Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Đời du nữ: Câu chuyện của một ả đàn bà nghiện đàn ông

“Cho dù tôi đã sống cả đời trong thế giới này với thân phận du nữ, nhưng không vì thế mà tôi kết thúc đời mình với trái tim vẩn đục”

Đăng từ

on

Chi tiết tác phẩm

Câu chuyện về các nàng kĩ nữ, dù là cổ đại hay hiện đại, thường được khai thác dưới hai góc nhìn: hoặc là những cô gái đoan trang vì bi kịch nhất thời mà phải đưa chân ngọc nhúng chàm đen, rồi thân xác bị vùi dập trong phấn trắng son đỏ; hoặc về những người phụ nữ tham vọng, sử dụng nhan sắc để khống chế đàn ông đu đưa như con rối vô tri vô giác. Phần lớn người Á Đông vẫn không chấp nhận việc đàn bà bị khống chế bởi chữ “dục”, vậy nên kĩ nữ – biểu tượng của nhục dục và sa đọa – cứ thế mà được thi ca hóa.

Thế mà, từ nước Nhật xa xôi và phù phiếm, Ihara Saikaku đã gián tiếp cười dài khi khắc họa một nàng du nữ (kĩ nữ) hoàn toàn trái ngược với hai hình mẫu trên. Thoạt tiên, số phận nàng cũng có những bước đường sa cơ lỡ vận.

“Xuất thân từ một gia đình tử tế, nàng làm thị nữ cho một phu nhân ở triều đình. Nhưng sau đó bị đuổi đi vì tội vụng trộm tình ái lúc mới 12 tuổi.

Không bao lâu, gia đình nàng sa sút, nàng bị bán vào ‘thành phố không đêm’ Shimabara ở Kyoto.”

“Shimabra chính là một Yukaku (du quách), ở đó bắt đầu cuộc đời lưu lạc khắp xứ của người đàn bà đa tình. Nàng lần lượt là du nữ, là tình nhân của một nhà sư, là thầy dạy viết thư, hầu phòng, hầu gái, ca nữ, gái nhà tắm, trà thất và khi xuống tận đáy, làm cả gái điếm đường.”

– Trích chương 1, Saikaku và thế gian đa tình.

Nàng du nữ này không “bán mình vì số phận”. Nàng say sưa thú vui nhục thể đến mê loạn, đến ám ảnh, đến tình nguyện để chữ “sắc” nuốt trọn tâm trí. Nàng như một con nghiện thuốc không ngừng tìm cách cai, nhưng ngựa đã lỡ quen đường cũ. Trong năm trăm người chồng một đêm của nàng, có lãnh chúa oai phong nhất vùng, có chàng nhân sĩ học rộng tài cao, có kẻ du thủ du thực, có vị trụ trì một năm ăn mặn vài lần, và có lão già thất thập cổ lai hy. Kẻ khác hành nghề vì kế sinh nhai, vì đường đời đưa đẩy. Nàng hành nghề vì nàng “hám sắc”.

1. Câu chuyện về một ả đàn bà nghiện đàn ông

Nàng du nữ là một kẻ nghiện đàn ông và nghiện làm tình với đàn ông, chấm hết.  

So sánh đơn giản, nếu một kẻ sắp chết đói nhìn thấy một bức họa đồ ăn, từ trong dạ dày của gã sẽ râm ran, dồn dập những cơn sóng dịch vị. Từng thớ thịt mỡ màng trước mắt gã sẽ mang sức quyến rũ ngàn cân. Có gì mà gã không dám hi sinh để được phập răng vào miếng thịt, thỏa mãn cơn đói ngấu của mình? Tương tự, nàng du nữ luôn trong tình trạng gọi bỗ bã là “thiếu hơi trai”. Chỉ cần liếc mắt thấy một cánh tay rắn chắc, cảm nhận một cái đụng chạm hững hờ là đã khiến xuân tình trong mắt nàng ta lúng liếng. Thứ nhục dục này như thuốc phiện, thỏa mãn ham muốn nhất thời nhưng hủy hoại dần dần thân thể và tinh thần của nàng. Những lúc kịp tỉnh táo, nàng ta sẽ vùng dậy bỏ trốn như một kẻ nghiện choàng tỉnh sau cơn say, giãy giụa để cứu vớt lấy tâm trí thanh tịnh. Nhưng không, nàng ta là một con nghiện, mà cuộc đời này rất giỏi trong việc chu cấp thuốc cho con nghiện. Cứ như thế, nàng ta tiếp tục sa ngã. Hai mươi tư phần truyện ngắn là hai mươi tư lần nàng ta sa ngã.

Nhưng nàng ta lại là một con nghiện hời hợt.

Theo lẽ thường, phụ nữ – đặc biệt là phụ nữ phong kiến – thường bị vấn vương bởi chữ tình, cảm xúc lúc nào cũng đầy ắp, chực chờ trào dâng. Nàng du nữ đã trải qua trăm ngàn bể dâu cuộc đời, nếm thử đủ loại khổ đau khinh nhục. Người khác lâm vào hoàn cảnh của nàng còn biết oán thán, tuyệt vọng, hổ thẹn. Còn những lời tâm sự của nàng ta lại vô cùng hời hợt, chỉ thi thoảng buông vài câu hờn trách lấy lệ. Nói nàng trơ trẽn cũng chẳng phải – nàng quá điềm tĩnh và phẳng lặng để hành xử như một kẻ trơ trẽn đích thực. Thật là một lối hành văn quá đỗi… đàn ông! Có câu nói vui: “Đàn ông đổi tình yêu lấy tình dục, đàn bà đổi tình dục lấy tình yêu”, nhưng câu này chẳng thể áp dụng được cho bản thân nàng.

2. Nàng du nữ kia, rốt cuộc nàng muốn gì?

Một lời khuyên phổ biến dành cho những người viết văn là nhất định phải để nhân vật chính có một mục tiêu, khiến anh ta/ cô ta có thứ mà theo đuổi, truy cầu. Bất kể người đó muốn gì – danh vọng, sự nghiệp, công lý, báo thù – mục tiêu sẽ tạo động lực cho anh ta/ cô ta tiến về phía trước, thúc đẩy tiến độ câu chuyện, làm tiền đề cho sự đổi thay và tiến bộ.

Nhưng nàng du nữ của Ihara Saikaku chẳng muốn gì cả.

Có lẽ nàng ta cũng chẳng thực sự ham mê sắc dục. Nàng ta bị trói buộc bởi sắc dục, nhưng trong mắt nàng, nó chẳng đáng giá hơn chiếc kimono vải mỏng của đám gái già là bao. Ở đàn ông, nàng ta không tìm kiếm sự yêu chiều hoặc nịnh bợ. Nàng ta chẳng mê mẩn tiền bạc, hôn nhân hay sắc đẹp trường tồn. Nàng ta cũng chẳng nỗ lực thay đổi. Từ khoảnh khắc nàng ta là Tayu (cấp bậc cao nhất của nghề du nữ) đến lúc lạc bước đứng đường, nàng ta vẫn là một kẻ nông cạn và dục tình. Đời cho nàng ta một chục cú tát, nhưng phấn son chẳng mảy may trôi đi trên gương mặt trơ lì và vô cảm ấy.

Nhưng giá trị văn học của nàng nằm ở việc nàng chẳng muốn gì cả.

Nhiều người mặc định rằng, “đam mê hoặc mục tiêu là bẩm sinh, người ta sẽ tự nhận biết mình muốn điều gì”. Chẳng có câu nào làm tôi hãi hùng hơn câu ấy. Đam mê với tôi là kết tinh từ quá trình cọ sát và học hỏi từ thế giới bên ngoài. Bạn có thể có năng khiếu mĩ thuật, nhưng nếu không có cơ hội tiếp xúc với bút màu và cọ vẽ, bạn sẽ không khám phá và phát huy được tài năng. Hoặc giả cha mẹ bạn không có điều kiện, xã hội không khuyến khích, xung quanh cũng toàn là những lời cấm cản, phê bình khiến bạn nhụt chí, sớm muộn gì chút năng khiếu ấy cũng bị thui chột và dập tắt.

Cuộc sống người phụ nữ phong kiến bé bằng cái giếng, hoặc chính xác hơn là bé như cái cửa sổ bồi giấy nhìn ra khoảng trời vuông bằng cái sân gạch. Bạn nhận xét rằng kĩ nữ tự do hơn tiểu thư ư? Các nàng tự do chỗ nào, khi cái cửa số ấy chỉ chuyển từ căn phòng khuê các sang quán rượu lầu xanh? Bức tường che không xây từ gạch vữa hay giấy bồi mà xây từ định kiến, đạo lý mà xã hội gán lên người phụ nữ, như một tấm biển định giá lạnh lùng và suồng sã. Trong một thời đại mà phụ nữ phải tuân theo những lề thói bất công, nơi mà phẩm hạnh của tiểu thư được cân đo bằng của hồi môn, nơi mà giá trị của kĩ nữ được đong đếm bằng những xu tiền bèo bọt, nơi mà người định đoạt số phận họ là các quý ông “chồng nhiều đêm” hoặc “chồng một đêm”, họ hoàn toàn không có cơ hội mở rộng khoảng trời của mình. Các nàng hoặc là chết dần chết mòn, hoặc là trôi thản nhiên như một mảng bèo, chẳng muốn và chẳng có gì cả.

“Cho dù tôi đã sống cả đời trong thế giới này với thân phận du nữ, nhưng không vì thế mà tôi kết thúc đời mình với trái tim vẩn đục” không phải là một lời phán định lạc quan hay phân trần về phẩm giá của nàng du nữ, mà chỉ là một lời hứa suông, phơi bày bản chất vô định của nàng.

Tinh thần của nàng đã bị xã hội giết chết. Cả người nàng chỉ còn là thân xác, một thứ thân xác có ý thức, có cá tính nhưng không có cốt lõi tồn tại.

3. Giá trị của Đời du nữ nằm trong bối cảnh hay vượt ra khỏi bối cảnh?

Bạn sẽ nghĩ, Đời du nữ chỉ có giá trị phê phán xã hội đương thời, cảm thương cho số phận người phụ nữ phong kiến bị vùi dập. Ngày nay, nam nữ bình quyền rồi nên nó chẳng còn giá trị gì nữa.

Bạn có chắc không?

Bi kịch của nàng du nữ xuất phát từ việc nàng nghiện đàn ông và nàng sống cuộc đời không mục đích. Nó tương tự như thứ bi kịch mà nhiều người hiện đại mắc phải. Ihara Saikaku mở đầu câu chuyện bằng những lời châm biếm về bản chất phù phiếm của con người – những kẻ miệng thì thao thao bất tuyệt về khát vọng đổi đời và chạm tay vào giấc mộng phù hoa, nhưng lúc nào cũng đầu hàng trước những cám dỗ trước mắt. Những kẻ như thế thời nay nhan nhản. Họ hối hả hưởng thụ những cuộc chơi kích thích ngắn hạn để tự gây tê bản thân, quên đi mục tiêu lâu dài.  Tôi không dám chắc cuộc đời họ có kết thúc như nàng du nữ không, nhưng số phận của họ hẳn là một bản bi kịch của sự hời hợt.

Nhưng Saikaku châm biếm chứ không phán xét. Khi đọc sách, tôi chưa một lần căm ghét nàng du nữ, cũng chẳng thương cảm gì nàng ta. Cảm xúc tôi dành cho nàng ta chắc chẳng khác gì khi ngắm một bức tranh trừu tượng: tò mò, khó hiểu và… hơi thích thú. Saikaku là một nhà văn rất “người” – đối với ông, vẻ đẹp của con người có thể lấn áp hoa đào nở tháng ba. Một chút sắc hồng phơn phớt điểm tô trên màn mưa xuân làm sao có thể so sánh được với sự phức tạp, đa tình, lố bịch, bi thương trong tâm trí và số phận con người?

Bạn có thể đánh giá Đời du nữ theo nhiều cách, hoặc như bản phân tích tâm lí của một ả đàn bà phong lưu, hoặc như một áng văn phê phán xã hội thời bấy giờ. Nhưng với tôi, Đời du nữ là một lời cảnh tỉnh, đồng thời cũng là một bài thơ tôn thờ vẻ đẹp rất đỗi trần tục và tầm thường của con người. Chính cái sự vừa châm biếm, vừa chấp nhận, vừa ngụ ngôn, vừa ca ngợi đã làm nên giá trị vượt thời gian của tác phẩm.

*

“Nhục thể con người ta rồi sẽ thối rữa, xương cốt sẽ thành tàn tro và được chôn lấp dưới cây cỏ. Chỉ có cái tên là còn lại.”

Điều duy nhất tôi nuối tiếc là, Ihara Saikaku cuối cùng cũng chẳng cho nàng lấy một cái tên.

Hết.

Mèo Heo


Những bài viết cùng chủ đề



2 bình luận

2 Bình luận

  1. Tâm An

    Tháng Tư 30, 2019 at 5:34 sáng

    Đã từng xem qua phim hồi ức của một Geisha, cũng biết mọi việc cái gì cũng có niều mặt cả nhưng đọc giới thiệu về đời du nữ lại thấy cô gái trong truyện này như vừa đáng thương lại vừa đáng trách, đặc biệt là câu cuối của tác giả bài này :” Điều duy nhất tôi nuối tiếc là, Ihara Saikaku cuối cùng cũng chẳng cho nàng lấy một cái tên.” và câu trong truyện “Nhục thể con người ta rồi sẽ thối rữa, xương cốt sẽ thành tàn tro và được chôn lấp dưới cây cỏ. Chỉ có cái tên là còn lại.” Cuối cùng thì giá trị cuộc sống là gì, con người ta sống để làm gì…

  2. Vũ Thị Phương Thảo

    Tháng Năm 10, 2019 at 7:11 sáng

    ” Nàng du nữ này không “bán mình vì số phận”. Nàng say sưa thú vui nhục thể đến mê loạn, đến ám ảnh, đến tình nguyện để chữ “sắc” nuốt trọn tâm trí.” Tuy ” ĐỜI DU NỮ” được viết vào năm 1952 nhưng thực sự thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm qua tác phẩm vẫn rất giá trị đới với cuộc sống ngày nay. Đời du nữ là một hồi cảnh tỉnh, cho nhungữ ai đang đắm chìm trong lối sống không mục đích..

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Người lớn, trẻ con và Hoàng tử bé

Đăng từ

on

Người đăng

Khi còn bé, chúng ta suy nghĩ mọi thứ khác so với chúng ta phiên bản trưởng thành đến nỗi đánh mất đi nhiều thói quen hay ho. Là trẻ con, chúng ta nhìn qua lăng kính trong veo không gợn chút bụi trần, và hầu như không phải đắn đo giữa được và mất. Đến một thời khắc nào đó, con người khi đã đủ trưởng thành lại bùi ngùi nhớ lại bản thân mình ngày xưa với biết bao tiếc nuối… Đọc Hoàng tử bé, độc giả không tránh khỏi những suy nghĩ ấy: giờ đây, những thứ mộc mạc, giản dị của ngày bé chẳng thể trở về giản dị, mộc mạc nữa rồi, vì cuộc sống khắc nghiệt của người lớn phức tạp hơn nhiều.

Tuổi thơ và những điều con trẻ

Nhân vật xưng “tôi” ngày nhỏ thích vẽ. Trong một lần nhìn thấy bức tranh con trăn nuốt chửng cả một chú voi khổng lồ, bạn nhỏ ấy đã họa lại theo cách của mình, nhưng có vẻ không được tán dương lắm. Con trăn no căng bụng bị nhìn nhầm thành chiếc mũ, nên cậu vẽ cho hở bụng và không quên họa con voi to tướng vào chỗ hở của bụng trăn. Khi ấy, “người lớn” thi nhau bảo cậu hãy bỏ giấc mộng vẽ vời đi. Chẳng ai hiểu cậu vẽ gì cả.

Cậu bỏ thật…

Nhưng bức tranh ấy có ý nghĩa gì nhỉ? Tôi nghĩ mãi, và tạm chấp nhận với câu trả lời: con trăn chính là cuộc sống của “người lớn”. Nó nuốt chửng cả đứa trẻ thơ dại còn sót lại trong mỗi chúng ta. Đáng buồn là, chẳng ai thèm đoái hoài hay lo lắng về quá trình khó lòng cưỡng lại ấy. Chúng ta dường như đang quay mặt lại với chính mình ngày xưa: giản đơn, hiền lành và đầy mơ mộng.

Người kể chuyện là một người đàn ông cô đơn. Mỗi lần người khác cười ông vẽ “chiếc mũ” vớ vẩn, ông lại từ chối đứa trẻ sống trong tim mình bằng cách sống “người lớn” hơn: trí tuệ, hiểu biết và sõi đời.

Ông vẫn là một tâm hồn cô độc, quanh quẩn với chính mình, vòng quanh thế giới bao la nhưng mãi đến khi gặp Hoàng tử bé từ hành tinh B612 thì ông mới phần nào nguôi ngoai. Hai tâm hồn cô đơn, gặp nhau và tạo thành một mối dây liên kết vô hình. Của một đứa trẻ với một người già. Của một cư dân Trái Đất với kẻ sống ở nơi chỉ toàn núi lửa và lác đác vài bông hoa…

Người lớn đánh giá một vật xấu hay đẹp, đánh giá một người có đáng được lắng nghe hay không, cũng chỉ sòng phẳng qua những phương tiện vật chất. Trong thế giới mà tiền bạc là tất cả, chẳng ai để ý đến bông hoa nhỏ bé có thể bị con cừu ranh mãnh ăn mất bất cứ lúc nào.

Hoàng tử bé và chuyến phiêu lưu nhỏ

Lúc trò chuyện với chú phi công, Hoàng tử bé có vẻ rất lo lắng cho bông hoa hồng của mình. Cô quạnh trên hành tinh quê nhà, bông hoa lắm lời và kiêu kì có thể được xem như người bạn duy nhất của cậu. Đoạn miêu tả bông hồng sao mà giống lời miêu tả chị em phụ nữ của cánh mày râu quá: kiêu hãnh, không chịu công nhận tình cảm, lại còn vô cùng điệu nữa. Hoàng tử yêu bông hoa ấy, và bông hoa đó cũng yêu hoàng tử. Đó là lý do bông hoa cố tỏ ra vẻ mình yếu đuối: muốn được cậu che chở và chăm sóc.

Lồng ghép vào đó là câu chuyện về cây bao báp ăn nát cả hành tinh. Phải chăng, tác giả ngụ ý rằng, chuyện gì hôm nay làm được thì chớ để ngày mai, không thôi bao báp ăn mất đất, đến không còn chỗ mà sống. Triết lý giản đơn ấy, ngày nhỏ chắc hẳn rằng đã được mẹ và cô bảo ban hàng chục, hàng trăm lần, nhưng không hiểu sao khi đọc truyện, tôi mới thấy nó rõ ràng và đáng suy ngẫm đến thế.

44 lần ngắm mặt trời lặn. Vì buồn quá nên thích ngắm mặt trời lặn. Chẳng phải, vì cô đơn, lạc lõng quá nên buồn sao? Vì vậy, chú phi công kết luận: “Cái ngày 44 lần ngắm ấy, hẳn là cậu phải buồn lắm?” Cậu im lặng không đáp. Một đứa trẻ mà buồn thì sẽ như thế nào nhỉ?

Hoàng tử bắt đầu chán chường với bông hoa “nói nhiều”. Cậu muốn thoát khỏi hành tinh nhỏ bé của mình, thoát khỏi “vùng an toàn” và chu du khắp những vì sao. Nhưng sau đó, rõ ràng cậu lại hối hận vì đã đánh giá bông hồng qua cái sự “nói nhiều” ấy. Cậu nhận thấy mình có tình cảm sâu đậm với bông hoa. Cuộc phiêu lưu của cậu ra khỏi “vùng an toàn” chính là một cuộc dạo chơi của tâm hồn thơ bé đến với thế giới hiện thực tàn khốc của người lớn. Ở đó, có biết bao loại người khác nhau, nhưng dù là ai thì cậu cũng cảm thấy “người lớn thật là khó hiểu”, “kỳ lạ” và “buồn cười”.

Đó là một ông vua trị vì vương quốc không có lấy một thần dân. Ông trị vì trong cô đơn và mòn mỏi, với những triết lí cũng khá là hợp lí: “Cần phải yêu cầu người ta làm cái điều gì người ta có thể thực hiện được…” Tuy nhiên, vì quá cứng nhắc nên ông ta có vẻ bị động và bất lực, khi cậu quả quyết rời khỏi hành tinh. Một ông vua mà không có thần dân, thì còn gì là vua nữa?

Đó là một ông hợm hĩnh, coi cả thế giới là “cộng đồng người hâm mộ” của mình, và mình là cái rốn của vũ trụ. Loại người như thế này thì công nhận, ngoài đời nhiều thật. Bạn cứ thử làm việc nhóm nhưng chọn nhóm một cách ngẫu nhiên xem. Thế nào bạn cũng phải chán ngán như khi Hoàng tử bé chán ngán trò chơi vỗ tay… Cái tôi quá lớn xua đuổi người khác đi mất chứ chẳng thể giữ nổi chân ai cả.

Đó là một ông nát rượu. Vì quá bất lực với cuộc đời, quá hèn nhát mà ông chỉ trốn vào men rượu. Tại sao? Vì ông nghiện rượu. Đó là một vòng luẩn quẩn không lối thoát, nhất là khi bạn chỉ biết than thân trách phận mà chẳng buồn hành động chút xíu nào để làm cuộc đời bạn tốt hơn.

Đó là nhà buôn nghiện tính. Tính mãi, tính mãi, luôn miệng nói mình bận lắm, mình toàn làm những việc cao cả, những thứ nghiêm túc thôi. Nhưng để làm gì nhỉ? Tính tổng số sao mình sở hữu. Hoàng tử bé đã chỉ ra một điều mà ít ai để ý: rằng nhà buôn ấy, tính toán bận rộn thế thì chẳng ích lợi gì cả, rằng ông ta cũng không làm gì được cho các ngôi sao cả. Cuộc sống thực tại cũng vậy. Có rất nhiều người bận vùi đầu vào những thứ vô bổ, tưởng chừng nghiêm túc nhưng chả hề có ích; lại có người mải mê kiếm tiền mà quên hưởng thụ, quên mục đích cuộc sống của mình là gì, dẫn đến đời sống tinh thần nghèo nàn, thui chột; cũng có người có nhiều lắm, nhưng không cho đi, không giúp đỡ người khác, nên cuộc sống vô cùng tẻ nhạt.

Lại có ông nhà địa lý mọt sách, suốt ngày rúc vào sách vở chứ chẳng đi thực tế hay khám phá gì cả. Riêng có người đốt đèn chăm chỉ, cần mẫn là đáng để Hoàng tử bé kết thân. Có cảm giác, tác giả đang miêu tả bản thân như người đốt đèn đó: làm một việc khiêm nhường nhưng có ích cho đời. Đó là người duy nhất ngoài vũ trụ mà cậu muốn kết thân.

Vậy bạn trẻ à, bạn là cư dân của hành tinh nào mà tôi đã đề cập nhỉ?

Mong rằng bạn không cần phải phật lòng với tôi vì đã khiến bạn chột dạ.

Vậy còn Trái Đất thì sao?

Con rắn, cái giếng, con cáo và hoa hồng

Cách nói ví von đầy ẩn ý như thế, khiến những con người đã-từng-là-trẻ-con không khỏi trăn trở: rắn, cáo, hoa hồng nhưng đâu phải là rắn, cáo, hoa hồng thôi; giếng nhưng sâu thẳm, nó là gì nữa?

Con rắn ban đầu thấy Hoàng tử bé là đã ra chiều dụ dỗ. Nó bảo, nọc độc nó là để người bị cắn trúng trở về với nơi được sinh ra – thật là tráo trở biết bao. Thì ra, con người với nhau nhưng giả dối lắm, nên hay dùng những mỹ từ cao cả để che đậy tội lỗi. Cuối cùng, chính con rắn ấy đã trút hết nọc độc vào em và bỏ đi. Em ngây ngô, nhưng không hề ngây ngô chút nào.

Cậu gặp một con cáo, khao khát được thuần hóa. Con cáo đó, chính là nhân loại. Nhân loại khao khát yêu và được yêu, dù có đau khổ, dù có nếm mật nằm gai. Romeo và Juliet vẫn đến với nhau và yêu nhau bằng cả mạng sống, và chắc hẳn tiểu thuyết của Nicholas Sparks bán chạy cũng là do nhân gian nào có ai từ chối tình yêu cả một đời. Thế là cậu phát hiện ra, mình đã “được” hoa hồng kia thuần hóa. Cậu yêu bông hoa ấy. Và cậu nghĩ mình có trách nhiệm với thứ mà mình đã thuần hóa. Chậc, những người yêu nhau, thương nhau đều có trách nhiệm giữ cho người kia an toàn và hạnh phúc mà nhỉ?

Con cáo đau khổ khi phải chia xa Hoàng tử bé, nhưng nó không hối hận vì đã van nài cậu thuần hóa nó. “Lúa mì, vốn dĩ vàng óng, sẽ khiến tớ nhớ đến cậu.” Thật đáng nể, tác giả dạy trẻ con về tình cảm tự nhiên của con người quá tài tình!

Còn đây là bài học mà tôi tâm đắc nhất:

Người ta chỉ nhìn rõ được bằng trái tim. Con mắt thường mù lòa trước điều cốt tử… Chính thời gian mà cậu dành cho bông hồng của cậu mới khiến bông hồng của cậu quan trọng đến thế.

Hoàng tử bé của chúng ta cũng phát hiện rằng, 5000 bông hoa hồng trên trái đất giống hệt như bông hoa của cậu, nhưng với cậu, đóa hoa đó là duy nhất. “Nhưng chỉ riêng mình nàng thôi, nàng đã quan trọng hơn tất cả các cô, bởi lẽ chính nàng đã được tôi tưới nước cho. Bởi lẽ chính nàng đã được tôi chắn bình phong cho… Bởi lẽ đấy là bông hồng của tôi.”

Đọc đến đây, tôi chợt ganh tị với một bông hoa hồng nhỏ bé…

“Điều khiến cho sa mạc đẹp, hoàng tử nói, chính là nó giấu một cái giếng ở đâu đó…”

Em biết mình muốn làm gì, và cần phải làm gì để đi đến điểm dừng cuối cùng ấy. Không như những người trên tàu hỏa, chen lấn, xô đẩy, nhưng ông lái tàu chẳng biết họ đi tìm cái gì cả.

Vậy bạn thân mến, bạn đã biết mình đến thế giới này để làm gì chưa? Nếu chưa, thì bạn cần phải học hỏi Hoàng tử bé nhé! Cậu đi tìm giếng nước và khoan khoái uống nước do chú phi công múc lên. Cậu gắn liền làn nước mát ngọt và tiếng dây kéo cót két với chú phi công. Vì vậy, có lẽ sau này mỗi lần cậu khát nước hoặc nghe tiếng dây, thấy cái giếng, cậu sẽ nhớ tới chú phi công. Nhưng có lẽ, cậu không còn lần sau nữa.

Cậu đã tặng chú phi công cái gì nhỉ?

Những ngôi sao biết cười.

Đứa trẻ trong cơ thể già cỗi khô cằn.

Một lời gợi nhớ, rằng những thứ vô hình cần được cảm nhận bằng trái tim.

Lời kết

Tác giả truyện, Antoine de Saint-Exupéry là một phi công, và đã có kinh nghiệm tham gia làm nhiệm vụ trong Thế chiến thứ hai. Giấc mơ được bay lượn của ông được gởi gắm qua nhân vật “tôi” trong truyện, cùng với việc Hoàng tử bé bay lượn từ hành tinh này sang hành tinh khác. Kết thúc của truyện cũng khá buồn, nhưng tôi vẫn muốn hiểu theo cách riêng của mình. Tôi thấy bản thân không đủ mơ mộng và lạc quan để tưởng tượng cảnh Hoàng tử bé trở về quê nhà, tận tay chăm bón cho cô hoa hồng đỏng đảnh. Hoa chờ cậu một năm rồi, đã úa tàn rồi. Còn cậu, cậu cũng chẳng thể thoát khỏi lưỡi hái tử thần, và rời khỏi thế gian một cách nhẹ nhàng. Nhưng cậu, với một tâm hồn thánh thiện và tinh khiết, đã khiến cho chú phi công kia thay đổi quan điểm sống, khiến chú luôn nhớ đến cậu, thương nhớ cậu, vì chí ít, cậu cũng đã cứu mạng chú ấy, khiến chú ấy sống thật với bản thân, với “đứa trẻ mình đã từng là”. Hoàng tử cũng đã thỏa được mong muốn trở về với hoa hồng yêu dấu, dù là mãi sau khi cả hai đều lìa khỏi cõi đời. Tôi hoàn toàn tin rằng, cậu đã ra đi vô cùng thanh thản. Cậu ra đi vì tình yêu, dù bản thân cũng chẳng biết định nghĩa tình yêu là gì…

Truyện ngắn gọn nhưng dư âm thì còn mãi với thời gian. Mong rằng, những bài học quý giá về cuộc sống, về thành và bại, hữu hình và vô hình, tình yêu và tình bạn, sự sống và cái chết, tất cả đều sẽ đồng hành với tôi trong suốt quãng đời còn lại. Đều là những bài học đắt giá mà tác giả đã đúc rút được từ cuộc đời truân chuyên của mình, nên tôi rất trân trọng.

Ngày 31.07.1944, máy bay của Saint-Exupéry mất tích trên Địa Trung Hải. Tôi nghĩ, ông đi tìm Hoảng tử bé đấy. Ắt hẳn là ông đã tìm được em.

Hết.

Gia Bảo

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Những điều chúng ta có thể học (và không nên học) từ “Dịch hạch” của Albert Camus

Từ Liesl Schillinger, về thảm họa, lây nhiễm và tình trạng con người.

Đăng từ

on

Người đăng

WHAT WE CAN LEARN (AND SHOULD UNLEARN) FROM ALBERT CAMUS’S THE PLAGUE

Liesl Schillinger

Thông thường, một câu hỏi như thế này thường mang tính lí thuyết: Chuyện sẽ ra sao nếu thị trấn của bạn, tiểu bang của bạn, đất nước của bạn, bị tách biệt khỏi phần còn lại của thế giới, người dân bị ép ở yên trong nhà khi một căn bệnh truyền nhiễm đang lây lan, lây nhiễm cho hàng ngàn người và làm hàng ngàn người nữa phải cách ly? Bạn sẽ đối phó như thế nào nếu dịch bệnh phá vỡ nhịp sống thường nhật, trường học đóng cửa, bệnh viện dần trở nên quá tải và các cuộc tụ họp xã hội, các sự kiện thể thao, các buổi hòa nhạc, hội nghị, lễ hội và kế hoạch du lịch bị trì hoãn vô thời hạn?

Năm 1947, khi 34 tuổi, Albert Camus, nhà văn người Pháp gốc Algeria đã đưa ra câu trả lời đáng kinh ngạc và chi tiết cho câu hỏi trên trong cuốn tiểu thuyết Dịch hạch. Cuốn sách ghi chép lại sự xuất hiện đột ngột và ra đi chậm chạp của một trận bệnh dịch hạch giả tưởng tại thị trấn ven biển Oran của Algeria vào tháng Tư trong thập niên 1940 (năm cụ thể không rõ). Khi căn bệnh xâm nhập vào thị trấn, dịch bệnh kéo dài, làm đảo lộn cuộc sống và tâm trí người dân, cho đến tháng Hai năm sau, khi nó rời đi nhanh chóng và kỳ lạ như cách nó đến, “quay trở lại hang ổ tối tăm nơi mà nó đã lén lút xuất hiện”.

Dù bạn đã đọc Dịch hạch hay chưa, ngay lúc này ta cần đọc hoặc đọc lại cuốn sách trong thời điểm cả quốc gia và quốc tế căng thẳng, khi một căn bệnh mới mang tên COVID-19, gây ra bởi chủng mới của vi-rút corona, đang càn quét toàn cầu. Kể từ khi chủng mới của vi-rút corona xuất hiện vào cuối năm ngoái tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc (thành phố đã bị phong toả từ tháng Một), nó đã phát triển không ngừng, xâm chiếm hơn một trăm quốc gia, làm người dân và thị trường tài chính chao đảo, buộc các thành phố, khu vực, và cả nước Ý sống dưới sự cách ly. Tuần này, nơi làm việc, trường học và trường cao đẳng đã đóng cửa hoặc làm việc online ở nhiều thị trấn của Mỹ (bài viết gốc được đăng vào ngày 13.03.2020), các sự kiện bị hủy bỏ và du lịch không thiết yếu đã bị cấm. Dịch đã được nâng cấp thành đại dịch. Bạn có thể thấy mình có nhiều thời gian để đọc sách hơn bình thường. Tiểu thuyết của Camus có sự tương đồng và nhiều bài học để cung cấp trong thời buổi này.

Trước khi bạn cầm cuốn sách này lên, hãy yên tâm rằng dù dịch COVID-19 có thể đáng sợ, nhưng nó không tài nào có sức tàn phá như bệnh dịch hạch của Camus. Vào thế kỷ 14, bệnh dịch hạch, còn được gọi là “Cái Chết Đen” đã giết chết gần một phần ba dân số trên lục địa châu Âu. Khi nó hoành hành khắp London vào năm 1656 và 1657, nó đã giết chết gần một phần tư dân số. Trong trường hợp bạn chưa biết, bệnh dịch hạch vẫn còn tồn tại đến ngày nay, không chỉ ở châu Á và châu Phi, mà còn ở phía Tây Nam nước Mỹ. Nó được truyền bởi bọ chét từ loài gặm nhấm bị nhiễm bệnh, gây sốt cao, nôn mửa và sưng đau, có tên là “sưng bạch hạch” (về sau gọi là “thể hạch”). Ngay cả khi được điều trị bằng kháng sinh, nó có tỷ lệ tử vong là 10%; và nếu không được điều trị, tỉ lệ lên tới 90%. Vi-rút corona lại không hề giống như thế.

Khi Camus viết cuốn tiểu thuyết này, không có dịch hạch ở Oran. Tuy nhiên, nó đã tàn phá thành phố này vào thế kỷ 16 và 17. (Từng có một đợt dịch bùng phát kéo dài một tháng tại Oran vào năm 2003.) Nhưng nếu Dịch hạch mô tả các triệu chứng và hậu quả của căn bệnh theo đúng nghĩa đen và phương diện lâm sàng, thì những con vi khuẩn soi dưới ống kính của tác giả không có quá nhiều yếu tố thuộc về mặt sinh lý, mà là phân tích dưới góc độ xã hội học và triết học. Mặc dù tiểu thuyết theo dõi sự tiến triển của một dịch bệnh cụ thể ở một thành phố, quốc gia và khung thời gian cụ thể, chủ đề thực sự của Camus lại vượt ngoài phạm vi thời gian và địa điểm.

Mục đích của ông là ẩn dụ: ông đang đề cập đến bất kì căn bệnh truyền nhiễm nào có thể thống trị bất kì xã hội nào, từ một căn bệnh như dịch tả, cúm Tây Ban Nha, AIDS, SARS, hoặc, vâng, COVID-19; đến một hệ tư tưởng mục ruỗng, như Chủ nghĩa Phát-xít, hay Chủ nghĩa Toàn trị, có thể đầu độc cả nhân loại. Camus đã nhìn thấy Đức Quốc Xã tràn vào Paris năm 1940 trong Thế chiến thứ hai. Cùng thời điểm ông đang viết Dịch hạch, ông là tổng biên tập tờ Combat, tạp chí ngầm của Kháng Chiến Pháp, những người đóng góp bài vở bao gồm André Malraux, Jean-Paul Sartre và Raymond Aron. Ông nhìn thấy mối liên hệ giữa nhiễm trùng thể chất và nhiễm trùng tâm lý, và cuốn sách của ông đã nối chúng lại với nhau.

*

Khi câu chuyện bắt đầu, những con chuột đang lảng vảng trong bóng tối của Oran, đầu tiên là từng-con-một, sau đó thành “từng bầy”, hết sức kì lạ, chúng lăn ra chết trên mặt đất hay trên các con đường. Người đầu tiên gặp phải hiện tượng này là bác sĩ địa phương tên Rieux, người đã báo với người gác cổng của mình, Michel, để giải quyết sự phiền nhiễu trên, và bất ngờ khi Michel tỏ ra “căm giận” thay vì ghê tởm. Michel tin chắc rằng lũ trẻ hư đốn đã vứt những con chuột chết trên hành lang nhà mình như một trò chơi khăm. Giống như Michel, hầu hết các công dân Oran đều lý giải sai những điềm báo sớm; họ đã bỏ lỡ ý nghĩa to lớn của chúng. Trong một thời gian, hành động duy nhất họ thực hiện là tố cáo bộ phận vệ sinh địa phương và phàn nàn về chính quyền. “Về phương diện này, cư dân của chúng ta cũng giống như mọi người khác, chỉ biết lo cho bản thân”, người kể chuyện phản ánh. “Họ là những người theo chủ nghĩa nhân văn: họ không tin vào bệnh dịch.” Camus cho thấy thật dễ dàng để nhầm lẫn dịch bệnh với một sự phiền toái.

Nhưng sau đó, Michel ngã bệnh và qua đời. Khi Rieux chăm sóc cho ông, ông đã nhận ra những dấu hiệu của bệnh dịch hạch, nhưng lúc đầu, ông tự thuyết phục mình rằng: “Không được phép làm mọi người sợ hãi, như thế sẽ chẳng được gì cả.” Các quan chức Oran đều đồng ý. Tỉnh trưởng (giống như thị trưởng hoặc thống đốc, ở thuộc địa Algeria) “tin chắc rằng đó là một báo động sai.” Một quan chức cấp thấp, Richard, khẳng định căn bệnh này không nên được xác định chính thức là bệnh dịch hạch, mà nên được gọi đơn thuần là “một loại sốt đặc biệt”. Nhưng khi tốc độ và số ca tử vong tăng lên, Rieux không chấp nhận cách nói giảm nói tránh đó và các nhà lãnh đạo thị trấn buộc phải hành động.

Camus đề xuất rằng, các nhà chức trách chỉ có trách nhiệm giảm thiểu mối đe dọa của dịch bệnh cho đến khi các dấu hiệu đã trở nên quá rõ ràng, rằng phản ứng chậm chạp còn nguy hiểm hơn là phản ứng thái quá. Ông viết, hầu hết mọi người đều có chung thiên hướng này – đó là điểm yếu của con người: “Mọi người đều biết rằng dịch hạch có cách tái xuất trên thế giới, nhưng bằng cách nào đó chúng ta thấy khó tin vào những thứ từ trên trời rơi xuống đầu mình.”

Chẳng mấy chốc, thành phố bị đóng cửa và áp đặt trạng thái cách ly, tách biệt những cư dân Oran với nhau và với thế giới bên ngoài. “Điều đầu tiên mà bệnh dịch hạch mang đến thị trấn của chúng tôi là lưu vong”, người kể chuyện viết. Một nhà báo tên Rambert, bị mắc kẹt ở Oran sau khi cánh cổng đóng lại, đã cầu xin Rieux cấp giấy chứng nhận sức khỏe để anh ta có thể trở lại với vợ mình ở Paris, nhưng Rieux không thể giúp anh ta. “Có hàng ngàn người như anh đang bị mắc kẹt trong thị trấn này,” ông nói. Giống như Rambert, người dân sớm cảm nhận được sự vô nghĩa của việc nhai đi nhai lại nỗi khổ sở của bản thân, bởi vì dịch hạch xóa đi “tính độc đáo trong cuộc sống mỗi người” ngay cả khi nó nâng cao nhận thức của mỗi người về sự yếu đuối và bất lực của mình để lên kế hoạch cho tương lai.

Thảm hoạ này là của chung cộng đồng: “Một cảm giác, bình thường vốn rất cá nhân, như nỗi đau của sự chia li với những người mình yêu thương đột nhiên trở thành cảm giác mà tất cả cùng chia sẻ,” Camus viết. Nỗi đau này, cùng với nỗi sợ hãi, trở thành “tai hoạ lớn nhất của thời kỳ lưu đày kéo dài.” Bất cứ ai gần đây đã phải hủy bỏ một chuyến công tác, một lớp học, một bữa tiệc, một bữa ăn tối, một kỳ nghỉ hoặc một cuộc hội ngộ với người thân, có thể cảm nhận sự hợp lí khi Camus nhấn mạnh về sự sụp đổ cảm xúc thời kỳ bệnh dịch: cảm giác của sự cô lập, sợ hãi và mất đi công việc. Chính điều này, “lịch sử của những gì mà nhà sử học bình thường đã ngó lơ”, là những điều cuốn tiểu thuyết của ông ghi lại, và cuốn tiểu thuyết vi-rút corona đang được ghi vào cuộc sống người công dân hiện tại.

Nếu bạn đã đọc Dịch hạch, bạn sẽ bị ám ảnh nhất với những dằn vặt về thể xác mà người kể chuyện của Camus, dù có vẻ vô tư, nhưng miêu tả vô cùng trực quan. Có thể bạn chú ý nhiều hơn đến bong bóng và các hố vôi hơn là bức tranh tường thuật về những người dân bình thường, bị mắc kẹt trong những vết sưng phồng do dịch bệnh, người đã chiến đấu với cảm giác bị cô lập bằng cách mặc quần áo, đi dạo một cách vô mục đích dọc theo đại lộ Oran, và tràn ra khỏi nhà hàng, sẵn sàng tránh xa nếu một đồng nghiệp ngã bệnh, bị cuốn vào “cơn khát khao điên cuồng về cuộc sống thịnh vượng giữa thảm hoạ”: sự an ủi của cộng đồng. Người dân thị trấn Oran không có sự trông cậy mà người dân ngày nay có được, ở bất cứ thị trấn nào: tìm kiếm cộng đồng trong thực tế ảo. Hiện tại, khi đại dịch đang xâm chiếm và tồn tại trong thời đại kĩ thuật số, người ta đã áp dụng một bộ lọc mới sống động cho cái nhìn sắc sảo của Camus về bối cảnh cảm xúc của sự lây lan.

Ngày nay, sự lưu đày và cô lập của dịch bệnh 2.0 đang có được các sắc thái riêng, đặc điểm riêng của chúng, tái tạo lại hình ảnh của Camus. Khi chúng ta đi bộ dọc theo những con phố, đi đến cửa hàng tạp hóa, chúng ta phản xạ theo thói quen phòng ngừa mà các phương tiện truyền thông xã hội khuyến cáo: rửa tay, nhún vai và cười toe toét thay cho bắt tay, thực hiện giãn cách xã hội. Chúng ta có thể thực hiện công việc của mình từ xa để tránh lây nhiễm cho người khác hoặc tránh bị nhiễm bệnh, chúng ta có thể tránh xa các bữa tiệc, buổi hòa nhạc và nhà hàng, đặt hàng các ứng dụng giao hàng. Nhưng trong bao lâu? Camus biết câu trả lời: chúng ta không thể biết.

Giống như những người đàn ông và phụ nữ sống trong thời kỳ gián đoạn gần một thế kỷ trước, những người mà Camus đã mô phỏng lại để minh họa cho chủ đề không thể tránh khỏi của mình, tất cả những gì chúng ta có thể biết là sự gián đoạn này sẽ không kéo dài mãi mãi. Nó sẽ đi, không thể giải thích được, khi nó đã vừa ý. Và một ngày, những thứ khác sẽ xuất hiện. Và khi đó, cuốn tiểu thuyết của ông đã cảnh báo từ lâu, và giờ đây cho chúng ta thấy rõ hơn, chúng ta phải cẩn thận để hiểu chính xác những điềm báo. “Có rất nhiều bệnh dịch cũng như chiến tranh trong lịch sử”,  Camus viết, “Tuy nhiên, luôn luôn có những tai họa và cuộc chiến làm mọi người ngạc nhiên.”

Hết.

Chan Trang lược dịch.

Bài viết gốc được Liesl Schillinger thực hiện, đăng tại Literary Hub.

Ảnh đầu bài: Fanpage Nhã Nam


Bài viết có thể bạn sẽ thích




Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Giữa hai chúng ta: Tuổi trẻ hoang dại

Về mặt cảm xúc, “Giữa hai chúng ta” thật sự thành công trong vai trò này, và hơn ai hết, chính Sally Rooney xứng đáng là cây bút mới cho những tuổi trẻ vô cùng xanh xao.

Đăng từ

on

Người đăng

Kể từ sau WonderCall Me By Your Name, Normal People với tựa tiếng Việt Giữa hai chúng ta là cuốn sách tiếp nối gây được nhiều tiếng vang trong giới đọc sách ngay trước khi được chuyển ngữ và giới thiệu hồi đầu năm nay tại Việt Nam. Không dừng ở đó, với việc bộ phim chuyển thể được phát sóng trên kênh BBC ở Anh và Hulu ở Mỹ hồi cuối mùa xuân 2020 càng làm tăng thêm sức hấp dẫn của nó. Chưa bàn về nội dung, việc được đề cử giải Man Booker 2018 hay được xướng danh “Tiểu thuyết hay nhất” giải Costa đã như bảo chứng cho tầm quan trọng của cuốn sách này. Với Giữa hai chúng ta, Sally Rooney đã viết nên một bản hòa tấu về tình yêu và tuổi trẻ vô cùng đặc sắc: trải dài từ khoảng trầm đau thương đến nơi cao lảnh lót của niềm tin, tình yêu và sự tha thứ. Nói không ngoa, Giữa hai chúng ta thật sự là cuốn sách mà những người trẻ cần đọc để vững tin hơn, để trân quý hơn tình yêu mà mỗi người họ vẫn hằng nắm giữ.

Nội dung cuốn sách xoay quanh hai nhân vật chính – Marianne và Connell, hai học sinh phổ thông đứng trước lằn ranh của trưởng thành và bản tính trẻ con. Nếu Marianne xuất thân trong gia đình giàu có nhưng đầy nỗi buồn, cô co mình và sống ở một thế giới khác; thì Connell – cậu trai Ireland điển hình tuy gia cảnh không quá nổi bật nhưng sắc vóc và tính cách như thể sinh ra dành cho trường học. Họ gặp gỡ và gắn kết ban đầu không hơn gì ngoài những tò mò dục tính. Thời gian làm con người ta lớn lên và nhận thức thay đổi, đây cũng là lúc họ tách nhau ra bởi những lựa chọn bên lề, nhưng cuối cùng rồi thì, thứ khiến họ trở về như một bản nguyên lại là tình yêu – thứ cảm xúc trải qua chông gai và đầy khó khăn để thật sự nhận ra nó thuộc về họ. Giữa hai chúng ta là một tiểu thuyết tiêu biểu dành cho tuổi trẻ, không chỉ về tình yêu, khờ dại; mà đan xen ở đó còn là màu xám của những nỗi lo đầu đời, của trầm cảm, tuyệt vọng và mất mát khi bỗng nhận ra cuộc sống không hẵng vận hành như một bộ phim. Và cuốn tiểu thuyết từ đó bắt đầu.

*

Điểm đáng khen đầu tiên có thể kể đến là Sally Rooney đã có một khởi đầu vô cùng phù hợp. Cây bút sinh năm 1991 kể câu chuyện về những người trẻ thuộc thế hệ cô một cách đầy đồng cảm và thấu hiểu. Họ đủ lớn để quyết định con đường mình, nhưng cũng đủ bé để khao khát trải nghiệm đi đến những vùng mới lạ hơn. Nếu Marianne là cô bé có sự cứng rắn đến từ nỗi đau; thì Connell là chàng trai đầy nhút nhát và mặc cảm về tình trạng mình. Nếu Rob hay Eric, Jamie thuộc phe chuyên bắt nạt phe yếu ở trường; thì Rachel hay Lisa là những mean girl chính hiệu. Bằng cách mở ra bầu không khí và sự phân vai đầy điển hình, Sally Rooney mở ra Giữa hai chúng ta bằng sự quen thuộc đầu tiên, và hơn ai hết chính những người trẻ như đang sống lại đời sống thật sự của mình, còn những người lớn có thêm cơ hội để rồi nhìn lại những năm tháng ấy.

Từ sự tiếp cận quen thuộc trên, Sally khai thác những yếu tố vẫn thường xảy đến với những người lớn chưa hoàn thiện này – sự tò mò về tính dục, những tình cảm ngốc nghếch, sự chia bè kéo lũ, sự giành tranh tình cảm hay hằng hà sa số những thứ khác. Chính trong những hoạt cảnh này, những nhân vật của cô hiện lên đầy sức sống và sự vận động. Nếu hai nhân vật chính đắm chìm trong sự khám phá bản thân với người còn lại, thì những mean girl hay cool boy chính hiệu lại đang làm chủ ở trường đại học. Và cũng từ trong những khoảnh khắc ấy, tính cách của họ dần dần hé lộ.

Sally tiếp đó khai phá những khoảnh vực sâu giữa mỗi nhân vật. Cô xây dựng Marianne và Connell gần như đối lập. Trong khi Marianne giàu có với danh tiếng gia tộc, thì Connell lại có gia đình gần như bê tha – nhiều người ngồi khám và Lorraine sinh cậu khi mới 17. Ở đó, cô cũng đi sâu vào cấu trúc gia đình của người phương Tây điển hình, khi ẩn đằng sau sự giàu có và sung túc là những bí mật muốn giấu – người mẹ lơ đãng và anh trai thường hay bắt nạt. Chính những sự kiện ấy gắn kết họ lại với nhau, và giữa họ xuất hiện từ lâu chính thứ tình cảm không thể tách rời.

Cũng chính vào những lần họ ở bên nhau này, Sally Rooney dần dần khắc họa nên cả bầu trời của những ước mơ, của những toan tính bình thường. Mỗi lần Connell hay Marianne đáp xuống khoảng giường của người còn lại, ta đều nghe thấy trong mỗi đoạn văn là thứ tình cảm non yếu đang mới cất lời. Marianne thông qua Connell như đang đi tìm một sự bảo bọc, về phía Connell – cậu chàng như lớn lên theo chính cách rất khác này. Họ bên nhau và hút cạn chút tuổi thanh xuân của mình, có cả phút giây hạnh phúc và lúc hờn ghen “Nếu cô khác với Connell thì sự khác biệt không xảy ra trong chính cô, trong sâu thẳm nhân cách cô mà xảy ra ở giữa họ, giữa sự tương tác”.

Cũng chính từ trong những khoảnh khắc ấy, tuổi trẻ hiện lên thật hoang dại nhưng đôi khi cũng đầy bi kịch. Ở đó, trong môi trường đại học đầy tính cởi mở, ta thấy họ được là chính mình và thật sự là mình. Những buổi tiệc thâu đêm, những lần làm tình, những tấm ảnh khiêu gợi… Tất cả gợi lên không hơn gì khác cái bồng bột và ham sống của tuổi trẻ. Họ ủng hộ nhau, phản bác và tranh biện lẫn nhau về chính trị, văn chương và đời sống con người; họ nhìn sâu vào bản chất nghèo nàn, sĩ diện và hơn hết là nỗi tị hiềm giữa họ với nhau. Họ làm nên một nguồn năng lượng tích cực, một đám mây tích điện những nguồn ham sống vẫn đang còn đập. Nhưng luẩn quẩn đâu đó, trong họ cũng là sự mất phương hướng, của lạc lối và cảm thấy đầy cô độc trên cuộc đời này. Nếu cái chết của Rob gây nên căn bệnh trầm cảm cho Connell khi những sắp đặt cuộc sống của anh đang dần đi vào ngõ cụt, khi chúng chạy tán loạn và không còn theo những gì anh nghĩ; thì nỗi ám ảnh bởi một gia đình thiếu trọn vẹn nơi Marianne lại bám riết và bám rễ vào sâu trong cô, biến cô trở nên thụ động và không gì hơn là một hình nhân để cho anh cô dễ dàng điều khiển.

*

Qua chính những chi tiết này, Sally Rooney làm nên Giữa hai chúng ta đậm đặc nhựa sống tuổi trẻ. Cô cấy vào đây chính những bước ngoặt mà người trẻ nào cũng hẳn đã từng trải qua: giữa những lựa chọn không biết bờ bến, giữa những tình cảm không thể phân biệt và hơn hết là những hiểu lầm, cơ hội vụt mất khi họ không biết níu giữ lẫn nhau. Nhưng cũng từ đây, điểm yếu của Giữa hai chúng ta dần dần hiện ra.

Chính những điển hình trong cách chọn nhân vật, cốt chuyện và nút thắt làm cho Giữa hai chúng ta trở thành một cuốn từ điển về tuổi mới lớn không hơn không kém. Nói thế không có nghĩa những chủ đề của Sally Rooney đã cũ hoặc không thể khai thác. Nói đúng hơn, cô thiếu nhiều hơn những sự tinh tế (hay cái thấu trải – nếu có thể nói thế) để viết nhiều hơn những khoảnh khắc này. Chúng thật đáng giá và đầy quý trọng nhưng Sally đôi lúc lại để cho chúng trôi tuột qua tay. Tôi từng nhớ những lúc khi ngồi nghiền ngẫm Người đọc của Bernhard Schlink, tuy cuốn sách đó và Giữa hai chúng ta không có quá nhiều điểm chung, nhưng một điểm chung lớn nhất nơi nhà văn người Đức làm được so với Sally là sự đi sâu tìm hiểu nhân vật. Tình cảm giữa một người lớn và cậu thiếu niên dĩ nhiên có nhiều khai thác và tính văn chương hơn so với người trẻ lứa tuổi đại học; nhưng nếu quy về cùng một mặt tình yêu, Sally dường như vẫn còn an toàn nhón chân bước trên lớp băng của sự thể nghiệm. Cô thiếu sự mạo hiểm cũng như đào sâu hơn nữa vào nhân vật mình. Họ có căn cước, nhân dạng và tính cách; nhưng dường như nó chưa đủ lớn trở nên đặc trưng cho một tác phẩm.

Ở một điểm khác, những diễn biến tâm lý nhân vật cũng nên được cân nhắc thêm. Vẫn không hiểu sao khi đã trải qua suốt khoảng thời gian từ trung lên đến đại học cùng nhau mà Marianne và Connell vẫn bao nhiêu lần trôi vụt qua nhau. Những cuộc đối thoại trên giường vẫn đầy thổn thức và còn đó cái tinh ranh của những khao khát tình yêu chưa được khỏa lấp; nhưng khi đối mặt với nhau họ trở nên xa lạ. Với những người nhạy cảm như Marianne hay lý trí như Connell, thiết nghĩ họ là người hiểu rõ nhất tâm cảnh riêng mình – nhưng với Giữa hai chúng ta, cả hai người họ dường như là những vũ trụ song song, ánh xạ lẫn nhau nhưng lại không thể đi đến cùng nhau.

Sự yếu đuối của Marianne cũng là một điều rất đáng nhìn lại. Ngay từ đầu vẫn không hiểu sao cô có thể chịu đựng dài lâu như thế, từ người anh hèn nhát đến Jamie bạo lực, từ Lukas vụ lợi đến Connell năm lần bảy lượt trêu ngươi. Cô có đầu óc, của cải và sự nhạy cảm; nhưng thật không hiểu vì sao vẫn luôn đứng đó như một cái bóng vô ảnh vô thanh, không một tiếng nói không lời đấu tranh. Nội tâm của nhân vật thật sự là một món ăn vô cùng quý hiếm mà chỉ đầu bếp lành nghề mới có thể động vào không gây biến động, riêng với Sally, đây chính là nơi cô cần khai thác và tập trung nhiều hơn nữa so với những gì đang được bày biện.

*

Khép lại Giữa hai chúng ta, đây thật sự là cuốn sách mang đến nhiều trải nghiệm. Bỏ qua những điểm bất hợp lý và những xử lý vẫn còn non tay, đây thật sự là một hành trang vô cùng cần thiết cho những người trẻ. Thêm một lần nữa, nó cho họ thấy tình yêu có thể tuyệt diệu đến mức độ nào; và tuổi trẻ, tuy nguy hiểm như gai hoa hồng, nhưng nếu trải nghiệm đúng người hợp lý và đúng thời điểm, nó còn tỏa ngát và đẹp đẽ còn hơn thế nữa. Với những người lớn, nó là ống dẫn đưa họ về lại một thời đã qua, một thời chưa xa nhưng vẫn đầy ắp kỷ niệm. Về mặt cảm xúc, Giữa hai chúng ta thật sự thành công trong vai trò này, và hơn ai hết, chính Sally Rooney xứng đáng là cây bút mới cho những tuổi trẻ vô cùng xanh xao.

Hết.

Ảnh đầu bài: I love books

Đọc bài viết

Cafe sáng

error: Content is protected !!