Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Đời du nữ – Câu chuyện của một ả đàn bà nghiện đàn ông

“Cho dù tôi đã sống cả đời trong thế giới này với thân phận du nữ, nhưng không vì thế mà tôi kết thúc đời mình với trái tim vẩn đục”

Đăng từ

on

Chi tiết tác phẩm

Câu chuyện về các nàng kĩ nữ, dù là cổ đại hay hiện đại, thường được khai thác dưới hai góc nhìn: hoặc là những cô gái đoan trang vì bi kịch nhất thời mà phải đưa chân ngọc nhúng chàm đen, rồi thân xác bị vùi dập trong phấn trắng son đỏ; hoặc về những người phụ nữ tham vọng, sử dụng nhan sắc để khống chế đàn ông đu đưa như con rối vô tri vô giác. Phần lớn người Á Đông vẫn không chấp nhận việc đàn bà bị khống chế bởi chữ “dục”, vậy nên kĩ nữ – biểu tượng của nhục dục và sa đọa – cứ thế mà được thi ca hóa.

Thế mà, từ nước Nhật xa xôi và phù phiếm, Ihara Saikaku đã gián tiếp cười dài khi khắc họa một nàng du nữ (kĩ nữ) hoàn toàn trái ngược với hai hình mẫu trên. Thoạt tiên, số phận nàng cũng có những bước đường sa cơ lỡ vận.

“Xuất thân từ một gia đình tử tế, nàng làm thị nữ cho một phu nhân ở triều đình. Nhưng sau đó bị đuổi đi vì tội vụng trộm tình ái lúc mới 12 tuổi.

Không bao lâu, gia đình nàng sa sút, nàng bị bán vào ‘thành phố không đêm’ Shimabara ở Kyoto.”

“Shimabra chính là một Yukaku (du quách), ở đó bắt đầu cuộc đời lưu lạc khắp xứ của người đàn bà đa tình. Nàng lần lượt là du nữ, là tình nhân của một nhà sư, là thầy dạy viết thư, hầu phòng, hầu gái, ca nữ, gái nhà tắm, trà thất và khi xuống tận đáy, làm cả gái điếm đường.”

– Trích chương 1, Saikaku và thế gian đa tình.

Nàng du nữ này không “bán mình vì số phận”. Nàng say sưa thú vui nhục thể đến mê loạn, đến ám ảnh, đến tình nguyện để chữ “sắc” nuốt trọn tâm trí. Nàng như một con nghiện thuốc không ngừng tìm cách cai, nhưng ngựa đã lỡ quen đường cũ. Trong năm trăm người chồng một đêm của nàng, có lãnh chúa oai phong nhất vùng, có chàng nhân sĩ học rộng tài cao, có kẻ du thủ du thực, có vị trụ trì một năm ăn mặn vài lần, và có lão già thất thập cổ lai hy. Kẻ khác hành nghề vì kế sinh nhai, vì đường đời đưa đẩy. Nàng hành nghề vì nàng “hám sắc”.

1. Câu chuyện về một ả đàn bà nghiện đàn ông

Nàng du nữ là một kẻ nghiện đàn ông và nghiện làm tình với đàn ông, chấm hết.  

So sánh đơn giản, nếu một kẻ sắp chết đói nhìn thấy một bức họa đồ ăn, từ trong dạ dày của gã sẽ râm ran, dồn dập những cơn sóng dịch vị. Từng thớ thịt mỡ màng trước mắt gã sẽ mang sức quyến rũ ngàn cân. Có gì mà gã không dám hi sinh để được phập răng vào miếng thịt, thỏa mãn cơn đói ngấu của mình? Tương tự, nàng du nữ luôn trong tình trạng gọi bỗ bã là “thiếu hơi trai”. Chỉ cần liếc mắt thấy một cánh tay rắn chắc, cảm nhận một cái đụng chạm hững hờ là đã khiến xuân tình trong mắt nàng ta lúng liếng. Thứ nhục dục này như thuốc phiện, thỏa mãn ham muốn nhất thời nhưng hủy hoại dần dần thân thể và tinh thần của nàng. Những lúc kịp tỉnh táo, nàng ta sẽ vùng dậy bỏ trốn như một kẻ nghiện choàng tỉnh sau cơn say, giãy giụa để cứu vớt lấy tâm trí thanh tịnh. Nhưng không, nàng ta là một con nghiện, mà cuộc đời này rất giỏi trong việc chu cấp thuốc cho con nghiện. Cứ như thế, nàng ta tiếp tục sa ngã. Hai mươi tư phần truyện ngắn là hai mươi tư lần nàng ta sa ngã.

Nhưng nàng ta lại là một con nghiện hời hợt.

Theo lẽ thường, phụ nữ – đặc biệt là phụ nữ phong kiến – thường bị vấn vương bởi chữ tình, cảm xúc lúc nào cũng đầy ắp, chực chờ trào dâng. Nàng du nữ đã trải qua trăm ngàn bể dâu cuộc đời, nếm thử đủ loại khổ đau khinh nhục. Người khác lâm vào hoàn cảnh của nàng còn biết oán thán, tuyệt vọng, hổ thẹn. Còn những lời tâm sự của nàng ta lại vô cùng hời hợt, chỉ thi thoảng buông vài câu hờn trách lấy lệ. Nói nàng trơ trẽn cũng chẳng phải – nàng quá điềm tĩnh và phẳng lặng để hành xử như một kẻ trơ trẽn đích thực. Thật là một lối hành văn quá đỗi… đàn ông! Có câu nói vui: “Đàn ông đổi tình yêu lấy tình dục, đàn bà đổi tình dục lấy tình yêu”, nhưng câu này chẳng thể áp dụng được cho bản thân nàng.

2. Nàng du nữ kia, rốt cuộc nàng muốn gì?

Một lời khuyên phổ biến dành cho những người viết văn là nhất định phải để nhân vật chính có một mục tiêu, khiến anh ta/ cô ta có thứ mà theo đuổi, truy cầu. Bất kể người đó muốn gì – danh vọng, sự nghiệp, công lý, báo thù – mục tiêu sẽ tạo động lực cho anh ta/ cô ta tiến về phía trước, thúc đẩy tiến độ câu chuyện, làm tiền đề cho sự đổi thay và tiến bộ.

Nhưng nàng du nữ của Ihara Saikaku chẳng muốn gì cả.

Có lẽ nàng ta cũng chẳng thực sự ham mê sắc dục. Nàng ta bị trói buộc bởi sắc dục, nhưng trong mắt nàng, nó chẳng đáng giá hơn chiếc kimono vải mỏng của đám gái già là bao. Ở đàn ông, nàng ta không tìm kiếm sự yêu chiều hoặc nịnh bợ. Nàng ta chẳng mê mẩn tiền bạc, hôn nhân hay sắc đẹp trường tồn. Nàng ta cũng chẳng nỗ lực thay đổi. Từ khoảnh khắc nàng ta là Tayu (cấp bậc cao nhất của nghề du nữ) đến lúc lạc bước đứng đường, nàng ta vẫn là một kẻ nông cạn và dục tình. Đời cho nàng ta một chục cú tát, nhưng phấn son chẳng mảy may trôi đi trên gương mặt trơ lì và vô cảm ấy.

Nhưng giá trị văn học của nàng nằm ở việc nàng chẳng muốn gì cả.

Nhiều người mặc định rằng, “đam mê hoặc mục tiêu là bẩm sinh, người ta sẽ tự nhận biết mình muốn điều gì”. Chẳng có câu nào làm tôi hãi hùng hơn câu ấy. Đam mê với tôi là kết tinh từ quá trình cọ sát và học hỏi từ thế giới bên ngoài. Bạn có thể có năng khiếu mĩ thuật, nhưng nếu không có cơ hội tiếp xúc với bút màu và cọ vẽ, bạn sẽ không khám phá và phát huy được tài năng. Hoặc giả cha mẹ bạn không có điều kiện, xã hội không khuyến khích, xung quanh cũng toàn là những lời cấm cản, phê bình khiến bạn nhụt chí, sớm muộn gì chút năng khiếu ấy cũng bị thui chột và dập tắt.

Cuộc sống người phụ nữ phong kiến bé bằng cái giếng, hoặc chính xác hơn là bé như cái cửa sổ bồi giấy nhìn ra khoảng trời vuông bằng cái sân gạch. Bạn nhận xét rằng kĩ nữ tự do hơn tiểu thư ư? Các nàng tự do chỗ nào, khi cái cửa số ấy chỉ chuyển từ căn phòng khuê các sang quán rượu lầu xanh? Bức tường che không xây từ gạch vữa hay giấy bồi mà xây từ định kiến, đạo lý mà xã hội gán lên người phụ nữ, như một tấm biển định giá lạnh lùng và suồng sã. Trong một thời đại mà phụ nữ phải tuân theo những lề thói bất công, nơi mà phẩm hạnh của tiểu thư được cân đo bằng của hồi môn, nơi mà giá trị của kĩ nữ được đong đếm bằng những xu tiền bèo bọt, nơi mà người định đoạt số phận họ là các quý ông “chồng nhiều đêm” hoặc “chồng một đêm”, họ hoàn toàn không có cơ hội mở rộng khoảng trời của mình. Các nàng hoặc là chết dần chết mòn, hoặc là trôi thản nhiên như một mảng bèo, chẳng muốn và chẳng có gì cả.

“Cho dù tôi đã sống cả đời trong thế giới này với thân phận du nữ, nhưng không vì thế mà tôi kết thúc đời mình với trái tim vẩn đục” không phải là một lời phán định lạc quan hay phân trần về phẩm giá của nàng du nữ, mà chỉ là một lời hứa suông, phơi bày bản chất vô định của nàng.

Tinh thần của nàng đã bị xã hội giết chết. Cả người nàng chỉ còn là thân xác, một thứ thân xác có ý thức, có cá tính nhưng không có cốt lõi tồn tại.

3. Giá trị của Đời du nữ nằm trong bối cảnh hay vượt ra khỏi bối cảnh?

Bạn sẽ nghĩ, Đời du nữ chỉ có giá trị phê phán xã hội đương thời, cảm thương cho số phận người phụ nữ phong kiến bị vùi dập. Ngày nay, nam nữ bình quyền rồi nên nó chẳng còn giá trị gì nữa.

Bạn có chắc không?

Bi kịch của nàng du nữ xuất phát từ việc nàng nghiện đàn ông và nàng sống cuộc đời không mục đích. Nó tương tự như thứ bi kịch mà nhiều người hiện đại mắc phải. Ihara Saikaku mở đầu câu chuyện bằng những lời châm biếm về bản chất phù phiếm của con người – những kẻ miệng thì thao thao bất tuyệt về khát vọng đổi đời và chạm tay vào giấc mộng phù hoa, nhưng lúc nào cũng đầu hàng trước những cám dỗ trước mắt. Những kẻ như thế thời nay nhan nhản. Họ hối hả hưởng thụ những cuộc chơi kích thích ngắn hạn để tự gây tê bản thân, quên đi mục tiêu lâu dài.  Tôi không dám chắc cuộc đời họ có kết thúc như nàng du nữ không, nhưng số phận của họ hẳn là một bản bi kịch của sự hời hợt.

Nhưng Saikaku châm biếm chứ không phán xét. Khi đọc sách, tôi chưa một lần căm ghét nàng du nữ, cũng chẳng thương cảm gì nàng ta. Cảm xúc tôi dành cho nàng ta chắc chẳng khác gì khi ngắm một bức tranh trừu tượng: tò mò, khó hiểu và… hơi thích thú. Saikaku là một nhà văn rất “người” – đối với ông, vẻ đẹp của con người có thể lấn áp hoa đào nở tháng ba. Một chút sắc hồng phơn phớt điểm tô trên màn mưa xuân làm sao có thể so sánh được với sự phức tạp, đa tình, lố bịch, bi thương trong tâm trí và số phận con người?

Bạn có thể đánh giá Đời du nữ theo nhiều cách, hoặc như bản phân tích tâm lí của một ả đàn bà phong lưu, hoặc như một áng văn phê phán xã hội thời bấy giờ. Nhưng với tôi, Đời du nữ là một lời cảnh tỉnh, đồng thời cũng là một bài thơ tôn thờ vẻ đẹp rất đỗi trần tục và tầm thường của con người. Chính cái sự vừa châm biếm, vừa chấp nhận, vừa ngụ ngôn, vừa ca ngợi đã làm nên giá trị vượt thời gian của tác phẩm.

*

“Nhục thể con người ta rồi sẽ thối rữa, xương cốt sẽ thành tàn tro và được chôn lấp dưới cây cỏ. Chỉ có cái tên là còn lại.”

Điều duy nhất tôi nuối tiếc là, Ihara Saikaku cuối cùng cũng chẳng cho nàng lấy một cái tên.

Hết.

Mèo Heo


Những bài viết cùng chủ đề



2 bình luận

2 Bình luận

  1. Tâm An

    Tháng Tư 30, 2019 at 5:34 sáng

    Đã từng xem qua phim hồi ức của một Geisha, cũng biết mọi việc cái gì cũng có niều mặt cả nhưng đọc giới thiệu về đời du nữ lại thấy cô gái trong truyện này như vừa đáng thương lại vừa đáng trách, đặc biệt là câu cuối của tác giả bài này :” Điều duy nhất tôi nuối tiếc là, Ihara Saikaku cuối cùng cũng chẳng cho nàng lấy một cái tên.” và câu trong truyện “Nhục thể con người ta rồi sẽ thối rữa, xương cốt sẽ thành tàn tro và được chôn lấp dưới cây cỏ. Chỉ có cái tên là còn lại.” Cuối cùng thì giá trị cuộc sống là gì, con người ta sống để làm gì…

  2. Vũ Thị Phương Thảo

    Tháng Năm 10, 2019 at 7:11 sáng

    ” Nàng du nữ này không “bán mình vì số phận”. Nàng say sưa thú vui nhục thể đến mê loạn, đến ám ảnh, đến tình nguyện để chữ “sắc” nuốt trọn tâm trí.” Tuy ” ĐỜI DU NỮ” được viết vào năm 1952 nhưng thực sự thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm qua tác phẩm vẫn rất giá trị đới với cuộc sống ngày nay. Đời du nữ là một hồi cảnh tỉnh, cho nhungữ ai đang đắm chìm trong lối sống không mục đích..

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

The Fix – Quốc gia tái thiết: Hy vọng vẫn còn

“The Fix” gồm 10 bài viết như những case study về cách mà các quốc gia đã vượt qua khủng hoảng của mình.

Đăng từ

on

Người đăng

Chi tiết tác phẩm

Trong cuốn The Fix – Quốc gia tái thiết, tác giả Jonathan Tepperman đôi lần lặp đi lặp lại trạng thái “Thế giới đang bước đi trên một lưỡi dao cạo”, và vô hình chung, đây không hẳn là sự trùng hợp. Một cách vui vẻ để nhìn nhận, đứng trước mạng lưới thông tin dày đặc được cập nhật 24/7 về tình hình thế giới hiện nay, đôi khi hình tượng hạt dẻ mà chú lười Sid trong Kỷ băng hà (Ice Age) vô ý cắm vào tảng băng để từ đó vũ trụ thành ra nứt nẻ lại hiện ra. Cho đến ngày nay, khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á hay Mùa xuân Ả Rập vừa tạm nguôi đi; thì ngay lập tức mùa hạ kinh hoàng năm 2014 khi Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ra Biển Đông lại đến. Không những thế, sự lớn mạnh của Nhà nước Hồi giáo cực đoan IS, đại dịch chết chóc Ebola, sự thiếu hụt tài nguyên khí đốt, Hy Lạp phá sản hay Chủ nghĩa bản địa bài ngoại ở những nơi di dân chạy trốn chiến tranh Vùng Vịnh… cũng giáng những nỗi kinh hoàng lên đời sống con người. Ở ngay những thời khắc này, chính các sự kiện ấy là thứ hạt dẻ làm nứt vũ trụ, chỉ khác lần này không còn nằm trên màn ảnh 2D và được Disney tạo ra (sự thật rằng nó vừa mua đứt 21st Century Fox); mà đó đã dần thành hình trong thế giới thực – một thế giới của con người, vì con người; và dĩ nhiên, do con người.

The Fix tuy nhiên là một tập hợp những điều tươi sáng hơn thế. Cuốn sách gồm 10 bài viết như những case study về cách mà các quốc gia đã vượt qua khủng hoảng của mình. Lấy 10 chủ để nổi bật nhất nền địa – chính trị những năm vừa qua, Jonathan Tepperman một cách tài tình dẵn dắt người đọc qua những câu chuyện tái thiết của các quốc gia thuộc 4 châu lục; băng qua tình cảnh bất bình đẳng của Brazil, nạn tham nhũng ở Singapore, chủ nghĩa Hồi giáo Cực đoan ở Indonesia, những vết thương nội chiến của Rwanda hay lời nguyền tài nguyên của Bostwana. Bên cạnh đó, ông cũng lần mò đi tìm nguyên nhân lý giải vì sao Canada mở rộng cánh tay với người tị nạn, cách Hàn Quốc tăng trưởng – tăng trưởng nữa – tăng trưởng mãi để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, cách Mexico khởi động lại guồng máy chính phủ, cách Mỹ bùng nổ cách mạng Đá phiến hay phương pháp tháo gỡ nút thắt của New York sau vụ khủng bố 11/9. Nhìn nhận một cách khách quan, The Fix cắt ngang sự ảm đạm như một tia nắng (Adam Grant), và mang một chút hy vọng cho những ai vẫn đang mong muốn những điều tốt đẹp hơn – dĩ nhiên là thực tế hơn.

Trong vai trò Trưởng ban biên tập của Văn phòng Bộ ngoại giao, Jonathan Tepperman tiếp cận đọc giả dưới góc nhìn của một chuyên gia lành nghề. Như một bác sỹ giải phẫu tận tụy từng vấn đề, bằng kinh nghiệm và các mối quan hệ cá nhân, The Fix cung cấp cho người đọc những thông tin đúng đắn, thức thời, đôi khi ngay cả tuyệt mật từ chính những người trong cuộc; và chính yếu tố này làm nên tính thực tế và sinh động cho cuốn sách. Lấy ví dụ như trường hợp cách Mexico tháo gỡ guồng máy chính phủ ngay giữa những cuộc chống đối bè phái, mà theo Jonathan viết, đó đều là những “hoàn cảnh vụn trộm” hay những “cuộc dàn xếp bí mật” giữa 3 đảng phái nhà nước; và nếu không dùng bất cứ một mối quan hệ nào để tiếp cận những cá nhân chủ chốt từng tham gia các hội nghị trên, khó lòng để hiểu được cách chúng vận hành gỡ rối ra sao. Do đó, cá nhân người viết ở góc độ nào và đóng góp ra sao ít nhiều tạo sự thức thời cho cuốn sách này.

Và có một thực tế đa số những cuốn non-fiction ăn khách ngày nay được viết bởi những nhà báo lăn xả hơn những chuyên gia trong ngành. Có thể kể đến như Bad Blood của John Carreyrou, The Shock Doctrine của Naomi Klein, Secret Formula của Frederick L. Allen hay Seven Days in the Art Work của Sarah Thornton,… Đơn giản là vì, dưới góc độ của một nhà báo, nó đòi hỏi người viết cung cấp những thông tin giật gân, có thể gây bất ngờ hay chính những điều ngay cả người đọc không thể màng tới; và cũng chính lẽ đó, chưa chắc là những thông tin chính xác. Trong khi đó, Jonathan Tepperman giữ vững vai trò hai mang của mình – ông tìm tòi như một nhà báo, nhưng khẳng định như một chuyên gia. Cách xây dựng của ông đi từ những điều nhỏ nhặt nhất, như thể cách giải quyết bất bình đẳng ở Brazil bằng chính sách Bolsa Família, khi hỏi tổng thống Lula của nước này đâu là mấu chốt của vấn đề, ngài tổng thống đã không ngần ngại trả lời: “Người hiểu rõ nhất người nghèo thật sự cần gì là những người như mẹ ông – ấy là bản thân người nghèo”. Rõ ràng nhận thấy, Jonathan bằng cách tiếp cận trực tiếp và thức thời làm cho vấn đề một cách sáng tỏ, không đi vòng tránh né, đoán già đoán non hay tin tưởng vào những nhận định ở phía phủ định để phù hợp với con đường xây dựng cuốn sách như trường hợp của nhiều nhà báo khác.

Ảnh: Foreignpolicy.com

Cạnh đó, với các vấn đề trong cuốn sách này, Jonathan không chỉ nêu ra vấn đề, trình bày những cách giải quyết; ông cùng đó nêu bật điểm yếu hay cách áp dụng ra sao vào các nền chính trị khác. Do đó với The Fix, người đọc không mang cảm giác đây là cuốn sách tâng bốc giả tạo những sáng kiến cá nhân; khi một cách thẳng thắn, những điểm yếu của cai trị độc tài, của chủ nghĩa thực dụng, của lối từ bỏ cái hoàn hảo lấy cái có thể chấp nhận được vẫn tồn tại trong này. Jonathan không dè chừng, không sợ hãi và phơi bày chúng như những điểm yếu cần có của muôn mặt vấn đề. Đơn cử như chương về cách mạng Đá phiến của Mỹ, ông không ngần ngại chỉ ra đâu là lý do tuy nằm trên một mỏ đầy những trầm tích đá phiến với một hàm lượng gấp rất nhiều lần Mỹ nhưng lục địa già lại từ chối cơ hội khai thác này, để rồi vẫn bị Nga nắm chui khi phụ thuộc nhập khẩu hơn 1/3 khí đốt từ đất nước này. Hay bởi những đặc tính rất Trung Quốc: ngại mạo hiểm, ưa đi tắt đón đầu và thiếu nguồn khích lệ thị trường tự do đã khiến công cuộc khai thác đá phiến ở đây giậm chân tại chỗ cho đến ngày nay.

Ở một mặt khác, ông không tôn vinh quá đà hay cố lý tưởng hóa bất cứ một cá nhân hay đường lối, chính sách nào. Chẳng hạn như ngay khi vừa cho thấy một nước Mỹ sẵn sàng nghiên cứu những đường hướng mới trong cuộc cách mạng đá phiến, ông liền quay ngoắc phê phán lối thụ động đối mặt với khủng bố trong cơn ảo danh chống phá giữa các đảng phái làm tê liệt nghị trường Washington; để chính bộ máy địa phương như New York phải căng mình đứng ra lo liệu. Hay một mặt khác, ông không ngần ngại cho thấy lối cai trị độc tài của Lý Quang Diệu để đưa Singapore ra khỏi con đường tham nhũng; hay Park Chunghee tiếp tay những chaebol (tập đoàn gia đình) dần dần làm lũng đoạn kinh tế Hàn Quốc khi chỉ vừa khởi sắc. Đây đều không phải những điều đáng khen hay nên học tập trong một thế giới tiến gần đến dân chủ hóa, tự do hóa ngày nay; nhưng với những bước phát triển ngay từ bữa đầu, đây thực sự là cuộc tiểu phẫu đi sâu vào lòng vấn đề, không vòng tránh, không giảm nhẹ. Một lối viết dũng cảm, mạnh mẽ và phơi bày.

The Fix mang trong bản thân thế mạnh không chỉ của những chính sách cứu vớt khỏi cơn bĩ cực chính trị; mà còn chứa trong mình câu chuyện lịch sử của từng quốc gia dính líu ít nhiều trong này. Jonathan bằng cách nghiên cứu sâu rộng đi thẳng vào những mâu thuẫn, cách nó hình thành; đôi khi là những tập quán, phong tục tồn tại xa xưa ở những vùng đất ta chưa từng biết. Ông đi sâu vào nghiên cứu các gacaca (toà án hương thôn của Rwanda), kgotla (phiên giải quyết giữa các tù trưởng Bostwana), đặc điểm Hồi giáo cực đoan nửa vời của Indonesia hay khởi thủy một nền Canada trắng của Canada,… Do đó, nhìn chung, The Fix phù hợp người đọc ở nhiều góc nhìn. Nếu không quá chú trọng đến cách những quốc gia tái thiết – vì có lẽ đó là việc của những người chuyên trách hơn – thì cuốn sách này cho ta góc nhìn tuy chỉ một giai đoạn nhỏ, nhưng đều là những thời khắc chính trị quan trọng của những nơi chốn này. Quốc gia tái thiết đứng giữa hai bờ quá khứ – tương lai. Nếu thấy quá xa trước tương lai bất định, cứ nhảy ngược trở về quá khứ để xem cuộc nội chiến giữa 2 tộc người Tutsi và Hutu ở Rwanda tạo nên hơn 130.000 tội phạm diệt chủng và cần hơn 200 năm mới xử lý hết. Hay quay về thời khắc Singapore vừa được trao trả độc lập, với sự đồi bại và tội ác ngút trời: hội tam hoàng và những hội kín người Hoa công khai điều hành ổ hút và nhà thổ, tay chân chém giết tranh giành địa bàn khắp các đường phố,…

Thế nhưng không thể nói The Fix không có điểm yếu. Thứ nhất, nhìn chung các vấn đề trong cuốn sách này đều là các case study, do đó chúng đều là những giải pháp chỉ trên bề mặt, không một hướng đi cụ thể. Tuy Jonathan đã rất cố gắng đúc kết rất nhiều điểm chung, rất nhiều phương hướng có thể soi rọi cho những nền chính trị khác; nhưng nó là điều bất khả cho nền chính trị của các đất nước quá khác xa nhau. Nhưng như một bài học cuối cùng ông đúc kết lại, đôi khi ta phải từ bỏ cái hoàn hảo để lấy cái có thể chấp nhận được; và ở riêng điều này, The Fix tỏ ra có tác dụng. Không hoàn toàn vô ích khi học hỏi Canada về cách dang tay hỗ trợ và giữ lại người tị nạn hay cách chính quyền thành phố New York tự cứu lấy mình khỏi những lo toan khủng bố đè nặng.

Thứ hai, điểm yếu ở tính địa phương. Ở đây, hầu như 10 bài viết đều gắn liền với 10 cá nhân tổng thống xuất sắc – những người đoán đầu và chịu thử thách. Cùng đi với đó là những hoàn cảnh chính trị mà như Jonathan đôi khi thừa nhận, là rất đặc biệt, có một không hai. Chính những điều này làm nên tích chất manh mún của mỗi vấn đề. Như thể ở trường hợp Indonesia: ta không thể nói lực lượng Hồi giáo ở những khu vực vùng vịnh như Iran, Iraq hay Syria không có đường lối cứng rắn như ở Indonesia để rồi áp dụng bài học ấy ở các nước này. Hay một Bắc Triều để vươn mình phát triển như Nam Triều của ngày hôm nay, thì đào đâu ra các chaebol – gia độc gia đình để được nhà nước dù cho độc tài rót vốn, miễn thuế hay thúc đẩy phát triển? Cho nên nhìn chung, với những case study rất nhỏ và cụ thể tỏ tường thế này, một góc nào đó cho thấy The Fix vẫn chỉ là câu trả lời cho những vấn đề thức thời. Nó không bao quát, không làm nên định lý chung, không thành quỹ tích cho những đường đi vì một thế giới sẽ đẹp đẽ hơn.

Và điều cuối cùng, phụ thuộc tâm lý hơn bất cứ vấn đề nào khác của cuốn sách này. Rằng, con người với một bản chất luôn thích khám phá, bóc trần những điều tăm tối hơn là hy vọng. Dẫu cho phần đầu Jonathan một cách tinh quái nêu bật lên những lần ranh hiểm nguy trước khi đi vào giải quyết, nhưng với thời lượng quá chông chênh nhau đâm ra thiếu đi tác dụng. Không thể trách ai, chỉ trách ông quá lạc quan viết nên cuốn sách e quá tươi sáng cho những con người ủ dột của ngày hôm nay.

Đồng hồ tận thế (Doomsday Clock) vừa nhích thêm 20 giây đến khoảng cách diệt vọng của xã hội loài người, làm giảm khoảng cách xuống còn 100 giây đến thời điểm nửa đêm của ngày cuối cùng. Theo đó, Nhóm nhà Khoa học Hạt Nhân Mỹ cho rằng, hai hiểm họa diệt vong là chiến tranh hạt nhân và biến đổi khí hậu thúc sẽ đẩy càng nhanh quá trình diễn tiến. Chúng còn tăng lên khi có hàng loạt các mối đe dọa khác, khi chiến tranh thông tin trên không gian mạng đang làm ảnh hưởng khả năng đối phó một cách hiệu quả của xã hội. Và The Fix, với nguồn thông tin đầy ắp của mình, lướt qua như một tia sáng cho thấy vẫn có thể phần nào kiểm soát tình hình chừng nào chúng ta vẫn còn cố gắng và xắn tay áo lên để rồi hành động. Như đoạn mở đầu của ông trong cuốn sách này, rằng:

“Từ bỏ hy vọng tất nhiên là nỗi cám dỗ – nhất là vào thời điểm dường như có quá nhiều điều bất ổn xảy ra với thế giới này. Tuy nhiên, vấn đề với nỗi tuyệt vọng là nó chẳng có ích gì. […]

May thay cho chúng ta, nó cũng dư thừa nữa. Không một thử thách nào (dù có vẻ nghiêm trọng đến mấy) là thật sự không thể vượt qua. Giải pháp cho sự bế tắc […] đã có sẵn ngoài kia.

Bạn chỉ cần phải biết nhìn vào đâu để sửa sai mà thôi.”

Hết.

Ngô Thuận Phát

Xem tất cả những bài viết của Ngô Thuật Phát tại đây.


Có thể bạn sẽ thích những bài viết sau:


Đọc bài viết

Phía sau trang sách

“Thế giới mới tươi đẹp”: Nơi hạnh phúc là cội nguồn của bất hạnh

Lăng kính lãng mạn hoàn toàn bị bóp nát trong quyển tiểu thuyết này để chừa chỗ cho trí tưởng tượng về một xã hội đề cao giá trị vật chất rẻ tiền và bỏ mặc đi đời sống tinh thần quý báu.

Đăng từ

on

Người đăng

Cốt truyện kể gì?

Trong tác phẩm Thế giới mới tươi đẹp, Aldous Huxley đã xây dựng một xã hội tương lai thuần túy dựa trên sự hạnh phúc – bất chấp hệ quả về mặt đạo đức. Ở tương lai tưởng tượng ấy, khoa học phát minh ra những viên soma giúp người ta lâng lâng và quên đi những nỗi buồn đau, giống như một loại ma túy đỉnh cao của thời đại. Xã hội với tôn chỉ là “hạnh phúc”, nơi công nghệ tiên tiến trở thành công cụ chính để hoàn thành quá trình sinh sản nên các thú vui xác thịt tồn tại chỉ để thỏa mãn tình dục chứ không hề vì mục đích duy trì nòi giống. Người dân hoàn toàn bị lệ thuộc bởi sự thao túng về tâm trí của các lãnh đạo cấp cao. Huxley đã liên tưởng và cường điệu những tệ nạn xã hội trong tương lai một cách đặc sắc, với nguyên nhân lý tưởng là sự sai trái này bắt nguồn từ sự mất tự do và trách nhiệm cá nhân trong một cộng đồng. Không ai trong số họ dám chống đối và thách thức hệ thống cấp cao lãnh đạo. Tất cả mọi người đều tin rằng họ cùng nhau đoàn kết làm việc vì “lợi ích chung”. Vị thần của xã hội này là Ford – là biểu tượng của sự phi nhân hóa và mất cá tính của loài người. Nhìn tổng quan, ưu thế đặc biệt của quyển sách này chính là cốt truyện phi logic đến khó tin nhưng lại phản ánh góc nhìn tương lai khá thú vị.

Aldous Huxley

Tại sao một xã hội không đói nghèo, không bệnh tật, không chiến tranh lại không hề tốt đẹp?

Những khái niệm và quy tắc mà cuốn sách đưa ra thực lòng là rất kỳ quặc, đến nỗi mà nó làm tâm trí tôi bị lẫn lộn, lan man đủ thứ điều về cuộc sống. Nếu thực sự cái thế giới kinh khủng ấy trở thành đời sống thực thì mọi chuyện sẽ như thế nào? Những việc như những đứa trẻ được nhà nước tạo gen và nuôi dưỡng, những từ như “cha” và “mẹ” được coi là lời tục tĩu khiến tôi cảm thấy lo sợ. Cảm thấy lo sợ vì nền kinh tế thế giới phụ thuộc vào mức phát triển liên tục của các tầng lớp cao nhất, khi mà giai cấp xã hội được chia ra quá rõ ràng và những người thấp cổ bé họng thì cam chịu từ trong tiềm thức. Nhìn lướt qua thì thấy nơi đó thật tốt đẹp nhưng nếu xem xét kỹ thì nó hoàn toàn mất đi nhân tính, bất công và đàn áp tinh thần của người dân. Tình yêu và nghệ thuật đã trở thành thứ xa xỉ bởi người ta chỉ chú trọng đến tình dục rẻ tiền; những “phim đen hạng sang” rải rác khắp mọi chốn để thay thế cho dòng phim truyền thống. Ở đó, tình dục và sinh sản đã được tách ra và phụ nữ không còn sinh con nữa, tình dục đã trở thành một trò giải trí nhàm chán và được khuyến khích làm hàng ngày với nhiều người khác nhau. Các tư tưởng đạo đức đã thay đổi và giống như cả xã hội đang cổ vũ những người trẻ hãy cứ trần truồng để thực hiện “trò chơi tình ái” trong các bụi cây, bụi rậm ven đường nào đó. Nếu sống trong một xã hội như thế này, chắc tôi cũng phát điên mà la lên để đòi “quyền được bất hạnh”, để kiếm tìm lại những đam mê và sáng tạo mà bản thân đã đánh mất đi bởi sự chuyên chế và áp bức của một xã hội tàn bạo từ trong ý thức và bộ máy chính trị.

Thực chất, “thế giới tươi đẹp” ấy đã quay trở lại thời phong kiến cổ xưa vì việc kết hợp vô lý giữa khoa học công nghệ và hạnh phúc xác thịt. Tôi có cảm giác như những người lãnh đạo trong xã hội này đã áp đặt chế độ ngu dân cho toàn thể con người, họ không cho bất kỳ ý tưởng cá nhân nào bộc phát, họ không cho bất kỳ sự tiến hóa nào vượt ra khuôn khổ đã định sẵn bởi gen và thụ thai trong ống nghiệm. Và chính sách thực dân cũng được áp dụng từ trong tâm tưởng khi Alphas, Betas nắm giữ quyền lực và đại diện cho đẳng cấp của trí tuệ và thể chất còn Gammas, Deltas và Epsilons thì lại chịu chế độ nông nô. Tất cả những sự tốt đẹp ấy chỉ mang vẻ hào nhoáng bên ngoài, chỉ là mọi người bị ép buộc là hài lòng với sự ổn định đầy dối trá và những thú vui thể xác bần hèn ấy mà thôi. Làm gì có thứ hạnh phúc mà chúng ta phải hy sinh chủ nghĩa tự do và suy nghĩ cá nhân để vun đắp cho nó chứ? Sự nguy hiểm của công nghệ như một mầm mống len lỏi qua từng ngày và qua quyển sách này thì mọi thứ trở nên kinh hoàng biết bao. Một ngày nào đó, khi ánh bình minh của con người chợt tắt, nhường chỗ cho công nghệ, máy móc ngự trị thì khi đó đời sống tự nhiên sẽ bị che lấp bởi những thứ cứng ngắt và tẻ nhạt. Khi gán ghép khoa học vào yếu tố phi đạo đức, rõ ràng, tác giả đã làm bật lên được sự đáng sợ ẩn sau những tiện ích của nó. Sự phản đề của tác giả về niềm tin phổ biến của quần chúng vào công nghệ như một phương thuốc tương lai cho các vấn đề gây ra bởi bệnh tật và chiến tranh đã hoàn toàn hiệu quả.

Lời kết

Sự thành công của quyển sách này một phần vì đã đánh bật niềm tin của chúng ta rằng công nghệ có sức mạnh để thay đổi cả thế giới, khi Huxley cho thấy nó có tiềm năng trở nên nguy hiểm đến cỡ nào. Khi John đòi “quyền được bất hạnh” thì Mustapha đã thể hiện quyền ấy kèm theo những căn bệnh như ung thư, giang mai, ăn uống đói khổ và cả sự sợ hãi về tương lai. Nhưng rõ ràng, khi đọc đến khát vọng chân thực nhất của người Hoang dã, “Nhưng tôi không muốn thoải mái. Tôi muốn Thượng đế, tôi muốn thơ ca, tôi muốn nguy hiểm thật sự, tôi muốn tự do, tôi muốn lòng tốt. Tôi muốn tội lỗi.” – thì chúng ta đều cảm nhận được đây chính là những ước muốn thể hiện bản chất thẳm sâu trong loài người. Bởi lẽ việc loại bỏ tất cả những điều khó chịu và nỗi buồn trong cuộc sống đã vô tình làm loại bỏ cả những thú vui thực sự trong cuộc sống.

Đây là một cuốn sách thực sự phức tạp và tôi phải thú nhận rằng có một số phần tôi đọc mà chẳng hiểu gì cả. Tuy nhiên, may mắn thay, ý nghĩa xuyên suốt câu chuyện thì tôi đã thấu hiểu được. Có lẽ, một phần ý tưởng của tác giả bắt nguồn từ Chiến tranh thế giới thứ nhất với việc đánh dấu sự kết thúc của những giấc mơ phi lý theo chủ nghĩa lãng mạn trong văn học, giống như một số kế hoạch không tưởng ngoài đời thực sắp được đưa ra với những hậu quả tai hại. Chế độ Cộng sản ở Nga và Đức Quốc xã đều bắt đầu như những tầm nhìn phi logic như thế. Thế giới mới tươi đẹp không hề miêu tả những tình tiết máu me, rùng rợn giống như truyện kinh dị hay những tình huống bi thương, bất hạnh như tiểu thuyết tình cảm. Thế nhưng, cảm giác ám ảnh và lo sợ mà nó mang lại thực sự rất mạnh mẽ, vì nó khiến người ta rờn rợn khi nghĩ về thế giới, con người trong truyện. Lăng kính lãng mạn hoàn toàn bị bóp nát trong quyển tiểu thuyết này để chừa chỗ cho trí tưởng tượng về một xã hội đề cao giá trị vật chất rẻ tiền và bỏ mặc đi đời sống tinh thần quý báu. Hạnh phúc đã được lái sang một nghĩa mà nếu ai trải qua cũng có thể gọi đó là hạnh phúc cấp thấp giả tạo nhất.

Hết.

Trần Nguyễn Phước Thông

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Phía nam biên giới, phía tây mặt trời: Ranh giới mong manh giữa trái tim và lý trí, hiện thực và mộng tưởng

Chúng ta hiểu gì về thế giới này?
Chúng ta hiểu gì về cuộc đời này?
Và chúng ta hiểu gì về chúng ta?

Đăng từ

on

Người đăng

Phía nam biên giới, phía tây mặt trời kết thúc, tôi gấp những trang cuối cùng của cuốn sách lại, thoáng nhìn qua ô cửa sổ dài, thấy một nỗi buồn vừa đọng lại nơi mi mắt của mình, và hoàng hôn đã phảng phất ngoài kia, rực rỡ. Trong một khoảnh khắc mơ hồ nào đó, khi bản thân vẫn còn đang nhập nhằng sống giữa thực và hư, giữa đời và mộng tưởng, tôi thấy mình tựa như một áng mây, trôi bãng lãng, bâng quơ ngang qua bầu trời rộng lớn, hay đang ngang qua một kiếp sống cô độc. Thảng hoặc, tôi nhìn lại, thấy xung quanh mình sao lắm nỗi cô đơn, và những muộn phiền cùng khổ đau đến từ trái tim đã chẳng còn non trẻ cứ đầy rẫy ra đó. Tôi muốn khóc, như là khóc cho chính mình, như là khóc cho người, hoặc là khóc cho tất cả những ai đang tồn tại giữa cuộc đời này, một cách cô độc. À, trong đó có cả Hajime.

Hajime, ôi cái gã trai bao lần cứ hoang hoải trong chính cuộc đời của mình, từ khi còn là một đứa trẻ cho đến khi đã lập gia đình, từ khi trái tim còn non dại nghĩ suy cho đến khi muộn phiền đã ngủ ngầm và chất chứa trong tim. Chẳng hiểu sao khi đọc cuốn sách này, tôi lại thấy Hajime thật là đáng thương, dẫu gã đã có những hành động và suy nghĩ khác biệt mà tôi vẫn luôn cho đó là sai lầm. Tôi cảm giác như Hajime là một con người cô độc, cực kì cô độc. Hajime lớn lên trong một gia đình chỉ có duy nhất một đứa con. Hajime chẳng có nhiều bạn. Người bạn thân thiết thời thơ ấu của Hajime là Shimamoto cũng là con một, và cô ấy cũng chẳng có bạn bè. Cảm giác như những kẻ cô đơn sẽ có cùng một từ trường thu hút, để tìm về, để gắn kết, để thấu hiểu và để sẻ chia. Rồi từ thuở ấu thơ, Hajime bắt đầu lớn dần lên. Cuộc sống của anh cũng chẳng có bất cứ điều gì là đặc sắc. Công việc của anh khô khan như cái cách mà anh đang sống. Mọi thứ đều tẻ nhạt, nhàm chán, vô vị và buồn bã đến mức ngày tháng trôi qua chẳng có lấy một niềm vui chân chính. Nhưng khoan, suy cho cùng, làm gì có một niềm vui chân chính nào trên cõi đời này? Vì mọi thứ đều chỉ là giả tạm. Vì mọi thứ đều chỉ là thoáng qua. Như cơn mưa thấm nhạt vào đất. Rồi bốc hơi, và biến mất.

Vì mọi thứ đều chỉ là giả tạm. Vì mọi thứ đều chỉ là thoáng qua. Như cơn mưa thấm nhạt vào đất. Rồi bốc hơi, và biến mất.

Rồi Hajime kết hôn. Ngoảnh đầu nhìn lại, anh đã đi qua một quãng đời rất dài. Bầu trời vẫn dài rộng và cuộc đời vẫn che đậy những biến số ngỡ ngàng. Hajime có một mái ấm gia đình hạnh phúc với Yukiko cùng những đứa con nhỏ. Ai cũng mong ước, ai cũng ghen tị với cuộc sống của anh. Vợ hiền, con ngoan, việc kinh doanh ổn định, cuộc sống dư dả thoải mái, được làm điều mình thích… Như có một phép màu đã mang điều may mắn đến với cuộc đời của Hajime, anh dần thoát khỏi những vô vị của quá khứ và rẽ sang một trang mới diệu kì. Tưởng chừng như sau khi kết hôn rồi, Hajime sẽ không còn thấy cô đơn nữa. Thế nhưng, nỗi cô đơn cứ bám víu lấy cuộc đời anh một cách lạ kì. Và dù cho hiểu rất rõ về nó, anh vẫn không khi nào có thể rời khỏi nó. Anh luôn cô đơn, anh luôn hoang hoải. Anh luôn thấy bản thân mình như ngạt thở và những ngổn ngang ẩn giấu tiềm tàng trong lòng anh cứ trỗi dậy một cách âm ỉ và mãnh liệt như từng đợt sóng. Anh vẫn chưa thấy hài lòng với cuộc sống của mình. Anh luôn muốn tìm kiếm một lí tưởng nào đó. Một tia hi vọng nào đó. Một niềm hạnh phúc nào đó, mà anh luôn cho là nó giản đơn hơn, nó chân thành hơn, và nó khiến cho anh được sống, dẫu chỉ là sống trong một khoảnh khắc bé nhỏ, rồi phải tan đi…

Vậy cái niềm hạnh phúc mà anh luôn tìm kiếm là gì? Là Shimamoto, người con gái đầu tiên khiến cho anh hiểu được những xúc cảm của tình yêu. Nó không phải là một thứ tình cảm đơn thuần. Nó là kỉ niệm. Nó là điều thiêng liêng. Nó là những khát khao và chờ đợi của Hajime suốt cả một cuộc đời. Vì sao Hajime luôn nhắc nhở và chờ đợi Shimamoto, khi anh đã có gia đình, khi cô đã không còn cạnh kề bên anh nữa, khi thời gian đã ngang qua nhuốm màu kí ức và xô đẩy bao phận người trôi dạt về từng bờ bến khác nhau? Phải chăng “con người ta luôn mơ ước về mối tình đầu?”, vì đó chính là thứ đẹp đẽ và đáng nhớ nhất? Hoặc phải chăng, vì chưa có được một cách tròn vẹn nên người ta cứ luôn khao khát. Một cách mù quáng. Một cách bất chấp. Một cách mờ mịt và tối tăm.

Tôi gọi Hajime là một gã đáng thương là vì sao? Vì gã có rất là nhiều sai lầm. Sai lầm này nối tiếp sai lầm kia. Gã đã bao lần khiến cho những cô gái yêu thương gã phải khổ đau và tổn thương một cách sâu sắc. Gã biết điều đó. Gã hiểu điều đó. Gã luôn ý thức được những việc gã làm. Thế nhưng, gã cho đó là một điều bình thường. “Mình không thể chỉ gặp gỡ cô gái này bình thường như thế này được, nếu không mình sẽ phải hối tiếc cả đời.”, gã tự nhủ. Khi hẹn hò với Izumi, gã lại nhẫn tâm làm tình với chị họ của cô. Khi đã có Yukiko làm vợ, gã vẫn lừa dối cô để qua lại với Shimamoto. Những lời nói dối, những sự lừa lọc… gã có thấy mệt mỏi không. Có bao giờ gã cảm thấy hổ thẹn và xấu hổ với chính bản thân mình. Chắc chỉ có gã biết điều đó! Nhưng tôi không trách gã và oán gã. Vì như đã nói, gã luôn đáng thương. Bởi đôi khi người ta sẽ chẳng thể nào biết được đâu là đúng là sai, là nên làm và không nên làm. Cái tâm thèm khát và chứa đầy dục vọng bao giờ cũng chạy nhanh hơn lí trí, và để có thể thấu hiểu và kiểm soát được cái tâm ô uế đấy lại mất cả một thời gian dài, có khi là trải qua hàng vạn cuộc đời. Tôi mong, nếu như Hajime là một nhân vật có thật trên cuộc đời này, hoặc nếu có bất kì ai đang sống một cuộc đời giống như Hajime, thì họ sẽ hiểu được tâm trí của mình. Với tôi, đó luôn là một điều quan trọng. Hãy thử một lần ngồi lại và lắng nghe tâm trí, rồi ta sẽ thấy nó ô nhiễm và đầy rẫy dục vọng như thế nào. Nghĩ đến thôi, tôi bỗng thấy sợ hãi…

Cái tâm thèm khát và chứa đầy dục vọng bao giờ cũng chạy nhanh hơn lí trí, và để có thể thấu hiểu và kiểm soát được cái tâm ô uế đấy lại mất cả một thời gian dài, có khi là trải qua hàng vạn cuộc đời.

Và khi đặt cuộc đời đáng thương của Hajime vào cuộc đời của những cô gái khác, tôi lại thấy những con người ấy đều vô cùng tội nghiệp giống như nhau. Họ gặp gỡ nhau, họ trôi vào nhau và tìm đến nhau bằng một sợi dây liên kết nào đó. Họ có với nhau những năm tháng đầy kỉ niệm. Họ cho nhau hạnh phúc, rồi họ làm tổn thương nhau, không bằng cách này thì bằng cách khác. Xem ra, ai cũng đau khổ, ai cũng muộn phiền, ai cũng mệt mỏi và khốn cùng với những câu chuyện dông dài trôi dạt biết bao là thế kỉ. Nhưng chẳng ai can tâm từ bỏ, bởi có lẽ tình yêu là một thứ ma thuật lạ kì, khiến con người ta dù biết đau khổ vẫn cứ đâm đầu vào.

“Em không trách gì anh hết. Khi người ta bắt đầu yêu một người, thì là như thế đấy, không thể làm gì cả. Người ta yêu người mà người ta yêu. Em không đủ cho anh, chỉ vậy thôi… Chính vì thế mà em không trách anh đã yêu một người khác. Thật là lạ, điều đó không còn làm em tức tối. Chỉ rất nặng nề để chịu đựng thôi. Vô cùng nặng nề…”, Yukiko.

“Lẽ ra em không nên gặp lại anh. Em đã biết điều đó ngay từ đầu. Lẽ ra em nên để mọi chuyện nguyên xi như thế. Dĩ nhiên, em đã không ngăn nổi mình. Em chỉ muốn nhìn thấy anh và ngay sau đó đi khỏi ngay lập tức. Nhưng, tất nhiên, khi đã nhìn thấy anh, em lại không sao quyết định đi khỏi được nữa…”, Shimamoto.

Hajime yêu Shimamoto. Hajime yêu Izumi. Hajime yêu Yukiko. Và còn có khá nhiều những cô gái không tên khác nữa. Rồi tình yêu. Rồi dục vọng. Rồi nhập nhằng ranh giới giữa lí trí và trái tim. Ngay cả Shimamoto – khi đã qua đi rất nhiều năm tháng dài, vẫn muốn được qua lại với Hajime để khỏa lấp nỗi trống hoắc trong lòng. Họ tìm đến nhau. Họ vụng trộm. Họ bừng lên những suy nghĩ chạy trốn. Họ muốn được giải thoát khỏi cuộc sống này. Họ muốn được tan biến. Họ muốn được rã rời. Sao cũng được, dẫu là cái chết, chỉ cần họ được là của nhau, tan vào nhau, bất tận. Khi cảm xúc đã lấn át lí trí, con người ta khó có thể kiềm chế lại được những gì đang diễn ra trong cuộc sống của mình. Đáng thương, thật sự. Rồi những ngây thơ chân thành đầy thuần khiết của Izumi dành cho Hajime, rồi tình yêu chung thủy đầy sự tha thứ và bao dung của Yukiko dành cho Hajime, tất cả đều chỉ đánh đổi bằng khổ đau và nước mắt. Hajime có lẽ chính là gã đàn ông may mắn khi lúc nào cũng được những người phụ nữ yêu thương hết lòng, chờ đợi, tha thứ và hi sinh. Dẫu là ai đi nữa thì họ cũng đều có chung một đặc điểm, đó là đau khổ vì tình yêu. Vậy họ không đáng thương thì là gì?

Tôi mãi nhớ hoài cảnh tượng vào một ngày buồn đến thê lương, khi Hajime chở Shimamoto trên chuyến xe về lại thành phố của những nỗi buồn, khi trong lòng của cả hai đều ngổn ngang cảm xúc, họ khởi lên trong tâm những ý nghĩ lạ kì. Hay là mình bỏ hết tất cả để theo đuổi hạnh phúc trước mặt này. Hay là mình mặc kệ những điều bàn tán ở sau lưng. Hay là mình chạy trốn. Hay là mình giải thoát nhau để cả hai đều được vẹn tròn hạnh phúc, dẫu chiếc xe kia có tan biến vào hư không, thân xác của nhau có rã rời thành tro bụi. Chỉ cần được ở cạnh bên nhau. Chỉ cần được hòa quyện vào nhau, ngay khoảnh khắc này, khi mà tình yêu rực cháy trong lồng ngực. Cảnh tượng ấy buồn lắm. Câu chuyện ấy buồn lắm. Sao lại nhiều phiền muộn đến thế này. Tôi tự nghĩ, và tôi vẫn chưa tìm được câu trả lời.

Chỉ là thấy thương một Hajime khổ tâm giữa những sự lựa chọn sai trái.

Chỉ là thấy thương Shimamoto khờ dại với trái tim đầy lầm lỗi.

Chỉ là thấy thương Yukiko vẫn thiết tha chân thành tin tưởng người chồng mình hết mực yêu.

Nhưng họ có làm gì khác được đâu. Số phận đã đặt lên mỗi con người những câu chuyện như thế. Họ chẳng thể nào trốn chạy nữa rồi. Đã đến lúc họ nhìn nhận lại chính mình, và đối diện, và can đảm để vượt qua…

Vẫn như những tác phẩm khác của Haruki Murakami, cốt truyện chưa bao giờ là một điều đặc sắc và độc đáo trong Phía nam biên giới, phía tây mặt trời. Mọi diễn biến trong truyện đều chầm chậm và lả lướt như một thước phim quay chậm, băng ngang qua cuộc đời của Hajime một cách khẽ khàng. Cuộc đời ấy chẳng có gì ngoài những người bạn gái, ngoài tình yêu, tình dục, sai lầm và tâm tư suy nghĩ. Thế nhưng, điều nổi bật ở đây chính là, khi nhìn vào những giản đơn tiểu tiết ấy, ta lại thấy cả một thế giới rộng mở trước mặt mình: thế giới nội tâm. Thật hay khi mà những hình ảnh giản đơn trong truyện lại hiện ra rất hài hòa cùng vơi những phân đoạn cảm xúc của nội tâm nhân vật. Khi những kẻ cô đơn cùng buồn bã, âm thanh của những bản nhạc jazz sẽ lên tiếng. Trước khi ai đó muốn nói một điều gì đó, những cuốn sách sẽ xuất hiện. Trước khi có một lỗi lầm xuất hiện, những ly cocktail và rượu sẽ là chất xúc tác để điều đó xảy ra. Tôi vẫn luôn cho rằng Haruki Murakami chính là một nhà văn tài ba khi có khả năng dùng con chữ để vẽ ra những bức tranh phân tích và miêu tả tâm lí nhân vật rất tốt. Các nhân vật không hề bộc lộ những điều đó rõ ràng, nhưng người đọc lại vô tình hóa thân thành các nhân vật ấy và bước chân vào hành trình khám phá những khắc khoải suy nghĩ thường tình kia. Cũng chẳng cần một phương tiện gì xa vời và lạ lẫm, hãy cứ gạt bỏ mọi suy nghĩ và phán xét khi đọc văn của Haruki Murakami đi, vì sự đồng cảm đã làm tốt mọi thứ rồi, tôi vẫn tin.

Có một câu mà tôi rất thích trong cuốn sách này, đó chính là những dòng cuối cùng, khi cuốn sách khép lại, là lời tự tình của Hajime, trong một buổi sáng đầu ngày vắng lặng giữa hơi mây lãng đãng trôi ngang qua khu nghĩa trang Aoyama. “Ở tận sâu trong bóng tối đó, tôi nghĩ đến mặt biển dưới cơn mưa. Trời mưa không tiếng động trên đại dương rộng lớn, mà không ai biết cả. Những giọt nước đập lên mặt nước im lặng, và ngay cả những con cá cũng không có chút ý thức nào về điều đó…”. Với tôi, khung cảnh ấy đẹp lắm, tôi có thể tưởng tượng ra được điều đó. Nó giống như một lời thức tỉnh. Phải chăng rằng vẫn luôn có những giông bão đang chực chờ nổi dậy giữa mặt biển yên bình tĩnh lặng. Hãy cứ chuẩn bị sẵn sàng và đón nhận hết tất cả vào lòng, dù là chuyện gì đi chăng nữa. Rồi cũng sẽ qua, sẽ qua thôi. Cuộc đời này vốn vô thường, kể cả niềm vui, kể cả nỗi buồn. Rồi ta lại quay về với những ngổn ngang trong lòng mình. Ta lại hoang mang chẳng biết có một biên giới nào không ở phía nam kia, và có một mặt trời nào không đang sống giữa bến bờ phía tây.

Và chúng ta là ai?

Và cuộc đời này là gì?

Và thế giới này ra sao?

Bất chợt, một giai điệu nào đó văng vẳng trong đầu tôi những ca từ quen thuộc.

Pretend you’re happy when you’re blue

It isn’t very hard to do…

Hết.

Lâm Lâm

Xem tất cả những bài viết của Lâm Lâm tại đây.


Muôn màu của Haruki Murakami





Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!