Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Taylor Swift: Nàng nhạc sĩ yêu văn chương

Với Taylor Swift, âm nhạc không chỉ là giai điệu cảm xúc, là nhật kí cá nhân, là người bạn tâm giao để trút bầu những muộn phiền trong cuộc sống…; trên tất cả, âm nhạc với người con gái ấy dường như là một câu chuyện được kể ra bằng sự say đắm ngôn ngữ không khác gì phương thức của văn chương.

Đăng từ

on


Nhiều bản nhạc Taylor viết ra không đơn thuần chỉ là các phiến đoạn cảm xúc ngắn mà những tác phẩm ấy dường như có cấu trúc hoàn chỉnh như một truyện ngắn hẳn hoi: All Too Well, White Horse, You Belong With Me, Back to December… Và chính Taylor cũng tiết lộ sách là nguồn cảm hứng lớn cho trí tưởng tượng của cô bên cạnh âm nhạc. Dưới đây là những chia sẻ của Taylor Swift về việc đọc sách với độc giả nhà xuất bản Scholastic trong chương trình giao lưu trực tuyến “Read Every Day”.

Chuyển từ Philadelphia đến Nashvile, việc đó đã ảnh hưởng đến bạn như thế nào trên phương diện là một người viết nhạc?

Taylor Swift (TS): Tôi bị ám ảnh với thơ ca từ khi còn rất sớm bởi những cuốn sách mà tôi yêu thích từ lúc ấy là sách của Dr. Seuss, Shel Silverstein và tất cả những sách có câu chuyện kết nối với nhau qua nhịp điệu. Đó luôn là loại sách tôi thích đọc vì chúng có âm điệu như một bản nhạc. Giống như khi bạn đọc một dòng thơ mà nhịp thơ dừng ngay tại điểm kết thúc những câu thơ, giọng thơ khi đó sẽ vang lên giống như lời bài hát vậy. Tiết học tiếng Anh đã luôn luôn là tiết học tôi thích nhất vì tôi được đọc, được viết và hơn cả là vì có thơ.

Những giáo viên có nhận ra khả năng sáng tạo của bạn sớm không?

TS: Có một giáo viên đã nói với mẹ tôi – tôi nghĩ đó là khi tôi học lớp một: “Tôi bảo các em trong lớp viết một bài tiểu luận, và em ấy viết đầy cả bốn trang giấy. Vì thế, tôi muốn cô biết rằng đó có thể là lĩnh vực con bé yêu thích. Bé viết không ngừng.” Tôi lúc nào cũng yêu thích việc kể ra một câu chuyện hay với những nhân vật thú vị, đó là lí do tại sao rất nhiều bài hát của tôi là những câu chuyện.

Bản nhạc đầu tiên mà bạn viết là gì?

TS: Bản nhạc đầu tiên mà tôi thực sự hoàn thành không phải là một bản nhạc ngẫu hứng, bản nhạc tám phút được viết năm tôi 12 tuổi có tên gọi là Lucky You kể về một cô gái khác biệt. Cô ấy tin vào chính mình. Tôi không biết làm sao mà bản nhạc này bị rò rỉ trên mạng nữa nhưng đó thật là một trải nghiệm kinh khủng khi mọi người đưa nó lên vì giọng tôi nghe giống như “Tôi hát như một con sóc. Tôi mới 12 khi đó.” Nhưng bạn có dịp nhìn lại những trải nghiệm đầu tiên của mình với việc viết và từng trải nghiệm ấy đã giúp bạn dần trở thành con người hiện tại. Vì thế, tôi không nghĩ rằng bạn có thể coi thường bất cứ sự sáng tạo nào bạn làm ra khi còn rất trẻ.

Có phải sách là nguồn cảm hứng lớn cho âm nhạc và cuộc sống của bạn?

TS: Sách đã luôn là nguồn cảm hứng lớn cho trí tưởng tượng của tôi. Tôi đã từng là fan trung thành của thể loại truyện cổ tích dành cho người lớn, bạn có thể thấy nhiều chi tiết trong bài hát của tôi giống như Romeo and Juliet và The Scarlet Letter, đó đều là từ vốn kiến thức đọc của tôi. Đó là những câu chuyện đã cùng tôi lớn lên. Vì vậy, bạn biết đấy, điều này hoàn toàn nhờ vào việc đọc.

Cô Fisher, một giáo viên ở Michigan muốn biết: “Việc đọc sách đã ảnh hưởng đến những lựa chọn trong cuộc sống của bạn, đặc biệt là trong sự nghiệp như thế nào?”

TS: Rất nhiều cuốn sách tôi thích đọc khi còn nhỏ là loại sách dạy bạn một bài học nào đó – kiểu vui nhộn như Amelia Bedelia, hoặc là The Giving Tree dạy ta phải biết tử tế với người khác. Những câu chuyện đó thực sự đính kèm một chuẩn mực đạo đức xứng đáng để là cuốn sách đầu tiên mà các bậc phụ huynh hay giáo viên của chúng ta giới thiệu cho con trẻ. Nếu đó là những câu chuyện đầu tiên bạn được đọc, nó sẽ có ảnh hưởng thực sự đến tính cách của bạn. Đối xử tốt với người khác là tinh thần chủ đạo mà tôi thực sự yêu thích ở những cuốn sách này.

Danny: Tuổi thơ của bạn như thế nào?

TS: Tôi lớn lên ở một trang trại trồng cây Giáng sinh. Chúng tôi chăm sóc cây Giáng sinh để những người khác có thể mua về và đặt trong nhà họ. Và có rất nhiều loài động vật khác nhau chạy vòng quanh chúng tôi, tôi nhớ rằng có rất nhiều không gian để chạy nhảy, để đuổi bắt những câu chuyện hoang dã, tôi cảm thấy đó đã là khoảng thời gian tôi thực sự có thể cho trí tưởng tượng của mình bay bổng. Nhưng, bạn biết đó, tôi không nghĩ rằng bạn nhất thiết phải có một không gian rộng mở để tưởng tượng. Bạn có thể thấy được những thứ đẹp đẽ, huyễn tưởng, những thứ không có thực và những thứ kì ảo tại bất cứ nơi nào bạn lớn lên nếu bạn chịu khó suy nghĩ và nắm bắt tâm trí mình. Nhưng tôi đã có một tuổi thơ vui vẻ. Nó giống như một tia chớp thoáng qua vậy, nên tôi muốn cảm ơn bạn vì đã đặt câu hỏi này. Thực sự là một câu hỏi hay.

Câu hỏi tiếp theo đến từ tập thể lớp ba của cô Zeidler. Các em muốn biết: “Quyển sách chị yêu thích nhất mà bố mẹ đã đọc cho chị là gì?”

TS: Bắt đầu từ khi chị còn rất nhỏ. Quyển đầu tiên là Big Bird on the Farm, sau đó là Winnie the Pooh và chị thích tất cả những tập thơ kinh điển dành cho trẻ em, những quyển sách dạng như thế rồi cả truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích.

Thật vui khi có thể thoát ra nơi mà các em đang sống rồi nhảy vào cuộc đời của một nhân vật khác. Em biết đấy, khi em đọc một cuốn sách, nếu em thực sự có thể hòa mình vào một nhân vật nào đó, em sẽ cảm thấy mình có thể vượt thoát và đến một nơi nào đó. Cũng phần nào giống như sự hồi hộp mà mọi người có được khi đến rạp và xem câu chuyện diễn ra trên màn ảnh vậy. Nhưng chẳng có gì thực sự giống như việc đọc cả. Em chỉ cần tìm một nơi thật yên tĩnh và cứ thế mà đi đến thế giới khác.

Câu hỏi tiếp theo đến từ tập thể lớp bốn của cô Chris Tweedie ở Singapore. Các em muốn biết: “Chị chọn những cuốn sách chị muốn đọc bằng cách nào?”

TS: Chị chọn những cuốn sách chị muốn đọc khi nghe nhiều điều cực kì hấp dẫn về chúng, hoặc nếu như những cuốn sách đó có liên quan đến lịch sử thì chị cũng rất quan tâm. Hồi chị còn nhỏ, người ta có xuất bản những cuốn nhật kí của một người lính tham gia nội chiến hoặc của con gái người lính trong cuộc Cách mạng Mỹ. Họ đã từng xuất bản tất cả những loại sách như thế về lịch sử, và chị thực sự đắm mình vào những câu chuyện đó vì lúc nào chị cũng yêu thích ý tưởng quay ngược trở về thời gian và biết được mọi thứ như thế nào cách đây hàng trăm năm.

Alexandra: Những việc chị đã phải làm khi ở tuổi của chúng em để bây giờ trở thành một nghệ sĩ thành công?

TS: Ừm, giai đoạn trung học sẽ có đôi lúc khó khăn. Bước vào trung học và nhận ra rằng tất cả mọi người ít nhiều đều có khoảng thời gian tồi tệ trong giai đoạn này, thật khó để thích ứng và em sẽ phải luôn cố hình dung ra ai là người mình muốn kết bạn và có thể là bạn, mình phải cư xử như thế nào… Thời trung học cũng là một trong những khoảng thời gian khó khăn nhất với chị để thích ứng. Vì vậy, nếu như em gặp phải bất kì khó khăn nào, cứ nghĩ rằng rất nhiều người cũng như thế. Em có thể cảm thấy rất cô đơn khi không biết ai là bạn của mình và khi em không biết phải nói chuyện với ai hoặc ngồi kế ai trong giờ ăn trưa. Không ai hiểu được cảm giác đó dữ dội và kinh khủng như thế nào, những quyết định kiểu như sẽ ngồi ăn với ai trong bữa trưa. Đó thực sự là những giây phút căng thẳng với chị khi nhìn lại khoảng thời gian trung học. Nếu em tập trung học thật nhiều hết mức có thể vào những thứ em yêu thích, đó sẽ là lối thoát cho những ngày tồi tệ ấy. Chị cũng có những ngày rất khó khăn ở trường học và chị chờ từng ngày dài qua đi để về nhà đàn guitar, viết lời bài hát trong sổ tay riêng. Với chị, việc đó khiến chị cảm thấy ổn. Vậy nên, em có thể tìm việc gì đó giúp em bộc lộ bản thân mình, thời trung học sẽ không quá khó khăn nếu em có một điều nào đó để trông đợi sau khi giờ học kết thúc. Một câu hỏi tuyệt vời. Ừm, đúng là sẽ rất khó khăn, các em à. Cố lên nhé.

Marnie: Bạn đã từng viết một cuốn tiểu thuyết và cũng thắng một cuộc thi thơ. Bạn có thể kể chi tiết hơn cho chúng tôi biết về việc đó không?

TS: Tôi đã từng thắng giải một cuộc thi thơ với bài thơ có tên là Monster in My Closet. (tạm dịch: Con quỉ trong phòng tôi) Đó là khi tôi học lớp bốn, tôi đã viết bài thơ rất dài, dài, dài này đại loại là: “Có một con quỉ trong phòng của tôi và tôi không biết phải làm gì. Bạn có bao giờ thấy nó chưa? Nó có bao giờ tấn công bạn?” Bài thơ có 12 khổ. Tôi đã gửi đến cuộc thi thơ quốc gia và khi thắng giải, người ta gửi tặng tôi quyển sách qua đường bưu điện, thế là tôi được đọc hết tất cả các bài thơ của những đứa trẻ khác. Vui lắm. Một vài năm sau đó khi tôi khoảng chừng 12 hay 13, gia đình tôi nghỉ hè tại bãi biển. Tôi nhớ những người bạn ở nhà rất nhiều nên đã dành cả ngày nhốt mình trong phòng, đối diện với máy tính chỉ để viết một cuốn tiểu thuyết. Tôi cho tất cả bạn bè trong trường trở thành nhân vật trong tiểu thuyết đó để đỡ nhớ họ, và tôi gửi cho họ đọc những chương trong tiểu thuyết. Tiểu thuyết đó kết thúc với độ dài khoảng 400 trang. Viết dù ở dạng thức nào cũng là lối thoát cho tôi, không chỉ là viết nhạc. Nếu như bạn có thể theo đuổi một câu chuyện và bạn có cách để kể nó theo ý muốn, đôi lúc cả thế giới của bạn dường như bừng sáng rực rỡ chỉ với việc bạn có thể lôi câu chuyện ấy ra và viết nó xuống giấy. Cảm ơn bạn vì câu hỏi này.

Câu hỏi tiếp theo đến từ một học sinh lớp 7 ở California: “Taylor, chị thường đọc sách như thế nào? Giáo viên của em nói rằng chúng ta nên đọc sách mỗi ngày.”

TS: Chị cũng nghĩ thật là tốt khi có thể đọc mỗi ngày. Chắc chắn rồi. Hoàn toàn là như thế. Cô giáo của em đã đúng về việc này. Chị đang cố gắng đọc càng nhiều càng tốt và đọc những thứ khác nhau. Chị cố gắng đọc báo, những bài báo chứa thông tin hữu ích mỗi ngày. Chị cố gắng cập nhật tình hình về quyền con người, những gì đang diễn ra trên thế giới và chính trị, những vấn đề trong thế giới của chúng ta, bởi vì, em biết đó, những việc ấy rất quan trọng. Chị nghĩ ở độ tuổi 22 của mình hiện tại, việc hiểu những gì đang diễn ra trên thế giới thực sự tối cần thiết. Nhưng khi còn đang học ở trường, chị nghĩ đây là giai đoạn em nên mở rộng trí tưởng tượng của mình, và nếu em muốn thoát khỏi nơi này, đến một thế giới khác hoặc đọc một cuốn sách như sách lịch sử, sách khoa học viễn tưởng về người ngoài hành tinh, nếu thích em hãy cứ đọc. Em biết đấy, bất cứ lĩnh vực nào em quan tâm, chị nghĩ đọc mỗi ngày là điều quan trọng, nhưng điều đó không có nghĩa là em không được đọc những gì em thích. Em biết không, điều tuyệt vời là có rất nhiều loại sách khác nhau mà em có thể đọc. Chị thích đọc những cuốn sách như The Hunger Games (dành cho lứa tuổi từ 12 trở lên) và Harry Potter. Các em thật đặc biệt.

Kel: Bạn có nhớ quyển sách đầu tiên mà bạn đọc say mê đến mức không thể dứt ra, và rồi khi đọc xong, quyển sách ấy có làm bạn phải thốt lên: “Ôi, thật tuyệt vời!” không?

TS: Ồ, thật là một câu hỏi rất rất thú vị. Ôi trời ơi. Tôi nghĩ ra được vài quyển sách như thế. Đó là quyển Stargirl của Jerry Spinelli. Và quyển To Kill a Mockingbird của Harper Lee đã thực sự thay đổi cách tôi nhìn cuộc sống. Sau khi đọc hết The Hunger Games, tôi cũng rất buồn vì sê-ri này đã kết thúc. Tôi đã từng muốn đọc đi, đọc lại những quyển sách ấy. Và, có rất nhiều quyển sách mang tính gây nghiện như thế, cũng có nhiều nhà văn rất giỏi trong việc đặt câu kết thúc ở cuối mỗi chương khiến bạn cứ muốn đọc chương kế tiếp. Việc đó làm tôi thực sự ngưỡng mộ các nhà văn.

Lớp học của cô Lasko ở New Jersey muốn biết: “Bạn chỉ viết về những kỉ niệm của bạn thôi, hay bạn có sáng tạo những ý tưởng, câu chuyện từ trí tưởng tượng của mình không?”

TS: Tôi lấy cảm hứng từ nhiều nguồn khác nhau. Đôi lúc, bạn biết đấy, từ chuyện một người bạn của tôi đang cãi nhau với bạn trai và tôi viết về những gì họ đã trải qua. Hoặc tôi xem được một cảnh hay tuyệt vời trong một bộ phim rồi tôi nghĩ: “Nếu như mình có thể viết được nhạc cho khoảnh khắc đó, giai điệu ấy sẽ vang lên thế nào nhỉ?” thế là tôi có ý tưởng cho bài hát mới. Và rồi cũng có nhiều trường hợp tôi viết các bản nhạc về những vấn đề trong mối quan hệ của chính mình.

Cody: Quá trình viết nhạc của bạn như thế nào? Bạn mất bao lâu để viết xong một bài hát, và bạn bắt đầu bằng cái nào trước, giai điệu hay lời? Rồi khi bạn kết hợp cả hai, bạn có bao giờ sửa đổi chúng?

TS: Quá trình viết nhạc của tôi mỗi lần mỗi khác nhau. Đó là lí do vì sao tôi rất vui khi viết nhạc bởi vì bạn luôn luôn không thể dự đoán trước bất cứ điều gì. Bạn không bao giờ biết cái nào sẽ đến trước. Và rất khó để giải thích bạn đã lấy những ý tưởng đó từ đâu. Bạn biết đấy, đôi lúc bạn có một ý tưởng tuyệt vời và bạn nói với mọi người, “Tôi không biết ý tưởng này đến từ đâu.” Đại loại thế, giống như có một đám mây nhỏ lơ lửng trước mặt bạn và có một ý tưởng ghi trên đó. Tôi thích nghĩ những ý tưởng này giống như mảnh ghép đầu tiên của trò chơi ghép hình vậy. Có thể tôi sẽ lấy được một mảnh ghép và tôi không biết nó sẽ trở thành câu đầu tiên của bài hát hay câu cuối cùng của bài hát hay một phần của đoạn điệp khúc hay có khi chỉ là một phần của đoạn hát đệm. Công việc sau đó của tôi là phải định hình được những mảnh ghép còn lại của trò chơi này, phải đặt chúng ở đâu và phải tạo ra bài hát hoàn chỉnh như thế nào từ ý tưởng nhỏ này. Tôi thường viết nhạc vào lúc bốn giờ sáng, hoặc lúc đi dạo trong sân bay, tôi có ý tưởng và cứ thế mà viết lời bài hát lên một cuộn khăn giấy. Chẳng ai biết trước được khi nào tôi bắt đầu viết một bài hát, bạn bè tôi cũng đã quá quen thuộc với cách tôi tóm lấy một ý tưởng nào đó. Nỗi lo sợ lớn nhất của tôi khi có ý tưởng cho một bài hát mới là tôi sợ mình sẽ quên nó đi mất, vì thế tôi thường hay thu âm lại giọng của mình trong điện thoại. Bạn bè tôi cũng quen với việc khi chúng tôi đang ngồi trong xe, họ đang nói không ngừng, không ngừng về ngày hôm qua của mình, rồi họ quay ra đằng sau và thấy tôi đang thu âm trong điện thoại của tôi, tôi lấy tay che miệng và hát nhỏ, rồi họ sẽ nói như thế này, “Cậu lại viết nhạc nữa rồi. Cậu nên cho tớ biết khi nào cậu sắp viết và tớ sẽ ngưng nói chuyện. Ổn mà.”

Cô từng nói rằng mình là fan của The Hunger Games (dành cho lứa tuổi từ 12 trở lên) và cô đã viết một số bản nhạc cho phim chuyển thể từ tác phẩm này. Vậy chúng tôi muốn biết cô làm thế nào để lời nhạc khớp với không khí của quyển sách và tâm trạng của nhân vật?

TS: Tôi đã viết hai bản nhạc cho The Hunger Games, một bài có tên là Eyes Open, một bài có tên là Safe and Sound. Tôi viết Safe and Sound chung với The Civil Wars. Khi chúng tôi ngồi lại với nhau để viết, chúng tôi đã bàn luận về việc làm sao để viết một bài hát diễn tả mối quan hệ giữa Katniss và Rue, chúng tôi cũng muốn bài hát này tượng trưng cho mối quan hệ giữa Katniss và Prim nữa. Vì vậy, bài hát phần nào giống như lời hát ru, phần nào giống như lời động viên: “Mọi chuyện sẽ ổn thôi. Em cứ nhắm mắt lại. Rồi sẽ ổn thôi. Chúng ta sẽ an toàn.” Mọi thứ diễn ra trong thế giới của The Hunger Gamesrất tàn khốc và tràn ngập bóng tối. Vậy nên chúng tôi muốn viết một bài hát đem lại niềm tin rằng vẫn còn khả năng ngày nào đó mọi thứ sẽ bình yên và họ có thể vươn mình đứng dậy từ trong bóng tối ấy. Thật thú vị khi viết dưới góc nhìn của một người khác, sống trong một thế giới rất khác với thế giới bạn đang sống, việc đó đã dạy tôi nhiều bài học quí giá.

Evelyn: Đến bây giờ, tổng cộng bạn đã đọc được bao nhiêu cuốn sách?

TS: (Cười) Ừm, 4522 quyển. Ôi không, tôi không biết nữa. Bạn biết đấy, dù bạn đọc bất cứ loại sách gì, bạn cũng sẽ nhận được một lượng kiến thức và nó sẽ ảnh hưởng đến bạn dù bạn có nhận ra hay không. Điều quan trọng là bạn đọc nhiều thể loại sách ở mức bạn có thể – những quyển sách cực kì ngắn mà khi bạn vừa đọc thì đã đến ngay kết thúc rồi, và những quyển sách dài kinh khủng khiến đôi lúc bạn cảm thấy thật khó khăn để đọc hết, rồi sách hư cấu, sách về những câu chuyện có thật. Nếu như bạn cứ tiếp tục đọc những loại sách khác nhau, bạn sẽ hình dung ra được thể loại mình yêu thích nhất là gì, khi đó bạn sẽ học được rất nhiều. Thật là một câu hỏi thú vị. Có lẽ tôi cần phải suy nghĩ kĩ lưỡng về việc này một khoảng thời gian dài và chắc là tôi sẽ không bao giờ tìm ra được câu trả lời thực sự. (Cười) Câu hỏi khó nhất của ngày hôm nay. Tôi tự hào về bạn.

Samantha: Cuộc sống của bạn đã thay đổi thế nào những năm gần đây, và bạn cảm nhận bản thân mình như thế nào?

TS: Samantha, bạn dễ thương quá, tôi thích bạn. Cuộc sống của tôi đã thay đổi rất nhiều sáu năm gần đây vì tôi phát hành album đầu tiên vào năm 16 tuổi, và một khi nhiều người biết đến âm nhạc của tôi, bạn cũng đoán được rồi đó, cuộc sống của bạn khi ấy sẽ thay đổi nhiều. Giống như là việc mỗi ngày bạn rời khỏi nhà, bạn biết rằng bạn sắp trò chuyện với rất nhiều người lạ. Bạn biết không? Khi bạn trưởng thành, bố mẹ thường dặn bạn điều gì?  Đừng nói chuyện với người lạ. Tôi cảm thấy phần nào phải thay đổi suy nghĩ đó bởi vì mỗi lần tôi rời khỏi nhà, tôi lại gặp được những người dễ thương, họ đến gần tôi và nói, “Tôi đã mua album này,” hoặc “Tôi thích bài hát này,” và “Chụp một tấm hình với tôi chứ?” Đó là một cách khác để sống cuộc đời của bạn vì bạn phải dự đoán trước những việc bất ngờ xảy ra. Đến cửa hàng tạp hóa có thể mất nhiều thời gian hơn, nhưng không phải chỉ vì việc đó mất nhiều thời gian hơn và bạn phải trò chuyện thêm với một vài người mà có nghĩa là bạn không thể sống một cuộc sống bình thường theo cách bình thường. Việc nổi tiếng thật phiền phức nhưng cũng rất vui. Tôi cảm giác mình vẫn sẽ là một người giống như bây giờ nếu tôi không nổi tiếng. Cuộc sống của tôi đã khác trước rất nhiều. Tôi có một cuộc sống rất, rất không bình thường nhưng tôi cảm giác việc gần gũi với gia đình giúp tôi vẫn là bản thân mình giống như thể bây giờ tôi đang học ở một trường đại học nào đó hoặc đang cố gắng tìm việc, bất cứ việc gì mà không phải là âm nhạc. Tôi nghĩ điều quan trọng là bạn nhận được sự ảnh hưởng tốt trong cuộc đời mình, cho dù ảnh hưởng đó là từ giáo viên, bố mẹ, bạn bè, chỉ cần là những người có phẩm chất tốt và thực sự ảnh hưởng đến bạn theo hướng tích cực, tôi nghĩ bạn nên gần gũi với những người ấy. Cảm ơn bạn rất nhiều vì câu hỏi này.

Clarissa: Khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong cuộc đời bạn là gì?

TS: Tôi sẽ kể bạn nghe câu chuyện về bài hát tôi đã viết có tên là Mean. Đó là bài hát tôi viết về một nhà phê bình. Khi bạn ra một album hoặc khi bạn trình diễn một tiết mục trên TV, tất cả những nhà phê bình đều viết những gì họ nghĩ. Đôi lúc họ rất tế nhị, nhưng đôi lúc thì không. Và tay phê bình này đã viết về tôi, hắn dùng những lời tồi tệ nhất, tàn nhẫn nhất. Đó chẳng phải là lời phê bình có tính xây dựng. Bạn cũng biết đấy, khi giáo viên dạy bạn nói rằng, “Em có thể làm cái này tốt hơn. Em có thể làm cái kia tốt hơn.” Không chỉ đơn giản là như thế. Điều đó có nghĩa là gã ấy hoàn toàn ghét tôi. Thế là tôi viết bài hát Mean để bày tỏ rằng điều đó đã làm tôi cảm thấy bất lực như thế nào, tôi cảm thấy như thể mình chẳng làm được gì hoặc nói gì để gã đừng chỉ trích tôi nữa. Khi bài hát ấy được phổ biến, nó đã trở thành một bản nhạc chống nạn bắt nạt, và có nhiều người hâm mộ gặp tôi nói rằng, “Bài hát này thực sự đã giúp em đứng vững trước nhóm bạn bắt nạt em ở trường.” Điều đó thực sự làm tôi xúc động. Tôi vô cùng tự hào khi bài hát đã trở thành nguồn động viên như thế khi nó chào đời thế giới này. Chúng tôi cuối cùng đã thắng hai giải Grammy cho Mean. Vậy nên tôi nghĩ đó là khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong toàn bộ cuộc đời mình. Cảm ơn bạn vì câu hỏi này. Bạn rất dễ thương. Và thân thiện nữa.

Hết.

Buổi giao lưu trực tuyến này được thực hiện vào tháng 10.2012. 

Chú thích thêm:

Romeo and Juliet: đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Romeo và Juliet
The Scarlet Letter:
đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Chữ A màu đỏ
The Giving Tree:
đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Cây táo yêu thương
The Hunger Games:
đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Đấu trường sinh tử
Harry Potter:
đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Harry Potter
To Kill a Mockingbird:
đã được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Giết con chim nhại

Kodaki
Dịch từ blog của NXB Scholastic


Bài viết có liên quan

viết bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Nỗi hổ thẹn trong văn học

Marina Endicott về lịch sử giáo dục cưỡng chế với những người Canada bản địa

Đăng từ

on

Người đăng

THE FUNCTION OF SHAME IN LITERATURE
Marina Endicott

Tại sao chúng ta nhớ mãi về một câu chuyện, hay một ký ức? Chúng ta thường ghi nhớ một cách tự nhiên những khung cảnh và hình ảnh ấn tượng bày ra ngay trước mắt, ghi dấu trên tảng băng nổi của ký ức. Tuy nhiên, một số khác lại ấn giấu sâu hơn trong những lớp nghĩa và sau đó, chúng mới từ từ trồi lên, như một miếng bạc cổ lấp lánh đang tự tìm cách bước ra ánh sáng. 

Đó là cái cách mà giáo viên piano thời thơ ấu của tôi kể câu chuyện của cô ấy. Những câu chuyện về tuổi thơ của mình, được chu du vòng quanh thế giới trên chiếc thuyền buồm của gia đình. Cảm giác hân hoan khi được nghe kể chuyện đến với tôi mỗi khi tôi được thưởng vì đã chơi tốt hay được dỗ dành sau mỗi lần cô giáo tức giận. Lúc tôi lười tập luyện (một việc xảy ra rất thường xuyên), việc đòi nghe kể chuyện về chiếc sừng kỳ lân biển đặt trên cây piano, hay về cây quạt Trăm Mặt1 nổi tiếng mà cha mẹ cô giáo được tặng trong chuyến hành trình trăng mật tới Trung Quốc là một cách hiệu quả để kéo dài thời gian tới lúc kết thúc buổi học.

Chân dung những con tàu được treo trên tường: con thuyền Belmont – Ánh rạng đông. Nhà của cô giáo giống như ngôi đền tôn thờ kỷ nguyên của những cánh buồm, được đong đầy những món đồ quý hiếm, những món đồ gốm sứ hay những vỏ sò vô giá, được mua hoặc thu thập trong suốt quãng thời gian phiêu lưu trên biển. Câu chuyện về đại dương của cô giáo tôi diễn ra chậm rãi theo từng nhịp tích tắc của thời gian trong căn phòng khách tối tăm, yên tĩnh.

Thế nhưng, cô giáo không kể với tôi chuyện mẹ cô đã mua một cậu bé tại vùng biển phía nam với giá 4 pao thuốc lá2. Tôi không biết về câu chuyện trên cho tới những năm 1990, khi mà (trong lúc đang mất tập trung vào công việc) tôi tra google tên cô giáo và trên màn hình máy tính hiện lên biểu tượng cái loa, vang lên ngắt quãng giọng nói quen thuộc của cô Ladd (tên của cô giáo) – một đoạn băng phỏng vấn trước khi cô mất tại Yarmouth, Nova Scotia.

Không biết bao nhiêu buổi chiều thứ ba tôi cùng cô luyện tập. Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy, người ta thường nói vậy; tuy nhiên với tôi, cô là một trong những giáo viên tuyệt vời nhất và giọng nói ấy của cô sao mà yêu thương, sao mà thân thuộc vậy.

Cho đến tôi được biết về câu chuyện của cô ấy, về chuyến hành trình trăng mật của cha mẹ cô:

“Trên hành trình cập cảng Trung Quốc… họ đã đi tới hòn đảo này và một chiếc xuồng tiến tới gần chiếc thuyền buồm. Những người trên xuồng là dân bản xứ với vẻ ngoài đáng thương và cha cho phép hai người trong số họ lên thuyền. Những thủy thủ đã thủ sẵn gậy gộc. Họ lên tàu, đi cùng họ có một cậu bé. Mẹ đã quá phấn khích và muốn cậu bé đó, bà nghĩ rằng sẽ có thêm nhiều điều thú vị cho chuyến đi. Và cha mẹ tôi đã mua cậu bé đó với 4 pao thuốc lá. Cậu bé không hiểu gì cả. Khi cậu thấy chiếc cầu thang, cậu ngồi cúi gằm đầu xuống và khoanh tay qua đầu gối. Và đương nhiên, cậu bé cũng không biết cách cư xử! Cậu cần được dạy dỗ.”

Mẹ của cô giáo dạy cho cậu bé đọc và viết tiếng Anh cùng một chút tiếng Latin; đầu bếp trên thuyền dạy cậu chữ tượng hình Trung Quốc. Cậu bé hẳn là một học sinh tiếp thu nhanh. Thật khó để nhớ chính xác cậu đã ở trên con tàu bao lâu – khoảng một năm; đoạn ghi âm chỉ nói rằng ở Thượng Hải, cậu bị cảm lạnh và bệnh tình trở nên nghiêm trọng hơn khi đi qua Horn. Khi họ tới New York, cậu bé đã nhiễm bệnh lao.

“Cậu bé ao ước có một quả dừa. Cha tôi cập cảng ở New York và tìm thấy một quả. Cậu bé chết vì bệnh lao, khi vẫn ôm chặt lấy quả dừa của cậu.”

Lắng nghe câu chuyện buồn này qua lời kể của cô Ladd thật sự là một cú sốc, hay là không: giọng đọc bình thản của cô dường như không cho rằng hành động của cha mẹ cô là sai trái, không có bi kịch nào ở đây – như thể cô chỉ kể câu chuyện về một con thú cưng mà họ từng nuôi.

Tài năng, quyết đoán nhưng mù quáng và ngạo mạn3, cô Ladd là sản phẩm của quá trình giáo dục và trưởng thành; mẹ cô ấy cũng thế, không có gì phải bàn cãi. Tôi cũng vậy. Câu chuyện đó khiến tôi cảm thấy xấu hổ, ẩn trong đó là mối tương đồng giữa tôi và những người đã bắt cóc cậu bé và để mặc cậu ấy chết.

Điều này thật sự quá quen thuộc. Nó khiến tôi cảm thấy hổ thẹn khi tôi sống với tư cách là một người Canada da trắng, hổ thẹn với những sai lầm mà lịch sử đã gây ra cho các em bé người bản địa.

*

Ở Canada, chúng tôi phải vật lộn nhiều năm để phơi bày và chấp nhận lịch sử của những trường học nội trú. Trong những hiệp ước ban đầu giữa người Canada bản địa và Hoàng gia (Chính phủ, hầu hết là người của Nữ hoàng Elizabeth), những lời lẽ được ghi ra thật ấm áp, pha trộn giữa niềm tin và tình yêu thương; các tù trưởng ký tên đã bị thuyết phục bởi niềm tin về sự quan tâm như từ mẫu của Nữ hoàng dành cho họ, bởi những hiểu biết và sự kính trọng mà các vị sĩ quan đàm phán dành cho Nữ hoàng. Thật khó để diễn tả chính xác nội dung hiệp ước, vì những chủ trương thể hiện qua ngôn ngữ yêu thương ấy bị xem thường bởi chính phủ Canada, cả khi đó tới tận bây giờ.

Một trong những thỏa thuận bị phá vỡ là trẻ em sẽ được hưởng sự giáo dục “bất cứ khi nào người da đỏ trong khu vực mong muốn được đi học”4 tại bất cứ trường học nào trong khu vực đó. Nhưng thay vì để họ được quyền lựa chọn, chính phủ Canada đã tập trung các em bé bản địa và giam giữ ép buộc tất cả trong những ngôi trường nội trú cách rất xa khu vực bộ lạc của bọn trẻ.

Đây là sự thực, theo ngài John A. Macdonald (nói trước Nghị viện năm 1883), việc phá vỡ nguồn gốc văn hóa và bản sắc của những đứa trẻ sẽ khiến chúng có những thói quen và phương thức suy nghĩ của người da trắng. Hệ thống trường học nội trú tại Canada đã tồn tại hơn 100 năm, và sự ảnh hưởng của nó đã tàn phá nhiều thế hệ.

Câu chuyện của cô Ladd ám ảnh tôi, như một vết sẹo bên dưới da. Tôi cố kiềm nén nó, rất thận trọng khi đối mặt với một câu chuyện nhiều đau buồn mà cũng quá nhiều sai trái. Và tôi không tin tưởng vào cái kết với “quả dừa” như thế.

Một vài năm sau, tôi tới New Zealand cùng với Tổ chức Thịnh vượng chung dành cho các nhà văn để phát biểu và làm hội thảo tại Tonga. Trong chuyến thăm, tôi đã gặp hàng trăm học sinh và làm quen với một vài em. Câu chuyện của cô Ladd một lần nữa hiện ra trong tâm trí tôi và lần này sẽ thật là hèn nhát nếu tiếp tục không nghĩ về nó.

Tháng trước, tôi có đọc câu chuyện về sáu cậu bé người Tonga bị bỏ mặc trên đảo ‘Ata trong 15 tháng vào năm 1965 – những đứa trẻ hoàn toàn không phải là “những Chúa ruồi trong đời thật”, như cái cách tờ báo The Guardian đã đặt tiêu đề. Những cậu bé Tonga này biết cách tồn tại ngay cả trong môi trường khắc nghiệt nhất, không có nước như đảo ‘Ata. Không giống Piggy và những người bạn, chúng hiện thực hóa định nghĩa về nền văn minh của Margaret Mead5 bằng cách cố định xương và băng bó thành công cho một cậu bạn bị gãy chân.

Sự sụp đổ của nền văn minh được xây dựng trong Chúa ruồi không hề xuất hiện trong cuộc sinh tồn của các cậu bé Tonga – điều này vốn là một giả định sai lầm. Bất cứ ai kể lại một câu truyện đều dựa trên những trải nghiệm của cá nhân, và đây là lý do quan trọng tại sao bạn không nên độc chiếm cái micro, không nên cố chiếm hữu mạch truyện: câu chuyện sẽ hay hơn nếu được tự kể bởi chủ nhân của chúng.

Thế mà, ôi thế mà, tôi lại bị thúc đẩy để kể về câu chuyện của Kay (chị gái của cậu bé người bản địa được mua với giá 4 pao thuốc bởi gia đình cô Ladd) và người em trai đã bị mua hay bị chiếm đoạt của cô, để kiểm chứng thông qua thực tế hoang đường về lý do một người phụ nữ tốt bụng (theo định nghĩa truyền thống) quyết định cướp đoạt cậu bé ấy khỏi gia đình, khỏi ngôi nhà của cậu; phải chăng những chuẩn mực đạo đức trong Kinh thánh hay niềm khát khao làm mẹ đột ngột thúc đẩy bà cướp đoạt một đứa trẻ với niềm tin mù quáng rằng bà đang thực hiện một hành động nhân từ. Với chủng tộc, giới tính, niềm tin và bổn phận làm mẹ của mình, có thể tôi sẽ làm một điều giống hệt nếu được sinh ra vào một thời điểm khác.

Tôi chọn nhìn vào đôi mắt của hai người phụ nữ, một già, một trẻ; một người phấn khích vì sự ngộ nhận đúng đắn trong hành động của mình, người còn lại bối rối vô định với những cảm giác về sự sai trái, tủi hổ. Tôi muốn phản bác lại những luận điểm của trường học nội trú – luận điểm vì tương lai tốt đẹp của lũ trẻ, vì những ý định tốt đẹp và nhân từ, và bởi giáo dục là cần thiết – để kiểm chứng những lý lẽ của người da trắng, những người tự nhận mình nhân từ và để bác bỏ chúng.

Đó là sai lầm nghiêm trọng, không thể tha thứ khi mang một đứa trẻ ra khỏi gia đình và đưa chúng tới những trường nội trú. Để tới được kết luận này, như tôi đã cố gắng, không thể có sự bao dung. Chỉ có sự bù đắp và hòa giải.

Sự hòa giải là như thế nào? Đối với Kay, hòa giải có nghĩa là đặt mọi thứ trở lại nơi chúng được tìm thấy. Thật cẩn thận sửa chữa lại những điều bị vi phạm. Cô ấy nghĩ vậy vì hai lý do: cô ấy hiểu được cô ấy cần phải hành động và cô ấy còn trẻ, còn ngây thơ. Có thể tôi cũng thế: nhưng tôi chắc chắn rằng chúng ta phải làm gì đó. Nó sẽ không bao giờ đủ nếu chúng ta chỉ ngồi im trong sự xấu hổ mà không hành động vì một điều tốt đẹp hơn.

Một hành động mà tôi cho rằng sẽ hữu ích là xem xét các sự kiện được cho là lịch sử. Một trong những giả định sai lầm của tôi, khi bắt đầu viết cuốn sách này, đó là cho rằng những ghi chép lịch sử này có cơ sở vững chắc. Đó quả là một cú sốc cần thiết để tôi nhận ra, dù muộn màng, rằng “ghi chép lịch sử” chẳng có gì hơn những ý kiến cá nhân của hai hoặc ba người, và chẳng có cơ sở nào cả.

Ngay cả khi chúng ta nhìn lại thời điểm khi mà cậu bé bị đem ra trao đổi với thuốc lá, chẳng có ai giải thích được làm sao người dân bản địa họ hiểu và diễn dịch giao dịch đó, làm sao họ có thể giải thích nó bởi rào cản ngôn ngữ và phong tục địa phương – và cả những khái niệm cơ bản về một cuộc trao đổi.

Ký ức là một nguyên liệu quan trọng cho những câu chuyện hư cấu, nhưng nó có thể bị thay đổi. Ký ức của tôi về phòng khách của cô Ladd, về hai cây đàn piano được bao quanh bởi những di vật vô giá và hào nhoáng, bởi sự im lặng và âm nhạc, đã bị ghi đè lên bởi vẻ đẹp nguyên thủy của vùng Thái Bình Dương và bởi những cậu bé Tonga mà tôi được gặp, được chào hỏi và được cười đùa cùng. Khi viết những tiểu thuyết lịch sử, nếu không được trải nghiệm thực tế, chúng ta có thể tạo ra ký ức không chỉ bằng những văn bản (nhật ký, ghi chú, thư từ, danh sách hay hải trình của thuyền) mà còn bằng cách lắp ráp những chi tiết nhỏ có ý nghĩa: những bức ảnh hay bức vẽ, bản thiết kế, quần áo, các mảnh vụn từ thân cây, tủ chén hay gác mái của các căn nhà cổ.

Ở một khía cạnh nào đó, câu chuyện của cô Ladd đã thật sự thuộc về tôi, vì tôi biết rõ những món hiện vật của cô ấy, nhờ bảy năm thời gian ngồi trong phòng khách của cô, hay nhìn chằm chằm vào chiếc sừng kỳ lân biển trong khi cô Ladd đang say mê với câu chuyện mà tôi đã cố gắng kéo dài hết mức có thể, để tránh phải học nhạc Barcarolle6, thể loại mà tôi chưa từng tập luyện bao giờ.

Cuốn sách của tác giả: Hành trình trên chiếc thuyền Ánh Rạng Đông

Hết.

Bún Cứng dịch

Bài viết gốc được thực hiện bởi Marina Endicott, đăng tại Literary Hub

Chú thích:

  1. Nguyên văn “Hundred Faces” – Nhăc tới nghệ thuật Biến diện/thay mặt nạ vốn rất nổi tiếng của Trung Quốc.
  2. Khoảng 2kg.
  3. Nguyên văn “superior” – Dịch giả hiểu là sự tự cho mình là bề trên, là đẳng cấp cao hơn bình thường.
  4. Nguyên văn “whenever the Indians of the reserve shall desire it” – trích trong quy tắc số 6 trong hiệp ước giữa người bản địa Canada, bao gồm người da đỏ Anh điêng, và Hoàng gia năm 1876; quy định về quyền được đi học của người dân bản xứ
  5. Margaret Mead (1901-1978) – nhà nhân chủng học nổi tiếng người Mỹ, nổi tiếng với nhiều nghiên cứu, nhiều học thuyết về nhân chủng học, văn hóa.
  6. Một phong cách nhạc dân ca hay được hát bởi những người chèo thuyền đáy bằng tại Venice, Ý.

Đọc bài viết

Trà chiều

Ba bước đơn giản để luận bàn về một tác phẩm văn chương theo kiểu nouveau riche

Đăng từ

on

Người đăng

Cả thế giới đang hướng về một thế giới với những binh đoàn hợp chủng quốc nouveau riche ngang tàn và bạo sát và giương cờ khởi nghĩa. Họ quét qua những nẻo đường miễn là nơi đó có tri thức, họ đánh sập những hệ thống giáo điều và nghiên cứu dài lâu của Friedrich Nietzsche, Martin Heidegger,… để thốt lên những điều thâm sâu, có khi vô lý nhưng rất thuyết phục (với đại đa số chúng ta, nên họ được tung hê ở mọi nơi mọi lúc, nhất là trên phiếc-búc lúc chờ trà hãm), về cuộc đời, về tồn tại và lời nào là hiện sinh lời đó. Lời nào là thấy cảm động đến tận tâm can lời đó, khiến ai nấy cũng đều vỗ tay thán ngạc không thôi, ai nấy cũng đều thấy mình cần phải làm gì đó để sánh vai với những đại nouveau riche đó. Thế là họ quên thân cống hiến cho đội quân bằng những triết lý và lời lẽ riêng (mới lượm lặt được) của mình như ngày ấy sử ta viết ông Nguyễn Trãi dâng Bình Ngô sách, còn bây giờ họ không cần nhiều nhời như thế, chỉ cần like, share, subscribe là đã thật dụng công rồi. Những diễn ngôn của họ làm lay động hàng triệu thính giả (nhất là những nouveau riche khác) bằng cách như thế đấy, điều mà Carl Jung có mãi thăm dò trong tiềm thức hay Albert Camus tìm hết đời mình xem liệu cuộc đời vô lý đến chừng nào thì cũng chẳng thế nào có được số lượng tín đồ hùng cường đến thế.

Đến đây, có lẽ quý vị độc giả không hiểu rằng liệu tên nhãi tác giả đang huyên thuyên về cái gì thế này, nươ-vồ rít-che là gì mà ghê gớm? Có phải là tên một bọn buôn thịt bán người lai phối cùng hội giải cứu niềm tin đổ vỡ tuổi mười nhăm hay không. Thưa rằng, chẳng được huy hoàng như thế. “Nouveau riche” tiếng Pháp dịch ra tiếng ta chỉ một tầng lớp quý tộc mới nổi với xuất thân là nhà nghèo, nhờ các biến chuyển xã hội thời đại mà giàu có lên. Hiểu nôm na, một cái thùng rỗng, một ông-nghè-chưa-đỗ-đã-đe-hàng-tổng, một trưởng giả, một nhân vật hát dở tuồng lâu. Nghe có vẻ chướng tai gai mắt, thế thì tại sao nhiều người lại cố gắng đi theo dòng chảy của nouveau riche đến như vậy? Câu trả lời nằm trong chính định nghĩa mà tôi đã sơ sài kể cùng quý bạn, những biến chuyển thời đại. Ta đang sống trong một thời đại tri thức kiệt cùng, tri thức khắp mọi nơi nài nỉ người tri nhận, tri thức có mặt trong tất cả những gì quý bạn thấy, ăn, ngửi, thậm chí là cảm giác sâu thẳm nhất trong con người của chúng ta, từ thời hang đá ở lùm đến ở skycraperspenthouse. Ta được “văn học” và văn hóa đại chúng quét qua người từng giây từng phút, tâm hồn ta rộn rã và tràn ngập tiếng chim ca như thi sĩ Tố Hữu. “Văn học” đó đến với ta dưới nhiều dạng thức: những tản mạn, tùy bút, tùy tiện bút, bán phóng sự bán tự sự,… của những nhân vật thành đạt post lên trang cá nhân của mình, những chia sẻ tuổi thầm kín của một cô ca sỹ nhạc dance về nhân sinh quan, của một f-boy về hoa và nhà chùa. Điều đó kết nối những tâm hồn nhạy cảm với nhau, trên cái sân chơi cyber-world, với ước muốn đem những cảm xúc riêng tư của mình sục sạo tìm những tâm hồn đồng điệu (nếu đồng điệu hãy like, thả tim, bình luận). Làm nouveau riche đồng nghĩa với việc hóa bản thân mình thành một tập đoàn tảo lục hùng mạnh, chăm chút cho sự thông minh có hạn của nhau, cùng nhau thỏa mãn với kiến thức của mình, đặc biệt, phù phiếm cảm xúc cùng với nhau.

Bao nhiêu đặc quyền của việc trở thành một nouveau riche tôi chỉ nói được có thế, trong dung lượng của bài. Vậy, nếu đủ mẫn cán và dụng công, quý bạn sẽ có cơ hội trở thành một quý tộc mới ngay trong những status tới trên wall nhà mình. Sau đây, trong khuôn khổ của một trang tin về sách báo chí, tôi xin mạn phép giới thiệu những bí quyết vỡ lòng để trở thành một nhân vật bất hủ trong thời đại hôm nay chỉ với những phương pháp viết luận những tác phẩm văn chương (điểm sách, review sách, PR sách, tham gia thi cảm thụ sách,… thậm chí rất hữu dụng để viết nghị luận văn học trong chương trình phổ thông từ lớp 6 đến lớp 12) mà bạn có thể áp dụng ngay trong lần tới.

1. Trích dẫn những tác phẩm – tác giả thật hàn lâm và xa rời chủ đề

Đừng bao giờ quên rằng, cách để mọi người biết mình là một nouveau riche qua những bài luận là có những kiến thức thâm sâu và uyên bác bậc nhất về văn học, nền văn học, tác giả, phong cách sáng tác,… Nhưng chẳng có ai dư dả thời gian để tới nghe bạn trình chiếu powerpoint về Vladimir Nabokov hay một cái ông đã chết lẩu lâu. Trích dẫn không ngừng nghỉ vào trong bài viết của quý bạn là một giải pháp toàn vẹn cả đôi đường. Nhiều khi bạn không cần đọc Ulysses để trích dẫn James Joyce, hãy search chúng, và đặt cốt truyện cùng những chương văn xuôi cách điệu và sáng tạo của văn hào Ireland kia vào trong bài của bạn. Thật sáng tạo và nhiều tri thức làm sao! Bạn đã tạo ra trong tác phẩm của bạn những gương mặt có máu có me trong làng văn và chắc chắn ai ai cũng ngưỡng mộ, dù phần lớn, sẽ tra xem đó là ai, ngoài tác phẩm được trích còn có gì, hoặc tra thêm bút pháp, rút gọn nhất có thể, vừa thời gian uống một cốc latte.

Cũng đừng ngần ngại rằng liệu những tác phẩm mà quý bạn đem vào thực sự nó có giúp ích, nâng cao hay thậm chí, chỉ là minh hoạ cho chủ đề, cuốn sách bạn đang nói về hay không. Tin tôi rằng, nếu ngoan tay một tí, tất cả những cuốn sách trong cuộc đời này đều liên quan tới nhau, đều là những câu chuyện phiếm không đầu không cuối góp trong một lần nhiều chuyện trong chợ lúc giã giề. Hãy dùng Paulo Coelho mà nói về Finnegans Wake (nhân tiện, thì Happy Bloomsday!), một người thật mainstream và một văn nhân thập cổ lai hi chẳng ai thèm đọc ư? Chẳng sao cả.

Hãy sưu tập những cái tên nổi tiếng ngay bây giờ để trích dẫn vào bài viết của mình, dù chỉ sẽ dùng như là những cái tên sau ngàn dấu phẩy liệt kê để dẫn nhập vào tác giả mà mình muốn nói. Giả dụ, Mỹ-La tinh sao có thể bỏ qua Jorge Luis Borges, Gabriel Garcia Marquez. Đông Âu làm sao quên László Krasznahorkai, Bruno Schulz,… Ứng với đó, Borges có Cuốn sách cát, Khu vườn những lối đi phân nhánh, Mê hồn trận; Marquez làm sao quên Trăm năm cô đơn, Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, Tình yêu thời thổ tả; László Krasznahorkai rối rắm với Nỗi buồn kháng cự (thêm phim của Bela Tarr nữa thì còn gì bằng), Chiến tranh và chiến tranh trong khi Schulz có Những cửa hiệu quếPhố cá sấu.

Nhưng hãy chú ý rằng, đừng bao giờ đem những cái tên mà những người khác đã đem vào hàng trăm lần rồi, nhưng cũng đừng vận công vào những nhà văn chẳng có ai biết. Ernest Hemingway, Lev Tolstoy, Honore de Balzac, Truyện Kiều, Vội vàng là lựa chọn phù hợp, nhưng không phải lúc nào cũng an toàn.

2. Rước cho mình một giọng văn như nhà phê bình chán đời và khó tính

Dù quý bạn khó tính hay không khó tính, dù quý bạn có nhìn đời bằng màu hồng hay màu mực, khi muốn tỏ ra là một người giàu kinh nghiệm, hãy tỏ ra khó nhằn. Tại sao lại như thế, việc tung hê ai đó một cách sỗ sàng thường được gán cho vài tính từ hạ bệ kinh khủng đối với người viết: bợ đít, níu váy,… Và dĩ nhiên các nhà nouveau riche không hề thích thú làm gì việc đó. Nên dù khi đối mặt với một trang văn không tì vết và hợp gu đến lạ lùng (đó là tôi khi đọc Friedrich Durrenmatt) thì đừng có mà suồng sã khen một cách tới tấp. Hãy học cách Joseph Conrad giải mã chậm và ẩn ý, bằng việc phân tích một cách lớp lang: tổng, phân, tích, kết. Hãy chê bai thứ gì đó, ví dụ chê đời sống tình dục và phàm ăn tục uống của ông Balzac khi chẳng còn gì để chê (hoặc sợ chê sai), hoặc nếu khó khăn để bới móc, hãy lôi ai đó vào, và chê bai chép miệng, như một người bạn thân thiết biết rõ từng tính nết của gã ta (nhà văn, nhà thơ,…).

3. Dùng những ngôn ngữ lạ lùng

Đó không phải là những dạng thức teencode vung vãi trên từng dòng tin nhắn của quý bạn trên mạng xã hội khi muốn người khác nhìn bạn với tất cả sự dễ thương và hóm hỉnh, đó chính là những thuật ngữ khoa học chính cống và rất mang sức đánh động. Dù có hơi khó khăn để nhớ vì rối rắm, hãy rước cho mình những câu từ quý phái để làm một nhà bình phẩm chính cống: sự nới lỏng tổ chức (looseness of association), hiện thực thậm phồn (hyperreality), rễ chùm (rhizone),… Có vô vàn thuật ngữ sang trọng để quý bạn cho vào trong bài viết của chính mình để mà tô điểm. Dù đó là một công trình nghiên cứu rất cật lực và từ ngữ mang nhiều sắc thái và luận đề, hãy cứ bỏ nó vào một tình tiết hay nghệ thuật nào đó bất kỳ, vì thật may mắn làm sao, tất cả những ngôn từ, bình dân đến bác học, mới phù phiếm và tự do vận động đến bất ngờ. Một số cuốn sách nên đọc với lượng từ khổng lồ để sưu tầm là Văn học hậu hiện đại (Lê Huy Bắc), Cấu trúc thơ (Thụy Khuê), Triết học của tự do (Nikolai Alexandrovich Berdyaev),…

Không chỉ thế, thật ấn tượng làm sao nếu bạn đã đọc bản gốc của tác phẩm và trích nó lại bằng chính ngôn ngữ của nó. Thậm chí trích luôn D. H Lawrence, T.S Eliot hay Charles Dickens bằng tiếng Pháp thì chẳng ai phàn nàn gì, mà chỉ thấy ôi, sao mà giỏi thế!

Có rất nhiều bí kíp để thực hành làm một nouveau riche đúng điệu qua từng lời nói và bài viết của bạn, về văn học nói riêng và cuộc đời nói riêng. Việc mua những cuốn sách của Paul Valery hay Wittgestein và chẳng hiểu gì thật là trác tuyệt, việc cặp kè Franz Kafka và thảo luận liên hồi về kafkaesque, iceberg theory, lost generation,… mới hiểu biết làm sao, việc coi Bắt trẻ đồng xanh (J. D. Salinger) và Bay trên tổ chim cúc cu (Ken Kesey) là tuyên ngôn đi tìm chính mình của quý bạn thật sâu sắc nhường nào. Đó là lúc bạn đã trở thành một nouveau riche vang dội.

(Bài viết vận dụng những bí kíp chia sẻ, dù tác giả chẳng mặn mà gì mấy.)

Hết.

Gia Bin


Xem tất cả những bài viết của Gia Bin tại đây.


Đọc bài viết

Trà chiều

Thật tâm mà nói, cổ tích là một dạng tiểu thuyết trinh thám

Khám phá thế giới tăm tối và dị dạng trong những câu chuyện cổ tích kinh điển.

Đăng từ

on

Người đăng

FAIRY TALES ARE REALLY JUST HARD-BOILED CRIME
Steph Post

Những điều tồi tệ vẫn luôn xảy ra trong truyện cổ tích. Cho người tốt. Cho kẻ xấu. Cho bọn rồng, lũ phù thủy, các cô công chúa và những đứa trẻ bẳn tính. Thông thường, những câu chuyện này sẽ có kết cục viên mãn: chàng trai lấy cô gái, cô gái trả được thù, vương quốc bỗng choàng tỉnh, người nông dân không bị xơi tái mà tiếp tục sống cuộc đời khốn khổ của mình. Nhưng để có được cái kết đầy viên mãn trên, trước tiên một số tội ác phải diễn ra. Đó có thể là sự bội phản đầy tính sử thi, chẳng hạn như ngoại tình hay tội giết trẻ con; nhưng cũng có thể là những tội nhỏ: xâm nhập trái phép, trộm cắp vặt hay các hành vi gây rối trật tự. Và sau đó là những kẻ biến thái, những trường hợp loạn dâm với súc vật, ái tử thi và những thứ tương tự như thế.

Tiểu thuyết trinh thám thời nay không thể so bì với sự tài tình, tàn bạo và đơn giản chỉ là kỳ quái của những hành vi phạm tội trong các câu chuyện cổ tích thời xưa. Hơn thế, cổ tích thường tàn nhẫn. Tiểu thuyết trinh thám hiện đại độc chiếm tình thế nước đôi về mặt đạo đức, trong khi cổ tích không hề có chút nhân từ với kẻ ác và cũng không ban phát sự cứu chuộc. Khoan dung không phải là điều thường thấy trong dòng văn học này, và thậm chí nàng hầu gái tử tế nhất – một khi đã lột xác thành công chúa – thì cũng chẳng ngại ngần loại bỏ bà mẹ kế độc ác của mình.

Gạt sang một bên các bà tiên đỡ đầu, những chú yêu tinh tốt bụng, những cái cây ma thuật và bộ xương biết hát, tất cả những gì còn lại là một loạt các tội ác tàn nhẫn như thể chúng ra đời từ tiểu thuyết của Raymond Chandler hay Patricia Highsmith, của Agatha Christie hay Michael Connelly và những tác giả tương tự. Dưới đây là một trong số những câu chuyện yêu thích mà tôi thu thập từ khắp thế giới.

“Cô con gái giết chết cả nhà bằng hộp sọ rực lửa nhưng không bị bỏ tù

Gần đây, tôi đã khám phá ra gia tài cổ tích dân gian xứ Slavic và bị ám ảnh bởi những câu chuyện về Baba Yaga. Trong số đó, phổ biến nhất là câu chuyện Nàng Vasilisa xinh đẹp. Trung thành với khuôn mẫu cổ tích, Vasilisa là người tuyệt đẹp, cần cù và là cái gai trong mắt nhân vật mẹ kế và con gái riêng của mụ. Họ cố trù dập nàng bằng cách sai nàng đến nhà Baba Yaga, mụ phù thủy trong rừng sâu, để tìm một ngọn đèn. Vasilisa hoàn hảo đến mức Baba Yaga không thể làm gì được nàng, và thay vì hãm hại bằng cách nhai ngấu nghiến nàng, bà đã gửi nàng trở về nhà cùng với một hộp sọ đầy lửa. Khi Vasilisa chìa “ngọn đèn” như người mẹ kế yêu cầu, nó đã thiêu sống mụ ta và cả hai đứa con gái riêng, thiêu rụi luôn cả ngôi nhà. Mặc dù vậy, giống như cách Daenerys Targaryen đã thoát khỏi giàn hỏa thiêu với rồng thiêng, Vasilisa sống sót qua trận hỏa hoạn, bình an vô sự và cuối cùng kết hôn với một vị vua.

“Đứa trẻ bị bỏ rơi giết một bà già bằng cách nướng sống bà ta”

Tất nhiên, đây là câu chuyện Hansel và Gretel từ tuyển tập truyện kể của anh em nhà Grimm. Câu chuyện này có tất cả mọi thứ: từ người mẹ kế ác độc, những đứa trẻ bị vứt bỏ rồi vì lòng tham mà lạc trong rừng, ngôi nhà làm từ bánh kẹo ăn được, và mụ phù thủy không-được-sáng-trí-lắm cuối cùng cũng bị trừng trị. Trong truyện cổ tích, phụ nữ ít khi nhận được tiếng thơm; họ thường bị phán xét là thụ động, một thứ huân chương vô tri để nam giới rước về nhà, và thường thì phán xét trên là đúng. Nhưng những cô gái chưa kết hôn lại có một số lượng đáng kinh ngạc những ý tưởng. Họ sống sót nhờ trí thông minh, và Hansel và Gretel là ví dụ hoàn hảo cho sự xảo quyệt của những cô gái trong truyện cổ tích. Trong khi Hansel bị nhốt trong cũi chờ vỗ béo cho bữa ăn tối của mụ phù thủy, Gretel đã lừa được mụ vào trong lò, nơi mụ bị thiêu cháy thành than ngay lập tức. Gretel có những ngày đầy hạnh phúc trong ngôi nhà đầy kẹo.

“Nàng công chúa mất ngai lợi dụng ngựa chết để trả thù tình địch”

Sẽ rất khó để chọn ra câu chuyện cổ tích Grimm nào được tôi yêu thích nhất, vì có đến hơn hai trăm lựa chọn, nhưng nếu bắt buộc phải lựa chọn, tôi sẽ chọn Cô gái chăn ngỗng (The Goose Girl). Nó vừa bệnh hoạn lại vừa kỳ dị đến đáng sợ, và chắc chắn không phù hợp cho trẻ em. Chứng tự hại, lời tiên tri bằng giọt máu, con ngựa bị chặt đầu và các hình thức tra tấn thời trung cổ đầy rẫy từ đầu đến cuối. Nó là một câu chuyện quanh co, nhưng về bản chất, nó kể lại những thử thách của một nàng công chúa bị ả hầu gái ép buộc phải đổi chỗ với ả trên đường đến lễ cưới của mình. Vua cha bị lừa, nàng công chúa thật cuối cùng biến thành người chăn ngỗng và tâm sự với một cái đầu ngựa đã chết. Bất ngờ thay, cái đầu ngựa đáp lời cô và cuối cùng tiết lộ về kế hoạch đào mỏ của ả hầu. Sau đó, ả công chúa giả mắc mưu nhà vua và vô tình chọn hình phạt cho chính mình – bị lột trần truồng, bị nhồi vào một cái thùng rượu đính đầy đinh và lăn lông lốc xuống một ngọn đồi – trong khi đó nàng công chúa thật nhận lấy vị trí xứng đáng của mình và trở thành nữ hoàng của vương quốc. Nếu đây không phải là một câu chuyện lá cải phù hợp với một cuốn tiểu thuyết trinh phám, thì tôi không còn biết nó còn có thể là gì nữa.

“Tay nghiện cờ bạc tham gia bắt cóc trẻ con với gã khổng lồ đáng sợ

Trong truyền thuyết của người Nepal, Gurumapa là một gã khổng lồ nanh nọc gớm ghiếc, thu thập những đứa trẻ không vâng lời cha mẹ. Trong câu chuyện Kesh Chandra, ta bắt gặp một lão già bị đuổi khỏi nhà chị gái mình sau khi lão không thể ngừng đánh bạc, đến mức lão đánh cắp dao nĩa của bà để bán và nuôi thói quen đánh bạc. Lão lang thang ở Kathmandu một thời gian, cho đến khi một vài con chim bồ câu thương hại và biến chất thải của chúng thành vàng. Cái loài chim này vốn khoái ị nên dĩ nhiên, có rất nhiều vàng. Kesh trở nên tham lam và đòi hỏi phải có tất cả số vàng trước mắt. Ông ta thuyết phục Gurumapa – một gã khổng lồ hung dữ, chuyên ăn thịt người đang tình cờ lang thang gần đó – khiêng tất cả chỗ vàng hộ lão và hứa sẽ tổ chức cho y một bữa tiệc thịnh soạn. Kesh Chandra cũng nói với người khổng lồ rằng y được phép bắt cóc bất cứ đứa trẻ bất tuân nào trong làng. Kẻ nghiện cờ bạc ấy được Gurumapa cho vào nhà và sống trong căn gác mái khổng lồ, miễn là lão đặt điều cho những bậc cha mẹ trong làng khi bọn trẻ đi học và không trở về. Đó là một giao kèo không tưởng và hai bọn ấy trở thành cặp đôi hoàn hảo: Kesh tha hồ tận hưởng đống vàng và thói nghiện cờ bạc, trong khi Gurumapa đánh chén đám trẻ con thỏa thê.

“Bà mẹ tự tử sau khi con gái riêng được ban phước bởi những cái đầu biết nói, thất vọng về chính đứa con ruột của mình

Chết vì tự tử là tội ác thực sự duy nhất trong câu chuyện kỳ ​​lạ Ba cái đầu bên giếng nước (The Three Heads of the Well), nhưng trong thời đại hiện nay, khi tồn tại rất nhiều bậc cha mẹ quá tham vọng, tôi nghĩ câu chuyện này vừa thích hợp mà vừa lạ lùng đến khoái chá. Đúng như dự đoán, trong câu chuyện có một vị Vua cha, một bà mẹ kế, một cô em kế và dĩ nhiên là một cô con gái với bà mẹ đã mất – cô sẽ bước chân hòa nhập với thế giới để tìm kiếm vận may, tránh xa khỏi cái gia đình phiền toái này. Cô đối xử tử tế với một ông lão, và để đáp lại ân huệ này, ông khuyên cô đến thăm một cái giếng nơi có ba cái đầu, vâng, đang chờ đợi ai đó gội đầu chải tóc cho. Sau khi làm đúng như thế, ba cái đầu ban cho cô những món quà kì diệu: sắc đẹp, giọng nói tuyệt vời và ngôi vị hoàng hậu. Khi rời khỏi giếng, cô tình cờ chạm mặt đứa Vua xứ khác. Bị quyến rũ bởi vẻ đẹp và giọng nói của cô, chàng ngay lập tức kết hôn với cô. Bấy giờ, người mẹ kế khi nghe tin này đã gửi con gái của mình đi và đinh ninh rằng cô ta sẽ phù hợp với đức Vua hơn. Cô gái này tuy thế lại thô lỗ với ông già và ba cái đầu; từ đó họ khiến cho cô bị hủi, giọng nói khiếp đảm và kết hôn với một anh thợ sửa giày. Người mẹ kế tị hiềm khi nghe tin này liền phát điên và cuối cùng treo cổ tự vẫn. Câu chuyện kết thúc với việc Vua cha ăn mừng cái chết của người vợ tàn độc và sự xấu xí của con gái riêng. Eo ôi.

“Người đàn ông ăn cắp vịt, mọc lông và bỗng dưng thích bị ngược”

Câu chuyện kỳ lạ này đến từ Trung Quốc, ngắn gọn và xoay quanh một tội ác đơn giản. Trong Tên trộm vịt (Theft of a Duck), một người đàn ông đã ăn cắp một con vịt từ người nông dân nọ. Sáng hôm sau, y thức dậy và phát hiện ra mình đã mọc lông khắp người trong đêm. Nó ngứa kinh khủng nhưng trong đêm kế tiếp, y mơ thấy mình sẽ được cứu rỗi nếu y sang nhà người nông dân và nhờ anh ta gọi mình bằng từ ngữ miêu tả đúng những gì y đã làm: một “tên trộm bẩn thỉu”. Ngày hôm sau, y đến gặp người nông dân và cố gắng lừa anh gọi một người hàng xóm khác là một “tên trộm bẩn thỉu”. Thế nhưng mánh lới này thất bại vì người nông dân không muốn trở nên xấu tính như vậy. Cuối cùng, gần như tuyệt vọng, tên trộm xé áo phô ra lông vũ và cầu xin người nông dân gọi anh ta là một tên trộm bẩn thỉu. Người nông dân là một người tốt, thương hại và mắng mỏ cho đến khi đám lông biến mất.

“Kẻ mắc chứng nói dối phản bội cha, trở thành nạn nhân của nạn buôn người và giả chết

Pinocchio. Khi còn là một đứa trẻ, tôi không chắc giữa PinocchioDumbo, bộ phim Disney nào làm tôi kinh hoàng hơn. Tôi nghĩ tôi đã cố ý xóa bỏ phần lớn ký ức về phiên bản của Disney, nhưng khi trưởng thành và đọc nguyên bản tiểu thuyết dài kỳ Pinocchio, tôi mới nhận ra rằng câu chuyện cổ tích Ý này thực sự đáng lo ngại đến mức nào. Chúng ta đều biết cốt truyện cơ bản từ bản hoạt hình: con rối gỗ, người cha tốt bụng, nàng tiên xanh và dế Jiminy, những mong muốn hão huyền. Nhưng sau đó, tôi lại thấy Pinocchio nói dối, giết chết chú-dế-kiêm-người-dẫn-đường, chạy trốn khỏi nhà, bị lừa và nhốt vào một chương trình múa rối kỳ cục tại một “hòn đảo khoái lạc”, bị một con cá voi nuốt chửng, phát hiện ra người cha từng bị cá voi nuốt chửng, cuối cùng chết và sau đó sống lại như một bé trai thực sự. Và đó là phiên bản của Disney! Trong bản gốc, Pinocchio thậm chí còn giống một tên đần hơn. Con rối độc ác không chỉ nói dối, lừa gạt, lừa đảo; mà còn hành hạ động vật, bạo hành thể xác Geppeto, và là một thằng khốn toàn diện – ngay cả khi mọi người tiếp tục cho hắn cơ hội lần hai. Pinocchio sau chót là kẻ trơ tráo: giả chết, chơi trò con rối để có được sự đồng cảm, đam mê mọi thứ từ uống rượu đến đánh bạc để lừa những con rối khác. Nói tóm lại, Pinocchio là hỏa ngục của tội ác và tội lỗi. Nhưng đặc biệt là cuối cùng, Pinocchio hoàn toàn không phải chịu hậu quả cho những hành vi của mình.

*

Và sau đó, ta còn có có Bạch Tuyết và bảy chú lùn (hiếp dâm), Rapunzel (giam giữ trái phép), Công chúa ngủ trong rừng (đột nhập và xâm nhập), Râu xanh (giết người hàng loạt), Cô bé quàng khăn đỏ (bạo hành động vật), Chàng rể tương lai (ăn thịt đồng loại) và Cây đỗ tùng (lạm dụng trẻ em) – và tất cả đều chỉ giới hạn trong những câu chuyện của anh em nhà Grimm. Hỡi các nhà văn, nếu bạn có bao giờ cần cảm hứng cho cốt truyện trinh thám thì không cần tìm đâu xa ngoài những câu chuyện cổ tích mà tất cả chúng ta đều lớn lên cùng. Tất cả những tội ác muốn có sẽ luôn ở đó, ngay sau những cái kết hạnh phúc viên mãn nhất.

Hết.

minh. dịch

Bản gốc được thực hiện bởi Steph Post và đăng tại CrimeReads.


Những bài viết có cùng chủ đề cổ tích




Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!