh tề, đầy tự tin đang đứng trước hàng ngàn nhân viên của mình, lướt qua một chồng giấy nhỏ ghi các câu hỏi với vẻ mặt hơi thất vọng. “Được rồi, tôi nghĩ đây là một câu hỏi rất quan trọng,” Bezos nói, “Ngày Thứ Hai sẽ như thế nào?”.

Trong suốt 25 năm qua, Bezos đã thúc giục nhân viên của mình làm việc mỗi ngày như thể đó là ngày đầu tiên của Amazon. Giờ đây, khi Amazon đang tiến tới mốc giá trị nghìn tỷ, với nhân sự tăng thêm khoảng 100.000 nhân viên mỗi năm, thì một nhân viên (có lẽ đang tràn đầy hy vọng) lại yêu cầu Bezos nghĩ về Ngày Thứ Hai.

“Ngày Thứ Hai sẽ như thế nào ư?”, Bezos hỏi lại. “Ngày Thứ Hai sẽ là sự trì trệ, là sự vô nghĩa, là sự tụt dốc đầy đau đớn, và sau đó là cái chết.”

Tiếng cười vang lên khắp hội trường. Đối với hàng ngàn nhân viên Amazon đang tham dự cuộc họp thì việc Bezos hủy diệt người đồng nghiệp ẩn danh của họ, người đã mạo hiểm đề cập tới một chủ đề nguy hiểm ở Amazon, là một sự kiện thú vị. Khi đám đông đang vỗ tay thì Bezos ra hiệu dừng lại, nở một nụ cười nửa miệng, rồi khép lại cuộc họp bằng câu nói: “Và đó là lý do tại sao phải luôn là Ngày Đầu Tiên.”

Khẩu hiệu “Day One” – “Ngày Đầu Tiên” – có mặt ở khắp mọi nơi trong Amazon. Nó là tên của một tòa nhà quan trọng, là tiêu đề cho trang blog của công ty, và là chủ đề được lặp đi lặp lại trong lá thư hàng năm của Bezos gửi cho các cổ đông. Và mặc dù việc đọc khẩu hiệu đó như một mệnh lệnh làm việc không ngừng nghỉ có vẻ hấp dẫn, đặc biệt là ở một nơi có tiếng khắc nghiệt như Amazon, nhưng ý nghĩa của nó lại ngày càng thấm sâu hơn.

Khẩu hiệu “Ngày Đầu Tiên” ở Amazon chính là mã khóa mở ra sự sáng tạo như một công ty khởi nghiệp mà không mấy bận tâm tới những gì đã có. Đó là một sự thừa nhận rằng, ngày nay, khi các đối thủ cạnh tranh có thể tạo ra các sản phẩm mới với tốc độ kỷ lục – đặc biệt là nhờ vào những tiến  bộ về trí thông minh nhân tạo (AI) và điện toán đám mây, bạn cũng có thể tạo dựng tương lai, thậm chí đánh đổi bằng hiện tại. Hãy bắt đầu bằng việc nhìn lại cách những công ty khổng lồ như GM và Exxon từng thống trị nền kinh tế của chúng ta: họ phát triển các lợi thế cốt lõi, trở nên thỏa mãn, và ra sức bảo vệ chúng bằng mọi giá. Cố gắng khai thác những lợi thế hiện tại của doanh nghiệp không còn là một sự lựa chọn nữa. Vào những năm 1920, trung bình một công ty trong danh sách Fortune 500 tồn tại trong 67 năm. Còn vào năm 2015, con số đó chỉ còn có 15.[3] Ngày Thứ Hai sẽ như thế nào? Nó chính là cái chết.

Với xuất phát điểm từ một nhà sách trực tuyến, Amazon đã tụng niệm câu thần chú “Ngày Đầu Tiên” của họ, và điên cuồng sáng tạo ra các mảng kinh doanh mới, gần như không quan tâm tới việc chúng có thể làm tổn hại các nguồn thu hiện có. Công ty vẫn bán sách trực tuyến, nhưng giờ đây họ cũng là một nhà thanh toán bù trừ (clearinghouse) cho hầu hết các sản phẩm bạn có thể tưởng tượng ra được, một chợ trực tuyến đang phát triển mạnh mẽ, một dịch vụ chuyển phát đẳng cấp thế giới, một hãng phim đã giành Giải Oscar, một cửa hàng thực phẩm, một nhà cung cấp dịch vụ điện toán đám mây, một hệ thống điện toán giọng nói, một nhà sản xuất phần cứng, và cũng là một công ty chế tạo robot nữa. Sau mỗi sáng tạo thành công, Amazon lại quay về với Ngày Đầu Tiên và tìm kiếm thứ tiếp theo.

Vào tháng Bảy năm 2019, nhà đầu tư Mark Cuban đã nói với tôi rằng: “Tôi đang sở hữu một lượng lớn cổ phiếu Amazon. Căn cứ vào những gì họ làm hôm nay thì thật sự lượng cổ phiếu đó có thể đáng giá hàng tỷ đô. Và tôi mua cổ phiếu của họ vì tôi thấy họ là công ty khởi nghiệp vĩ đại nhất thế giới.”

Nhìn vào những gã khổng lồ công nghệ ngày nay, bạn sẽ thấy họ cũng có một hành trình tương tự. Google bắt đầu như một trang web tìm kiếm, nhưng sau đó đã sáng tạo ra một tiện ích mở rộng trình duyệt (Stay Tuned), một trình duyệt (Chrome), một trợ lý ảo (Google Assistant), và một hệ điều hành di động hàng đầu (Android). Mỗi sản phẩm mới của Google đều thách thức chính những sản phẩm hiện có của họ. Nhưng bằng cách liên tục quay lại Ngày Đầu Tiên, Google vẫn giữ vững vị trí dẫn đầu.

Facebook đã quay lại Ngày Đầu Tiên rất nhiều lần. Bắt đầu như một danh bạ trực tuyến, công ty đã tự sáng tạo lại bản thân với News Feed, và họ đang tái phát minh thời đại này bằng cách chuyển từ chia sẻ phạm vi rộng sang chia sẻ riêng tư: chuyển từ News Feed sang các Facebook Groups – một loạt các mạng lưới nhỏ hơn – và đặt việc nhắn tin vào vị thế hàng đầu. Trong lĩnh vực hay thay đổi nhất – truyền thông xã hội, Facebook vẫn đang dẫn đầu.

Cho đến gần đây, có vẻ như những ngày sáng tạo của Microsoft đã lụi tàn. Công ty đã quá phụ thuộc vào Windows đến nỗi họ gần như vuột mất tương lai. Nhưng với sự thay đổi vị trí lãnh đạo từ Steve Ballmer sang Satya Nadella, Microsoft đã trở lại Ngày Đầu Tiên và nắm lấy lĩnh vực điện toán đám mây dù nó là mối đe dọa đối với các hệ điều hành máy tính để bàn như Windows, và một lần nữa họ lại trở thành công ty có giá trị nhất thế giới.

Apple dưới thời Steve Jobs đã phát minh ra iPhone, một thiết bị đã làm lu mờ những chiếc máy tính để bàn như Mac và máy nghe nhạc cầm tay như iPod, nhưng lại giúp công ty gặt hái được nhiều năm thành công. Giờ đây, Apple đang phải đối mặt với “khoảnh khắc Windows” của mình. Họ cần phải quên chiếc iPhone đi và sáng tạo lại chính bản thân mình để có thể cạnh tranh trong thời đại điện toán giọng nói.

Trong khuôn viên Amazon tại South Lake Union, Seattle, một trong các tòa nhà mới nhất được đặt tên là Reinvent (Tái phát minh). Đó là một cái tên khá kỳ quặc ở một trong những công ty thành công nhất thế giới. Nhưng trong thế giới kinh doanh ngày nay, nơi mà Ngày Thứ Hai chính là cái chết, thì đó là chìa khóa để tồn tại. Công việc Sáng tạo và Công việc Thực thi Điều hành một công ty sáng tạo cần nhiều thứ hơn các bài phát biểu và việc luân chuyển thông tin trong nội bộ.

Nó cần tới sự tái tưởng tượng cách bạn điều hành việc kinh doanh, mà điều này là hoàn toàn có thể nhờ vào một cuộc cách mạng trong cách chúng ta làm việc. Trên thực tế, có hai loại công việc: công việc sáng tạo và công việc thực thi.

  • Công việc sáng tạo là tất cả những gì liên quan tới việc tạo ra cái mới: mơ tưởng về những điều mới mẻ, tìm ra cách để hiện thực hóa chúng, công bố ý tưởng, và tạo ra sản phẩm.
  • Công việc thực thi là tất cả những gì hỗ trợ cho những việc kể trên một khi các ý tưởng trở thành hiện thực: đặt hàng, nhập liệu, quyết toán và bảo trì.

Trong nền kinh tế công nghiệp, hầu hết mọi công việc đều là công việc thực thi. Một người sáng lập công ty sẽ đưa ra một ý tưởng (Chúng ta hãy tạo ra các sản phẩm!) và sau đó tuyển dụng nhân viên chỉ với mục đích thực thi (họ sẽ làm trong nhà máy để chế tạo các sản phẩm). Sau đó, vào cuối những năm 1930, chúng ta bắt đầu chuyển từ nền kinh tế bị chi phối bởi các nhà máy sang nền kinh tế bị chi phối bởi ý tưởng, mà chúng ta hay gọi là “nền kinh tế tri thức”.

Trong nền kinh tế tri thức ngày nay, các ý tưởng rất quan trọng, nhưng chúng ta vẫn dành phần lớn thời gian cho công việc thực thi. Chúng ta phát triển một sản phẩm hoặc một dịch vụ mới, rồi sau đó dành thời gian để hỗ trợ nó, thay vì chuyển sang một thứ khác. Ví dụ như nếu bạn bán váy thì việc hỗ trợ cho mỗi mẫu sẽ đòi hỏi vô số công việc thực thi: định giá, tìm nguồn nguyên liệu, quản lý hàng tồn kho, bán hàng, tiếp thị, vận chuyển và cả đổi trả hàng nữa. Công tác hỗ trợ cho các quy trình này còn có các nhiệm vụ cơ bản như nhân sự, kế toán và việc ký kết hợp đồng.

Gánh nặng của công việc thực thi đã khiến các công ty có một ngành kinh doanh cốt lõi gần như không thể phát triển và hỗ trợ cách ngành khác (Cố giáo sư Clayton Christensen đã gọi đây là “thế lưỡng nan của nhà cải tiến”). Những người đã từng thử sức gần như luôn bỏ cuộc, hoặc nhận thấy rằng họ không thể duy trì nhiều ngành kinh doanh cùng một lúc. “General Motors (GM) đã từng sản xuất nhiều thứ khác ngoài ô-tô như tủ lạnh và đầu máy xe lửa,” giáo sư Ned Hill, một nhà kinh tế học ở Đại học Bang Ohio, nói với tôi, “Họ như một con bạch tuộc, và họ đã không thể quản lý nổi.”

Ngập đầu trong công việc thực thi, vậy nên, các công ty ngày nay dành hết sức lực cho sự hoàn thiện, chứ không phải cho sự sáng tạo. Các nhà lãnh đạo có thể mong muốn vận hành một nền văn hóa sáng tạo, nhưng họ lại không có cơ sở hạ tầng. Và thế là họ đưa ra một số lượng rất hạn chế các ý tưởng sáng tạo từ thượng tầng xuống, còn nhân viên phía dưới chỉ thực thi và làm cho chúng bóng bẩy hơn.

Nhưng giờ đây, đột nhiên việc điều hành một công ty với nền văn hóa sáng tạo, chứ không phải với sự hoàn thiện, lại trở thành điều có thể. Những tiến bộ trong trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, cùng các công nghệ hỗ trợ sự hợp tác đã giúp giảm gánh nặng thực thi cho các doanh nghiệp hiện đại.

Điều đó mang tới cho các công ty nhiều nguồn lực hơn để biến những ý tưởng mới, đầy sáng tạo thành hiện thực và duy trì được chúng. Những công cụ này là bước phát triển tiếp theo của một sự bùng nổ các phần mềm hỗ trợ công việc từng giúp các công ty trở nên hiệu quả hơn, và AI đang làm cho chúng hoạt động hết công suất. Các chuyên gia cho rằng AI sẽ giải phóng con người để họ có thể thực hiện nhiều công việc “sáng tạo” và “mang tính người” hơn nữa. Nhưng nói chính xác hơn, AI đang cho phép các công ty làm nhiều công việc tân tiến hơn. Và tôi tin rằng đây là một nhân tố quan trọng đằng sau sự thành công của những gã khổng lồ công nghệ.

Thúc đẩy một làn sóng mới cho phép công nghệ tiến lên, những gã khổng lồ công nghệ đã tìm ra cách để giảm thiểu công việc thực thi. Việc này đã mang tới cơ hội cho những ý tưởng mới hình thành, và họ biến những ý tưởng đó thành hiện thực. Do đó, văn hóa làm việc của họ là hỗ trợ sáng tạo chứ không hướng tới sự hoàn thiện. Họ loại bỏ các rào cản ngăn sự luân chuyển của các ý tưởng trong công ty, và đưa những ý tưởng tốt nhất vào cuộc sống. Nói thì đơn giản nhưng thực tế phức tạp hơn nhiều. Và đó chính là điều giúp họ giữ được vị thế của mình.

Suốt một thời gian dài, tôi đã tin rằng trong nhiều năm nữa, những gã khổng lồ công nghệ vẫn có được lợi thế này so với tất cả chúng ta. Nhưng rồi một chuyến đi Miami đã làm thay đổi suy nghĩ đó.

Những điều kỳ diệu ở Miami

Có lẽ anh chàng ca sĩ có chất giọng cao vút Cee Lo Green chưa bao giờ nghĩ mình sẽ trình diễn trong một sự kiện doanh nghiệp cho đến tháng Mười năm 2018, khi anh đứng trước 1.100 chuyên gia đang trò chuyện rì rầm, xem điện thoại, và cố gắng kết nối mạng trong hộp đêm LIV ở bãi biển Miami.

Green cảm thấy rất vui khi ngắm nhìn các vị khách đang tấn công những lát ức bò, món nui phô-mai với ớt jalapeño, risotto cua xanh, hưởng thụ sự vui vẻ trong không gian quầy bar mở. Anh đã biến tấu bản hit hàng đầu của mình, vốn có tên chính thức là Forget You khi được phát trên radio, thành F**k You. Trong bộ đồ bó màu trắng với cặp kính mát, chàng ca sĩ vừa di chuyển trên sân khấu, vừa nói tới những thành tựu của các vị khách: “Quý vị đang ăn mừng thành công trong cuộc đời mình, đúng không nào?”

Và những giai điệu đầu tiên của bản nhạc vang lên khắp LIV, đám đông bắt đầu tỏ ra phấn khích, và Green, cười toe, ngay lập tức tiếp thêm năng lượng cho họ. “Nếu quý vị muốn nói ‘f**k you’ vì một điều gì đó thì bây giờ chính là lúc nói to lên nào”, anh hét lên với đám đông và hàng loạt tiếng hét “f**k you” từ những vị khách đáp lời anh.

Tiết mục của Green ở LIV sẽ chẳng có gì đáng chú ý nếu không phải vì đó chính là màn khởi động cho một buổi liên hoan do UiPath, một công ty mà chẳng mấy người biết tới, tổ chức. UiPath sở hữu phần mềm có thể quan sát màn hình máy tính khi bạn làm việc và, với một vài động tác dán nhãn, sẽ tự động hóa các công việc đó cho bạn. UiPath và các đối tác của công ty đang hướng tới việc tự động hóa hàng triệu việc làm trong những năm tới, và sẽ làm cho những tiếng hô “f**k you” ngày càng vang xa hơn.

Nhiều tháng trước khi buổi liên hoan diễn ra, tôi đã nghe thấy những lời đồn đoán rằng UiPath có khả năng làm thay đổi sâu rộng phương pháp làm việc ở các doanh nghiệp, theo cách mà họ có thể đưa thế giới kinh doanh rộng lớn đến gần hơn với phương pháp làm việc của những gã khổng lồ công nghệ. Và sau khi các nhà đầu tư trao cho UiPath 225 triệu đô-la[4] vào đầu mùa thu năm đó, tôi quyết định đích thân tới South Beach để tìm hiểu cặn kẽ về họ.

-Còn tiếp-

Chú thích:

  1. Zuckerberg, Mark. “Building Global Community.” Facebook, 16/2/2017, https://www.facebook.com/notes/mark-zuckerberg/building-globalcommunity/10103508221158471.
  2. Amazon News. “Jeff Bezos on Why It’s Always Day 1 at Amazon.” YouTube, 19/4/2017, https://www.youtube.com/watch?v=fTwXS2H_iJo.
  3. Lam, Bourree. “Where Do Firms Go When They Die?” Atlantic. Atlantic Media Company, 12/4/2015. https://www.theatlantic.com/business/archive/2015/04/ where-do-firms-go-when-they-die/390249/.
  4. Winkler, Rolfe. “Software ‘Robots’ Power Surging Values for Three LittleKnown Startups.” Wall Street Journal. Dow Jones & Company, 17/9/2018. https://www.wsj.com/articles/software-robots-power-surging-values-forthree-little-known-startups-1537225425.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Trích đăng

Vượt qua các giới hạn của bản thân – Trích “Thuyết phục bằng thấu cảm”

Published

on

By

Trong cuốn sách này, Lee Carter cho chúng ta thấy có cả một ngành khoa học đằng sau nghệ thuật thuyết phục. Cô ấy đưa ra những minh họa rõ ràng về cách làm thế nào đề đạt được sự thay đổi qua giao tiếp. Tát cả mọi người, từ giám đốc điều hành tới giáo viên phổ thông, từ cha mẹ tới các mục sư, sẽ nhận thấy cuốn sách này cực kì hữu dụng. Tác giả đã chia sẻ những lời khuyên tốt nhất trong cuốn sách này. Nếu bạn muốn trò chuyện để tạo ra sự thay đổi, hãy đọc và áp dụng những điều viết trong nó.

*

CHƯƠNG 1
Vượt qua các giới hạn của bản thân

Có tầm nhìn mà không có hành động chỉ là ảo tưởng. Có hành động mà không có tầm nhìn chỉ phí thời gian. Tầm nhìn đi đôi với hành động mới có thể thay đổi thế giới.
– JOEL BARKER

Đây là cuốn sách về việc giao tiếp hiệu quả. Và chính xác là vậy, tôi sắp hướng dẫn bạn cách thể hiện ý tưởng của mình để biến chúng thành những hiện thực mạnh mẽ, nhưng trước khi đạt tới mức độ đó, tôi muốn chắc chắn rằng những ý tưởng bạn đang cố gắng thực hiện là những ý tưởng đúng đắn. Những ý tưởng tốt nhất. Những ý tưởng tuyệt vời nhất.

Để thuyết phục, đầu tiên bạn cần biết chính xác điều bạn muốn đạt được là gì. Đó phải là điều bạn thực sự muốn đạt được, chứ không phải những gì người khác khiến bạn tin là nó có thực hay dễ đạt được. Cũng không phải những gì người khác muốn dành cho bạn. Chính những điều bạn nguyện thực hiện cho bản thân, cho công ty, cho tổ chức mới là những điều quan trọng nhất.

Khi thảo luận với khách hàng để bắt đầu bất kỳ dự án nào, một trong những điều đầu tiên tôi hỏi là, “Ông/bà hi vọng đạt được điều gì?” Thường thì khách hàng sẽ nói cho tôi những mục tiêu tổng quát, y như trong một kế hoạch kinh doanh vậy. Tôi muốn cụ thể. Tôi muốn biết chính xác thành công trông như thế nào đối với họ. Chúng ta thường hình dung điều mình muốn một cách chung chung, như đa số những người khác, nhưng để thuyết phục được thì không phải chỉ nói mỗi câu, “Tôi muốn trở nên phổ biến hơn’’ là đủ. Bạn muốn phổ biến hơn với ai? “Chúng tôi muốn thị phần lớn hơn.’’ Trong thị trường nào, với sản phẩm nào? “Tôi muốn được thăng chức.” Tới vị trí nào, thu nhập tăng thêm bao nhiêu. “Chúng tôi muốn có thêm nhiều người tham gia phòng chống biến đổi khí hậu.” Cụ thể là làm gì? Làm lúc nào? Việc thuyết phục thành công nằm ở sự cụ thể hóa. Tôi muốn tất cả các chi tiết. Tôi muốn hình dung ra chính xác thành công sẽ trông thế nào.

Trong thế giới truyền thông, việc được hay mất thị phần có thể xảy đến bất cứ lúc nào, nhưng để làm gì nếu điều đó xảy ra với một đối tượng khách hàng không thực sự quan trọng hay không đủ tiền để mua sản phẩm của bạn. Bạn có thể đã đạt được thị phần với một sản phẩm không hiệu quả về chi phí sản xuất. Và ngày nay biết bao người đã thăng tiến với những chức danh mới mà không đi cùng với việc tăng lương. Trên đây chỉ là một vài ví dụ, nhưng tôi muốn bạn hiểu ngay lập tức tại sao việc làm rõ các mục tiêu của bạn lại quan trọng đến vậy. Hãy nhìn xa hơn việc “được thích”.

Cụ thể hóa

Trước hết, bạn cần biết rằng sẽ tốn nhiều thời gian để có thể trả lời những câu hỏi như thế này. Đây không phải là điều chúng ta giải quyết cho một khách hàng trong một khoảng thời gian cụ thể. Nó đòi hỏi suy nghĩ. Nó cần sự phản hồi. Nó cần được cụ thể hóa. Bởi vì nếu không cụ thể hóa, bạn có thể sẽ không biết cần phải làm gì, nhóm của bạn sẽ không biết đang đi về đâu, và bạn sẽ không nhận diện được sự thành công khi nó xuất hiện. Không có những điều cụ thể, có khả năng bạn sẽ thất bại.

Khi ngồi với nhau lúc vừa rời trường đại học, cậu bạn Glenn đã hỏi tôi về ước mơ cho tương lai. Tôi đã đưa ra câu trả lời nửa vời kiểu, “Uhm, cậu biết đấy, kiếm một công việc tớ thích. Một ông chồng tớ yêu. Và hi vọng có một gia đình.” Cậu ta nhíu mày nhìn tôi, nhấp một ngụm rồi nói, “Lee à, đó có phải là ước mơ đâu. Một ước mơ phải cụ thể. Một ước mơ phải hình dung được. Khi tớ hỏi ước mơ của cậu là gì, tớ muốn cậu có thể vẽ ra một bức tranh chính xác những gì cậu muốn.” Tôi thở dài, nhìn xuống ly của mình và nghĩ, Người ơi, thật đáng sợ. Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi hình dung cụ thể rồi tôi không thực hiện được? Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi nói cho người khác biết và nghe như một đứa ngốc? Tôi đảo mắt và cố thay đổi chủ đề.

Glenn đặt ly của mình xuống, nhìn chằm chằm vào tôi rồi nói, “Tớ nói cho cậu nghe ước mơ của tớ nhé. Vào lúc này mười lăm năm nữa, tớ sẽ ngồi trên chiếc thuyền câu cùng với bạn bè, nghe nhạc của Bob Seger, và cập vào cầu tàu. Gió đang vờn tóc tớ. Tụi tớ đã câu được ba con cá thiệt bự. Vợ với con gái tớ sẽ đứng trên cầu tàu đợi tớ. Đó sẽ là một ngày thứ Bảy tuyệt vời. Và tớ biết, đã biết, rằng tớ đã làm được điều đó.” Cậu ấy nói đầy tự tin và không có chút hài hước nào hết. Các bạn hãy đoán xem bây giờ ai có thể vừa cập cầu tàu vừa nghe bản Những đêm ở Hollywood của Bob Seger? Chính là Glenn đấy.

Trong nhiều năm, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về điều này. Cuối cùng, dùng phương pháp tôi sắp chia sẻ với các bạn, tôi đã lập và đạt được những mục tiêu lớn trong sự nghiệp của mình. Tuy nhiên tôi vẫn thường lo lắng khi áp dụng cho đời sống cá nhân. Vào một ngày cuối tuần gần đây, tôi phát hiện ra rằng nhiều người bạn của tôi gặp phải vấn đề ngược lại. Nhưng dù thế nào đi nữa, dù đó là cuộc sống riêng tư hay sự nghiệp, việc đưa ra những mục tiêu như vậy là bước đầu tiên để đạt được những gì bạn muốn.

Vượt qua việc được yêu thích

Gần đây chúng tôi làm việc với một công ty dược hàng đầu. Có lẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên với bạn khi biết rằng từ vòng bầu cử vừa rồi (Sự việc thuốc Daraprim bị tăng giá gấp 5000% diễn ra vào cuối năm 2015 – thời điểm của các vòng bầu cử sơ bộ trước cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016. ND), các công ty dược đang hứng chịu cuộc khủng hoảng về danh tiếng quanh việc định giá thuốc. Và trong khi có những lý do hợp lý cho việc tăng giá, một vài kẻ xấu trong ngành đã làm cho ngành dược mang hình ảnh của một kẻ tham tàn (cảm ơn Martin Shkreli – CEO của công ty Turing Pharmaceuticals, người đã tăng giá thuốc Daraprim lên 5000%. ND). Khi tiến hành phỏng vấn nhóm, người ta nói với chúng tôi rằng họ coi tất cả các công ty dược là những kẻ tham lam, bán cắt cổ những loại thuốc có giá thành sản xuất chỉ vài xu và trục lợi trên sự bất hạnh của người khác. Và khách hàng của tôi – nhiều người trong số họ đã quyết định làm việc trong ngành dược với niềm tin rằng họ có thể tạo ra những điều lớn lao bằng việc tìm kiếm những phương pháp chữa trị và phát triển những loại thuốc cải thiện sự sống – đã bị choáng bởi những gì họ nghe thấy. Họ đã thực sự nghĩ rằng họ là những người tốt – với mục đích cố gắng chữa bệnh cứu người – trong khi các công ty khác là những kẻ xấu xa. Tất cả những gì họ cần là thể hiện sự khác biệt.

Nhưng nếu thực sự muốn hàn gắn mối quan hệ tích cực với khách hàng, giải pháp không đơn giản với mỗi việc chỉ ra ai là người tốt, ai là kẻ xấu. Chúng tôi phải tìm cách kể lại câu chuyện của sự sáng tạo và các phương pháp chữa trị của công ty có thể giúp khách hàng thấy được những điều mà nội bộ công ty xem là bình thường. Để thành công, ban quản trị không thể chỉ nói, “Chúng tôi muốn được nhìn nhận một cách tốt đẹp hơn.” Họ cần biết chính xác họ muốn được nhìn nhận như thế nào – hình ảnh của họ nên ra sao. Vì vậy, chúng tôi đã làm việc với họ để cố gắng hiểu được điều gì thực sự tạo ra sự thay đổi. Để làm được điều đó, chúng tôi đi tới một câu hỏi khác. Tại sao người Mỹ lại không tin các công ty dược đến vậy? Sau khi tiến hành nghiên cứu, câu trả lời hóa ra đơn giản một cách đáng ngạc nhiên. Người ta không hề biết các công ty dược thực sự làm gì. Người ta chỉ nghĩ những gì họ nghĩ.

Các dữ liệu của chúng tôi cho thấy người tiêu dùng nghĩ các công ty dược sản xuất thuốc và bán với lợi nhuận cao. Họ không tính tới những thử nghiệm lâm sàng hay các nghiên cứu. Họ không để ý tới sự góp sức của các nhà khoa học, không quan tâm tới bất cứ thứ gì khiến giá thuốc lên cao. Bởi vì trong nền văn hóa của chúng ta, các tổ chức từ thiện, các cơ sở giảng dạy đã giành mất phần thưởng từ những nỗ lực tìm kiếm các phương pháp chữa bệnh của ngành dược. Bạn sẽ làm gì khi người thân của bạn bị ung thư hay mắc bất kỳ căn bệnh nào? Có vẻ sẽ là thế này: Tới chỗ người gây quỹ. Đi bộ, chạy bộ, hay đạp xe để chữa bệnh. Đóng góp cho một quỹ từ thiện. Điều cuối cùng bạn nghĩ là Tôi nên gửi một lá thư cho các CEO của Pfizer, Merck, và Novartis để xem họ có loại thuốc gì trong danh mục của họ. Vấn đề nằm ở đấy.

Để xoay chuyển tình hình, chúng tôi cần thuyết phục những người tiêu dùng đã bị tác động rằng các công ty dược không chỉ là các nhà sản xuất thuốc. Rằng từng ngày, họ đang nỗ lực tìm kiếm các phương pháp điều trị – cho những bệnh phức tạp nhất cũng như những bệnh thông thường.

Vì thế, vấn đề không nằm ở việc được thích. Được thích sẽ dẫn chúng ta tới ranh giới của sự không hiệu quả. Chính việc thuyết phục người tiêu dùng hiểu mục đích của ngành dược sẽ hữu ích. Đó là một trường hợp có thể giải quyết được với những công cụ mà tôi sẽ cung cấp cho các bạn trong phần III và IV. Tiến hành một chiến dịch nhấn mạnh việc nghiên cứu và phát triển để gia tăng doanh số, cải thiện thị phần và có thêm ngân quỹ cho việc phát triển các loại dược phẩm mới để giúp mọi người, đó là toàn bộ những gì ngành dược đã làm cũng là toàn bộ những gì cần làm.

Nghĩ nhiều hơn những gì có sẵn

Khi còn bé, tôi luôn thích chơi trò buôn bán. Trong khi các bé gái khác biến khăn phủ bàn thành một ngôi nhà, tôi biến nó thành một cửa hàng kem, một trạm bưu điện hay ngân hàng. Tôi không quan tâm buôn bán gì; điều tôi thích là cung cấp một dịch vụ tưởng tượng, kiếm được tiền – dĩ nhiên là giả vờ thôi – từ lũ bạn và bỏ vào heo đất của tôi.

Nhưng vào năm 2005, tôi bước vào tuổi 30 và không cảm thấy hạnh phúc trong ngành bảo hiểm nữa. Dường như chẳng có gì về công việc hay nơi sống phù hợp với bản thân tôi, dù mọi người xung quanh đều nói tôi đã thành đạt. Tôi là đứa con gái đầu tiên trong gia đình vào đại học và tập trung vào việc tạo dựng sự nghiệp.

Nhưng cuộc đời tôi là kết quả chính xác của cái ước mơ mờ nhạt mà bạn tôi đã cảnh báo. Tôi đã muốn có một công việc. Và tôi đã có – trong một ngành mà tôi không đam mê. Tôi đã muốn được độc lập. Tôi nghĩ thực ra là độc lập về tài chính, nhưng vì không cụ thể hóa nên tôi vẫn đang sống một mình.

Và tôi chưa bao giờ dành thời gian để hình dung rõ ràng một cuộc đời bao gồm mọi thứ tôi muốn – một công việc khiến tôi say mê, một mối quan hệ tình cảm sẽ hỗ trợ những ước vọng của tôi, một cách nào đó để có thể vừa làm mẹ vừa làm việc tốt – tôi thực sự ở trong tình trạng mà tôi đã lo ngại suốt nhiều năm trước khi vào đại học: không cảm thấy trọn vẹn.

Tôi biết mình muốn nhiều hơn. Nhưng câu trả lời không nằm ngay trước mắt. Đó không phải là một lựa chọn sẵn có cho tôi trong tình trạng này. Đó cũng không phải là việc được thăng chức hay nhảy sang một công ty bảo hiểm khác, hay thành công hơn với công việc lúc ấy, và tiếp tục việc đang làm.

Sự thay đổi sắp thành hình. Tôi sắp phải bước ra khỏi nơi quen thuộc và suy nghĩ về điều gì đó chưa rõ ràng cho bản thân.

Vì thế tôi bình tâm lại và tự vấn bản thân, Mình yêu thích cái gì nhỉ? Mình muốn gì nữa trong cuộc đời này? Mình đam mê gì?

Đây cũng là câu hỏi mà tôi thường hỏi khách hàng. Bởi vì bạn yêu thích điều gì thì bạn nên làm nó nhiều hơn. Điều này có vẻ rõ ràng và cũng đúng trong kinh doanh. Hãy suy nghĩ về những công ty với nhiều mảng kinh doanh và nguồn thu khác nhau. Vào cuối năm 2018, Citigroup đã bán bộ phận cầm cố cho Cenlar vì họ nhận ra rằng việc kinh doanh đa ngành, vốn phổ biến trong thập niên 90 thế kỉ 20 và đầu thế kỷ 21, đã làm loãng sự tập trung của tập đoàn và dẫn tới sự giảm sút về lợi nhuận. Họ quay về với việc họ giỏi nhất – ngân hàng thương mại – quyết định tập trung vào đấy và cố gắng giành lấy miếng bánh to hơn.

Nếu bạn muốn điều gì đó vì nó thực sự khiến bạn hứng khởi, bạn sẽ trở nên thuyết phục hơn vì bạn sắp dành đam mê và công sức cho nó. Điều này cũng giống như việc bạn cố thuyết phục ban quản lý cộng đồng khởi động dự án trồng cây xanh hay như việc các khách hàng của tôi chuẩn bị tung ra thị trường một sản phẩm tiêu dùng mới. Sự hứng khởi – tình yêu – là thứ dễ lan truyền.

Các câu trả lời của tôi là:

  1. Tôi yêu thích con chữ và ngôn ngữ.
  2. Tôi yêu thích chính trị.
  3. Tôi muốn giúp những người đối lập hiểu nhau hơn.

Điều này xảy ra vào năm 2005, ngay sau khi George W. Bush trúng cử nhiệm kì thứ hai, và tiếp theo là cú sốc của vụ 9/11, đất nước của chúng tôi một lần nữa bị chia rẽ. Là người đi đi về về giữa vùng ngoại ô New Jersey và thành phố New York, tôi cảm nhận rất rõ mình ở trung tâm của sự chia rẽ đó. Người thành phố có quan điểm chính trị khác hẳn so với quan điểm của gia đình và bạn bè tôi ở vùng ngoại ô. Tôi di chuyển giữa hai cộng đồng với những người mà tôi yêu quý và tôn trọng nhưng họ lại không thể tìm được tiếng nói chung.

Và bấy giờ tôi có ba trụ cột dẫn lối: ngôn ngữ, chính trị và sự thấu cảm. Tuy nhiên chúng chẳng dẫn tôi tới một nghề nghiệp cụ thể nào mà tôi đã biết cả.

Rồi tôi nghĩ về lời khuyên của Glenn và quyết định không làm theo cách cũ của mình nữa. Tôi sẽ không thay đổi đam mê cho phù hợp với thứ gì đó tôi đã biết, thứ gì đó có vẻ “ổn”. Tôi quyết tâm theo đuổi một tầm nhìn cụ thể: Tôi muốn một công việc có liên quan tới ngôn ngữ, chính trị và giao tiếp hợp tác, dù chưa hình dung được đó là việc gì.

Tầm nhìn soi sáng hành động

Một khi đã có quyết tâm rõ ràng, tầm nhìn sẽ định hướng cho những lựa chọn. Vì nơi tôi sống không có gì phù hợp với các lựa chọn đó, tôi biết mình sẽ phải mở rộng chân trời. Tôi tự đăng ký tham gia các khóa học, đi nghe các bài giảng và tham gia các sự kiện giúp tạo dựng quan hệ. Tôi mua thêm sách. Tôi yêu cầu sự giúp đỡ từ bạn bè trên khắp cả nước. Tại bất kỳ khúc ngoặt nào, khi băn khoăn có nên đăng ký tiếp một khóa học hay gửi một email mới không, tôi chỉ tự hỏi mình, Liệu hành động này có đưa mình đến gần hơn với những gì mình hình dung không? Nếu câu trả lời là có, tôi nhấn nút Send.

Vài tháng sau, tôi thấy mình đăng ký một hội nghị ở Charleston, Nam Carolina. Người ta gọi nó là Ngày cuối tuần Phục hưng, nơi tập hợp những bộ óc vĩ đại trong kinh doanh, chính trị và nghệ thuật. Những người tham gia đều phải thuyết trình và phát biểu. Các ứng viên của giải Nobel. Những người đã đoạt giải Pulitzer. Các nhà biên kịch với tượng vàng Oscar. Các nghị sĩ quốc hội. Và cả một thẩm phán tòa án tối cao. Tôi đã đi quá xa so với khả năng của mình. Đến từ một nơi nhỏ xíu ở New Jersey, Lee Carter có điểm gì chung với một phi hành gia nhỉ? Tôi có gì để trò chuyện với một cựu tổng thống đây? Sự bất an bắt đầu tấn công – cho tới khi tôi nghe một người đàn ông phát biểu. Ông ấy là Frank Luntz, và khi ông nói về tầm quan trọng của ngôn ngữ, thông điệp, và câu chuyện của cuộc bầu cử năm 2004, tôi hoàn toàn bị mê hoặc. Ông ấy là một trong những người sáng lập hãng maslansky + partners, và tôi biết – biết ngay – rằng tôi đã tìm thấy công việc tiếp theo của mình.

Nhưng tôi chẳng có kinh nghiệm gì trong lĩnh vực này cả. Tôi không có bằng cấp phù hợp. Và tôi còn đang sống ở New York chứ không phải ở Washington.

Trong chương sau tôi sẽ chia sẻ cách tôi thuyết phục họ phỏng vấn mình. Nhưng vấn đề ở đây là nếu không có tầm nhìn cụ thể, tôi đã không thực hiện những hành động dẫn lối tôi tới hội nghị đó cũng như không thể nhận ra cơ hội đến với mình.

Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi không suy nghĩ vượt qua phạm vi của những lựa chọn có sẵn? Tôi vẫn sẽ ngồi ở văn phòng nhận lương, làm điều gì đó mà mình căm ghét, như rất nhiều người khác. Tôi sẽ không bao giờ được tháp tùng thượng nghị sĩ Barack Obama tới Iowa và New Hampshire. Tôi sẽ không bao giờ được tham gia vào cuộc hành trình của Tổng thống Donald Trump từ một doanh nhân trở thành Tổng thống Mỹ. Và tôi sẽ không bao giờ được thấy chính mình trên sóng truyền hình mỗi tuần, bên cạnh một trong những thần tượng trong nghề của tôi, Maria Bartiromo.

Ba lợi ích của tầm nhìn

Vào năm 2007, có một khách hàng muốn chúng tôi tìm giúp một thông điệp về sự cho đi. Khi tôi hỏi mục tiêu là gì, ông nói rất đơn giản “Cứu thế giới”. Mục tiêu đáng kinh ngạc và nhân văn của ông ấy là làm sao để tất cả mọi người trên thế giới sẽ cho đi một cái gì đó. Chúng tôi rất xúc động và muốn chắc chắn dự định này được diễn dịch thành một điều gì đó rõ ràng, có thể thực hiện được và có ảnh hưởng lên người khác. Rõ ràng là mục tiêu này quá rộng để có thể thúc đẩy người khác hành động. Cho đi cái gì? Cho ai? Tại sao phải cho đi? Sự thuyết phục không chỉ có mỗi ngôn ngữ và thông điệp; chiến lược cũng không kém phần quan trọng. Khách hàng của chúng tôi biết rằng khi cố gắng thuyết phục mọi người làm quá nhiều, bạn sẽ làm tê liệt họ, hoặc tệ hơn nữa họ sẽ hoàn toàn ngó lơ bạn. Ông muốn có sự giúp đỡ của chúng tôi – không chỉ tìm ngôn ngữ để thể hiện mà còn làm cho tầm nhìn ấy trở nên cụ thể. Dưới đây là ba lợi ích của việc làm rõ tầm nhìn của bạn.

Lợi ích 1. Sự tập trung

Một tầm nhìn cụ thể sẽ giúp bạn biết nên dành ưu tiên vào đâu. Bạn chỉ có chừng đó năng lượng tinh thần và thời gian trong một ngày, và cũng chỉ có chừng đó tài nguyên mà thôi. Nếu không nắm rõ điều đang cố gắng thực hiện, bạn sẽ lãng phí thời gian vào những việc không giúp mình tiến lên. Bạn có thể tự vấn, Lựa chọn này có làm tôi tới gần hơn với mục tiêu hay không? Nếu không, lựa chọn đó có thể phản tác dụng.

Ví dụ, nếu mục tiêu của bạn là xoay chuyển tình hình chính trị, có phải bạn đang dành thời gian để nói chuyện với cử tri, gặp gỡ các ứng viên tiềm năng và các tình nguyện viên không? Nếu bạn định mở một nhà hàng, nhưng lại không dành thời gian để khảo sát vị trí, gặp gỡ các nhà đầu tư hoặc nghiên cứu thói quen ăn uống trong khu vực bạn muốn mở thì mục tiêu của bạn sẽ khó trở thành hiện thực. Một khi để mục tiêu quyết định sự tập trung, việc dành thời gian và năng lượng cho công việc sẽ trở nên dễ dàng hơn.

Điều này đặc biệt đúng với các công ty. Một khi đã lập Kế hoạch Thuyết phục cho khách hàng, chúng tôi luôn phải đảm bảo các công ty đã phân bổ đủ nguồn lực để thực thi toàn bộ kế hoạch. Sẽ là vô nghĩa để một công ty tuyên bố rằng, “Chúng tôi cam kết minh bạch hơn nữa trong quy trình cho vay của chúng tôi” nếu đội ngũ pháp lý của họ không thảo trước các tài liệu và có quy trình huấn luyện cần thiết cho nhân viên.

Hãy quay lại với khách hàng của tôi, người muốn cứu thế giới. Đấy là một mục tiêu vĩ đại, nhưng chúng tôi cần ông ấy tập trung. Chúng tôi đã thảo luận về tác động có thể có đối với ba nhóm đối tượng mà ông có thể nhắm đến để truyền cảm hứng thiện nguyện này: một là những người giàu nhất trong giới nhà giàu, hai là những tập đoàn và ba là những cá nhân như bạn và tôi. Sau khi trải qua bài tập này, ông ấy nhận ra rằng mình có thể tạo tác động lớn nhất đến tương lai bắt đầu với giới trẻ vào thời điểm họ đang cân nhắc xem họ muốn làm gì trong phần đời tiếp theo. Cuối cùng, ông tập trung vào thông tin cho thấy nếu sớm lôi cuốn được giới sinh viên tham gia các hoạt động thiện nguyện, hầu như họ sẽ trở nên vị tha suốt phần đời còn lại của mình.

Chúng tôi đã thấy kết quả từ những nỗ lực của ông – nhiều người trẻ muốn làm việc tại các tổ chức phi chính phủ (NGO) hơn tại các ngân hàng đầu tư. Chúng tôi nhận thấy các trường đại học tham gia vào hoạt động tình nguyện và gây quỹ nhiều hơn bao giờ hết. Tất cả điều này có thể xảy ra vì khách hàng của chúng tôi đã có thể dành năng lượng của ông ấy cho một mục tiêu vĩ đại – táo bạo – nhưng rất tập trung.

Lợi ích 2. Lôi kéo người khác cùng tham gia

Lợi ích thứ hai của một mục tiêu cụ thể là có thể thúc đẩy người khác cùng góp phần biến nó thành hiện thực. Các nhà lãnh đạo giỏi luôn làm điều này. Nhưng nó cũng đúng cho chính gia đình cũng như trong công việc của bạn.

Ví dụ như mục tiêu của bạn là làm cho gia đình có nhiều thời gian bên nhau hơn. Nếu bạn chỉ nói, “Ba/mẹ muốn có nhiều bữa ăn gia đình hơn”, mọi người sẽ mỉm cười, gật đầu, và có thể đồng ý với bạn, nhưng bạn vẫn chưa truyền đạt được mục tiêu cụ thể mà tất cả các thành viên có thể chung tay biến thành hiện thực.

Thay vào đó, nếu bạn nói, “Này cả nhà, ba/mẹ vừa đọc được là nếu con cái ăn tối cùng gia đình ít nhất ba lần một tuần, chúng sẽ học tốt hơn nhiều và sau này thành công hơn. Ba mẹ cũng muốn các con được như vậy. Thế nên vào thứ Ba, thứ Năm và Chủ nhật cả nhà sẽ ăn tối cùng nhau nhé.” Đó là một mục tiêu cụ thể mà mọi người có thể chung tay thực hiện với bạn. Nếu không thể lôi kéo mọi người lên thuyền với mình, thì dù mục tiêu ấy tốt đẹp đến đâu, bạn cũng sẽ không tới đích được. Hầu hết các mục tiêu, đặc biệt trong kinh doanh, cần có sự hợp tác để thành công.

Không ở đâu mà điều này quan trọng hơn như trong công việc của tôi, với tư cách là chủ tịch của maslansky + partners.

Vào cuối những năm 2000, tôi nhận ra rằng để tiếp tục phát triển, chúng tôi cần giải quyết một vấn đề chiến lược quan trọng. Trong nội bộ, chúng tôi đang luẩn quẩn giữa các câu hỏi: Chúng tôi là một công ty ngôn ngữ, một công ty truyền thông hay một công ty nghiên cứu? Kết quả là hoạt động tiếp thị bị rối vì chúng tôi chưa bao giờ thống nhất được cần thúc đẩy mặt nào trong các dịch vụ của mình. Tôi và các đối tác biết rằng mình đã đưa ra được giải pháp cho các khó khăn của nhiều khách hàng, nhưng chính chúng tôi lại có cảm giác không chung chiến tuyến. Đội của tôi muốn tiếp tục theo đuổi hoạt động nghiên cứu và tập trung vào những công việc chủ đạo từng giải quyết trước đây. Nhưng đối tác lại nhìn thấy các cơ hội lớn hơn. Sự không nhất trí này dẫn tới tình trạng khủng hoảng định danh.

Sau đó, tại một khóa học điều hành kinh doanh, tôi được giao nhiệm vụ suy nghĩ về một thách thức kinh doanh tôi muốn giải quyết. Tôi nhận ra ngay rằng chúng tôi chưa bao giờ đưa ra được một mục tiêu chung cho công ty. Chúng tôi đã mất thời gian để cố gắng xác định xem mình là a, b hay c, nhưng có lẽ thay vào đấy, chúng tôi là cái thứ tư, một mô hình gì đó mới mẻ, một thứ chưa ai từng thấy trước đây, một cách mới để phục vụ khách hàng.

Điều gì xảy ra nếu câu trả lời nghiêng về điều khiến ta khó xác định? Chúng tôi quyết định rằng việc kinh doanh sẽ xoay quanh điều chúng tôi đang làm tốt nhất – đưa ra các chiến lược ngôn ngữ. Chúng tôi đã nghiên cứu sự phát triển của chiến lược thương hiệu và nhận thấy rằng trong những thập kỷ qua, nó đã phát triển theo hướng: logo => cách phối màu => dịch vụ khách hàng => sự trải nghiệm – ví dụ như việc trải nghiệm mùi ở sảnh khách sạn hay thái độ của nhân viên chào đón ở cửa hàng.

Công ty chúng tôi cũng có cơ hội tương tự. Chúng tôi bắt đầu như một công ty nghiên cứu quan hệ công chúng nhằm giúp khách hàng truyền thông hiệu quả hơn. Sau đó, chúng tôi giúp các công ty tìm ra ngôn ngữ phù hợp với sản phẩm và thương hiệu mới của họ. Khách hàng đã đưa chúng tôi đi xa hơn. Họ yêu cầu chúng tôi giúp các quản lý cao cấp của họ truyền tải các chiến lược. Họ tìm chúng tôi để giúp họ giải thích các chính sách phức tạp cho khách hàng và nhân viên. Họ thách thức chúng tôi tìm ra cách truyền tải mới để tác động vào văn hóa nội bộ của các tổ chức khác nhau. Và chúng tôi nhận ra rằng trong thời đại khi thời gian chú ý của chúng ta giảm đi nhưng khối lượng thông điệp lại gia tăng, việc sử dụng ngôn ngữ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Ngôn ngữ định hình hầu như mọi khía cạnh của việc khách hàng hiện tại, khách hàng tiềm năng, nhân viên, nhà đầu tư và những người nắm giữ cổ phiếu nhìn nhận một công ty. Ngôn ngữ định hình trải nghiệm của cả nhân viên và khách hàng. Chúng tôi nhận ra rằng ngày nay, trong nhiều trường hợp, việc không dành ngân sách cho chiến lược ngôn ngữ cũng giống như trong quá khứ không có ngân sách cho chiến lược thương hiệu. Chúng tôi hình dung ra thời kì khi mà chiến lược ngôn ngữ sẽ trở thành một phần thiết yếu trong mọi chiến lược kinh doanh. Và ngày nay, mục tiêu đó đang dẫn hướng và định hình chiến lược kinh doanh cho công ty tôi.

Bước tiếp theo là truyền tải cho nhân viên điều chúng tôi muốn đạt được. Chúng tôi đưa ra một bức tranh và khuyến khích nhóm của chúng tôi trở nên thoải mái từ tình trạng khó chịu khi chúng tôi tìm ra các cách mới để áp dụng những gì mình đã làm cho các thử thách khác nhau.

Tầm nhìn cho phép chúng tôi tự tin hơn về giá trị của mình và thoải mái hơn khi làm việc với khách hàng theo phương pháp mới. Và công ty chúng tôi đã phát triển. Điều đó sẽ không thể xảy ra nếu chúng tôi không mở rộng tầm nhìn vượt qua những lựa chọn sẵn có. Và điều đó cũng không thể xảy ra nếu chúng tôi không theo đuổi mục tiêu này. Bởi vì chính các thành viên của công ty – chứ không chỉ các đối tác – mới là những người đang đưa con thuyền tiến lên phía trước.

Lợi ích 3. Động lực

Đôi khi tất cả chúng ta đều phải đối mặt với sự kiệt sức, chán nản và thất vọng. Mục tiêu sẽ mang đến cho bạn ít nhất năm điều giúp bạn tiếp tục khi mô hình mới nhất tỏ ra không hiệu quả, khi có sự ngưng trệ trong chuỗi cung ứng hay chỉ vì bạn cạn kiệt cảm hứng.

Lần đầu khi phát triển quy trình thuyết phục cho cuốn sách này, có những ngày tôi thấy rất khó để chuẩn hóa những gì mình đã làm như một doanh nghiệp vì chúng tôi đã tiến hành công việc theo bản năng. Một vài lần tôi đã muốn vo tròn tất cả và vứt đi. Để có thể kiên trì, tôi phải quay trở lại với mục tiêu ban đầu, tại sao tôi lại tin rằng việc chia sẻ lộ trình thuyết phục là cần thiết.

Tôi tin vào một mục tiêu mà trong đó tất cả chúng ta đều nắm được những kỹ năng cơ bản của sự thuyết phục và áp dụng nó thường xuyên trong cuộc sống cũng như trong công việc. Mục tiêu đó là:

  1. Chúng ta sẽ có những cuộc trò chuyện tốt hơn với ít hoài nghi hơn.
  2. Chúng ta sẽ cởi mở hơn trước các quan điểm khác.
  3. Chúng ta sẽ lắng nghe nhau một cách tôn trọng hơn.
  4. Chúng ta sẽ đồng cảm hơn.
  5. Chúng ta sẽ có những mối quan hệ ý nghĩa và bền lâu với khách hàng của mình cũng như với những người khác.

Tôi biết rằng nỗi sợ hãi sẽ giới hạn bản thân và tầm nhìn của bạn. Nó như tấm vải bịt mắt bạn ngay cả khi chỉ còn vài bước nữa là bạn đã tới đích. Dám bước đi là rất đáng quý, nhưng tin tưởng vào tài năng, khả năng và giá trị của bản thân có thể giúp bạn bước lên một con đường thậm chí còn tươi sáng hơn. Biến nỗi sợ hãi thành sự tự do, điều đó mới tuyệt vời làm sao. - Soledad O'brien

Còn tiếp.

Tác phẩm được trích đăng với sự đồng ý của Phương Nam Book.

Đọc bài viết

Cafe sáng