Nối kết với chúng tôi

Phía sau trang sách

Bắt trẻ đồng xanh – Nỗi sợ mơ hồ và sự cô độc ẩn trong thời niên thiếu hoang dại

“Bắt trẻ đồng xanh” đưa người đọc vào sự bấp bênh tuổi thiếu niên một cách gần gũi, như thể đang lôi tuột cái thằng nhóc/con nhóc nổi loạn hiếu thắng hoặc lạc lõng bơ vơ mà mỗi người từng có ra, để nhìn ngắm lại.

Published

on

Chi tiết tác phẩm

Bắt trẻ đồng xanh là một quyển sách rất đẹp. Lớp bìa chỉ một màu xanh của cánh đồng lúa mạch. Không có giới thiệu tác giả, tác phẩm. Không có giới thiệu nội dung, đánh giá. Không gì cả. Dòng chữ tựa sách được in thì giống hệt những đứa trẻ đang đuổi bắt nhau. Tựa đề được lấy từ một lời thoại về điều duy nhất mà nhân vật Holden Caulfield muốn làm, khi cậu trả lời câu hỏi của em gái Phoebe. Cậu muốn ở một cánh đồng lúa mạch, nơi có hàng nghìn đứa trẻ đang chạy nhảy, và cứ thế, bắt lấy bất kỳ đứa nào lại gần cậu.

Caulfield yêu trẻ em. Để ý rằng dù cho cậu có hằn học, chửi tục và mỉa mai cuộc đời đến đâu đi nữa, thì ở những khi hồi tưởng lại cậu em đã mất Allie, hay cô em gái đáng yêu Phoebe, hay tình cờ gặp gỡ với bất kỳ đứa trẻ nào, cậu trở nên rất dịu dàng. Dịu dàng như đang nâng niu một báu vật. Trẻ em cũng là nguyên do cho một nỗi đau khôn nguôi trong cậu, là nguồn gốc của tất cả sự bấp bênh tuổi thiếu niên mà cậu đang hứng chịu. Allie, cậu em trai mà Caulfield hết mực yêu thương, đã chết vì bệnh máu trắng lúc cậu 13 tuổi. Khi ấy, Caulfield đã lấy tay không đập hết các cửa sổ gara trong nhà, từ đó không thể nắm chặt bàn tay phải như thường được nữa.

catcher_in_the_rye_poster_by_inpbo-d7g1juy

Câu chuyện bắt đầu vào một buổi tối ảm đạm tháng 12 tại trường Pencey, khi Caulfield trở lại khu túc xá và được thông báo bị đuổi học. Đây là ngôi trường thứ tư đuổi cổ cậu vì không hoàn thành chỉ tiêu môn học. Cậu ghé thăm một ông giáo già, người duy nhất cậu quí mến, rồi trở về phòng. Tại đây, Caulfield mâu thuẫn và dẫn đến một cuộc ẩu đả ngắn ngủi với thằng bạn cùng phòng (thực ra chỉ mình cậu bị đánh). Vì thế cậu quyết định xách đồ đạc cuốn gói ngay trong đêm, thay vì chờ đến thứ 4 tuần sau.

Bắt trẻ đồng xanh được dịch bởi Phùng Khánh và Phùng Thăng vào năm 1964, sau đó tái bản có sửa chữa vào năm 2008, chỉ lấy tên Phùng Khánh. Đây là quyển sách cuối cùng bà dịch trước khi về nước xuất gia. Phùng Khánh đã chuyển dịch thứ ngôn ngữ ba trợn, phóng khoáng của tác giả J. D. Salinger, hay của Caulfield một cách sáng tạo, gần gũi và đậm chất địa phương miền Bắc. Với những cụm từ như “các thứ”, “chết được”, “ả”, “bảnh”, “mạnh”… được sử dụng theo kiểu cách và lặp đi lặp lại.

jd-salinger-quote

Thứ ngôn ngữ có phần mỉa mai hằn học đó được Caulfield giữ nguyên từ đầu đến cuối, thứ ngôn ngữ của một cậu nhóc 17 tuổi ngổ ngáo nhìn đời, có phần khiến người ta khó chịu ở những trang đầu, lại tạo nên sự chân thực khó diễn tả bằng lời. Như thể người đọc đang ngồi trước mặt cậu và chuyện trò với cậu, thấy cậu vung tay vung chân diễn tả với ánh mắt nhiệt thành và cả cay nghiệt. Nếu phải so sánh với một nhân vật khác, Caulfield có được thứ sức sống của Jack Pozzi trong Nhạc đời may rủi của Paul Auster, nhưng miệng lưỡi thì của Chí Phèo. Bất cứ thứ gì cậu nhìn vào đều mang một vẻ xấu xí và “thối” đến mức không ngửi được, ngay cả những thứ cậu cảm thấy là đẹp thì nó vẫn cứ thối.

Quyển sách, tựa như một bản phim khác của Linklater trong bộ ba “Before”, không có cắt cảnh, không có nhảy thời gian, đơn giản là thuật lại từng phút giây trong ba ngày cuộc đời Caulfield. Tối thứ Bảy, cậu rời khỏi trường để đến New York trọ trong một khách sạn. Suốt ngày Chủ Nhật cậu lang thang ở thành phố này và gặp một vài người. Tối Chủ Nhật cậu về nhà thăm em gái và đến thứ Hai, cậu dự tính sẽ bỏ đi thật xa. Lối miêu tả của Salinger không cầu kỳ, không chi tiết, nhưng như đã nói, có được hơi thở nồng nặc của cuộc sống phả vào, qua lời lẽ của Caulfield. Người đọc như thể được ở bên cậu, đi cùng cậu, và nhìn thấy những cảnh tượng rõ rệt trên từng góc đường New York, trong từng quán bar, trong viện bảo tàng, trong công viên một buổi chiều mưa… gặp từng con người vừa bình thường vừa kỳ lạ qua con mắt cậu, và ngửi được cái cuộc sống ấy, cái cuộc sống khiến cậu chán ghét mang đầy đủ phong vị của những năm 50 nước Mỹ.

Giống như bất kỳ tác phẩm kinh điển nào khác, tương đồng nhất là Đồi gió hú, phải trải qua một hành trình câu chữ khó khăn lắm thì người đọc mới được tưởng thưởng. Ban đầu người ta có thể thấy ghét Caulfield, và không hiểu một đứa cá biệt lười biếng và có cái nhìn thiển cận, cũng như luôn chửi bới mọi thứ thì có gì đáng quan tâm. Nhưng rồi, Calinger bóc tách dần con người Caulfield, không phải bằng những gì cậu nghĩ về mình, không phải bằng những gì người khác nghĩ về cậu, mà bằng hành động, bằng những sự kiện, bằng chính những suy tư và hồi ức cậu có đối chiếu với hiện tại cậu đang trải qua. Đó là một cậu bé thông minh, sâu sắc và nhạy cảm. Một tâm hồn biết yêu thương, nhưng không biết tự bảo vệ mình trước sự giả dối xung quanh. Càng đi cùng cậu, người ta lại càng yêu quí cậu, và thấy rằng, cái việc cậu hậm hực với mọi thứ chỉ là để bảo vệ cho cái mong manh trong cậu.

Bắt trẻ đồng xanh đưa người đọc vào sự bấp bênh tuổi thiếu niên một cách gần gũi, như thể đang lôi tuột cái thằng nhóc/con nhóc nổi loạn hiếu thắng hoặc lạc lõng bơ vơ mà mỗi người từng có ra, để nhìn ngắm lại. Và thường chỉ có thằng nhóc/con nhóc nào đủ thông minh để tự vấn, đủ cảm xúc để đau đớn, và đủ chính kiến để tự tách biệt thì mới gặp quá nhiều khó khăn đến vậy. Người ta thấy đồng cảm với Caulfield bởi cả sự đáng yêu trẻ con của cậu, như ước mơ khá buồn cười được làm một kẻ “câm điếc” trong một thế giới giả dối và bộ tịch. Nhưng rồi lại giật mình tự vấn xem bản thân mình đã thỏa hiệp với thế giới ấy đến đâu rồi. Và nhận ra, cái ước mơ buồn cười ấy sao mà đáng quí, sao mà trong trẻo và đầy ánh sáng. Cũng như bản chất của Caulfield, một chàng trai tốt đến mức chưa được quan hệ tình dục vì cứ dừng khi tụi con gái bảo cậu dừng, và không thể qua đêm với cô gái điếm chỉ vì cô ta không thích nói chuyện và coi trọng chuyện ấy như cậu. Những điều ấy sao mà dễ thương, đến mức những lời lẽ chán đời u ám của cậu cũng không che lấp được.

Nhưng cái sự bấp bênh ấy cũng nguy hiểm, như bất kỳ mối nguy nào người ta có thể gặp phải khi trưởng thành. Trong một gia đình không thể mang đến cho cậu đủ sự quan tâm và yêu thương, suýt chút nữa cái ước mơ khờ dại kia đã đẩy cậu đến con đường giang hồ bụi đời. Không cần nói, ai cũng có thể đoán ra cậu sẽ chẳng có được cái sự “câm điếc” bình dị ấy, mà cuộc đời tàn nhẫn hơn sẽ nhấn chìm cậu, sẽ thụi cậu đau tưởng chết như thằng cha gác thang máy Maurice. Mà nếu cậu không đủ thích nghi, chỉ còn cách nhảy ra khỏi cửa sổ như một tên bạn vô danh nào đó. May mắn rằng, cậu đã được cứu bởi một đứa trẻ, có lẽ là một trong hàng nghìn đứng trẻ cậu muốn bắt lấy ở cánh đồng xanh, như bắt lấy cái ngây thơ thánh thiện mà cậu đang cố níu giữ và đau khổ nhận ra đang mất đi, đang bị thế giới giả dối ngoài kia dung hòa và phai nhạt đi. Như anh trai cậu, chấp nhận “đánh đĩ” ngòi bút một cách đau khổ ở Hollywood. Đứa trẻ đó là cô em gái đáng yêu Phoebe mà cậu luôn nhắc đến với sự trìu mến.

Sau lớp vỏ xù xì, thì Bắt trẻ đồng xanh là một tiểu thuyết trưởng thành xúc động. Cuốn tiểu thuyết duy nhất trong sự nghiệp của Salinger, bắt lấy được hoàn toàn cái nỗi sợ hãi mơ hồ và cô độc khi lớn lên. Ấy là khi Caulfield bật khóc trong vòng tay của Phoebe, sau một điệu vũ lúc nửa đêm với cô bé. Cái sự vỡ òa ấy sao mà thật quá, mà nghẹn lên đến tận cổ. Cái thật cũng là, người ta ở tuổi ấy chưa thể nghe theo được những lời khuyên đúng đắn nhưng xa lạ của những người đi trước, dù là những người người ta yêu mến đi nữa. Như ông giáo già đã nói với Caulfield những lời thông thái mà cậu chưa thể hiểu, và chưa thể nghe theo. Điều người ta cần ở cái tuổi ấy, là một sự quan tâm và tình yêu chân thành. Cái mà những cô gái không thể mang đến, như Sally, khi Caulfield trong một phút khao khát đã mở lòng với cô. Và chỉ có thể là một đứa trẻ vì sợ mất anh trai mà xách theo cả chiếc vali nặng trịch, và xin đi theo anh dù chẳng biết đi đâu về đâu. Đó là sự ngây thơ ấm áp có thể lấp đi lỗ hỗng trong lòng Caulfield gây ra bởi sự mất mát xưa kia, có thể giúp cậu bình tâm mà nghĩ lại, mà chọn lựa lại, có thể vượt qua cái điểm mấu chốt chông chênh giữa một người lớn và một đứa trẻ mà không bị chệch hướng. Bởi kiến thức, bởi kinh nghiệm, bởi tất cả vốn sống có thể bù đắp lại sau, như lời ông giáo, còn cái lỗ hỗng ấy thì chỉ có thể là một khoảnh khắc thôi. Ấy là khi cậu ngắm Phoebe trên con ngựa gỗ trong buổi chiều mưa.

Catcher-in-the-rye-2

Hẳn là không khó khăn cho người dịch lắm, nhưng tôi vẫn cứ khâm phục với cái tựa Bắt trẻ đồng xanh mà họ dịch ra từ The Catcher in the Rye. Cái tựa giàu sức gợi và mênh mang đến thế, quả thật cứ văng vẳng mãi trong đầu khi đã gấp sách lại, dù ấn tượng đầu tiên là hoàn toàn khác lạ với cái gai góc bắt gặp ở những trang đầu tiên. Thế rồi trang tiếp theo và trang tiếp theo, và đến với chúng ta là cả một thời thiếu niên hoang dại, dù ở đâu đi nữa, vẫn cứ chung một nỗi niềm như thể vừa mở mắt ra đã thấy chúng ta chỉ đơn độc trên thế giới này. Nhưng không phải thế đâu. Không phải thế đâu.

Bắt trẻ đồng xanh đã được dịch ra 65 thứ tiếng và mỗi năm có khoảng 20 ngàn ấn bản quyển sách được bán ra, giữ nguyên sức sống như khi xuất bản lần đầu hơn 60 năm về trước. Ban đầu nội dung và cách thể hiện của quyển sách gây ra rất nhiều tranh cãi và bị cấm đoán ở các trường học. Nhưng hiện nay, quyển sách đã được đưa vào chương trình giảng dạy trung học của nhiều nước nói tiếng Anh, và là một tác phẩm kinh điển nhận được sự yêu mến của nhiều thế hệ thiếu niên trên khắp thế giới.

Hết.

Phương Nam

5 Comments

5 Bình luận

  1. Đoàn Thị Tú Nhi

    Tháng Tư 30, 2019 at 3:19 sáng

    Đọc bài này cảm thấy chắc phải ẳm một em về mới được 🙂

  2. Đoàn Thị Tú Nhi

    Tháng Tư 30, 2019 at 3:24 sáng

    Hay quá đi

  3. Phan Hữu Tuyến

    Tháng Tư 30, 2019 at 5:30 sáng

    Thoạt nghe tựa đề ” Bắt trẻ đồng xanh” thật lạ tại. Tại sao lại là ” Bắt trẻ đồng xanh”, tựa đề cuốn sách khiến bạn đọc là tôi cũng phải tò mò và tìm hiểu. Tình cờ tìm đọc vài bài viết về nội dung cuốn sách này lại thấy bài viết của bookish nói về cuốn sách vô cùng đầy đủ và trọn vẹn. Bắt trẻ đồng xanh kể về câu chuyện của chàng trai trẻ 17 tuổi trong khung cảnh xã hội Mỹ những năm 50. Tác giả khắc hoạ hình tượng nhân vật và góc nhìn xã hội dưới cái nhìn của môt thiếu niên. Góc nhìn ấy nếu thoạt đầu đọc và cảm nhận sẽ thấy đầy sự nông nổi và ngông cuồng tuổi trẻ của một thiếu niên bất cần đời. Chàng trai 17 tuổi ấy lười biếng, sống buông thả và liêu lổng nhì xã hội ngoài kia với sự chán chường và ghét bỏ. Thế nhưng từ sâu thẳm trong tâm hồn cậu ta vẫn có sự dịu dàng đến đáng yêu, sự ngây thơ và ước muốn che chở cho những đứa trẻ nhỏ hơn mình., hay sẽ không làm điều gì mà người khác không muốn, luôn hết mực tôn trọng người khác… Tuy chưa được đọc qua tác phẩm một cách trọn vẹn, nhưng bản thân tôi cảm thấy đây là một tác phẩm hay và đáng đọc hơn bao giờ hết. Để khai thác và khắc hoạ được hình ảnh này quả tác giả đã có sự đầu tư và trau chuốt không hề nhỏ, đặc biệt hơn phải có sự cảm nhận tinh tế đến từng chi tiết mới có thể tạo nên một hình tượng nhân vật, một tính cách không lẫn cào đâu và làm nên sự thành công đặc sắc, ý nghĩa nhân văn của tác phẩm. Bắt trẻ đồng xanh – một tựa ẩn ý sự ngây thơ như tên một trò chơi của bọn trẻ chốn quê, nhưng cũng chứa đựng trong đó khát khao được sống, được yêu thương trọn vẹn.

  4. Nguyễn Hữu Cát Tiên

    Tháng Tư 30, 2019 at 3:25 chiều

    Nếu là một người đã đọc và yêu mến cuốn Bắt trẻ đồng xanh, hẳn các bạn không khỏi ngạc nhiên thích thú, lẫn “cau mày phẫn nộ” chút đỉnh lúc mới đọc những trang đầu, thứ mình đang nói ấy chính là giọng kể ngông cuồng, bất cần nhất mà mình từng đọc tới. Với một tuổi đời tưởng chừng như non tơ ấy, Caulfield chỉ mới 17 tuổi, lại ôm trọn một tâm hồn nhạy cảm và đầy tình yêu thương. Có lẽ đúng, khi một người như cậu đã chứng kiến bao nhiêu bất công, lẫn lố bịch của những người xung quanh và cả sự mất mát không chỉ của riêng cậu mà cả những người cậu đang sống cùng thời. Yêu ra yêu, ghét ra ghét và cậu là người đủ thông minh chính trực để phân bua với chúng ở sâu thẳm tâm hồn mình, rồi hình thành nên một Caulfield như ta đang theo dõi trong ba ngày vỏn vẹn của cuốn sách. Một giọng kể lôi cuốn không thể rời, pha trộn bởi sự hóm hỉnh câu chữ và chặt chẽ trong lời kể, có thể cầm lấy và đọc liền mạch không mỏi mệt đến hết. Tuy nhiên, phải cảnh báo với bạn rằng cuốn sách cực kỳ cảm động ở phân khúc giữa cậu với cô em gái Phoebe. Nếu bạn không cầm được nước mắt, thì cứ để nó rơi, mình không nói với ai đâu.
    Đến nay, mình phải lòng rất nhiều cuốn sách trong đời, nhưng Bắt trẻ đồng xanh là một hiện tượng kỳ lạ mà hễ nhắc đến nó, hay dùng lời để giới thiệu nó với bạn bè, người mới gặp mình đều nói: “Đây là cuốn sách hóm hỉnh nhất, cảm động nhất và lạc lõng nhất của một người ở lứa tuổi thiếu niên mà bạn sẽ khó lòng bắt gặp lại một cách trọn vẹn và chân thực ở cuốn sách nào khác.”

  5. Hanh Nguyen Le

    Tháng Năm 15, 2019 at 4:58 chiều

    ôi nghĩ ở mỗi lứa tuổi và mỗi lần đọc cuốn sách này, chúng ta lại có một cảm xúc khác nhau. Lần đầu tiên đọc, tôi không ưa Holden: tiêu cực, hay than vãn, và lúc nào cũng khó chịu với mọi thứ. Cách dịch của cuốn sách cũng khiến tôi thỉnh thoảng phải đọc đi đọc lại một câu nào đó vì nó khá trúc trắc. Sau này đọc lại, tôi nhận ra và thấm thía được nhiều điều hơn. Ngay cả tên “Holden” cũng vậy, “Holden” phát âm gần giống “hold on” (nắm, giữ). Cậu lúc nào cũng muốn giữ sự ngây thơ trong một thế giới đầy giả dối và những con người bộ tịch. Ngoài ra “Bắt trẻ đồng xanh” tràn ngập những chi tiết mang tính biểu tượng, ẩn dụ. Chính bởi vậy không phải ngẫu nhiên mà cuốn sách này nổi tiếng tới vậy, mình sẽ đọc lại lần nữa vào một ngày không xa.

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phía sau trang sách

Thoát đến phương Tây: Số phận kẹt giữa những thế giới

Published

on

Có một loại giày vò khi ta sống trong những thành phố bất ổn về mặt chính trị. Một nơi không thực sự là nơi để sống. Một chốn quyết định cuộc đời ta thay cho chính ta. Một thành phố khiến ta phải kiềm hãm hay giấu đi những mong muốn, dập tắt đi ý tưởng, và nuốt chửng lấy niềm tin. Nó buộc ta sống dưới cái bóng của ai đó mà ta không thể chối từ. Để sinh tồn, cách người ta làm là ép bản thân làm quen với cuộc sống đó. Ở những thành phố như Cairo hay Lahore, nhiều người lựa chọn rời đi thay vì ở lại. Tưởng tượng về một cuộc sống “bình thường” ở nơi khác cũng đủ để thôi thúc người ta rời bỏ quê hương, ngay cả khi văn chương dạy ta biết rằng, cái giá cho những cuộc “trốn chạy” ấy vốn rất đắt. 

Những mâu thuẫn này bao trùm cuốn tiểu thuyết của Mohsin Hamid, Thoát đến phương Tây (Exit West). Cuốn sách lấy bối cảnh tại một thành phố không tên, đang đứng trước bờ vực bùng nổ nội chiến sau nhiều năm người dân bị áp bức. Hai nhân vật chính, Nadia và Saeed, gặp nhau trong bối cảnh chính trị bất ổn đó, thời điểm mà dạo phố, đi làm hay hẹn hò cũng có thể là một canh bạc của cuộc đời. Bởi súng có thể được bóp cò, bom có thể phát nổ bất cứ lúc nào.

Lưu ý: Nội dung dưới đây tiết lộ nhiều tình tiết quan trọng của tác phẩm Thoát đến phương Tây.

*

Saeed là một nhân viên tương đối bảo thủ làm việc tại một công ty quảng cáo sự kiện. Chàng trai ngoài 20 được miêu tả là “nghiêm túc ngay cả trong việc chăm sóc bộ râu”, “như phần lớn đàn ông trong thành phố: độc lập, trưởng thành, học hành tử tế, chưa kết hôn và có việc làm ổn định”. Saeed vẫn đang sống với bố mẹ, một người là giáo viên về hưu, một người là giáo sư đại học.

Trong khi đó, Nadia hiện đại, phá cách, sống một mình tại một căn studio trên tầng cao. Cô nàng là nhân viên công ty bảo hiểm, thường di chuyển quanh thành phố bằng chiếc xe đạp địa hình trong bộ áo choàng đen phủ từ đầu đến chân “để bọn đàn ông không giở trò mất dạy”. Độc lập, dữ dội và có phần bất thường là điều người ta hay nghĩ về Nadia. Trái ngược với Saeed, cô bị gia đình cắt đứt liên lạc vì quyết chuyển ra ngoài sống riêng. Trong khi Saeed dành buổi tối ở nhà với cha mẹ, nhìn ra bầu trời mặc dù nó “trở nên quá ô nhiễm cho việc ngắm sao”, Nadia thường xuyên tham dự các buổi biểu diễn ca nhạc, ăn chơi buổi đêm.

Bất ổn chính trị, như chiến tranh, cách mạng hay thậm chí là một cuộc xung đột dân sự, đều có thể thay đổi gần như hoàn toàn bộ mặt cuộc sống của chúng ta hằng ngày. Tiếng pháo hoa vang xa có thể là tiếng súng nổ, hay “Cái chết có thể bất ngờ ập đến khi bạn bước chân từ nhà ra đường. Ranh giới giữa sinh và tử đôi lúc chỉ là chiếc cửa sổ nhà bạn”.

Trong bối cảnh thành phố biến động đó, Hamid xây dựng một thế giới của người trẻ đầy khát vọng. Với ngòi bút chi tiết và sâu sắc, tác giả miêu tả hai nhân vật chính độc lập, mang cá tính riêng. Từ bối cảnh chung của thành phố, Thoát đến phương Tây khéo léo đưa người đọc vào từng cảnh đời riêng lẻ của mỗi nhân vật, buộc người ta phải chú ý vào những chi tiết, khoảnh khắc. Từ những số phận bất hạnh nhỏ nhoi, tác giả phóng ra cái nhìn toàn cầu về vấn đề của thời đại như nạn vượt biên, dân tị nạn,… Bằng cách này, Hamid tạo ra một câu chuyện được xây dựng tỉ mỉ, bao hàm nhiều tầng ý nghĩa, làm nổi bật lên nhiều thực tế chính trị - xã hội, cuộc đời – con người dù thực tế ông chỉ tập trung vào miêu tả hai nhân vật chính. Thế giới trong sách, dường như đang được tác giả gợi ý, là thế giới tương lai của con người chúng ta. Nếu vậy, câu hỏi được tác giả đặt ra: làm sao để ngăn cho nó không xảy đến, hoặc ít nhất giảm thiểu những thiệt hại mà nó gây ra?

Mối quan hệ giữa Saeed và Nadia chớm nở và phát triển khi chiến tranh bùng nổ và hiểm nguy rình rập mọi ngõ ngách của thành phố. Đối với Nadia, đó là anh họ của cô, người đã bị nổ tung cùng với 85 người khác bởi một chiếc xe tải chở đầy bom. Đối với Saeed, một viên đạn lạc giết chết mẹ anh khi bà đang kiểm tra chiếc xe của gia đình. Cha của Saeed ngay lập tức bắt đầu gọi Nadia là “con gái”. Trong thời loạn, mọi thứ vô lí nhất trở thành có lí.

Một đôi tình nhân đang ngồi cạnh biển Caspi, bắc Iran, 2008. Ảnh: Newsha Tavakolian

Những người trẻ tuổi, trừ khi trực tiếp tham gia vào cuộc chiến, thường là những người đầu tiên rời đi. Nadia, đã đoạn tuyệt với gia đình, là người quyết tâm rời quê hương nhất để tìm lối thoát cho chính họ. Nhưng đến lúc lên đường, cha của Saeed từ chối. Giống như nhiều thế hệ trong gia đình, sống qua nhiều thập kỉ trong sự bất ổn chính trị nhưng vẫn không có cuộc chiến tranh nào chính thức diễn ra. Với cha của Saeed, tương lai mà ông hướng đến là sống một cuộc sống bình thường, quen thuộc, ngay cả khi tình hình xã hội có diễn biến xấu đến đâu.

Lưu vong, trong hoàn cảnh này, trở thành sự lựa chọn. Mỗi người cân đo đong đếm giữa rủi ro và lợi ích, giá trị của cuộc sống mà tự đưa ra quyết định cho riêng mình. “Nhà”, phức tạp và loạn lạc, vẫn không dễ để rời đi - dòng cảm xúc được tác giả đan xen một cách tinh tế xuyên suốt câu chuyện. Với người lớn tuổi, họ sống vì quá khứ nhiều hơn là vì tương lai. Trong khi đó, người trẻ tuổi mãnh liệt hơn, khao khát hơn để sống cuộc đời mình mong muốn.

Thoát đến phương Tây tràn ngập những mất mát mà chúng ta đã biết trước từ lâu rằng nó sẽ đến. Một số nhân vật được đề cập lướt qua ở ngôi thứ ba, sau được tác miêu tả một cách chi tiết hơn về số phận của họ, chứng minh rằng mỗi nhân vật đều có giá trị. Bằng cách này, độc giả như được trải nghiệm đến hai hành trình cảm xúc, với hành trình sau sâu sắc hơn hành trình đầu.

*

Mohsin Hamid được biết đến nhiều như một cây viết có sự kết hợp hoàn hảo giữa những xúc cảm phức tạp của đời thường và hiện thực chính trị. Các tác phẩm trước đây của Hamid bao gồm The Reluctant Fundamentalist (2007), là cuốn tiểu thuyết về sự kiện 11/9 được viết dưới góc nhìn của một người Pakistan trẻ tuổi – cảm thông cho những kẻ khủng bố dù bản thân là một người nhập cư được nước Mỹ đón nhận.

Mặc dù Thoát đến phương Tây được viết trong tình trạng bùng nổ cuộc khủng hoảng tị nạn ở khu vực Trung Đông và Brexit, nhiều giả thuyết cho rằng cuốn sách đã được tác giả ấp ủ ý tưởng từ lâu trước đó. Nguyên nhân có thể vì kinh nghiệm là một người tị nạn, một người dân của thế giới thứ ba của chính Mohsin Hamid, trong đó có hành trình di dân từ Pakistan đến Mỹ, Anh, rồi lại về phía Đông.

Sau khi rời bỏ quê hương, cuộc sống của người tị nạn cũng không dễ dàng hơn. Saeed và Nadia đến được một trại tị nạn trên đảo Mykonos ở Hy Lạp, song đó không là cuộc sống mà họ mong muốn. Tất cả đều phải đối mặt với bài toán sinh tồn: ai là người đàm phán giỏi hơn, người thuyết phục hơn, người có trực giác nhạy bén hơn về nguy hiểm sẽ là người sống sót.

Ở nửa sau tác phẩm, Hamid đưa các nhân vật của mình từ Mykonos đến London, nơi họ được cấp cho một chốn ở tử tế hơn và chia sẻ với nhiều người tị nạn khác. Tại đây, tác giả nêu bật lên những sự đối lập: đối lập trong chính hình ảnh người tị nạn – giữa xuất thân khá giả ở quê nhà và hoàn cảnh khốn khó ở hiện tại khi tha hương và cả sự đối lập giữa người dân địa phương và người tị nạn. Qua đó, ông đề cập đến những vấn nạn còn nhức nhối của thế giới hiện tại như phân biệt chủng tộc hay chủ nghĩa bản địa bài ngoại ngày càng trở nên cực đoan. Đó là khi khu Hyde Park và Kensington Gardens (London) tràn ngập lều trại thô sơ của người tị nạn. Đến mức, người Anh nói rằng dân cư hợp pháp tại đây chỉ chiếm thiểu số bởi hầu hết là người tị nạn và số người bản địa rất ít. Truyền thông địa phương cũng không ít lần đề cập khu vực này là “lỗ đen” của quốc gia, nơi thường diễn ra tệ nạn.

Hamid có hiểu biết sắc sảo không chỉ về cuộc khủng hoảng ở thời điểm hiện tại mà còn về thói đạo đức giả trong chính trị - điều đã dẫn đến sự hình thành của cả một nhóm dân tị nạn - thông qua những cuộc xâm lược, can thiệp và các chính sách. Những cánh cửa thần kì dẫn đến những nơi khác bị kiểm soát một cách cẩn thận. Trong khi có những người được phép đi nghỉ mát ở những khu vực bình dị của Mykonos trong những tháng hè, một số khác bị giam cầm trong rào chắn của các khu ổ chuột. Thế giới của Hamid là một nơi mà sự tách biệt, phân biệt chủng tộc, chia rẽ ngày một tăng lên.

Tóm lại, Thoát đến phương Tây là cái nhìn ngoạn mục, phức tạp, bao quát của tác giả Mohsin Hamid về tình trạng thế giới hiện nay. Bên cạnh cuộc khủng hoảng người tị nạn, thế giới còn đang đối mặt bài toán hóc búa về biên giới và sự phân chia giàu – nghèo. Thế giới qua ngòi bút của Hamid là một thế giới mà chủ nghĩa tư bản và bản đồ thuộc địa bắt đầu đi xuống. Câu chuyện về thành phố không được tác giả đặt tên của hai nhân vật chính trong sách cũng giống như câu chuyện của Syria, Iran, Ethiopia, Ai Cập hay những người lao động Ấn Độ ở vùng Vịnh, người Mexico ở Mỹ. Đó là câu chuyện của những số phận đang cố gắng xây dựng cuộc sống mới ở một quốc gia khác, một số vì chạy trốn chiến tranh, một số vì muốn rời khỏi quê hương độc tài và áp bức.

Hamid viết rằng "Khi chúng ta di dân, chúng ta muốn giết chết 'mình' trong cuộc sống cũ." Có lẽ những gì người di dân, người tị nạn thực sự cố gắng làm là quên đi quá khứ đau thương, nhưng nó vẫn luôn theo sau và ám ảnh họ trên bất kì nơi đâu họ đặt chân đến.

Hết.

Uyên lược dịch.

Bản gốc do Yasmine El Rashidi thực hiện, đăng tại The New York Review of Books.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Những cảnh đời tỉnh lẻ: Tự vạch trần nội tâm của người đàn ông yếm thế

Published

on

J. M. Coetzee không phải là một nhà văn đại chúng. Sách của ông chưa từng đứng nhất trên những bảng xếp hạng sách bán chạy. Tên tuổi ông cũng không phủ sóng rộng khắp các mạng xã hội (như Margaret Atwood). Hình ảnh của ông trước công chúng là một trí thức xa cách, cao ngạo; người chối từ đứng trước đám đông ở những buổi lễ tôn vinh mình. Dù không ẩn mình đến cực đoan như Thomas Pychon nhưng Coetzee cũng chẳng buồn làm gì để xua tan đi những ấn tượng đó; thậm chí, ông còn khuyến khích những phán đoán trên. Đa số độc giả tìm đến văn chương Coetzee sau những danh tiếng, giải thưởng mà ông nhận được. Hai giải Booker và một Nobel văn chương, vẫn có điều gì đó ở người đàn ông Nam Phi này làm người khác nghi ngại, bởi sự kín tiếng, bởi thói ẩn mình.

Đến khi Tuổi thơ ra đời như phát pháo đầu tiên cho bộ tự truyện – giả tưởng Những cảnh đời tỉnh lẻ, người ta mới bỗng chốc nhận ra Coetzee không đơn thuần là người kín tiếng, mà còn đáo để trong cách tự châm biếm bản thân mình. Động cơ đằng sau việc ra mắt ba tập tự truyện trong khi ẩn mình đến mức tối đa có lẽ ngoài bản thân ông ra thì không ai hiểu rõ. Nhưng với bộ ba này, ít nhiều một Coetzee yếm thế đã dần hiện ra: nhân vật chính, một nhà văn Nam Phi được đánh giá cao, hay phôi thai xanh xao chưa đủ sức bật… tất cả xoay vòng trong ba phần những trang viết này.

“Hắn sẽ giữ hết chúng trong đầu thế nào đây, tất thảy những cuốn sách, tất thảy những con người, tất thảy những câu chuyện này? Và nếu hắn không ghi nhớ chúng, thì ai sẽ làm?”

Một thoáng Coetzee.

Văn nghiệp của Coetzee bắt đầu khá muộn. Vào thập niên 70 tại Mỹ, khi phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam đang lên đỉnh điểm, ông cùng đồng nghiệp – bấy giờ đang giảng dạy tại đại học Buffalo – cảm thấy mình cần làm một điều gì đó. Sau khi bị chính quyền bắt và bị từ chối cấp lại thẻ xanh, tình trạng pháp lý của ông càng trở nên báo động, dẫn đến việc ông trở về quê hương Nam Phi, khi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheid vẫn đang hoành hành.

Không khó để nhận ra điểm nhấn văn chương của Coetzee vẫn thường trở đi trở lại trong những tác phẩm của ông. Nhân vật chính hầu hết là người đàn ông trung niên, một chút luống tuổi, có vị thế và bị mắc kẹt trong bộ máy chính quyền công chính và những mối quan hệ nhục dục không biết đường tránh. Từ những mối quan hệ này, hình ảnh tàn tạ, đơn độc của người đàn ông được khắc sâu thêm. Văn chương Coetzee mang sắc thái lạnh, một giọng văn tỉnh táo, trưởng thành, nhẹ nhàng nhưng thiếu vận động và nhiệt huyết sáng tạo. Độc giả có lúc tự hỏi, liệu những ám muội này xuất phát từ đâu, để chúng đến với văn chương ông như phong vị riêng, nét độc đáo riêng mà chỉ Coetzee mới tạo được căn phòng ấy, mùi hương ấy, cái lạnh ấy và buổi chiều tàn hôm ấy. Những cảnh đời tỉnh lẻ như bộ ba giải mã những thắc mắc trên, từ chính thâm sâu ở tận gốc rễ.

Tác giả J. M. Coetzee
Ảnh: Washington Examiner

Mẫu hình nhân vật đàn ông.

Mẫu hình nhân vật người đàn ông trở lại trong Những cảnh đời tỉnh lẻ. Nếu trong Ruồng bỏ là vị giáo sư đại học vướng vào lao lý tình yêu với cô sinh viên trẻ, trong Đợi bọn mọi là vị thẩm phán với cô thổ dân cùng nhau đối đầu với bộ máy công chính; thì ở đây là John - cậu bé da trắng, người Afrikan, yếm thế từ trong bản chất và rất dễ tổn thương. Khởi đầu bằng Tuổi thơ là quá trình lớn lên của John nơi bình nguyên Karoo đầy biến động. Tiếp đến là Tuổi trẻ tương ứng với giai đoạn giảng dạy tại Buffalo sau tuổi trưởng thành. Cuối cùng là Mùa hè, khi John trở lại Nam Phi những năm 71, 72. Bộ ba tác phẩm lần lượt lướt qua trường đoạn lớn lên của cậu bé John nơi thị trấn Worcester, để từ đó thấy được những ảnh hưởng sâu rộng đến tâm hồn nghệ sĩ. Sau thảm kịch Sharpeville và những biến động chính trị trong nước, John ôm mộng sang Anh trở thành một nghệ sĩ vĩ đại trong lĩnh vực thơ ca nối gót Pound, Eliot, Ford Madox Ford rồi bị dìm chết bởi những mánh khóe vật chất sinh tồn nơi đây. Cuối cùng về lại Nam Phi, trở thành một người đàn ông bình thường, trong căn nhà bình thường đến khi mất đi, và được thuật lại đầy đủ từ năm 71 bằng cuộc ghi chép một cuốn tiểu sử của Vincent.

Giai đoạn cuộn mình phôi thai trong Tuổi thơ, Coetzee tinh tế đưa John trở về thể dạng của một tạo tác dính nhớp, của một người bấu víu lấy mẹ, muốn bà hy sinh mọi khát vọng cho riêng mình và mắc kẹt trong tình yêu của bà. Đó còn là cậu bé sợ bị đánh roi vì lòng tự cao, yêu thích bãi cát hơn là dòng sông u ám, thích mang giầy hơn đi chân không… Coetzee chuyển hóa bản thân mình sang John bằng sự nhạy cảm đầy cuốn hút, để từ đó thế giới nội tâm dần dà phát triển, trở thành một nhân tế bào hình thành nhân cách của người đàn ông sau này theo nghĩa hẹp hay các nhân vật chính sau này theo lối nghĩa rộng.

Những cảnh đời tỉnh lẻ - Tuổi thơ

Thế giới nội tâm phát triển phong phú hơn mọi điều khác, đơm hoa kết trái, nhân bản theo cấp số nhân triệu triệu tế bào, hình thành nên thể yếm thế được máu nuôi dưỡng. Sự thiếu sót ấy, vẻ yếm thế ấy thể hiện ở cả hai mặt, về những ảo tưởng trở thành nghệ sĩ và những cuộc tình với những người khác. Coetzee hay John trong bộ ba này dường như mắc kẹt trong nỗi cô đơn và sự khốn khổ. Sự đùm bọc của người mẹ làm anh cảm thấy tuy đã 30 nhưng vẫn không hơn là một đứa trẻ. Việc phá trinh của Marianne rồi mặc kệ cô ra về với máu vẫn chảy từ giữa hai chân, về việc Sarah mang thai và anh hoảng lên để cô đi phá chỉ riêng một mình… Từ đầu chí cuối, John thử và lại mắc kẹt; thử lại lần nữa, và vẫn mắc kẹt. John là loại đàn ông không mang bất cứ sự cuốn hút nào đối với phái nữ: anh ngẩn ngơ, tuyệt vọng, rồi tự nghi ngờ để thử với bọn đàn ông, nhưng rồi mọi chuyện lại chẳng tới đâu.

Cái tự diệt ấy cũng đồng thời hiển hiện qua ảo mộng trở thành nghệ sĩ trong cuốn Tuổi trẻ. Rời xa Nam Phi khi bất bạo động chính trị mới vừa diễn ra để chứng minh rằng mỗi con người là một hòn đảo, không cần đến cha mẹ; nay anh sớm nhận ra con đường của Pound, của Eliot, của Picasso vốn không bằng phẳng. Giữa nỗ lực ở lại nơi đất khách quê người bằng việc cố định mình vào việc lập trình cho IBM hay International Computers, giấc mộng thơ ca đã tắt ngấm. Trong những ngày ngồi trước trang giấy trống rỗng không chứa một chữ, những tự vấn lương tâm trong cảnh chán ngán vật chất, nỗi luyến nhớ để lại đằng sau, còn Bộ Nội vụ đang ở phía trước, anh vặn mình rằng: Có gì bất ổn với hắn vậy? Tại sao hắn lại làm cho những điều bình thường nhất trở thành khó khăn là thế với mình? Nếu câu trả lời là bản tính hắn là thế, thì có ích gì khi mang một bản tính như vậy? Tại sao hắn không thay đổi bản tính mình?

Nhưng cái yếm thế một khi gắn vào không thể gỡ ra, nó bám vào ta như loài hà đá, như thép nung chảy, để hàn con người vào tình thế, để rồi rốt cuộc lý do rời khỏi Nam Phi không vì chính trị, không vì chiến tranh, mà bởi trốn chạy khỏi sự nhàm chán, khỏi sự phàm tục, khỏi sự teo tóp của đời sống đạo đức, khỏi nỗi hổ thẹn. Ở đó, John sẽ mãi là một bóng ma, là gã trai trẻ nhàn du quanh thành phố xa lạ, ăn dần khoản tiền để dành của mình, đĩ điếm, làm bộ mình là nghệ sĩ! Từ người chạy trốn bạo động trong nước, giờ đây trở thành chính người viết mã cho máy bay Anh trong Chiến tranh lạnh, lập trình Atlas ở những cuộc chiến rất vô nghĩa khác.

Từ cái yếm thế của nhân vật, Coetzee nhân rộng lên cùng với đại diện là chàng Ganapathy kỹ sư người Ấn không thể tự chăm sóc bản thân mình và cả cha John – người cha lụn bại, sặc sụa trong cơn trầm uất; để đến với đàn ông nói chung, đàn ông của dòng họ Coetzee trên bình nguyên Karoo bao đời để lại, mà nghĩa vụ đầu tiên của những phụ nữ dòng họ này là xoay xở tống dòng máu Coetzee ra khỏi những đứa con mình. Làm thế nào để tống dòng máu slap ra khỏi con người, chị không nói ngay được, ngoài việc mang họ đến bệnh viện cho bơm hết máu ra và thay thế nó bằng máu của người hiến tặng nghiêm khắc nào đó. […] Cậu ấy không có hoạch định. Cậu ấy là người nhà Coetzee, người nhà Coetzee không có hoạch định. Họ không có tham vọng, họ chỉ có những mong mỏi lười nhác.

Nhìn nhận một cách tựu trung, đây là lý giải của Coetzee cho toàn bộ vũ trụ nhân vật đàn ông trong tiểu thuyết của ông, những người lặt lìa trước đàn bà, trước cơn gió cuộc đời nhưng hàn chặt bản thân với nỗi yếm thế tự thân. Với riêng J. M. Coetzee, ông nhìn nhận thế nào về mình thì ta không hề biết. Nhưng ở điểm mấu chốt này, ít nhiều ta hiểu một cách sâu xa các tiểu thuyết này, nơi cái mắc kẹt, cô đơn, khốn khổ vẫn luôn trồi dậy. Một cách tự phẫu từ trong bản chất, Coetzee ít nhiều cung cấp cho ta lý giải nhất thời về văn chương, về con người ông, và trên hơn hết, về xã hội Nam Phi phân cấp vốn không ổn định.

*

Nam Phi với Coetzee như khung chống đỡ cho những giá trị nguyên bản nơi con người ông, nơi tiểu thuyết của ông. Xã hội Nam Phi đầy rẫy biến động trong sự đấu tranh giữa các sắc da, giữa người Da màu, người Bản địa và người Afrikan. Nếu trong Ruồng bỏ là cách mạng giành lại ruộng đất từ nông dân da trắng, trong Đợi bọn mọi là cuộc chiến với người bản địa – người Khoikhoi từ Hy Lạp di cư sang Nam Phi thế kỷ 17; thì trong Những cảnh đời tỉnh lẻ, mối chồng chéo ấy được khái quát hơn, hiển thị rõ hơn nơi thị trấn Worcester như mẫu nhặt ra từ một quần thể, nơi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc khoa học vẫn đang diễn ra, mà các biểu hiện là dùng cảnh sát kiểm soát văn hóa, quân phiệt lớp trẻ, tín ngưỡng nhà nước…

Một trong những chủ đề thường xuất hiện trong văn chương của Coetzee giai đoạn sau này là quyền động vật. Trong Những cảnh đời tỉnh lẻ, đề tài này cũng tìm cách len lỏi vào nơi trang trại Voëlfontein, nơi John về chơi vào một mùa hè, loài cừu bị giết một cách man dại trong khi những con còn lại be be bình thản mà không biết gì, đặt trong bối cảnh đối nghịch – góc nhìn của một cậu bé như John lúc này, gợi lên những điều suy tư. Và người nghệ sĩ không thành ấy biến hóa bản thân tựa như loài cừu, chỉ đợi biến động chính trị giày nát bày đàn thế hệ; và cũng có khi, là những ám ảnh theo suốt khi anh trở về Nam Phi từ Mỹ trục xuất, đã không thể ăn những món từ cừu trong cuộc họp mặt.

Với bộ ba Những cảnh đời tỉnh lẻ, J. M. Coetzee lần đầu tiên mở khóa cho người đọc thâm nhập vào những gì đã cấu thành nên một Coetzee vốn từ trước đến nay ta vẫn quen thuộc. Bộ ba tác phẩm là vũ trụ thu nhỏ của những gì rất Coetzee, những gì thuộc về và những thứ chỉ Coetzee mới viết ra được; vừa giả tưởng như cuộc đời cậu bé vô danh John giữa những biến động chính trị, giữa tầm hồn quá ư nhạy cảm, giữa mộng nghệ sĩ không thành; vừa bán tự truyện như lời phân trần, giãi bày và mở rộng ra cho ai muốn hiểu thêm về nhà văn ấy, người có tầm cỡ trí óc và đặc biệt là năng lực tưởng tượng phát triển trên mức bình thường, và cái giá phải trả chính là phần “con” bên trong anh ấy. Anh ấy là Homo sapiens, thậm chí là Homo sapiens sapiens. Một bộ ba chao đảo, một bán tự truyện vô tiền khoáng hậu với bút pháp bậc thầy. Một Coetzee đã một lần và chắc chắn sẽ không bao giờ mở lòng như thế. Tuyệt đẹp.

Hết.

minh.

Đọc bài viết

Phía sau trang sách

Cửa sổ trên Tháp đôi: Một tiểu thuyết DeLilloian

Bạn có nghĩ rằng sự phá hủy đẹp hay không? Trò đùa, Milan Kundera

Published

on

Sự kiện 11 tháng Chín và những xung động của nó đến nay vẫn để lại những dư chấn nhất định trong tâm thức những ai lớn lên trong thời đoạn này. Như Nina Simone từng nói, nghệ sĩ sẽ là ai nếu không phản ánh thời đại. Văn chương không là một ngoại lệ. Nước Mỹ đã thay đổi trong một khoảnh khắc, và hơn ai hết, chính tâm hồn nghệ sĩ là nơi chứa đựng những điều này một cách nhạy cảm và tinh tế nhất.

Một ngày sau khi nước Mỹ bị tấn công ba lần bằng máy bay bởi phần tử khủng bố quá khích, tờ The New York Times cho đăng trọn vẹn trang 7 bức hình Richard Drew chụp người đàn ông lao xuống từ Tòa tháp phía Bắc Trung tâm thương mại lúc 9g41 - tấm ảnh dữ dội và hiển hình nhất cho thảm họa này. Nhân vật người đàn ông ấy đến nay vẫn chưa được nhận dạng. Phần lớn những suy đoán rằng đây là một nhân viên làm việc trong nhà hàng Windows on the World ở tầng 106 tòa tháp phía Bắc, trùng đúng kết cục và nơi diễn tiến cho câu chuyện trong cuốn sách Cửa sổ trên Tháp đôi của Frédéric Beigbeder.

Nếu bức ảnh đơn thuần là hiện thân của sự thật nhưng vẫn có thể bị chỉ trích bởi các chuẩn mực đạo đức, thì sự kết hợp giữa Frédéric Beigbeder và chủ đề này lại khiến độc giả chìm trong cơn bấn loạn còn nhiều hơn. Beigbeder vốn từ trước đến nay vẫn được biết đến như giọng văn trào phúng châm biếm xã hội sâu cay, lãnh địa vốn suy tàn dần trong giới văn chương ngày nay mà may thay Woody Allen vẫn còn trụ vững sau ngần ấy năm. Thế cho nên việc kết hợp giữa châm biếm và sự kiện mang nhiều đau thương này dường như mang đến sự trái khoáy nào đó cho người đọc. Nhưng như mọi thứ vận hành trong vũ trụ này, mỗi nơi đều có đối nghịch. Và như câu dẫn của Milan Kundera hay văn chương của Don DeLillo, cái tự hủy cũng có vẻ đẹp riêng.

*

Cửa sổ trên Tháp đôi là câu chuyện song hành giữa trải nghiệm đi tìm dấu vết của bản thân tác giả và sự kiện khủng bố ngày 11 tháng Chín. Có thể nói đây dường như là trải nghiệm cá nhân nhất của Beigbeder trong số những cuốn sách từ trước đến nay của ông. Giữa một bên là Carthew Yorston – doanh nhân môi giới bất động sản, người đàn ông theo chủ nghĩa khoái lạc – tự do – trung dung miền Texas, cha của hai cậu con trai, người chồng đã ly dị vợ; và chính Beigbeder. Vào buổi sáng hôm ấy, Carthew dẫn hai cậu con trai đến Windows on the World tọa lạc tại World Trade Center, một nhà hàng sang trọng và dĩ nhiên vô cùng khó khăn để đặt được bàn như cách nhìn lại quãng đời ở tuổi trung niên, về việc ly dị vợ, về cô người yêu Candace và còn để nhìn thiên hạ thế thái trong đời sống thượng lưu tư bản. Người đàn ông tự nhận chưa hưởng thụ hết cuộc sống ấy không thể ngờ chỉ vài phút nữa, một chiếc máy bay sẽ đâm sầm vào tòa tháp phía bắc; và 101 phút tiếp sau đó, tòa tháp sẽ kết thúc sứ mệnh Babel của mình trên bầu trời New York.

Cửa sổ trên Tháp đôi

Song song cùng đó, một nhà văn họ Beigbeder tự đặt mình vào vị trí người đàn ông ấy, đến Ciel de Paris trong tòa tháp Montparnasse ở Paris để tự hỏi quá trình đi tìm sự tự do ấy diễn ra thế nào. Để mô phỏng Carthew, nhà văn nọ dắt theo cô con gái đi bộ hơn 50 tầng nhà hay tự mình đến khu 0 – khu Trade Center khi mọi thứ đã được thu dọn – để nhìn ngắm và trò chuyện cùng những người khác. Đến cuối cuốn sách, dường như cả hai nhập vào làm một, dẫn đến cuộc đối thoại không đầu không kết với cựu nhân viên của Windows on the World tại Quảng trường Thời đại. Với Cửa sổ trên Tháp đôi, Frédéric Beigbeder mang đến thế nhập nhằng vô cùng hiếm thấy giữa cái lưỡng nan của tình thế làm người và cách cuối cùng khi trò chơi số phận dường như đã ấn định mọi thứ.

Điều đầu tiên phải khẳng định rằng, Cửa sổ trên Tháp đôi không đơn thuần là một tiểu thuyết hư cấu dựa trên một bi kịch thật. Đa số cuốn sách này đều thật, cả mặt ngoại vi – câu chuyện và nội hàm – cảm xúc. Beigbeder không mượn nhân hình bóng dáng, không xào nấu hụp sâu; ông khẳng định bản thân rõ ràng bằng cốt truyện diễn ra song song với hai khoảng thời gian lệch nhau nhưng cùng chung trải nghiệm. Cuốn sách này nói sâu hơn không nhằm khắc họa những gì đã diễn ra, vì hẳn nhiên, đó là vết thù khó gột rửa và nằm chênh vênh giữa những mệnh đề đạo đức. Điều Beigbeder mang đến cho độc giả sâu xa hơn lớp da của tình tiết bên ngoài, về góc nhìn nước Mỹ, về xã hội hiện đại, về lề thói tư bản chủ nghĩa trong chính cách viết châm biến rất khó để không nhận ra.

Trước tiên là về nước Mỹ. Hẳn nhiên, đây là chủ thể không thể bỏ qua. Nước Mỹ của thô bỉ và tự mãn cá nhân. Nước Mỹ của chiếm hữu và mọi thứ khác. Đó có thể là bản chất nhưng cũng đồng thời mang trong mình phần lớn là những nguồn cơn. Beigbeder lướt trên làn gió trào phúng quen thuộc khắc họa sự vô ơn của Mỹ trước Pháp khi giúp họ chống Anh để rồi thứ được chỉ là một bảng tên nhỏ vô danh trên con phố nơi ký hiệp ước hòa bình. Ông cũng không ngần ngại phơi bày ra thói phù hoa dòng tư bản nước Mỹ, với Cửa sổ nhìn ra thế giới […] Cái tiêu đề này là một bằng chứng cho thấy sự kiêu ngạo điển hình mang màu sắc Mỹ: “Chúng tôi xây dựng khu Trung tâm thương mại thành bộ phận đầu não của chủ nghĩa tư bản thế giới”.

Không chỉ có thế, xã hội hiện đại che lấp đi mọi thứ khác. Từ những nhân tình dắt díu nhau đến nhà hàng hạng sang trong khi tình yêu pháp lý chỉ còn là thứ kéo dài ba năm; cho đến chủ nghĩa trung dung với lối sống phóng khoáng từng được nhắc đến trong 14.99 euro; tất cả làm nên nước Mỹ hiện đại giả hiệu, như cách Gatsby làm giàu từ trong lịch sử. Ở những năm đó, Mọi thứ từ nhà cửa, xe cộ đến sở thích, niềm vui đều có gì đó giả tạo. Mỗi sáng, người ta lại bịa ra sự thật. Đất nước này đã chọn cho mình cách thức hoạt động giống như trong một bộ phim viễn tưởng.

Trong mắt Beigbeder và những người khác, nước Mỹ ở thời điểm đó không khác Babylon những ngày cổ xưa. Ở mảnh đất huyền thoại phương Đông ấy, người ta cho xây tòa tháp Babel thách đấu với Chúa, để Ngài biết rằng con người không cần đến Ngài vẫn rất dễ dàng chạm đến thiên đường. Chúa biết sự thật nhưng không nói ngay. Ngài giáng những đòn ngôn ngữ khiến mỗi người thợ không còn hiểu nhau, thế giới hợp nhất trở thành phân mảnh, tồn tại giữa họ là những ranh giới quốc gia. Để từ đó phá hủy, diệt vong thêm một lần nữa từ sau trận Đại hồng thủy, chiếc thuyền Noah. Nhưng vì sao tháp Babel thế kỷ 21 lại là World Trade Center, mà không là trụ sở Liên Hiệp Quốc liên hiệp mọi thứ? Dễ thấy nước Mỹ đứng đó như cách quần gọi dân chủ trên toàn thế giới, chi phối những ai đang nói tiếng Mỹ, cư xử chất Mỹ, mọi thứ rặt Mỹ. Mỹ như chiếc áo vô hình trong tiểu thuyết H. G. Wells thâu tóm mọi thứ trong thế giới này. Là nơi đặt hòn đảo của tiến sĩ Moreau. Là nơi bành trướng nhất, đói ăn nhất.

*

Sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, hiện thực không chỉ đã trôi ra ngoài sự tưởng tượng mà còn tàn phá luôn mọi điều hư cấu. Người ta chẳng thể nào viết về đề tài này được nhưng cũng chẳng thể viết về một đề tài nào khác nữa. Mà trong đó, nỗi đau là vô hình nên nó chẳng tồn tại, thêm nữa là chúng ta đang sống trong một thế giới vật chất, mọi thứ đều hữu hình, xác thực. Đó có thể là thế giới của những người bị cuốn theo vòng xoáy vật chất, để rồi nhận ra họ đã phung phí thời gian đến mức độ nào. Đó là người cha chưa bao giờ nói yêu cậu con trai mình, là cô phục vụ luôn giữ niềm tin vào đội cảnh sát phá cửa cứu cô, là đôi nhân tình bỏ chồng bỏ vợ vẫn chưa kịp đến với nhau… Chỉ một bữa sáng hôm ấy, con người có dịp nhìn nhau, nhìn lại những gì họ đã trải qua để thấy rằng, thế giới mà họ đang sống, những gì họ bị cuốn theo, những thứ họ đang chìm vào… tất cả dường như là nhà hàng ấy, nơi thép nung chảy nóng lên từng giây, nơi khói bốc lên trong mọi ngóc ngách, nơi người ta chứng kiến những người thân quen chết đi từng người một. Đến một mức độ không thể chịu nổi cái chết, họ bộc phát để lao ra ngoài tìm kiếm tự do khỏi những tầng lầu như Falling Man.

Nó pha lẫn giữa mùi của cao su cháy sém rồi chảy ra, bốc khói mù mịt, rồi mùi nhựa bị đốt, cả mùi từ những chiếc ghế bị thui đen, dầu hỏa cháy và vả mùi tro của xương thịt người. Khung cảnh lò thiêu tập trung và những con người lướt khỏi tòa nhà như những ám ảnh đè nén tâm hồn người đọc. Văn chương tại đây đạt được phần lớn mục đích của nó, hiện lên hiện sinh giữa những trang văn ngập ngụa niềm đau. Tại sao cảnh sát không lên nóc tháp cứu người mắc kẹt khi khoảng cách giữa họ chỉ là một cánh cửa thép? Tại sao hơn 200 người lao khỏi tòa nhà khi ngọn lửa đến, dù biết kết cục không khác nhau mấy? Tại sao lại là nước Mỹ, tháp Bắc, tháp Nam, là World Trade Center? Con người số phận nhỏ bé, nhưng hơn hết, là những tị hiềm trong mỗi dân tộc, giống nòi, cá nhân. Thế tị hiềm mang đến đau đớn của những niềm đau; để ta biết rằng, con người vốn vẫn là một sinh vật nhỏ bé, ngập ngụa trong những niềm đau, với khoái lạc, dục tính, với tị hiềm, nhỏ nhen.

*

Khép lại cuốn sách, Beigbeder một mặt mang đến người đọc vở diễn nhập vai một trong những bi kịch lớn nhất của lịch sử hiện đại nước Mỹ; một mặt cho thấy cách xã hội vận hành với sự bành trướng, tham lam, háu ăn và nỗi tị hiềm. DeLilloian – một tính từ xuất phát từ tên gốc của nhà văn Don DeLillo mang nhiều hàm ý về cảm giác mãnh mẽ của hư vô, của dịch chuyển, của biến đổi và phân ly – như định nghĩa rõ ràng nhất về cuốn sách này. Falling Man là ai, và cho đến khi nào chúng ta biết được rằng anh là ai? Ta không thể biết. Điều duy nhất chúng ta biết là buổi sáng hôm ấy, hơn 200 cánh chim đã lao ra khỏi ngọn tháp bốc cháy. Khi tòa tháp đôi sụp đổ cũng là khi màn pháo hoa lớn bùng cháy. Ngọn lửa mới đẹp làm sao, những thi thể người cháy rực lên mới đẹp làm sao […] Tôi yêu làn khói đó không vì nét đẹp thuần khiết của nó mà còn vì nó gợi người ta nhớ đến ngày tận thế, nó bao hàm cả bạo lực và nỗi kinh khiếp.

Hết.

Ngô Thuận Phát

Ảnh đầu bài: Falling Man, Richard Drew | Time

Đọc bài viết

Cafe sáng