Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Taylor Swift: Nàng nhạc sĩ yêu văn chương

Với Taylor Swift, âm nhạc không chỉ là giai điệu cảm xúc, là nhật kí cá nhân, là người bạn tâm giao để trút bầu những muộn phiền trong cuộc sống…; trên tất cả, âm nhạc với người con gái ấy dường như là một câu chuyện được kể ra bằng sự say đắm ngôn ngữ không khác gì phương thức của văn chương.

Đăng từ

on


Nhiều bản nhạc Taylor viết ra không đơn thuần chỉ là các phiến đoạn cảm xúc ngắn mà những tác phẩm ấy dường như có cấu trúc hoàn chỉnh như một truyện ngắn hẳn hoi: All Too Well, White Horse, You Belong With Me, Back to December… Và chính Taylor cũng tiết lộ sách là nguồn cảm hứng lớn cho trí tưởng tượng của cô bên cạnh âm nhạc. Dưới đây là những chia sẻ của Taylor Swift về việc đọc sách với độc giả nhà xuất bản Scholastic trong chương trình giao lưu trực tuyến “Read Every Day”.

Chuyển từ Philadelphia đến Nashvile, việc đó đã ảnh hưởng đến bạn như thế nào trên phương diện là một người viết nhạc?

Taylor Swift (TS): Tôi bị ám ảnh với thơ ca từ khi còn rất sớm bởi những cuốn sách mà tôi yêu thích từ lúc ấy là sách của Dr. Seuss, Shel Silverstein và tất cả những sách có câu chuyện kết nối với nhau qua nhịp điệu. Đó luôn là loại sách tôi thích đọc vì chúng có âm điệu như một bản nhạc. Giống như khi bạn đọc một dòng thơ mà nhịp thơ dừng ngay tại điểm kết thúc những câu thơ, giọng thơ khi đó sẽ vang lên giống như lời bài hát vậy. Tiết học tiếng Anh đã luôn luôn là tiết học tôi thích nhất vì tôi được đọc, được viết và hơn cả là vì có thơ.

Những giáo viên có nhận ra khả năng sáng tạo của bạn sớm không?

TS: Có một giáo viên đã nói với mẹ tôi – tôi nghĩ đó là khi tôi học lớp một: “Tôi bảo các em trong lớp viết một bài tiểu luận, và em ấy viết đầy cả bốn trang giấy. Vì thế, tôi muốn cô biết rằng đó có thể là lĩnh vực con bé yêu thích. Bé viết không ngừng.” Tôi lúc nào cũng yêu thích việc kể ra một câu chuyện hay với những nhân vật thú vị, đó là lí do tại sao rất nhiều bài hát của tôi là những câu chuyện.

Bản nhạc đầu tiên mà bạn viết là gì?

TS: Bản nhạc đầu tiên mà tôi thực sự hoàn thành không phải là một bản nhạc ngẫu hứng, bản nhạc tám phút được viết năm tôi 12 tuổi có tên gọi là Lucky You kể về một cô gái khác biệt. Cô ấy tin vào chính mình. Tôi không biết làm sao mà bản nhạc này bị rò rỉ trên mạng nữa nhưng đó thật là một trải nghiệm kinh khủng khi mọi người đưa nó lên vì giọng tôi nghe giống như “Tôi hát như một con sóc. Tôi mới 12 khi đó.” Nhưng bạn có dịp nhìn lại những trải nghiệm đầu tiên của mình với việc viết và từng trải nghiệm ấy đã giúp bạn dần trở thành con người hiện tại. Vì thế, tôi không nghĩ rằng bạn có thể coi thường bất cứ sự sáng tạo nào bạn làm ra khi còn rất trẻ.

Có phải sách là nguồn cảm hứng lớn cho âm nhạc và cuộc sống của bạn?

TS: Sách đã luôn là nguồn cảm hứng lớn cho trí tưởng tượng của tôi. Tôi đã từng là fan trung thành của thể loại truyện cổ tích dành cho người lớn, bạn có thể thấy nhiều chi tiết trong bài hát của tôi giống như Romeo and Juliet và The Scarlet Letter, đó đều là từ vốn kiến thức đọc của tôi. Đó là những câu chuyện đã cùng tôi lớn lên. Vì vậy, bạn biết đấy, điều này hoàn toàn nhờ vào việc đọc.

Cô Fisher, một giáo viên ở Michigan muốn biết: “Việc đọc sách đã ảnh hưởng đến những lựa chọn trong cuộc sống của bạn, đặc biệt là trong sự nghiệp như thế nào?”

TS: Rất nhiều cuốn sách tôi thích đọc khi còn nhỏ là loại sách dạy bạn một bài học nào đó – kiểu vui nhộn như Amelia Bedelia, hoặc là The Giving Tree dạy ta phải biết tử tế với người khác. Những câu chuyện đó thực sự đính kèm một chuẩn mực đạo đức xứng đáng để là cuốn sách đầu tiên mà các bậc phụ huynh hay giáo viên của chúng ta giới thiệu cho con trẻ. Nếu đó là những câu chuyện đầu tiên bạn được đọc, nó sẽ có ảnh hưởng thực sự đến tính cách của bạn. Đối xử tốt với người khác là tinh thần chủ đạo mà tôi thực sự yêu thích ở những cuốn sách này.

Danny: Tuổi thơ của bạn như thế nào?

TS: Tôi lớn lên ở một trang trại trồng cây Giáng sinh. Chúng tôi chăm sóc cây Giáng sinh để những người khác có thể mua về và đặt trong nhà họ. Và có rất nhiều loài động vật khác nhau chạy vòng quanh chúng tôi, tôi nhớ rằng có rất nhiều không gian để chạy nhảy, để đuổi bắt những câu chuyện hoang dã, tôi cảm thấy đó đã là khoảng thời gian tôi thực sự có thể cho trí tưởng tượng của mình bay bổng. Nhưng, bạn biết đó, tôi không nghĩ rằng bạn nhất thiết phải có một không gian rộng mở để tưởng tượng. Bạn có thể thấy được những thứ đẹp đẽ, huyễn tưởng, những thứ không có thực và những thứ kì ảo tại bất cứ nơi nào bạn lớn lên nếu bạn chịu khó suy nghĩ và nắm bắt tâm trí mình. Nhưng tôi đã có một tuổi thơ vui vẻ. Nó giống như một tia chớp thoáng qua vậy, nên tôi muốn cảm ơn bạn vì đã đặt câu hỏi này. Thực sự là một câu hỏi hay.

Câu hỏi tiếp theo đến từ tập thể lớp ba của cô Zeidler. Các em muốn biết: “Quyển sách chị yêu thích nhất mà bố mẹ đã đọc cho chị là gì?”

TS: Bắt đầu từ khi chị còn rất nhỏ. Quyển đầu tiên là Big Bird on the Farm, sau đó là Winnie the Pooh và chị thích tất cả những tập thơ kinh điển dành cho trẻ em, những quyển sách dạng như thế rồi cả truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích.

Thật vui khi có thể thoát ra nơi mà các em đang sống rồi nhảy vào cuộc đời của một nhân vật khác. Em biết đấy, khi em đọc một cuốn sách, nếu em thực sự có thể hòa mình vào một nhân vật nào đó, em sẽ cảm thấy mình có thể vượt thoát và đến một nơi nào đó. Cũng phần nào giống như sự hồi hộp mà mọi người có được khi đến rạp và xem câu chuyện diễn ra trên màn ảnh vậy. Nhưng chẳng có gì thực sự giống như việc đọc cả. Em chỉ cần tìm một nơi thật yên tĩnh và cứ thế mà đi đến thế giới khác.

Câu hỏi tiếp theo đến từ tập thể lớp bốn của cô Chris Tweedie ở Singapore. Các em muốn biết: “Chị chọn những cuốn sách chị muốn đọc bằng cách nào?”

TS: Chị chọn những cuốn sách chị muốn đọc khi nghe nhiều điều cực kì hấp dẫn về chúng, hoặc nếu như những cuốn sách đó có liên quan đến lịch sử thì chị cũng rất quan tâm. Hồi chị còn nhỏ, người ta có xuất bản những cuốn nhật kí của một người lính tham gia nội chiến hoặc của con gái người lính trong cuộc Cách mạng Mỹ. Họ đã từng xuất bản tất cả những loại sách như thế về lịch sử, và chị thực sự đắm mình vào những câu chuyện đó vì lúc nào chị cũng yêu thích ý tưởng quay ngược trở về thời gian và biết được mọi thứ như thế nào cách đây hàng trăm năm.

Alexandra: Những việc chị đã phải làm khi ở tuổi của chúng em để bây giờ trở thành một nghệ sĩ thành công?

TS: Ừm, giai đoạn trung học sẽ có đôi lúc khó khăn. Bước vào trung học và nhận ra rằng tất cả mọi người ít nhiều đều có khoảng thời gian tồi tệ trong giai đoạn này, thật khó để thích ứng và em sẽ phải luôn cố hình dung ra ai là người mình muốn kết bạn và có thể là bạn, mình phải cư xử như thế nào… Thời trung học cũng là một trong những khoảng thời gian khó khăn nhất với chị để thích ứng. Vì vậy, nếu như em gặp phải bất kì khó khăn nào, cứ nghĩ rằng rất nhiều người cũng như thế. Em có thể cảm thấy rất cô đơn khi không biết ai là bạn của mình và khi em không biết phải nói chuyện với ai hoặc ngồi kế ai trong giờ ăn trưa. Không ai hiểu được cảm giác đó dữ dội và kinh khủng như thế nào, những quyết định kiểu như sẽ ngồi ăn với ai trong bữa trưa. Đó thực sự là những giây phút căng thẳng với chị khi nhìn lại khoảng thời gian trung học. Nếu em tập trung học thật nhiều hết mức có thể vào những thứ em yêu thích, đó sẽ là lối thoát cho những ngày tồi tệ ấy. Chị cũng có những ngày rất khó khăn ở trường học và chị chờ từng ngày dài qua đi để về nhà đàn guitar, viết lời bài hát trong sổ tay riêng. Với chị, việc đó khiến chị cảm thấy ổn. Vậy nên, em có thể tìm việc gì đó giúp em bộc lộ bản thân mình, thời trung học sẽ không quá khó khăn nếu em có một điều nào đó để trông đợi sau khi giờ học kết thúc. Một câu hỏi tuyệt vời. Ừm, đúng là sẽ rất khó khăn, các em à. Cố lên nhé.

Marnie: Bạn đã từng viết một cuốn tiểu thuyết và cũng thắng một cuộc thi thơ. Bạn có thể kể chi tiết hơn cho chúng tôi biết về việc đó không?

TS: Tôi đã từng thắng giải một cuộc thi thơ với bài thơ có tên là Monster in My Closet. (tạm dịch: Con quỉ trong phòng tôi) Đó là khi tôi học lớp bốn, tôi đã viết bài thơ rất dài, dài, dài này đại loại là: “Có một con quỉ trong phòng của tôi và tôi không biết phải làm gì. Bạn có bao giờ thấy nó chưa? Nó có bao giờ tấn công bạn?” Bài thơ có 12 khổ. Tôi đã gửi đến cuộc thi thơ quốc gia và khi thắng giải, người ta gửi tặng tôi quyển sách qua đường bưu điện, thế là tôi được đọc hết tất cả các bài thơ của những đứa trẻ khác. Vui lắm. Một vài năm sau đó khi tôi khoảng chừng 12 hay 13, gia đình tôi nghỉ hè tại bãi biển. Tôi nhớ những người bạn ở nhà rất nhiều nên đã dành cả ngày nhốt mình trong phòng, đối diện với máy tính chỉ để viết một cuốn tiểu thuyết. Tôi cho tất cả bạn bè trong trường trở thành nhân vật trong tiểu thuyết đó để đỡ nhớ họ, và tôi gửi cho họ đọc những chương trong tiểu thuyết. Tiểu thuyết đó kết thúc với độ dài khoảng 400 trang. Viết dù ở dạng thức nào cũng là lối thoát cho tôi, không chỉ là viết nhạc. Nếu như bạn có thể theo đuổi một câu chuyện và bạn có cách để kể nó theo ý muốn, đôi lúc cả thế giới của bạn dường như bừng sáng rực rỡ chỉ với việc bạn có thể lôi câu chuyện ấy ra và viết nó xuống giấy. Cảm ơn bạn vì câu hỏi này.

Câu hỏi tiếp theo đến từ một học sinh lớp 7 ở California: “Taylor, chị thường đọc sách như thế nào? Giáo viên của em nói rằng chúng ta nên đọc sách mỗi ngày.”

TS: Chị cũng nghĩ thật là tốt khi có thể đọc mỗi ngày. Chắc chắn rồi. Hoàn toàn là như thế. Cô giáo của em đã đúng về việc này. Chị đang cố gắng đọc càng nhiều càng tốt và đọc những thứ khác nhau. Chị cố gắng đọc báo, những bài báo chứa thông tin hữu ích mỗi ngày. Chị cố gắng cập nhật tình hình về quyền con người, những gì đang diễn ra trên thế giới và chính trị, những vấn đề trong thế giới của chúng ta, bởi vì, em biết đó, những việc ấy rất quan trọng. Chị nghĩ ở độ tuổi 22 của mình hiện tại, việc hiểu những gì đang diễn ra trên thế giới thực sự tối cần thiết. Nhưng khi còn đang học ở trường, chị nghĩ đây là giai đoạn em nên mở rộng trí tưởng tượng của mình, và nếu em muốn thoát khỏi nơi này, đến một thế giới khác hoặc đọc một cuốn sách như sách lịch sử, sách khoa học viễn tưởng về người ngoài hành tinh, nếu thích em hãy cứ đọc. Em biết đấy, bất cứ lĩnh vực nào em quan tâm, chị nghĩ đọc mỗi ngày là điều quan trọng, nhưng điều đó không có nghĩa là em không được đọc những gì em thích. Em biết không, điều tuyệt vời là có rất nhiều loại sách khác nhau mà em có thể đọc. Chị thích đọc những cuốn sách như The Hunger Games (dành cho lứa tuổi từ 12 trở lên) và Harry Potter. Các em thật đặc biệt.

Kel: Bạn có nhớ quyển sách đầu tiên mà bạn đọc say mê đến mức không thể dứt ra, và rồi khi đọc xong, quyển sách ấy có làm bạn phải thốt lên: “Ôi, thật tuyệt vời!” không?

TS: Ồ, thật là một câu hỏi rất rất thú vị. Ôi trời ơi. Tôi nghĩ ra được vài quyển sách như thế. Đó là quyển Stargirl của Jerry Spinelli. Và quyển To Kill a Mockingbird của Harper Lee đã thực sự thay đổi cách tôi nhìn cuộc sống. Sau khi đọc hết The Hunger Games, tôi cũng rất buồn vì sê-ri này đã kết thúc. Tôi đã từng muốn đọc đi, đọc lại những quyển sách ấy. Và, có rất nhiều quyển sách mang tính gây nghiện như thế, cũng có nhiều nhà văn rất giỏi trong việc đặt câu kết thúc ở cuối mỗi chương khiến bạn cứ muốn đọc chương kế tiếp. Việc đó làm tôi thực sự ngưỡng mộ các nhà văn.

Lớp học của cô Lasko ở New Jersey muốn biết: “Bạn chỉ viết về những kỉ niệm của bạn thôi, hay bạn có sáng tạo những ý tưởng, câu chuyện từ trí tưởng tượng của mình không?”

TS: Tôi lấy cảm hứng từ nhiều nguồn khác nhau. Đôi lúc, bạn biết đấy, từ chuyện một người bạn của tôi đang cãi nhau với bạn trai và tôi viết về những gì họ đã trải qua. Hoặc tôi xem được một cảnh hay tuyệt vời trong một bộ phim rồi tôi nghĩ: “Nếu như mình có thể viết được nhạc cho khoảnh khắc đó, giai điệu ấy sẽ vang lên thế nào nhỉ?” thế là tôi có ý tưởng cho bài hát mới. Và rồi cũng có nhiều trường hợp tôi viết các bản nhạc về những vấn đề trong mối quan hệ của chính mình.

Cody: Quá trình viết nhạc của bạn như thế nào? Bạn mất bao lâu để viết xong một bài hát, và bạn bắt đầu bằng cái nào trước, giai điệu hay lời? Rồi khi bạn kết hợp cả hai, bạn có bao giờ sửa đổi chúng?

TS: Quá trình viết nhạc của tôi mỗi lần mỗi khác nhau. Đó là lí do vì sao tôi rất vui khi viết nhạc bởi vì bạn luôn luôn không thể dự đoán trước bất cứ điều gì. Bạn không bao giờ biết cái nào sẽ đến trước. Và rất khó để giải thích bạn đã lấy những ý tưởng đó từ đâu. Bạn biết đấy, đôi lúc bạn có một ý tưởng tuyệt vời và bạn nói với mọi người, “Tôi không biết ý tưởng này đến từ đâu.” Đại loại thế, giống như có một đám mây nhỏ lơ lửng trước mặt bạn và có một ý tưởng ghi trên đó. Tôi thích nghĩ những ý tưởng này giống như mảnh ghép đầu tiên của trò chơi ghép hình vậy. Có thể tôi sẽ lấy được một mảnh ghép và tôi không biết nó sẽ trở thành câu đầu tiên của bài hát hay câu cuối cùng của bài hát hay một phần của đoạn điệp khúc hay có khi chỉ là một phần của đoạn hát đệm. Công việc sau đó của tôi là phải định hình được những mảnh ghép còn lại của trò chơi này, phải đặt chúng ở đâu và phải tạo ra bài hát hoàn chỉnh như thế nào từ ý tưởng nhỏ này. Tôi thường viết nhạc vào lúc bốn giờ sáng, hoặc lúc đi dạo trong sân bay, tôi có ý tưởng và cứ thế mà viết lời bài hát lên một cuộn khăn giấy. Chẳng ai biết trước được khi nào tôi bắt đầu viết một bài hát, bạn bè tôi cũng đã quá quen thuộc với cách tôi tóm lấy một ý tưởng nào đó. Nỗi lo sợ lớn nhất của tôi khi có ý tưởng cho một bài hát mới là tôi sợ mình sẽ quên nó đi mất, vì thế tôi thường hay thu âm lại giọng của mình trong điện thoại. Bạn bè tôi cũng quen với việc khi chúng tôi đang ngồi trong xe, họ đang nói không ngừng, không ngừng về ngày hôm qua của mình, rồi họ quay ra đằng sau và thấy tôi đang thu âm trong điện thoại của tôi, tôi lấy tay che miệng và hát nhỏ, rồi họ sẽ nói như thế này, “Cậu lại viết nhạc nữa rồi. Cậu nên cho tớ biết khi nào cậu sắp viết và tớ sẽ ngưng nói chuyện. Ổn mà.”

Cô từng nói rằng mình là fan của The Hunger Games (dành cho lứa tuổi từ 12 trở lên) và cô đã viết một số bản nhạc cho phim chuyển thể từ tác phẩm này. Vậy chúng tôi muốn biết cô làm thế nào để lời nhạc khớp với không khí của quyển sách và tâm trạng của nhân vật?

TS: Tôi đã viết hai bản nhạc cho The Hunger Games, một bài có tên là Eyes Open, một bài có tên là Safe and Sound. Tôi viết Safe and Sound chung với The Civil Wars. Khi chúng tôi ngồi lại với nhau để viết, chúng tôi đã bàn luận về việc làm sao để viết một bài hát diễn tả mối quan hệ giữa Katniss và Rue, chúng tôi cũng muốn bài hát này tượng trưng cho mối quan hệ giữa Katniss và Prim nữa. Vì vậy, bài hát phần nào giống như lời hát ru, phần nào giống như lời động viên: “Mọi chuyện sẽ ổn thôi. Em cứ nhắm mắt lại. Rồi sẽ ổn thôi. Chúng ta sẽ an toàn.” Mọi thứ diễn ra trong thế giới của The Hunger Gamesrất tàn khốc và tràn ngập bóng tối. Vậy nên chúng tôi muốn viết một bài hát đem lại niềm tin rằng vẫn còn khả năng ngày nào đó mọi thứ sẽ bình yên và họ có thể vươn mình đứng dậy từ trong bóng tối ấy. Thật thú vị khi viết dưới góc nhìn của một người khác, sống trong một thế giới rất khác với thế giới bạn đang sống, việc đó đã dạy tôi nhiều bài học quí giá.

Evelyn: Đến bây giờ, tổng cộng bạn đã đọc được bao nhiêu cuốn sách?

TS: (Cười) Ừm, 4522 quyển. Ôi không, tôi không biết nữa. Bạn biết đấy, dù bạn đọc bất cứ loại sách gì, bạn cũng sẽ nhận được một lượng kiến thức và nó sẽ ảnh hưởng đến bạn dù bạn có nhận ra hay không. Điều quan trọng là bạn đọc nhiều thể loại sách ở mức bạn có thể – những quyển sách cực kì ngắn mà khi bạn vừa đọc thì đã đến ngay kết thúc rồi, và những quyển sách dài kinh khủng khiến đôi lúc bạn cảm thấy thật khó khăn để đọc hết, rồi sách hư cấu, sách về những câu chuyện có thật. Nếu như bạn cứ tiếp tục đọc những loại sách khác nhau, bạn sẽ hình dung ra được thể loại mình yêu thích nhất là gì, khi đó bạn sẽ học được rất nhiều. Thật là một câu hỏi thú vị. Có lẽ tôi cần phải suy nghĩ kĩ lưỡng về việc này một khoảng thời gian dài và chắc là tôi sẽ không bao giờ tìm ra được câu trả lời thực sự. (Cười) Câu hỏi khó nhất của ngày hôm nay. Tôi tự hào về bạn.

Samantha: Cuộc sống của bạn đã thay đổi thế nào những năm gần đây, và bạn cảm nhận bản thân mình như thế nào?

TS: Samantha, bạn dễ thương quá, tôi thích bạn. Cuộc sống của tôi đã thay đổi rất nhiều sáu năm gần đây vì tôi phát hành album đầu tiên vào năm 16 tuổi, và một khi nhiều người biết đến âm nhạc của tôi, bạn cũng đoán được rồi đó, cuộc sống của bạn khi ấy sẽ thay đổi nhiều. Giống như là việc mỗi ngày bạn rời khỏi nhà, bạn biết rằng bạn sắp trò chuyện với rất nhiều người lạ. Bạn biết không? Khi bạn trưởng thành, bố mẹ thường dặn bạn điều gì?  Đừng nói chuyện với người lạ. Tôi cảm thấy phần nào phải thay đổi suy nghĩ đó bởi vì mỗi lần tôi rời khỏi nhà, tôi lại gặp được những người dễ thương, họ đến gần tôi và nói, “Tôi đã mua album này,” hoặc “Tôi thích bài hát này,” và “Chụp một tấm hình với tôi chứ?” Đó là một cách khác để sống cuộc đời của bạn vì bạn phải dự đoán trước những việc bất ngờ xảy ra. Đến cửa hàng tạp hóa có thể mất nhiều thời gian hơn, nhưng không phải chỉ vì việc đó mất nhiều thời gian hơn và bạn phải trò chuyện thêm với một vài người mà có nghĩa là bạn không thể sống một cuộc sống bình thường theo cách bình thường. Việc nổi tiếng thật phiền phức nhưng cũng rất vui. Tôi cảm giác mình vẫn sẽ là một người giống như bây giờ nếu tôi không nổi tiếng. Cuộc sống của tôi đã khác trước rất nhiều. Tôi có một cuộc sống rất, rất không bình thường nhưng tôi cảm giác việc gần gũi với gia đình giúp tôi vẫn là bản thân mình giống như thể bây giờ tôi đang học ở một trường đại học nào đó hoặc đang cố gắng tìm việc, bất cứ việc gì mà không phải là âm nhạc. Tôi nghĩ điều quan trọng là bạn nhận được sự ảnh hưởng tốt trong cuộc đời mình, cho dù ảnh hưởng đó là từ giáo viên, bố mẹ, bạn bè, chỉ cần là những người có phẩm chất tốt và thực sự ảnh hưởng đến bạn theo hướng tích cực, tôi nghĩ bạn nên gần gũi với những người ấy. Cảm ơn bạn rất nhiều vì câu hỏi này.

Clarissa: Khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong cuộc đời bạn là gì?

TS: Tôi sẽ kể bạn nghe câu chuyện về bài hát tôi đã viết có tên là Mean. Đó là bài hát tôi viết về một nhà phê bình. Khi bạn ra một album hoặc khi bạn trình diễn một tiết mục trên TV, tất cả những nhà phê bình đều viết những gì họ nghĩ. Đôi lúc họ rất tế nhị, nhưng đôi lúc thì không. Và tay phê bình này đã viết về tôi, hắn dùng những lời tồi tệ nhất, tàn nhẫn nhất. Đó chẳng phải là lời phê bình có tính xây dựng. Bạn cũng biết đấy, khi giáo viên dạy bạn nói rằng, “Em có thể làm cái này tốt hơn. Em có thể làm cái kia tốt hơn.” Không chỉ đơn giản là như thế. Điều đó có nghĩa là gã ấy hoàn toàn ghét tôi. Thế là tôi viết bài hát Mean để bày tỏ rằng điều đó đã làm tôi cảm thấy bất lực như thế nào, tôi cảm thấy như thể mình chẳng làm được gì hoặc nói gì để gã đừng chỉ trích tôi nữa. Khi bài hát ấy được phổ biến, nó đã trở thành một bản nhạc chống nạn bắt nạt, và có nhiều người hâm mộ gặp tôi nói rằng, “Bài hát này thực sự đã giúp em đứng vững trước nhóm bạn bắt nạt em ở trường.” Điều đó thực sự làm tôi xúc động. Tôi vô cùng tự hào khi bài hát đã trở thành nguồn động viên như thế khi nó chào đời thế giới này. Chúng tôi cuối cùng đã thắng hai giải Grammy cho Mean. Vậy nên tôi nghĩ đó là khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong toàn bộ cuộc đời mình. Cảm ơn bạn vì câu hỏi này. Bạn rất dễ thương. Và thân thiện nữa.

Hết.

Buổi giao lưu trực tuyến này được thực hiện vào tháng 10.2012. 

Chú thích thêm:

Romeo and Juliet: đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Romeo và Juliet
The Scarlet Letter:
đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Chữ A màu đỏ
The Giving Tree:
đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Cây táo yêu thương
The Hunger Games:
đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Đấu trường sinh tử
Harry Potter:
đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Harry Potter
To Kill a Mockingbird:
đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Giết con chim nhại

Kodaki
Dịch từ blog của NXB Scholastic


Bài viết có liên quan

viết bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Quan điểm của một nhà nhân khẩu học về đại dịch Corona: Hồ sơ tuổi tác, hiệu quả của các biện pháp và dòng chảy lây nhiễm

Một cuộc thảo luận về hiệu quả của việc đóng cửa trường học, lịch sử bùng phát dịch bệnh, ảnh hưởng không cân xứng đến các nhóm tuổi khác nhau và những gì mà các nhà nhân khẩu học biết được về dân số đang già hóa.

Đăng từ

on

Người đăng

A DEMOGRAPHER’S VIEW OF THE CORONAVIRUS PANDEMIC

Isaac Chotiner phỏng vấn C. Jessica Metcalf

C. Jessica Metcalf, giáo sư sinh thái học, sinh học tiến hóa và phụ trách quan hệ công chúng tại Đại học Princeton, là một nhà nhân khẩu học chuyên nghiên cứu về sự lây lan của bệnh truyền nhiễm. Liên quan đến các chính sách y tế, công việc của cô hiện nay có vai trò đặc biệt quan trọng khi các nhà khoa học và quan chức chính phủ đang tìm mọi cách để ngăn chặn sự lây lan của COVID-19, chủng mới của virus Corona.

Gần đây, tôi đã hai lần trò chuyện điện thoại1 với Metcalf về công việc của cô và cách các nhà nhân khẩu học đối phó với sự lây lan chóng mặt của dịch bệnh này. Cuộc thảo luận xoay quanh lý giải liên quan đến hiệu quả việc đóng cửa trường học, lịch sử bùng phát dịch bệnh, ảnh hưởng không cân xứng đến các nhóm tuổi khác nhau và những gì mà các nhà nhân khẩu học biết được về dân số đang già hóa.

Isaac Chotiner (I. C.): Với tư cách là một nhà nhân khẩu học, điều gì chủ yếu làm quan tâm đến virus Corona?

C. Jessica Metcalf (J. M.): Có rất nhiều yếu tố rủi ro gắn liền với virus Corona, và tôi cảm thấy dường như chúng ta biết thêm những điều mới mẻ và khác biệt về nó mỗi ngày. Nhưng một dấu hiệu rõ rệt có vẻ đang xuất hiện là quỹ đạo tuổi tác liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong. Người già dường như có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Với tư cách là một nhà nhân khẩu học, điều này cho tôi đòn bẩy để thử nghiệm và dự đoán hậu quả sẽ xảy đến khi virus càn quét qua nhiều quốc gia khác nhau, vì một trong những điểm khác biệt nhất giữa các quốc gia trên thế giới là hồ sơ tuổi tác. Dĩ nhiên là cũng có hàng triệu điểm khác biệt khác. Năng lực vận hành của hệ thống y tế thường đi theo hướng khác, nhưng nó cung cấp cho bạn một phép chiếu. Ý tôi là, các nước có độ tuổi trung bình lớn hơn thường là các nước phát triển hơn, cũng có hệ thống y tế hoạt động tốt hơn, vì vậy, mặc dù gánh nặng có thể lớn hơn, họ sẽ có khả năng đáp ứng tốt hơn.

I. C.: Nhân khẩu học có thể đem đến chỉ dẫn gì trong cách thức chống lại virus? Làm cách nào mà nhân khẩu học giúp phòng chống sự lây lan?

J. M.: Nhân khẩu học là một chiếc ô rất rộng. Tự gọi mình là nhà nhân khẩu học cũng có nghĩa là bạn có thể làm bất cứ điều gì – đúng, bởi vì mọi thứ đều sinh ra và chết đi. Có thể nói, rất nhiều công cụ được dùng để nắm bắt và mô tả những biến đổi của bệnh truyền nhiễm, ở quy mô nào đó, là công cụ nhân khẩu học. Ví dụ, tôi không biết liệu rằng anh đã từng nghe nói về mô hình nổi tiếng – rất nổi tiếng ở trong một cộng đồng rất nhỏ – là mô hình có thể nhiễm bệnh – đã nhiễm bệnh – hồi phục chưa.

I. C.: Đúng là tôi chưa từng nghe thấy.

J. M.: Một trong những cách cổ điển mà ta có thể dùng để mô tả sự bùng phát đại dịch là bạn lấy thế giới và bạn chia tách nó thành các “lớp” chứa nhiều cá nhân. Đặc biệt đối với dịch bệnh quy mô lớn và mới mẻ như lần này, hầu hết các cá nhân trên thế giới đều nằm trong lớp dễ mắc bệnh. Sau đó, theo thời gian, nếu họ tiếp xúc với cá nhân đã nhiễm bệnh và họ cũng bị lây, họ sẽ chuyển vào lớp bị nhiễm. Sau một khoảng thời gian, họ sẽ hồi phục. Chỉ cần định nghĩa đơn giản này (mà từ đó ta có thể viết thành mô hình toán học) mô tả dòng chảy của các cá nhân giữa các lớp khác nhau, bạn có thể nhìn nhận chuyên sâu về tốc độ lây lan của dịch bệnh và những gì bạn có thể trông đợi trong tương lai. Từ đó, bạn cũng có thể đánh giá những thứ như hồ sơ tuổi tác bị nhiễm bệnh.

I. C.: Cô có thể miêu tả một chút về công việc của mình, và sự tương tác của với các chuyên gia y tế là như thế nào không?

J. M.: Tôi chủ yếu là người thống kê và dựng mô hình toán học, vì vậy những gì tôi làm là làm việc với dữ liệu mà người khác đã thu thập, sau đó xử lý dữ liệu đó thông qua các lý thuyết và mô hình chúng tôi có, để thử nghiệm và hiểu rõ hơn các quy trình mà chúng tôi thấy. Ví dụ, trận đại dịch xảy ra ở Vũ Hán cho thấy sự tăng trưởng theo cấp số nhân ở giai đoạn đầu, và các mô hình mà chúng tôi tạo lập cho phép xác định các đặc điểm chủ chốt của đợt bùng phát, chẳng hạn như số ca nhiễm mới tính trên mỗi cá nhân truyền nhiễm, và cả khoảng thời gian nối tiếp hoặc thời gian ngăn cách các cá nhân lây bệnh cho nhau. Về cơ bản, chúng tôi cố gắng kết nối các bằng chứng hiện hữu, với giả thiết rằng cơ chế mà chúng tôi nghi ngờ đang diễn ra là đúng.

Tôi cũng làm một số công việc ngoài văn phòng nhất định. Có một khoảng thời gian tôi trưởng thành ở Madagascar, vì vậy tôi làm việc chặt chẽ với các sinh viên hệ sau tiến sĩ và thạc sĩ, những người làm rất nhiều việc, ví dụ như nghiên cứu cách thức bệnh dại lây truyền khắp Madagascar, hoặc hiểu cách mầm bệnh gia cầm lây lan trong quần thể dân số này.

I. C.: Có điều cụ thể về đại dịch này đặc biệt gây chú ý trong vài tuần qua không?

J. M.: Dường như quy luật “tiiếp xúc theo tuổi tác” là một trong những yếu tố quyết định người bị nhiễm bệnh thường nằm trong độ tuổi nào. Nguyên nhân là vì chúng ta có xu hướng tiếp xúc với những người cùng độ tuổi, và điều đó dẫn đến tập trung truyền nhiễm trong các nhóm tuổi cụ thể. Thường thì bạn có xu hướng nói chuyện với người bằng tuổi, và khi bạn khoảng hai mươi hay ba mươi tuổi, bạn bắt đầu nói chuyện với những người nhỏ tuổi hơn vì mọi người bắt đầu có con. Nếu bạn định lượng mức độ tiếp xúc, bạn cũng thấy rằng trẻ em dường như có mức tiếp xúc với nhau cao hơn nhiều so với bất kỳ nhóm tuổi nào khác. Và điều đó có nghĩa chúng là một trung tâm “truyền dẫn” bệnh quan trọng.

Đó là kết luận thường gặp, nhưng không phải là những gì chúng ta thấy hiện nay. Chúng tôi không biết chắc tất cả mọi thứ vì dữ liệu vẫn đang được cập nhật. Chúng tôi không biết liệu có phải trẻ em, dù hoàn toàn không xuất hiện triệu chứng, nhưng vẫn có khả năng truyền bệnh hay không. Tôi nghĩ vẫn còn rất nhiều câu hỏi thú vị ở ngoài kia, nhưng điều đó thực sự ảnh hưởng đến cách chúng ta nghĩ về những việc như đóng cửa trường học để kiểm soát dịch bệnh.

I. C.: Việc đóng cửa trường học nói riêng khiến cô có suy nghĩ gì?

J. M.: Trong đại dịch cúm năm 2009, một trong những biện pháp được thực thi là đóng cửa trường học. Nó có khả năng giảm lây nhiễm, có thể làm giảm rủi ro trong dân số nói chung. Và một trong những điểm nhấn tuyệt đối trong tình thế như vậy là cố gắng “làm phẳng đường cong”2, vì một trong những mối quan ngại thực sự là áp lực khổng lồ lên hệ thống y tế. Nếu chúng ta nghĩ rằng trẻ em là một trung tâm truyền nhiễm quan trọng, thì có một cách để giảm thiểu lây nhiễm là đóng cửa trường học. Nhưng, nếu trẻ em không phải là một trung tâm truyền nhiễm, thì đây không phải là một chiến lược hiệu quả. Vì vậy, nó là một câu hỏi quan trọng. Và tôi nghĩ việc tính toán những điều này là vô cùng khó khăn, bởi việc đóng cửa các trường học áp đặt rất nhiều lên chi phí kinh tế và ảnh hưởng đến xã hội, những chi phi này có tác động mang hướng giới tính. Đó là việc những bà mẹ phải ở nhà để chăm sóc những đứa trẻ. Có rất nhiều chi phí đi kèm với lựa chọn đóng cửa trường học.

I. C.: Còn luận điểm rằng chúng ta nên áp dụng bất kỳ hình thức cách ly xã hội khả dĩ vì bất kỳ loại tụ tập đông người nào đều vô cùng tồi tệ trong thời điểm hiện tại, điều gì đưa ra kết luận đó?

J. M.: Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta nên cân nhắc việc cách ly xã hội trong thời điểm hiện tại; chúng ta nên cố gắng giảm bớt sự lây lan càng nhiều càng tốt. Tôi không biết bạn bao nhiêu tuổi, nhưng bạn và tôi có lẽ không thuộc nhóm có nguy cơ cao. Nhưng nó không phải là về rủi ro cá nhân – mà là về giảm thiểu rủi ro trong dân số. Tôi nghĩ, chắc chắn là bạn nên rửa tay nhiều hơn trước đây, rửa tay trong hai mươi giây thật cẩn thận, và sau đó suy nghĩ về việc bạn sử dụng bao nhiêu phương tiện giao thông công cộng, mức độ mà bạn có thể giữ cho mình một chút khoảng cách xã hội, có lẽ là một điều thực sự tốt. Càng kéo dài thời gian càng tốt. Rất nhiều hội thảo khoa học mà tôi đang cân nhắc tham dự vừa bị hủy bỏ tại miền Bắc nước Ý, và tôi nghĩ rằng đó là bước đi đúng đắn.

I. C.: Quay lại lịch sử trong một phút, bạn có thể nghĩ ra một ví dụ nào đó mà người già đặc biệt dễ bị tổn thương như lần này không?

J. M.: Có một ví dụ về bệnh giun chỉ hay còn gọi là bệnh mù lòa đường sông3. Tôi lớn lên ở nhiều nơi ở Châu Phi, và căn bệnh này là một thứ gì đó xuất hiện từ từ theo tuổi tác. Điều đó có nghĩa là, ở một số vùng, hầu hết người lớn tuổi cần các cậu bé hoặc trẻ em dẫn đường vì họ không thể nhìn thấy nữa, họ đã bị mù. Tôi nghĩ rằng đó là hình mẫu của bức tượng trước trụ sở Tổ chức Y tế Thế giới. Việc kiểm soát được bệnh mù lòa đường sông ở nhiều nơi trên thế giới là một chiến thắng đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, nó vẫn tồn tại ở một số nơi.

Ảnh: The Lancet

I. C.: Ngành nhân khẩu học có cách nào để giúp ngăn chặn dịch bệnh trong tương lai không?

J. M.: Đó là một câu hỏi thú vị. Tôi nghĩ rằng, liên quan đến cách thức nhìn nhận thế giới, nhân khẩu học khiến ta nhận ra dân số đang ngày càng già hóa, đi kèm là một loạt các thách thức trong mọi phương diện, từ hệ thống y tế đến hồ sơ bảo hiểm. Tôi không nghĩ rằng đây sẽ là đại dịch cuối cùng. Một trong những điều đáng sợ về đại dịch cúm năm 1918 là nó ảnh hưởng đến những người trẻ tuổi hơn, những người dường như chịu tỷ lệ tử vong cao hơn. Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu cách thức và dấu vết mà đại dịch sẽ giao với quỹ đạo tuổi tác của dân số. Theo thời gian, hầu hết các quốc gia sẽ chuyển từ tình trạng các ca tử vong đa số do bệnh truyền nhiễm gây ra (thường xuất hiện ở độ tuổi rất trẻ), sang viễn cảnh các ca tử vong đa số do những “bệnh tuổi già” gây ra như đột quỵ, bệnh tim hoặc những bệnh tương tự (xuất hiện ở những năm cuối đời). Các quốc gia khác nhau đang ở những giai đoạn khác nhau trong bước chuyển ấy. Thật khó để nói trước điều gì sẽ xảy ra khi ta đối mặt với đại dịch tiếp theo; chúng ta không thể phỏng đoán được. Mỗi một đại dịch mà ta từng đối mặt thật sự đã làm ta ngạc nhiên. Vì vậy, tôi không chắc chắn lắm, nhưng tôi biết rằng những đại dịch tiếp theo sẽ tương tác với bước chuyển giao nhân khẩu học của từng quốc gia theo những phương thức thú vị.

I. C.: Trong quá khứ, có những đại dịch nào đặc biệt ảnh hưởng những người trẻ tuổi?

J. M.: Bệnh sởi có tỷ lệ tử vong trên số ca nhiễm bệnh là hai mươi phần trăm ở những vùng lãnh thổ có tình trạng suy dinh dưỡng hoặc tương tự. Chúng ta đã có loại vắc-xin thực sự rẻ tiền và hiệu quả, mang lại cho bạn khả năng miễn dịch suốt đời, thường được coi là giao dịch “hời” nhất trong lĩnh vực y tế công cộng. Một khi bạn đã tiêm vắc-xin, bạn sẽ không bao giờ bị nhiễm bệnh. Nhưng nếu bạn đang bị bệnh, bạn sẽ không bao giờ bị tái nhiễm vì nó bảo vệ bạn suốt đời. Và điều đó có nghĩa là tất cả các ca nhiễm đều tập trung ở độ tuổi nhỏ, và tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh thực sự rất đáng kinh ngạc.

I. C.: Chúng ta đã và đang chứng kiến một loạt các phản ứng trước chủng mới của virus Corona trên toàn thế giới. Có phản ứng nào đặc biệt làm cho bạn lo lắng (với tư cách một nhà nhân khẩu học) không? 

J. M.: Điều làm tôi vô cùng lo lắng là tình trạng quá tải của hệ thống y tế. Bạn có thể ước tính số lượng giường bệnh trên cả nước tương quan với độ tuổi trung bình của quốc gia đó, và phép tính này, ít nhất là ở châu Âu, đang gia tăng – rất hợp lý phải không? Nếu dân số già chiếm tỉ lệ lớn tại quốc gia bạn, bạn có thể cần thêm giường bệnh. Có lẽ là bạn vốn đã có số lượng giường bệnh lớn, nhưng liệu chúng chỉ đơn thuần làm gia tăng chi phí hay sẽ khiến yêu cầu về nguồn lực vượt khỏi tầm kiểm soát, đây vẫn là một câu hỏi mở, đặc biệt khi ta đang trải qua một sự kiện tàn khốc như vậy.

Hết.

Chú thích:

  1. Những cuộc đối thoại của chúng tôi đã được chỉnh sửa để đảm bảo yêu cầu về độ dài và sự rõ ràng.
  2. Nguyên văn “flatten the curve”, được dùng để đề cập các biện pháp làm chậm tỉ lệ lây lan của virus. Điều này không có nghĩa là tổng số lượng người bị nhiễm bệnh nhất thiết phải giảm xuống, nhưng các ca bệnh sẽ không xuất hiện cùng một lúc.
  3. Nguyên bản văn “onchocerciasis or river blindness” là bệnh suy giảm thị lực hoặc mù vĩnh viễn do giun xoắn Onchocerca.

Vũ Phương Thùy lược dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Isaac Chotiner, đăng tại The New Yorker

Ảnh đầu bài: Chris McGrath / Getty


Bài viết có thể bạn sẽ thích



Đọc bài viết

Trà chiều

1 lít nước mắt – Những khác biệt giữa phim và đời thực

Trong phim, Aya không bị mất ba cái răng. Khi ngã xuống đất, Aya chỉ bị trầy trán. Khuôn mặt cô vẫn xinh tươi. Nếu trong phim làm thực tế hơn, khi nhìn thấy cảnh Aya mất ba cái răng có lẽ tôi sẽ khóc rất nhiều.

Đăng từ

on

Người đăng

Hôm qua lại tiếp tục hủy hoại sức khỏe. Thức trắng đêm để đọc cho hết 44 trang A4 quyển nhật kí 1 Litre of Tears của Aya. Nhức đầu gần chết. Hôm nay tỉnh dậy, tôi vẫn còn thấy mệt mỏi. Nhưng bản dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh của Kiwi rất truyền cảm. Dù sao, bản tiếng Anh cũng mới đi được đến gần cuối chương ba của cuốn nhật kí thôi. Còn đến những năm chương mà các fan chưa dịch xong. Ôi! Muốn đọc tiếp quá. Trong thời gian chờ đợi các fan quốc tế dịch, tôi sẽ dịch ra tiếng Việt trước những gì đã có trong tiếng Anh cho mọi người đọc và tranh thủ xem một vài film Sawajiri Erika đóng.

Chị hai đã quá khinh thường trình độ đọc của tôi. Hôm qua, lúc thấy tôi cầm xấp giấy chị mới in xong để tôi dịch, chị đã nói:

“Sao em không đọc trực tiếp trên máy tính luôn?”
“Để chi? Đọc trên máy tính nhức mắt lắm. Giờ in ra giấy rồi, em đọc cái này đỡ hơn chứ.”
“Nhưng mà trên máy tính thì dò từ điển cũng tiện lợi hơn. Chứ còn đọc như vậy mà cầm cuốn từ điển dò thì mệt lắm đó.”
“Òa. Chị khinh thường em quá à. Em tự biết lượng sức mình. Em sẽ đọc một mạch luôn, không dò gì cả đâu vì những từ trong này chủ đề chính cũng chỉ xoay quanh cuộc sống hằng ngày thôi. Đâu phải từ chuyên môn về một lĩnh vực nào đó hay là từ cổ. Cỡ như Angel Sanctuary thì mới khiến em phải bó tay và ngồi dò chứ cái này thì em sẽ đọc ngon ơ cho mà xem.”

Nói là làm. Hôm qua, tôi ngồi đọc một mạch hết 44 trang A4 luôn. Tính ra A5 là 88 trang. Không ngờ tôi đã đọc nhiều như thế. Đó là lần đầu tiên tôi đọc được chừng đó trang tiếng Anh trong vòng ba tiếng đồng hồ. Hơi chậm hơn so với đọc tiếng Việt. Nếu đọc tiếng Việt mà trong ba tiếng đồng hồ thì chắc sẽ nhiều hơn. Dù sao, tôi cũng vui vì như thế là đã cải thiện hơn được rất nhiều về trình độ đọc so với một năm trước đây. Phải cố gắng hơn nữa. Phấn đấu để làm dịch giả mà. Vậy nên, tôi đã cố gắng để không cần dò từ điển dù cũng có một vài từ không hiểu nhưng nhìn chung tôi vẫn nắm được nội dung. Và tôi thật sự sốc sau khi đọc ba chương đầu tiên. Phim hư cấu nhiều chi tiết không có trong nhật kí. Khi phát hiện ra điều đó, tôi lại càng thương Aya hơn. Tội nghiệp Aya quá. Dưới đây là một số điểm khác biệt mà tôi đã lưu ý:

1

Không hề có Asou Haruto. Lúc xem phim, tôi thấy chuyện tình của hai người thật đẹp. Nhưng thực ra, chuyện này tôi cũng đã phát hiện ngay từ khi xem phim rồi. Vì trong phim có đoạn trích lại nhật kí Aya:

“Nếu như không có căn bệnh này thì tôi đã biết được tình yêu như thế nào rồi. Tôi chỉ muốn yêu và được yêu một ai đó. Tôi muốn có một ai đó để dựa vào. Chẳng lẽ tôi lại không có cả quyền tự do để yêu thương sao?”

Nếu như Asou-kun là có thật thì sao Aya phải viết như thế. Các nhà làm phim tạo ra Asou như một sự an ủi cho Aya. Nếu có thật thì đỡ khổ cho Aya nhiều hơn vì trước khi chết đã biết được cảm giác yêu một người là như thế nào. Nhưng tiếc rằng… đó chỉ là hư cấu. Tội nghiệp Aya quá. Trong phim, nghe cách hai người gọi tên nhau cũng đau lòng. Lúc đầu thì Asou gọi Aya là Ikeuchi còn Aya gọi Asou là Asou-kun. Gọi bằng họ thật khách sáo. Lúc sau, khi đã thân nhau rồi thì Asou gọi Aya là Aya nhưng Aya vẫn mặc cảm, vẫn gọi Asou là Asou-kun mà không dám gọi là Haruto. Thật đau lòng. Đến khi gần chết, cô vẫn cương quyết giữ khoảng cách như thế.

2

Không hề có Kawamoto-senpai. Chuyện này không biết là vui hay buồn. Theo cảm nhận cá nhân của tôi thì có lẽ sẽ đỡ đau lòng hơn cho Aya rất nhiều. Kawamoto là senpai kiểu gì kì cục quá. Lúc Aya bị ngã cứ trơ mắt ra mà nhìn. Đáng lẽ chỉ cần một cái ôm là xong chuyện. Đã vậy, hẹn người ta đi chơi mà sau khi biết người ta bị bệnh thì thất hứa.

3

Aya không hề giỏi bóng rổ. Điểm này trong phim cố tình sửa lại có lẽ là để khán giả cảm thấy bi đát hơn khi Aya bị bệnh. Aya vốn học rất yếu môn thể dục. Điểm thể dục trong lớp luôn bị tụt. Năm lớp 8 thì B, lớp 9 thì C và lớp 10 là D. Nhưng trong phim không đề cập đến điều này: Aya thích môn Anh Văn. Thực tế, vì không giỏi thể thao nên Aya rất chăm học và có tiếng là thông minh. Điểm môn Nhật ngữ và Anh văn bao giờ cũng đứng đầu lớp.

4

Aya thích đọc sách. Điểm này trong phim cũng không đề cập đến. Và Aya có ước mơ trở thành nhà văn. Nhưng tội nghiệp Aya quá khi phải thốt lên câu: “Con muốn làm nhà văn nhưng vốn kiến thức của con về xã hội ít quá thì làm sao con có thể viết một cuốn tiểu thuyết được hả mẹ?” Khi đọc đến đoạn ấy, tôi tự nhủ với lòng là vì tôi có sức khỏe nên sẽ cố gắng chăm chỉ tìm hiểu cuộc đời này, cố gắng để thực hiện ước mơ của tôi và của cả Aya nữa.

Sau đó, mẹ Aya mới bảo: “Con hãy nghĩ đến những công việc nào có thể làm ngay tại nhà được. Chẳng hạn như dịch thuật.” Càng đọc, tôi càng phát hiện nhiều điểm giống nhau giữa tôi và Aya. Do đó, phần nào tôi cảm thấy tội lỗi, trong khi Aya cầm bút còn khó khăn, tôi thì gõ máy lia lịa… thế mà cũng lười viết. Từ sau khi viết xong truyện dài gần đây nhất, tôi cảm thấy hơi nản một chút. Tôi đã nói với mọi người là sẽ gác bút để thi đại học, sau đó nếu thi đậu, tôi sẽ viết tiếp. Tôi đã nghĩ ra được thêm nhiều cốt truyện lắm rồi, có nhiều cảm hứng lắm rồi, nhưng lại lười. Một phần nữa cũng vì tôi cảm thấy còn phải đọc thêm nhiều sách để cải thiện trình độ viết văn và truyền tải tư tưởng đến người đọc. Nói chung, tôi nghĩ là mình cần phải học hỏi thêm nhiều nữa rồi hẵng viết. Bên cạnh đó, bây giờ tôi cũng muốn chuyển qua viết review phim, truyện để rèn luyện cách cảm nhận, cách nhập tâm vào cảm xúc cùng nhân vật. Có như vậy thì khi viết truyện chính thức tôi mới thấu hiểu được cảm xúc của nhân vật do tôi tạo ra chứ không chỉ đơn thuần là lớp vỏ bề ngoài. Sẵn đây, tôi cũng giải thích với mọi người luôn vì cũng có nhiều người hỏi tôi rằng: “Sao em siêng viết blog thế?” Thực ra, không phải là tôi thích blog hay thích viết blog. Tôi cũng không tâm niệm blog là để liên kết tâm tư mọi người lại với nhau. Chỉ đơn thuần là tôi xem blog giống như nơi lưu trữ lại những gì mình đã viết.

5

Không hề có buổi hoà nhạc chung với cả lớp, buổi Aya đi xem Hiroki đá bóng… rất nhiều thứ phim đã hư cấu thêm. Đọc nhật kí rồi mới thấy, phim dựng từ nhật kí như thế là quá hay. Tuy những tình tiết trong phim không có thực nhưng rất cảm động, rất hợp lí. Yêu các nhà làm phim của 1 Litre of Tears quá. Ở đây, hư cấu nhưng không bóp méo sự thật mà là để an ủi và tôn vinh sự thật.

6

Có một chi tiết rất quan trọng trong nhật kí nhưng các nhà làm phim đã không đưa vào. Lúc đọc nhật kí, tôi đã bàng hoàng. Đó là chi tiết Aya bị mất ba cái răng lớn ở đằng trước. Thử nghĩ xem, một cô gái khi đang băng qua đường, đập mặt trực tiếp xuống đất, máu chảy từ trên trán rất nhiều mà không bị gãy cái răng nào mới là chuyện lạ. Lúc phát hiện mình đã vĩnh viễn mất ba cái răng, Aya buồn vô cùng:

“Căn bệnh của tôi còn tệ hại hơn cả ung thư nữa.
Nó hủy hoại đi sắc đẹp tuổi trẻ của tôi.
Tôi muốn nhanh chóng quay trở lại là Aya trước kia. Tôi cất gương soi vẫn thường hay để trên bàn. Như vậy thì tôi sẽ không nhìn thấy tôi xấu xí của bây giờ nữa…”

Người con gái nào lại chẳng tự soi gương để chăm sóc vẻ đẹp của mình. Thế mà… Aya phải cất gương đi để trốn tránh sự thật khi cô mới 16 tuổi – cái tuổi còn quá trẻ mà thân thể đã như một “người già 50 tuổi” (theo lời Aya).

Trong phim, Aya không bị mất ba cái răng. Khi ngã xuống đất, Aya chỉ bị trầy trán. Khuôn mặt cô vẫn xinh tươi. Nếu trong phim làm thực tế hơn, khi nhìn thấy cảnh Aya mất ba cái răng có lẽ tôi sẽ khóc rất nhiều.

Hết.

Kodaki

Đọc bài viết

Trà chiều

Dịch bệnh là một phần tất yếu của lịch sử

Thế kỷ XXI vẫn còn đó nỗi lo về HIV, dịch tả hay những dịch cúm theo chu kỳ. Vũ Hán hôm nay là món quà tất yếu của sự phát triển mà chúng ta không thể tránh được.

Đăng từ

on

Người đăng

Dịch bệnh, nạn đói và chiến tranh đã từng là những kẻ thù đáng sợ nhất đe dọa tới cuộc sống con người. Ngày nay, khi mà toàn cầu hóa không chừa bất cứ một lỗ hổng nào cho sự khác biệt thì ngay đến nỗi sợ cũng trở nên đa phương hóa. Thế kỷ XXI chứng kiến sự lên ngôi của cô đơn và tự do, của tôichúng ta, của những nỗi sợ hiện hữu trong thế giới tinh thần. Dịch bệnh cùng nỗi đau xác thịt dần trở thành dĩ vãng, mang theo những hoài niệm cất giữ nơi viện bảo tàng, chỉ nhìn và không được sờ vào hiện vật. Cho tới khi ai đó vô tình làm dây giọt mực, rót vào bức tranh rồng đôi mắt của sự sống. Vũ Hán là bảo tàng như thế và coronavirus là con rồng như thế. Đó là bước chuyển quan trọng, song không phải độc nhất.

Vũ Hán chỉ là pha bẻ lái cuối cùng trong một truyện trinh thám đa tầng của tạo hóa. Ngay từ đầu sự thật đã luôn hiện hữu. Ngay từ đầu dịch bệnh đã luôn ở bên ta.

1. Có thể nói dịch bệnh là bạn đồng hành của nền văn minh.

Trong suốt mấy triệu năm lịch sử, hầu như loài người không phải đối mặt với dịch bệnh. Mọi thứ bắt đầu thay đổi kể từ khoảng sáu vạn năm trước, khi nhân loại mở rộng phạm vi phân bố của mình. Từ những thị tộc nhỏ vùng Đông Phi, con người tiến về phía các đồng bằng châu thổ trù phú ven các dòng sông lớn. Từ đây, hình thành các xã hội nông nghiệp dẫn đến bùng nổ dân số. Và cũng từ đây, những dịch bệnh đầu tiên đã xảy ra. Dịch bệnh được biết đến từ rất sớm, trong các sử thi của người Sumer ở Lưỡng Hà, trong kinh Vệ Đà ở Ấn Độ và đặc biệt là trên các văn tự giáp cốt ở Trung Quốc cổ đại khi dân cư mở rộng từ Hoàng Hà phía bắc xuống lưu vực sông Dương Tử phía nam. Không còn săn bắt, hái lượm, không còn đời sống du mục, cả nhân loại và bệnh tật đều đã tìm thấy miền đất hứa của mình. Dân cư đông đúc làm tăng khả năng lây nhiễm.

Ngày nay, nhìn lại từ Vũ Hán, không cần cách ly nếu chúng ta chẳng có thành phố nào, dịch bệnh không thể xảy ra nếu chỉ có vài người. Bên cạnh đó thì dòng chảy chậm, lưu thông kém của nước và không khí cùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh dịch phát triển. Ngược lại, sự chia cắt địa lý cũng như khí hậu Địa Trung Hải giúp cho các thành bang Hy Lạp ít chịu nạn dịch tự nhiên. Như vậy, từ thuở ban sơ, dịch bệnh đã theo bước chúng ta khắp các ngả rẽ của nền văn minh.

2. Xã hội nông nghiệp không chỉ làm tăng dân số, mà còn làm tăng số lượng vật nuôi.

Trước khi làm bạn với cây lúa, chó đã là bạn của con người. Mười ngàn năm trước là heo, rồi trâu, bò, gà, cừu… Đàn vật nuôi tăng lên nhanh chóng và đến lúc này, chúng bắt đầu chịu chung số phận như loài người. Trước dịch bệnh, người và vật bình đẳng đến không ngờ, thậm chí loài vật còn ưu thế hơn khi bệnh tật có thể lây sang cả thượng đế của chúng, tức con người. Sán dây đã có từ thời Ai Cập cổ đại, và mặc cho sự linh thiêng của các vị thần, các pharaoh vẫn nhiễm như thường nếu ăn phải thịt bệnh.

Ngày nay, không khó để bắt gặp người bị giun đũa từ chó hay thậm chí là kangaroo. Tuy nhiên, đó chỉ là những ca bệnh đơn lẻ trong khi dịch bệnh thực sự thường do những sinh vật nhỏ hơn gây ra, như vi khuẩn và đặc biệt là virus. Và không phải chó hay bò, gà mới là nhân vật chính ở đây. Cúm gà hay cúm gia cầm là một loại bệnh cúm do virus gây ra cho các loài gia cầm (hay chim), và có thể xâm nhiễm một số loài động vật có vú. Virus này được phát hiện lần đầu tiên là tại Ý vào đầu thập niên 1900 và giờ đây phát hiện ở hầu hết các nơi trên thế giới. Sự thay đổi kháng nguyên làm cho virus cúm trở nên khó đối phó hơn bao giờ hết ngay cả trong thế kỷ XXI. H5N1 và H1N1 trở thành các mối đe dọa toàn cầu khi khiến hàng trăm người tử vong trong thập niên đầu thế kỷ này. Và một khi gần 8 tỷ người vẫn sống nhờ vào ngành chăn nuôi và với hơn 25 tỷ con gà thì đại dịch là điều khó có thể tránh khỏi.

3. Hoạt động nông nghiệp không phải yếu tố duy nhất gây ra dịch bệnh.

Dù cho nguy hiểm, cúm gia cầm chỉ giết chết vài ngàn người, không nhiều hơn sét đánh hay rắn cắn. Trên thực tế, thương mại mới chính là nguồn cơn của các thảm họa. Quay trở lại Hy Lạp cổ đại, khí hậu và cách ly địa lý không giúp họ miễn nhiễm với dịch bệnh. Mối giao thương giữa các thành bang đưa đến nhiều mầm bệnh, và khi điều kiện thuận lợi xảy đến, dịch bệnh sẽ nở rộ mà chiến tranh Peloponnese là một sự kiện tiêu biểu. Theo nghĩa rộng, chiến tranh cũng là một quá trình thương mại nơi máu và sắt đổi lại vàng bạc châu báu kèm theo dịch bệnh như là thuế VAT. Khi những đội quân đồng minh mang theo mầm bệnh trên các chiến thuyền hội về Athens kết hợp với tình trạng thiếu thốn lương thực đã vô tình tạo cho Athens thêm một kẻ thù hùng mạnh: liên minh giữa nạn đói, chiến tranh và dịch bệnh. Không khó nhận ra chuyện này đã vượt khỏi thẩm quyền của Athena, để rồi cuối cùng nữ thần chiến thắng buộc phải đứng nhìn quân Sparta đánh bại đô thành của mình. Đây chỉ là một phần rất nhỏ trong bức tranh giao thương – dịch bệnh. Giao thương càng mở rộng thì dịch bệnh càng có cơ hội phô diễn bản tính khó lường. Gần hai ngàn năm sau chiến tranh Peloponnese, vào giữa thế kỷ XIV, châu Âu đã phải đón nhận một món hàng vô tiền khoáng hậu.

Khởi đầu từ việc lên đường tìm viện binh chống lại Hung Nô, những tuyến đường nhỏ nối Trung Quốc với phía Tây nhanh chóng được các thương nhân tận dụng tối đa và về sau trở thành tuyến giao thương huyết mạch của thế giới, với tên gọi con đường tơ lụa. Vào giữa thế kỷ 14, những con chuột bí ẩn theo dấu chân các nhà lữ hành vượt Địa Trung Hải, mang theo Cái chết Đen đến với châu Âu. Ngày nay chúng ta biết rằng đây là bệnh dịch hạch do vi khuẩn Yersinia pestis ký sinh trên bọ chét của các loài gặm nhấm gây ra.  Nhưng ở thế kỷ XIV, sự thiếu hiểu biết khoa học càng làm dịch bệnh trầm trọng. Và cũng phải thừa nhận rằng các điều kiện có sẵn như chiến tranh, nạn đói và thời tiết đã khiến đại dịch dịch hạch trở nên khủng khiếp hơn. Chỉ trong vòng vài năm, đại dịch lan ra khắp châu Âu và châu Á, giết chết hàng trăm triệu người và là một trong những lần hiếm hoi dân số thế giới sụt giảm. Thương mại không chỉ mang đến sự giàu có thịnh vượng cho con người, nó còn là kênh lây truyền dịch bệnh mạnh mẽ nhất. Ngày nay, không cần mất đến vài tháng trời băng qua sa mạc hay biển lớn như những con chuột đồng nghiệp xưa kia, chỉ cần một chuyến bay là quá đủ để virus xuất hiện tận bên kia bán cầu.

4. Dẫu sao Cái chết Đen cũng chỉ gói gọn trong các cựu lục địa, các loài động vật không đủ sức để mang bệnh dịch vượt đại dương.

Các loài động vật không đủ nguy hiểm bằng con người. Thế kỷ XVI chứng kiến sự bùng nổ của các phát kiến địa lý, và sau hàng ngàn năm cách biệt, các dân tộc bản địa đứng trước nguy cơ bị tuyệt diệt. Người da trắng bấy giờ như những con chuột vài thế kỷ trước và virus vài thế kỷ sau, đem theo mầm bệnh lan truyền khắp thế giới. Họ trở thành vật chủ trung gian lây truyền bệnh dịch từ châu Phi sang châu Mỹ, từ châu Âu sang châu Úc, đưa bệnh tật, cùng với nô dịch và bất công trở nên toàn cầu hóa. Nhờ đó, mà ngoài cần sa và ớt, tơ tằm và kim khí, giờ đây thế giới được hưởng chung ánh sáng chói lòa của giang mai và thổ tả.

5. Nhưng không phải chỉ lịch sử mới tác động đến dịch bệnh mà ở chiều ngược lại, dịch bệnh cũng làm xoay chuyển bánh xe lịch sử.

Sự tàn phá khủng khiếp của Cái chết Đen làm lung lay cả thánh thần, là tiền đề cho những cải cách tôn giáo của phái Tin lành sau này. Dịch bệnh cũng làm thay đổi trong thiết kế nhà cửa, và những phần mái được thay thế bằng ngói tranh cho chuột trú ẩn vẫn tồn tại đến bây giờ. Dịch bệnh hủy hoại nặng nề kinh tế nông nghiệp và nâng cao vị thế công nhân trước khi Karl Marx tuyên bố điều đó hàng trăm năm. Đối với người Hán, dịch bệnh là cơ hội để đánh đuổi những kẻ xâm lăng Mông Cổ ra khỏi đất nước còn với người Do Thái, họ phải sống trong cơn ác mộng bài xích tệ hại nhất. Đầu thế kỷ 20, cúm Tây Ban Nha thậm chí còn làm kết thúc sớm Thế chiến thứ nhất mặc cho số người chết vì nó tương đương với Thế chiến thứ hai và Nạn đói lớn ở Trung Quốc.

Tuy nhiên, trong phần lớn trường hợp, dịch bệnh hóa ra lại là động lực mạnh nhất giúp cho y tế phát triển. Nhờ có đậu mùa, chủng ngừa và vắc-xin ra đời và nhờ có chủng ngừa và vắc-xin, bệnh đậu mùa đã biến mất vĩnh viễn. Thế kỷ XX đánh dấu bước ngoặc của y học khi lần đầu tổng hợp thành công kháng sinh. Từ đây, mở ra cuộc chạy đua trường kỳ của vi khuẩn và kháng sinh mà chúng ta có phần lép vế. Ngày nay, cùng với chiến tranh hạt nhân, tình trạng kháng kháng sinh là một trong những điều quyết định vận mệnh chúng ta.

6. Dịch bệnh vẫn sẽ luôn tồn tại cho đến khi nào con người còn tồn tại.

Thế kỷ XXI vẫn còn đó nỗi lo về HIV, dịch tả hay những dịch cúm theo chu kỳ. Vũ Hán hôm nay là món quà tất yếu của sự phát triển mà chúng ta không thể tránh được. Chúng ta học cách chấp nhận, chúng ta học cách chống lại. Tất cả những điều chúng ta làm đều trở thành lịch sử. Dịch bệnh là một phần tất yếu của lịch sử.

Hết.

3V

Ảnh đầu bài: Minh họa The Divine Comedy (Dante) của Gustave Dore.

Xem tất cả những bài viết của 3V tại đây.


Bài viết có thể bạn sẽ thích



Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!