Nối kết với chúng tôi

Trà chiều

Như một người đã chết rồi

Franz Kafka từng nói: “Tôi cần sự cô độc cho lối viết của mình; không phải giống như một ẩn sĩ – điều đó không đủ – mà là giống như một người đã chết rồi.”

Published

on



Cũng như rất nhiều người, tôi thích văn Kafka, thích nhiều câu nói của ông nhưng chưa bao giờ tôi thích một câu nào đó nhiều như câu này: thích ở mức độ lẩm nhẩm rất nhiều ngày, nhiều tuần trong đầu sau khi đọc nó; thích ở mức độ mỗi lần buồn và nghĩ về nó là có thể tự an ủi bản thân. Câu nói này thể hiện sự nghiêm túc với ý thức cao độ nhất của một người viết. Tôi luôn thích những gì nghiêm túc, chân thành. Thậm chí, nghiêm túc đến cực đoan với tôi vẫn tốt hơn nhiều sự đùa giỡn dù mục đích xuất phát từ niềm vui hồn nhiên, vô tư. Tôi biết rằng có quan điểm nghệ thuật là một trò chơi, ta cứ chơi đùa trong nó như một đứa trẻ không vụ lợi. Nhưng tôi cho rằng đứa trẻ đó không nên xuất hiện ngay từ đầu, trò chơi đó không nên thiết lập ngay từ đầu. Tôi thích mọi thứ khởi nguồn từ sự nghiêm túc và trò chơi, đứa trẻ chỉ xuất hiện sau khi ta đã hăng say trong sự nghiêm túc đó và quên mất đi rằng mình đang nghiêm túc, không cảm thấy khổ sở vì mình nghiêm túc, cảm thấy sự nghiêm túc như một không khí và mình có thể thoải mái sống trong đó. Tuy vậy, mỗi người có một cách làm việc, sáng tạo khác nhau và không thể áp đặt cái phù hợp với mình lên người khác. Đó chỉ là cách thức làm việc của tôi. Nếu ngay từ đầu, tôi không thể suy nghĩ mọi thứ một cách nghiêm túc, tôi sẽ không thể bắt đầu được công việc. Nếu như có suy nghĩ mình chỉ làm chơi cho vui thì đó thuộc về việc thư giãn hay luyện tập, không phải làm việc. Và khi sự nghiêm túc bắt đầu tăng dần đến mức cực độ trong giới hạn bản thân, những lúc đó tôi mới nghĩ rằng mình có thể sáng tạo. Hành động suy nghĩ nghiêm túc giống như bước khởi đầu tôi tự thuyết phục mình phải tin vào thế giới tưởng tượng của chính mình, khi sự nghiêm túc xoay quanh thế giới đó đủ lớn, đấy chính là lúc tôi khởi sự viết. Có lẽ là việc suy nghĩ nghiêm túc ở đây giống như bước xác nhận của máy tính trước khi hoàn thành một tác lệnh nào đó: “Are you sure you want to do that?” hoặc cũng giống như bước khởi động để kích hoạt cơ thể trong trạng thái sẵn sàng hoạt động của vận động viên trước khi thi đấu. Tôi không phủ nhận đã từng có lúc vì quá mệt mỏi mà tôi xem viết như một cách để chơi đùa, để giải trí, để thư giãn cho khuây khỏa những nỗi buồn. Dù sao, điều tối cơ bản khi ta muốn làm một việc gì đó là điều ấy trước nhất phải khiến bản thân ta vui, hoặc tệ lắm cũng là ta thấy thoải mái với nó. Nhưng để thật sự đắm mình trong say mê sáng tạo, chỉ có sự nghiêm túc tuyệt đối từ lúc khởi phát mới trở thành động lực thật sự để tôi đi đến tận cùng con đường của mình. Nếu ngay từ đầu đã viết mà không có suy nghĩ nghiêm túc, tôi dễ bị đuối sức giữa chừng hoặc có khi là bỏ ngang hoặc có khi những thứ viết ra chỉ là các phiến đoạn ngắn. Tôi không biết vì sao mình yêu việc viết đến như thế. Nhưng cũng không hẳn là tôi yêu nó quá nhiều. Nó vẫn khiến tôi cảm thấy trống rỗng. Đôi khi trống rỗng đến mức cảm thấy bản thân mình như đang không tồn tại. Tôi cũng không biết từ khi nào mình lại quan trọng sự nghiêm túc đến thế, đặc biệt là sự nghiêm túc trong việc viết. Có lẽ, đây là một dấu hiệu chuyển biến tích cực. Chỉ là đôi khi tôi thấy hơi mệt mỏi.

franz-kafka-bri-hermanson
Franz Kafka, illustrated by Bri Hermanson


Một năm vừa qua, tôi đã sống gần như câu nói của Kafka. Tôi cảm thấy mình như một người đã chết rồi. Tôi luôn suy nghĩ trong đầu: “Mình là một người đã chết rồi. Dù mình đang đứng ở đây, đang nói chuyện với mọi người. Có thể là nói một vấn đề nào đó không thuộc về mình, có thể là nói một vấn đề nào đó thuộc về mình. Mình có thể có cảm xúc với việc này, việc kia. Nhưng thực sự mình không ở đây. Mình luôn không ở đây. Tất cả những điều đang ở đây trên da thịt mình hay những thứ vật chất mình đang tạo ra đều không thuộc về mình. Trong lòng mình chẳng tồn tại điều gì. Mình chỉ đơn giản là đứng ở đây, chịu sự tác động từ mọi thứ, thu nhận lại và quan sát. Một người đã chết rồi thì không thể tác động điều gì đến xung quanh.” Khi nghĩ như thế, cuộc sống của tôi tối giản hơn rất nhiều: tôi không bận tâm việc cố gắng duy trì các mối quan hệ, tôi không bận tâm chính cảm xúc của mình là vui hay buồn, tôi không bận tâm đến việc còn ai nhớ hay đã lãng quên mình, tôi để cho mọi thứ như nó là, chỉ cố gắng thu nhận những gì mình muốn như một mảnh đất lặng lẽ hút những mạch nước ngầm thấm sâu trong lòng hay mưa từ trên trời rơi xuống, hay không khí xung quanh, những tán lá rơi và mục rữa mỗi ngày. Chỉ thu vào và không phát ra. Tôi đã suy nghĩ như thế trong khoảng hai, ba tháng hoặc hơn thế. Và khi sống với suy nghĩ như một người đã chết rồi đó trong khoảng thời gian ấy, tôi nghĩ rằng mình dần dần có thể hiểu ý của Kafka theo cách nghĩ của mình. Ban đầu, tôi nghĩ rằng thứ suy nghĩ cần sự cô độc như một người đã chết rồi cho lối viết của mình nghĩa là sự lánh đời, tránh xa những phù phiếm của cuộc sống bên ngoài để tập trung lắng nghe tiếng nói bên trong của bản thân như một con kiến tự suy nghĩ về cuộc đời nó khi đang ở trong một lỗ sâu mà nó tự đào đâu đó để làm tổ, tránh xa sự rình rập nguy hiểm từ những con mắt xung quanh. Nhưng khi dần sống với suy nghĩ cô độc như một người đã chết rồi, tôi mới nhận ra suy nghĩ của Kafka không hẳn hoàn toàn là suy nghĩ lánh đời. Khi bạn nghĩ rằng bạn đã chết rồi nghĩa là cái tôi của bạn không còn quan trọng nữa, bạn không còn cái tôi nữa, và khi đó, mọi sự xung quanh bạn đều có thứ mà bạn có không có – cái tôi; vậy là, mọi sự xung quanh bỗng dưng trở nên quan trọng hơn bạn rất nhiều. Khi tôi nghĩ rằng mình đã chết rồi, tôi mới cảm thấy rõ rệt rằng mỗi người đều có một câu chuyện riêng và câu chuyện nào cũng đáng được trân trọng, cái tôi nào cũng đáng được trân trọng, không nên bỏ rơi hay lãng quên bất cứ điều nào đã đến với mình trong cuộc sống này vì dù là tình cờ hay hữu ý, mọi thứ đều xuất phát từ một sự sắp đặt kì công nào đó. Dù chỉ là trong suy nghĩ thôi nhưng khi tôi chết rồi, tôi mới thấy mọi thứ xung quanh thật đẹp đẽ. Chúng đẹp đẽ không chỉ vì có câu chuyện riêng mà còn vì đơn giản là chúng đang sống, chúng vẫn tiếp tục vận động, biến đổi không ngừng; trong khi đó, tôi lại là một người đã chết rồi, chỉ biết lặng lẽ đứng yên một nơi ngắm nhìn tất cả, không thể chia sẻ với bất kì ai, tôi cứ duy trì mãi trạng thái bất động, không biến chuyển đó. Có thể thu vào nhưng lại không thể phát ra. Có mặt ở đó nhưng lại như không có mặt ở đó. Sống mà như một người đã chết rồi. Cảm giác ấy mới thật cô độc làm sao. Nhiều lúc, sự nhạt nhòa ấy khiến tôi nghĩ rằng mình có thể khóc một mình. Nhưng nó thật là đẹp. Và cuộc sống thật là đẹp. “Life is beautiful but you don’t have a clue.” Lana Del Rey. Nàng đã hát như thế. Đúng là vậy thật nhỉ.

Có một lần, tôi tình cờ đọc được bài phỏng vấn Taylor Swift. Trong đó, người ta hỏi làm sao nàng có thể vừa sống vui vẻ, vừa sáng tác nhạc hay như thế. Nàng đã trả lời đại ý rằng: “Tôi luôn sống với suy nghĩ mình là một người đã 80 tuổi rồi. Khi bạn nghĩ bạn đã già, bạn không còn nhiều thời gian nữa, tự nhiên bạn sẽ loại bỏ đi rất nhiều thứ không thật sự quan trọng lắm với bạn và chỉ giữ lại những thứ quan trọng, những thứ làm bạn vui. Mỗi ngày tỉnh dậy tôi đều nghĩ mình là một người đã 80 tuổi rồi, tự khắc ngày hôm đó tôi sẽ biết mình muốn làm gì và tôi tận hưởng niềm vui sống mỗi ngày với những điều đơn giản. Tôi nghĩ mình là một người sống chậm.” Tôi khá bất ngờ khi nàng có suy nghĩ đó vì nhìn vẻ bề ngoài của nàng, nghe những bài hát của nàng, đọc một vài câu chuyện về đời sống riêng tư của nàng, tôi không thể nào hình dung được nàng lại sống với suy nghĩ đó mỗi ngày, nhất là khi nàng lại là một Nhân Mã. Nhưng nàng lại là một Nhân Mã với moon sign Cự Giải. Có lẽ sự trầm tính ấy ẩn sâu trong suy nghĩ của nàng, trong sinh hoạt hằng ngày hơn là những biểu hiện bề nổi bên ngoài. Và ngẫm nghĩ kĩ, thực ra suy nghĩ đó phần nào cũng có lí. Vì từ suy nghĩ đó có thể dẫn ra hai hướng hành động khác nhau: hoặc người ta sẽ sống chậm như một người già thực sự để quan sát cuộc sống; hoặc vì nghĩ mình không còn nhiều thời gian nữa mà chỉ làm những điều mình muốn, không bận tâm việc đó sẽ đem lại hậu quả gì. Có lẽ, nàng đã hành động theo hướng thứ hai. Hướng thứ hai thì giống một Nhân Mã nhưng suy nghĩ xuất phát điểm bên trong lại giống một Cự Giải. Có lẽ là vậy. Rồi tôi bắt đầu suy nghĩ hay là mình thử đổi lại đi. Không suy nghĩ giống như một người đã chết rồi của Kafka nữa mà thử suy nghĩ mình giống như một người đã già của Taylor Swift xem thế nào. Nhưng vấn đề là già đi bao nhiêu tuổi? Tôi không nghĩ mình sẽ chọn con số 80 vì nó quá lớn, có thể phản tác dụng với tôi, có thể khiến tôi sống kiểu bất cần hay YOLO mà đưa ra những quyết định sai lầm. Tôi quyết định rằng mình sẽ sống như một người đã 30 tuổi. Tôi nghĩ đó là một con số phù hợp và vừa vặn. Tôi chỉ nâng số tuổi trong suy nghĩ của mình so với số tuổi thực nhiều hơn 6 tuổi thôi giống như việc người ta vặn kim đồng hồ sớm hơn 5 hay 10 phút so với giờ thực để có dư thời gian trừ hao, để chuẩn bị sớm, để không bị trễ. Tôi cũng vậy. Tôi vặn số tuổi của mình lên 6 đơn vị.

15684876883_c5cd677be3_z
Taylor Swift, illustrated by kezvenner


Và rồi một buổi sáng tỉnh dậy, tôi trở thành một người 30 tuổi. Cũng giống như những người chỉnh đồng hồ sớm thường hay quên việc mình đã chỉnh sớm mà nhầm tưởng thời gian trên đồng hồ là giờ thực, tôi cũng dần quên mất việc mình đã vặn tuổi lại cho nó chạy sớm hơn. Vậy nên, có những buổi sáng tỉnh dậy, tôi cảm thấy buồn vì như có ai đó đã lấy mất đi 6 năm của mình, tệ hơn nữa là 6 năm đó tôi đã bị mất đi mà không biết nguyên nhân là gì, nó cứ tự nhiên mà mất đi như thế, tôi không còn là 24 nữa, tôi đã 30. Trong mỗi suy nghĩ trước quyết định gì đó có liên quan đến tuổi tác, thay vì nghĩ: “Mình đã 24 rồi,” tôi lại nghĩ “Mình đã 30 rồi đó,” hoặc là “Mình đã bị mất 6 năm lãng phí rồi đó, đừng để lãng phí thêm bất cứ thời gian nào nữa.” Với suy nghĩ đó, tôi nhận thấy mình bắt đầu làm những điều mình muốn một cách tích cực hơn, nghiêm túc hơn, tỉ mẫn hơn một chút. Không phải vì tôi không còn nhiều thời gian nữa mà vì tôi không muốn lãng phí thêm bất cứ thời gian nào như 6 năm tôi đã mất. Tôi thấy vui với việc mình ngày càng coi trọng sự nghiêm túc và cố gắng để làm việc nghiêm túc hơn.

angel-street-bri-hermanson
Illustrated by Bri Hermanson


Ở tuổi 30, tôi bắt đầu đối diện với chứng ruồi bay. Thực ra thì tôi không thấy nó giống ruồi nhưng có lẽ nhiều người thấy nó giống ruồi hơn nên họ đặt là chứng ruồi bay. Tôi thấy những đốm trong suốt di chuyển trước mắt mình ấy giống như những con nòng noọc hơn, hoặc là một nét gạch nguệch ngoạc của đứa trẻ nào đó, hoặc là những lỗ tròn nhỏ được tạo ra bởi một đầu kim đâm thủng bề mặt phẳng nào đó, hoặc giống như những bong bóng xà phòng thổi ra từ đồ chơi của một đứa trẻ nào đó bị thu nhỏ kích thước lại, vô tình trôi vào mắt tôi. Điều tôi buồn nhất là mình không còn được ngắm bầu trời trong xanh thật sạch sẽ, thoải mái nhìn mọi vật sáng rực dưới ánh nắng vàng mà không có bất kì vật thể nào lơ lửng như khoảng một tháng trước đây nữa. Tôi không biết mình có ruồi bay từ khi nào, đến một ngày đẹp trời khi tôi nhận thức được thì nó đã ở đó. Cũng giống như việc một ngày tôi tỉnh dậy và phát hiện rằng mình đã 30 tuổi.

Những người yêu văn chương thường hay nói: “Tôi yêu văn chương như thể nó là máu mủ của chính tôi, là hơi thở cho tôi sống.” Tôi cũng đã từng nghĩ như thế. Nhưng dần dần, tôi không còn xác tín về tình yêu này nữa. Đôi khi tôi yêu nó, đôi khi tôi không yêu nó. Viết hay văn chương không bao giờ là thứ khiến tôi tự tin rằng mình đã hoàn toàn có nó hay nó là của mình, nó thuộc về mình như máu mủ, như hơi thở được. Tôi luôn cảm thấy mình phải bắt đầu lại từ đầu. Khi tôi vừa viết xong một câu chuyện, tôi quên mất cách để viết một câu chuyện. Tôi không có tự tin câu chuyện sau mình sẽ viết hay hơn câu chuyện trước vì mình đã có kinh nghiệm rồi. Tôi luôn khởi sự một câu chuyện như người mới tập viết đầy lúng túng, bối rối, ngỡ ngàng. Và trong giây phút bàng hoàng khi vừa bắt đầu ấy, tôi cố gắng bình tĩnh để suy nghĩ lại cấu trúc cho nó. Rồi tôi viết, tôi viết… cho đến khi quên hết tất cả và kết thúc câu chuyện, kết thúc những điều mình muốn nói. Trước đây, tôi không thích việc này cho lắm. Tôi thích việc mình phải nhớ rõ ràng cách thức những gì mình đã viết trước đây để tích lũy, để rút kinh nghiệm cho những lần sau. Tôi thích mình phải có chút tự tin khi viết. Nhưng bây giờ, tôi lại thích sự thiếu tự tin này. Tôi chấp nhận nó. Chấp nhận việc mình quên cách viết một câu chuyện như thế nào, chấp nhận việc mình luôn khởi đầu viết như một người mới tập kể chuyện. Việc viết vừa là một điều gần gũi vừa là một điều xa lạ như thế này khiến tôi sẽ mãi mãi yêu nó. Thiếu tự tin nếu hiểu một cách tích cực thì nó có thể gần gũi với tính cẩn trọng. Vì khi thiếu tự tin, người ta thường dễ dàng cẩn trọng hơn, dễ dàng chuẩn bị kĩ lưỡng hơn cho mọi việc, dễ dàng trở nên nghiêm túc hơn. Tôi nghĩ thiếu tự tin cũng có nhiều điểm tích cực không kém gì tự tin; hoặc là tôi đã ở độ tuổi biết học cách yêu lấy những khuyết điểm của mình, cho nó những lí do chính đáng để tồn tại, nhìn được mặt tích cực trong khuyết điểm ấy. Nhưng về sự thiếu tự tin, có một điều mâu thuẫn là khi tôi chấp nhận sự thiếu tự tin của chính tôi thì lúc đó, tôi lại thấy tự tin, nghĩ rằng sự thiếu tự tin của mình là đúng đắn ở một khía cạnh nào đó cũng giống như tự tin với sự thiếu tự tin của mình vậy.

hide-seek-bri-hermanson
Illustrated by Bri Hermanson


Một người chị từng nói với tôi rằng: “Hình như những gì em làm, cái nào cũng đều rất nghiêm túc. Chị thích sự nghiêm túc đó. Đừng đánh mất nó nhé.”

Tôi rất hạnh phúc khi nghe câu nói đó vì cảm giác rằng những cố gắng của mình đã được ai đó nhận ra. Và chỉ cần nhận ra rằng tôi nghiêm túc với những gì mình làm là đủ. Tôi cũng thích sự nghiêm túc của chính mình. Ở thời khắc chuyển giao khi kết thúc tuổi 30, bắt đầu tuổi 31 này, tôi cũng chỉ mong mình sẽ giữ mãi sự nghiêm túc đó. Mong ước cho sinh nhật năm nay của mình, tôi chỉ ước đơn giản như vậy. Lẽ ra sinh nhật thường phải cầu mong những thứ mình chưa có, chứ không phải những thứ mình đang có nhưng sau rất nhiều mất mát đã xảy ra, tôi nhận thấy rằng chẳng có thứ nào mình đang có sẽ chắc chắn luôn nằm ở đó, không biến mất đi. Thứ đang có sẽ có thể trở thành thứ không còn có nữa. Vậy thì việc mong những thứ mình đang có vẫn tiếp tục sẽ có cũng là một điều quan trọng cần phải cân nhắc bên cạnh ước mong cho những điều mình chưa có. Người ta nói có sức khỏe là có tất cả. Điều đó đúng với tất cả mọi người. Điều đó cũng đúng với tôi-một người có vài vấn đề trục trặc về sức khỏe nhưng khi tôi thử suy nghĩ rằng nếu mình có sức khỏe thật tốt, ai đó có thể giải quyết giúp mình mọi vấn đề trục trặc về sức khỏe hiện tại và đưa nó về ngưỡng lí tưởng của vạch xuất phát, nhưng lúc đó, mình lại mất đi sự nghiêm túc, mình hời hợt với mọi thứ, mình không yêu bất cứ điều nào sâu đậm, không cuồng nhiệt, hăng say, miệt mài làm bất cứ điều gì đến quên cả thời gian, lúc ấy, dù cho có khỏe mạnh thế nào đi chăng nữa, mình cũng chỉ sống như một người đã chết rồi. Vậy nên tôi mong mình sẽ không bao giờ đánh mất sự nghiêm túc hiện đang có.

Moonlight-and-Magnolias-bri-hermanson
Illustrated by Bri Hermanson


Ngày này một năm trước là một trong những ngày cuối cùng thầy tôi còn làm việc trước khi qua đời sau đó ba ngày… Đó là một ngày buồn, một tháng bảy buồn, một năm buồn với tôi. Tháng bảy năm ấy đã trôi qua thật chậm chạp, uể oải mà cũng đã vụt trôi đi thật vội vàng, nhanh chóng. Một năm vừa qua, mỗi lần buồn tôi lại nghĩ đến những ngày cuối cùng của thầy, nghĩ đến việc thầy đã phải chịu đựng cơn đau về thể xác như thế nào, sự cô đơn về tinh thần như thế nào khi không chia sẻ cùng ai tình trạng bệnh thật sự của mình để cố gắng làm việc bình thường đến tận những ngày cuối cùng. Tôi nghĩ về hình ảnh thầy những lúc ấy để tự động viên bản thân mình những lúc buồn, để cố gắng hạn chế liên lạc hay tâm sự làm phiền người này, người kia; thay vào đó, những lúc càng buồn nhất phải là những lúc càng chăm chút những gì mình đang làm nhất. Có thể vì đang buồn mà làm chậm hơn bình thường một chút nhưng không được vì thế mà làm cẩu thả đi. Dù cố gắng như thế, nhưng năm qua cũng có những giây phút tôi quá yếu lòng mà buông xuôi tất cả, thẫn thờ nhiều ngày trời, chìm trôi trong những suy nghĩ chồng chéo nhau đến mức không thể thấy được nút thắt do chính mình tạo ra mà tìm cách tháo gỡ. Vậy nên, tôi cũng mong rằng, ở tuổi này, dù có chuyện gì đi nữa, tôi cũng vẫn sẽ giữ được sự bình tĩnh để tiếp tục cố gắng, tiếp tục nghiêm túc. Và nếu một nơi như thiên đường hay Akaibu là có thật, tôi mong rằng có thể gặp lại thầy mà không phải quá ngượng ngùng vì những điều mình đã sống, những điều mình đã làm.

Cuối cùng là: Chúc mừng sinh nhật bản thân. Tuổi mới hạnh phúc nhé. Và cố gắng làm điều gì đó để ngày này năm sau có thứ mà khi nghĩ về, mình sẽ cảm thấy vui. Hãy cứ tin vào những gì mình làm, tiếp tục cố gắng, đừng bao giờ đánh mất sự nghiêm túc. Phải cố gắng là một người có trách nhiệm.

Happy birthday!

K

Bookish.vn chân thành cảm ơn bạn K đã đóng góp bài viết này. 

Click to comment

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Trà chiều

Phân loại 22 kiểu độc giả thường gặp: Bạn thuộc kiểu nào? (phần 1)

Càng nhiều cuốn sách tồn tại, thì càng có rất kiểu yêu sách (hoặc thậm chí là ghét sách) được bộc lộ từ phía độc giả. Bạn sẽ thuộc kiểu nào?

Published

on

WHAT KIND OF BOOK READER ARE YOU? A DIAGNOSTICS GUIDE
Jen Doll

Tạp chí The New Yorker đã đúc kết ra một loạt những kiểu mẫu độc giả, trong đó Mark O’Connell đã thú nhận thói quen đọc sách có phần ngẫu hứng của mình: Anh không bao giờ đọc hết cuốn sách; anh là “một người đọc lang chạ”, một kẻ thường bỏ dở sách giữa chừng. “Lý do tôi không thể đọc hết một cuốn sách không phải vì tôi lười đọc sách, mà ngược lại, tôi rất rất thích đọc sách. Tôi không thể nói không với sách. Giả sử tôi đang đọc một cuốn tiểu thuyết mình thích. Rồi tôi đi vào cửa hàng sách và bắt gặp một chủ đề thu hút, thế là tôi mua cuốn sách ấy. Tôi bắt đầu đọc cuốn sách mới trên chuyến xe bus về nhà tối hôm đó, và đó là khoảnh khắc cuộc tình với cuốn sách đầu tiên đi vào dĩ vãng. Tôi chắc chắn rằng mình đã dồn hết tâm trí cho mối quan hệ với cuốn sách mà tôi đang đọc, nhưng tôi cũng không thể ngăn cản bản thân theo đuổi một niềm vui mới bất chợt hiện lên trong đầu. Có lẽ đó chỉ là lời bao biện cho việc thừa nhận bản thân là một kẻ đọc lang chạ, kẻ luôn khao khát mọi thứ gói gọn trong bìa sách đầy bụi.”

Càng nhiều cuốn sách tồn tại, thì càng có rất kiểu yêu sách (hoặc thậm chí là ghét sách) được bộc lộ từ phía độc giả. Bạn sẽ thuộc kiểu nào?

1. Kiểu độc giả cau có.

Ôi, bạn. Bạn cứ giả vờ là một tay độc giả cộc cằn khó tánh, nhưng thật ra bạn đang đọc ngấu nghiến cuốn sách đó, chỉ là theo một cách khác biệt mà thôi. Bạn thích cuốn sách đó nhiều như bạn ghét nó vậy, có khi thích lại chiếm phần hơn. Rồi bạn phàn nàn rằng tác giả không thể ghép hai câu lại với nhau một cách tử tế hay đoạn giữa cuốn sách đừng nên lan man như vậy hay nút thắt câu chuyện thật nhạt nhẽo? Một con voi ở màn 3? Mấy nhân vật này được khắc họa tệ hại đến nực cười! Thế này mà cũng gọi là kết luận? Ma cà rồng, thật sao? Nếu bạn là một độc giả cau có, bạn sẽ đọc ngấu nghiến đoạn bạn ghét cho đến từng chữ cuối cùng, và ắt hẳn bạn sẽ gập cuốn sách đó lại rồi ném bay nó đi với cảm giác ngập tràn thỏa mãn. Có lẽ bản thân bạn cũng là một tiểu thuyết gia nhiều tham vọng nhưng cũng đầy bất mãn.

Gợi ý cho bạn: Chạng vạng; Năm mươi sắc thái; hay bất cứ đứa con tinh thần mới nhất của những tiểu thuyết gia nổi tiếng dính liền với những lời quảng cáo bị thổi phồng.

2. Kiểu độc giả bài bản.

Chậm rãi và từ tốn chiến thắng cuộc đua, bạn đọc thân mến. Bạn sẽ là con rùa, đối nghịch với con thỏ - là kiểu độc giả ngẫu hứng thường bị phân tâm giữa chừng. Khi bạn đã mua một cuốn sách, bạn sẽ đọc nó. Bạn mua cuốn khác, bạn đọc nó. Hoặc bạn mượn một cuốn sách từ thư viện. Bạn đọc nó, rồi bạn mang trả, và mượn một cuốn khác mà bạn sẽ đọc. Bạn có thể không nhớ mình bắt đầu từ đâu, cuốn sách đầu tiên như thế nào, và bạn cũng không biết khi nào mình sẽ dừng lại. Nhưng quan trọng là, bạn sẽ hoàn thành từng cuốn sách một, bài bản và hợp lý, cho tận tới lúc đọc xong. Có thể bạn đã từng bỏ dở một cuốn sách, nhưng chỉ khi có lý do chính đáng; tuy vậy việc này vẫn khiến bạn có cảm giác rất không thoải mái, nên đâu đó bạn sẽ trở lại đọc cho xong. Bạn rất giỏi giải đố, và là người đáng tin cậy nhất trong số mọi người xung quanh.

Gợi ý cho bạn: Không có gợi ý nào hết, cuốn nào rồi bạn cũng sẽ đọc xong thôi.

3. Kiểu độc giả phá hoại.

Có phải nhà bạn rải đầy những cuốn sách chỗ này, chỗ kia, các trang sách thì bị lật tung, bìa sách thì gập lại, gáy sách thì gãy đôi, các phần của cuốn sách bị bung ra hai bên? Bạn là một kẻ tàn phá sách, nhưng bạn cũng yêu sách nhiều như vậy. Nhân vật phản ánh linh hồn của bạn là Lennie trong Của chuột và người. Bạn chỉ muốn ôm lấy cuốn sách, siết chặt lấy chúng, bạn yêu sách vô cùng và thực sự không nhận ra mình đang làm tổn thương cuốn sách. Và rồi bạn có một cuốn sách bìa mềm bị bong ra một mảng lớn, hay một ấn bản gốc bị nhúng nước trong bồn tắm. Bạn mang cuốn sách đi phơi nắng và các trang sách bị phai mờ không còn gì nữa. Nhưng bạn vẫn giữ lấy chúng, bởi vì đó là sách - thứ mà bạn yêu quý vô cùng.

Gợi ý cho bạn: Cuốn nào cũng được, miễn là bạn mua một chiếc Kindle.

4. Kiểu độc giả dồn nén[1] loại 1.

Bạn chắc chắn là một người yêu sách, và khi bạn bước vào một cửa hàng sách hay bất cứ nơi nào có sách, bạn sẽ không thể kiềm chế nổi mình và sẽ mua một hay mua thật nhiều. Khi bạn về tới nhà, bạn sẽ để chúng sang một bên, thường rất cẩn thận, như thể chúng là vật phẩm nghệ thuật; bạn trưng bày chúng trên giá sách hay đặt chúng ở cạnh giường ngủ, ngay trong tầm mắt bạn mỗi khi bạn quay sang nhìn. Nhưng bạn thật sự rất bận rộn, và một ngày, một tuần hay một tháng trôi qua trước khi bạn thực sự lật mở một trong những cuốn sách đó ra. Không phải bạn thiếu cố gắng! Khi bạn cuối cùng cũng chạm vào cuốn sách, bạn sẽ vô cùng phấn khích bởi tất cả những kiến thức, những tận cùng cảm xúc, sự hài hước và chất lượng văn chương tồn tại trong cuốn sách sẽ được bạn hoàn toàn hiểu rõ, và bạn sẽ cảm thấy ngạc nhiên khi phải đợi quá lâu để mở nó ra.

Gợi ý cho bạn: Những người theo chủ nghĩa bất toàn của Tom Rachman, Cô dâu công chúa của William Goldman, Lolita của Nabokov, ‎Anne tóc đỏ dưới Chái nhà xanh của Lucy Maud Montgomery.

5. Kiểu độc giả dồn nén loại 2.

Bạn không phải là người yêu sách. Bạn mua sách chỉ để khoe khoang. Nếu bạn là người giàu có, bạn có cả một thư viện ốp gỗ gụ cho mục đích này. Vì bạn không muốn lãng phí thời gian cho sách, nên chúng tôi sẽ không lãng phí thời gian thảo luận về bạn, nhưng nếu bạn cầm một cuốn sách lên đọc và yêu thích chúng, bạn có thể coi như mình đã khỏi bệnh.

Gợi ý cho bạn: Gatsby vĩ đại, Kiêu hãnh và định kiến, Anh chàng Hobbit, Cuốn theo chiều gió, Nếp gấp thời gianBiên niên sử xứ Narnia.

6. Kiểu nghiện sách thuần túy.

Hơn cả việc đọc, bạn yêu những cuốn sách của mình. Những cuốn sách cũ, mùi hương của chúng, những trang giấy ố vàng đầy vết gấp; những cuốn mới, thơm phức, sống động khi bạn lướt tay qua một chồng sách ở hiệu sách. Bạn thích những cuốn sách rao bán trên đường phố nhiều như những ấn phẩm đầu tiên có chữ ký; bạn thích sê ri “Hiệu thuốc” bìa mềm, bạn thích những cuốn bìa cứng mới được ra mắt, bạn thích tất cả. Đơn giản, bạn yêu sách. Với bạn, sách là sự hiện diện của cái đẹp, và bạn sẽ không bao giờ làm tổn thương chúng với bất kỳ giá nào.

Gợi ý cho bạn: Bất cứ gì bạn có thể chạm tay vào. Ôi Chúa ơi, nó thật tuyệt phải không nào?

7. Kẻ ghét đọc.

Bạn là phiên bản sách của những người thường tuyên bố “tôi không bao giờ xem tivi! Nhà tôi còn chẳng có tivi!” Bạn không bao giờ đọc sách, vì bạn thấy chúng dài lê thê. Bạn coi một bài viết trên blog cũng là quá dài, và luôn viết các bình luận có nội dung “TLDR - Dài quá, không đọc” để thể hiện điều gì đó ngắn gọn mà vẫn có ý nghĩa. Thật không may, bạn là một quý ngài hay một quý bà đã cự tuyệt quá nhiều, và bạn có nỗi bất an sâu sắc với việc đọc sách dẫn tới sự vô vị khi bạn nhìn vào một cuốn sách. Cầm lấy một cuốn sách – một cuốn ngắn, bắt đầu từ ý nhỏ - và mở nó ra, rồi để cho mắt bạn được dừng lại ở đó trong một vài khoảnh khắc yên tĩnh. Bạn sẽ thấy bản thân mình thay đổi, bởi vì cuộc sống mà không đọc sách là một cuộc sống buồn tẻ.

Gợi ý cho bạn: Để bắt đầu, hãy thử những cuốn truyện tranh ngắn, tiểu thuyết hình ảnh, và truyện tranh liên quan đến những chủ đề mà bình thường bạn vẫn quan tâm trên tivi.

8. Kiểu độc giả bất chấp.

Bạn là một người trưởng thành nhưng thích đọc sách dành cho người trẻ tuổi[2] hay sách thiếu nhi, hoặc bạn là một đứa trẻ thích đọc sách cho người trưởng thành. Cuối cùng cũng có một vị trí dành cho bạn trong xã hội. Sự tồn tại của bạn được thừa nhận sau nhiều năm, bạn không còn cảm thấy xấu hổ vì thói quen đọc sách lạ đời của mình. Thay vào đó, bạn đắm mình trong sự săn đuổi những trang blog về sách và cảm thấy như một phần của biệt đội tiên phong. Bạn không còn bị kiểm soát bởi những đề mục, bạn là một nhà tư tưởng tự do. Khi bạn còn học tiểu học, một thủ thư nói với bạn rằng cuốn sách đó “quá già” với bạn. Bạn đọc nó bất chấp và không có chuyện bạn dừng lại.

Gợi ý cho bạn: Với trẻ em, các tác giả Dickens, Fitzgerald, Salinger, Vonnegut, Harper Lee. Với người lớn, các tác giả Collins, Rowling, Alexie, Chbosky, Lowry.

9. Kiểu độc giả đa-zi-năng.

Đây là một cách ví von thú vị khi thú nhận mình là một độc giả ngẫu hứng; nói bạn không đọc hết cuốn sách là sai rồi. Thay vào đó, bạn sở hữu phong cách đọc sách đầy tính híp-pi hoang dã, yêu thích không ràng buộc hoặc điều gì đó tương tự. Bạn có thể bắt đầu một ngày mới với vài trang của tác giả này, sau đó đọc một chủ đề hoàn toàn khác trên tàu điện ngầm; rồi khi bạn đi làm về, bạn lại đọc một cuốn khác. Lúc bạn chuẩn bị lên giường đi ngủ, tương tự, bạn lại chọn một cuốn mới, và cứ như vậy, khi thống kê chỗ sách bạn đọc, bạn sẽ thấy bản thân có thể làm được nhiều việc[3] trong cùng một lúc. Có bao giờ bạn nhầm lẫn giữa các nhân vật hay các cú twist? Bạn có chú ý nhiều hơn tới một số cuốn sách không? Có thể. Vấn đề là, bạn không sẵn sàng để cam kết với chỉ một cuốn sách, nhưng bạn vẫn có thể xuất sắc “cưa cẩm” tất cả các cuốn sách bạn đọc.

Gợi ý cho bạn: Tuyển tập truyện ngắn và bộ sưu tập các tiểu luận, tiểu thuyết.

10. Kiểu độc giả mơ ngủ.

Bạn có cảm thấy thời gian duy nhất để đọc sách là trước khi đi ngủ? Bạn mang cuốn sách lên giường cùng bạn và nằm thật thoải mái, cuốn sách trông thật quyến rũ, nhưng bạn lại chẳng thể mở mắt ra được, và rồi kết thúc câu chuyện, bạn thức dậy lúc 3 giờ sáng với cuốn sách úp lên mặt và bóng đèn thì chưa tắt? Đừng kể với ai nhé; nếu bạn may mắn, sẽ chẳng có ai ở đó mà chứng kiến sự ngại ngùng của bạn, cứu rỗi những nhân vật trong sách suýt chút nữa đã trở thành bạn thân của bạn.

Gợi ý cho bạn: Đọc bất cứ gì bạn thích, chỉ là hãy ngồi thẳng trên ghế – trừ khi bạn lại thích ngủ với cuốn sách úp trên mặt.

-Còn tiếp-

Chú thích:

  1. Delayed onset – Ý nói sự trì hoãn trước khi bắt đầu làm gì đó, nhưng khi đã làm thì rất phấn khích, mãnh liệt.
  2. Y.A. – Young Adult
  3. Nguyên tác Irons in the fire – Thành ngữ, chỉ người có thể làm tốt nhiều việc trong cùng một lúc.

Bún Cứng dịch.

Bài gốc được thực hiện bởi Jen Doll, đăng tại The Atlantic.
Ảnh đầu bài: Fragonard, The Reader

*

Muôn kiểu đọc sách




Đọc bài viết

Trà chiều

Đọc lang chạ

Published

on

Trong bữa ăn trưa khoảng một tháng trước, một người bạn hỏi xem gần đây tôi có đọc cuốn sách hay nào không. Sau một thoáng cân nhắc, tôi đã hào hứng quảng bá cho cuốn tiểu thuyết Rời khỏi nhà ga Atocha của Ben Lerner. Anh bạn của tôi ưng thuận và hứa sẽ tìm đọc thử. “Tôi sẽ cho cậu mượn cuốn của tôi,” tôi bảo, “Nhưng mà tôi chưa đọc xong cuốn đó. Thực ra một vài tuần trước, tôi đã ngừng đọc nên chỉ mới xong được khoảng hai phần ba. Tôi nghĩ mình nên quay lại đọc tiếp.” Anh bạn tôi nheo mắt lại, nhìn tôi đầy hoài nghi. Chắc anh cảm thấy khó hiểu lắm. Nếu đó là một cuốn sách hay và tương đối ngắn (chỉ có 180 trang), sao tôi lại bỏ dở chứ? Một câu hỏi tuyệt vời, có khi là vô cùng cần thiết, nhưng tôi không có lấy một câu trả lời. Bỏ dở sách là một thói quen của tôi, và là một thói quen mà càng ngày tôi càng không thể tự mình dừng lại. Khi tôi đọc một cuốn sách - được khoảng một nửa cuốn - và rồi, ngay cả khi tôi thích nó, tôi vẫn bỏ nó xuống để ưu tiên làm một việc gì đó khác. Anh bạn tôi lắc đầu ngán ngẩm, với chút gì đó thất vọng, rồi lại hướng sự chú ý tới món burrito.

Thói quen đọc sách này đã được tôi tự nhận ra từ vài năm trước, nhưng đây là lần đầu tiên tôi thú nhận nó với bất kỳ ai. Tôi lo lắng rằng biết đâu đây là triệu chứng của một số thiếu hụt nhân cách nghiêm trọng hoặc là một kiểu suy nhược trí tuệ trầm trọng. Trên chiếc bàn cạnh giường ngủ, có cả một chồng sách bìa mềm đặt bấp bênh đang nhìn tôi và chế giễu cái tính lăng nhăng trong việc đọc sách của tôi. Lý do tôi không thể đọc hết một cuốn sách không phải vì tôi lười đọc sách, mà ngược lại, tôi thích đọc sách rất rất nhiều. Tôi không thể nói không với sách. Giả sử tôi đang đọc một cuốn tiểu thuyết và hoàn toàn yêu thích nó. Rồi tôi đi vào cửa hàng sách và bắt gặp một chủ đề thu hút, thế là tôi mua cuốn sách ấy. Tôi bắt đầu đọc cuốn sách mới trên chuyến xe bus về nhà tối hôm đó, và đó là khoảnh khắc cuộc tình với cuốn sách đầu tiên đi vào dĩ vãng. Tôi chắc chắn rằng mình đã dồn hết tâm trí cho mối quan hệ với cuốn sách mà tôi đang đọc, nhưng tôi cũng không thể ngăn bản thân theo đuổi bất kỳ một niềm vui mới nào bất chợt hiện lên trong đầu. Có lẽ đó chỉ là lời bao biện cho việc thừa nhận bản thân là một kẻ đọc sách lang chạ, kẻ luôn khao khát mọi thứ gói gọn trong bìa sách đầy bụi.

Ngày xưa tôi không hẳn như thế. Tôi đã từng đọc xong rất nhiều cuốn sách. Không phải vì tôi bị ràng buộc bởi nghĩa vụ hay cam kết; chỉ là lúc ấy tôi không thường bồn chồn như bây giờ. Nếu tôi thích một cuốn sách, tôi sẽ kiên trì đọc hết; nếu không, tôi sẽ đặt nó xuống. Tuy nhiên, cái ranh giới giữa đọc tiếp hay không ngày càng nhạt nhòa. Vấn đề này phần nào bắt nguồn từ một số nguyên nhân khá phổ biến hiện nay: hội chứng rối loạn giảm khả năng tập trung tác động đến khá nhiều người đang sử dụng Internet. Trong hơn một thập kỷ vừa qua, khá nhiều người trong số chúng ta đang tự đào tạo bản thân để nhìn vào văn bản (hoặc không nhìn vào chúng) bằng những cách khác nhau. Bạn kích chuột vào một đường link dẫn tới một bài viết mà ai đó đã đăng trên Twitter hay Facebook. Thi thoảng bài viết đó sẽ hấp dẫn bạn và khiến bạn đọc cho tới hết; thi thoảng thì không và bạn sẽ đi làm việc khác. Tôi nhận ra rằng ngay cả khi bài viết đó thực sự hấp dẫn tôi, tôi vẫn kích chuột vào chỗ khác khi bị phân tâm bởi một đường link hay video khác được nhúng trong bài, hay bởi một mẩu tin hấp dẫn và ngớ ngẩn trên một thanh công cụ lấp lánh nào đó. Tôi không bảo rằng Internet đã cướp mất khả năng tập trung của tôi khi cần, mà đúng hơn là việc dùng hàng giờ đồng hồ online mỗi ngày khiến cho tôi bình thường hóa việc thi thoảng lại thoáng mất tập trung vì một đoạn văn bản ngẫu nhiên mà tôi gặp trên mạng. Thi thoảng tôi vẫn sẽ đọc hết sách, nhưng đó là những cuốn sách mà tôi đã nhận lời viết bài bình, hoặc đang dạy trên lớp hoặc là liên quan tới vấn đề cần thiết cho câu chuyện tôi đang viết.

Vì vậy, cái sự lăng nhăng này làm tôi lo lắng; tôi vẫn thường cảm thấy mình là một độc giả tồi tệ, một độc giả không trung thành, một tay chơi văn học liều lĩnh. Nhưng tôi thường tự bào chữa cho mình rằng việc áp đặt một loại cấm đoán đọc sách mới trong khi chưa hoàn thành sách cũ sẽ làm cho tôi đọc ít sách hơn. Chắc chắn tôi sẽ trở thành một người đọc có phương pháp và có trật tự hơn, nhưng sẽ mất đi tính đa dạng và phong phú. Một đoạn xuất hiện trong cuốn sách Cuộc đời của Samuel Johnson của Boswell – một cuốn sách mà tôi chưa bao giờ đọc xong – trong đó Johnson đã đưa ra một lời nhận xét ngắn gọn thú vị về vấn đề nên hay không đọc hết một cuốn sách đang đọc dở. “Điều này”, anh ấy nói, “Thật là một lời khuyên kỳ lạ; nó giống như việc khi bạn muốn thân thiết với một ai đó, bạn sẽ phải kè kè với người ta suốt đời. Một cuốn sách có thể hay chẳng vì lý do gì cả, hoặc chỉ có một lượng giá trị nhất định; liệu chúng ta có nên đọc hết tất cả không?” Chà, khi ta diễn giải như vậy, thì câu trả lời là không. Hãy luôn cảm thấy yên tâm vì tiến sỹ Johnson luôn ở bên bạn, và anh ấy đã chỉ ra một điều tuyệt vời – rằng chẳng ai nên nghĩ rằng cuốn sách ta đang đọc sẽ tạo nên mối liên kết mật thiết với chính ta, thực tế nó chỉ như một quan hệ xã giao thông thường – tuy nhiên cái tính cách của tôi cũng chỉ được giải thích một nửa theo cách này.

Có một cuốn sách tôi mới đọc xong gần đây, khiến cho tôi suy ngẫm về cái nghịch lý khi mà một số tác phẩm văn học có thể làm cân bằng thói quen của tôi bằng cách hòa hợp với nó. Đó là cuốn Minima Moralia của nhà triết học người Đức Theodor Adorno. Adorno đã viết nên những văn bản quyến rũ kỳ lạ trong thời gian bị lưu đày tại Mỹ trong hai năm cuối Thế chiến thứ hai và trong thời gian trải qua những hậu quả mà nó để lại. Về cơ bản, cuốn sách là tập hợp một trăm năm mươi ba bài luận và các câu châm ngôn ngắn từ chủ đề này sang chủ đề khác, và mỗi nội dung sâu sắc đó hiếm khi kéo dài quá một trang rưỡi.

Minima Moralia giống như một tác phẩm văn học hiện đại thời kỳ cuối, tựa như lý luận văn hóa Mác-xít, và theo một cách hiển nhiên, sự rời rạc của nó phản ánh một thế giới bị tàn phá mà buộc Adorno phải trốn chạy. (Phụ đề cuốn sách, Những phản chiếu từ cuộc đời bị tàn phá, gợi ý một chút đến định nghĩa của Proust về văn học như một “tấm gương phản ánh cuộc sống”, nhưng có vẻ như chiếc gương giờ đây đã bị thu nhỏ lại thành một tập hợp lởm chởm của những mảnh vụn lấp lánh, phản chiếu càng sinh động một nền văn hóa bị tổn thương.) Cuốn sách bao gồm nhiều lĩnh vực rộng lớn từ văn hóa, chính trị tới triết học trong hai trăm bốn mươi bảy chương: phân tích tâm lý học, đôi dép lê, chủ nghĩa phát xít, tình yêu, nhà hàng và khách sạn, sáo ngữ, lòng tham vô độ của xã hội với văn hóa và sự xuất hiện tinh vi của những món đồ chơi thay thế cho các trò chơi dân gian. Không phải lúc nào cũng dễ đọc – một vài bài luận chỉ bắt đầu phát huy hết ý nghĩa của chúng sau lần đọc thứ hai hoặc ba – nhưng chúng vẫn chứa đầy những điều đáng kinh ngạc được viết dưới dạng văn xuôi đẹp tuyệt vời (hoàn toàn không theo những tiêu chuẩn văn bản triết học thế kỷ XX). Có những đoạn trong Minima Moralia mà tôi yêu thích vô cùng, tới mức tôi đọc đi đọc lại với hy vọng ghi nhớ từng câu chữ. Ví dụ như đoạn này, như đang thôi miên độc giả, khiến họ thấy hiện thực hóa một khái niệm mơ hồ trở nên đầy sống động, thực tế:

Tỉnh dậy giữa giấc mơ, dù tốt hay xấu, cũng khiến người ta cảm thấy thất vọng, bị lừa dối về những điều tuyệt vời nhất trong cuộc sống. Nhưng những giấc mơ đẹp, khiến người ta thỏa mãn, thật ra rất hiếm, theo lời của Schubert, như một giai điệu ngọt ngào. Ngay cả giấc mơ đẹp đẽ nhất cũng khác biệt hoàn toàn so với thực tế, chúng ta nên nhận thức rằng những gì nó mang lại chỉ là ảo ảnh. Đây chính là lý do tại sao những giấc mơ đó lại dễ bị tàn lụi.

Trong một số bài luận, Adorno quay lại xem xét một số nghi vấn nhất định để giải quyết chúng từ những góc độ mới, nhưng thường thì không, do ông ấy không muốn nấn ná quá lâu tại những gì đã viết. Đối với một độc giả lăng nhăng như tôi, vẻ đẹp từ một cuốn sách kiểu này là cách mà nó đung đưa theo nhịp điệu bất thường từ sự chú ý của tôi.

Gần như tôi thích những lóe sáng bất chợt trong suy nghĩ của Adorno và bố cục rõ ràng trong từng đoạn văn của ông ấy, tôi thích cái cảm giác căng thẳng tột độ khi suy đoán về những gì sẽ xảy ra tiếp theo trong cuốn sách này. Tới một đoạn được ông ấy nhấn mạnh, “Trong phân tích tâm lý, không có gì là sự thật ngoại trừ sự phóng đại,” và thậm chí trước khi bạn có đủ thời gian để chiêm nghiệm về tính đúng đắn của đánh giá đó, ông ấy sẽ nói tiếp với bạn, ngay trong câu tiếp theo, một vài điều chả có mấy liên quan nhưng cũng khiến người ta chú ý như thế: “Chúng ta có thể biết ngay được chúng ta có đang hạnh phúc hay không bằng cách lắng nghe âm thanh của gió. Nó đang cảnh báo một người đàn ông bất hạnh về ngôi nhà mỏng manh của anh ta, ám ảnh anh ta trong giấc ngủ mơ màng và những cơn ác mộng. Đối với một người đàn ông đang hạnh phúc, nó lại là sự an tâm với cảm giác được bảo vệ: tiếng gió hú dữ dội chỉ chứng minh rằng cơn gió đó không còn khiến anh ta sợ hãi nữa.”

Theo cách nào đó, có một bí ẩn đầy hấp dẫn dành cho tôi nằm trong một cuốn sách giống như Minima Moralia, khiến cho tôi duy trì sự chú ý trong khi một cuốn tiểu thuyết có cốt truyện tuyến tính hoặc câu chuyện phi hư cấu không thể. Nhưng theo một cách khác, điều đó có vẻ hoàn toàn hợp lý: Adorno liên tục bỏ dở một dòng trong sự mơ hồ để viết tiếp một dòng khác, và thế là, sự thay đổi thất thường ấy khiến cuốn sách trông như một mạng lưới đan xen, có thể tốt hơn hoặc tệ hơn, nhưng lại hoàn toàn ăn nhập với thói quen đọc sách của tôi. Tôi cũng đã có những trải nghiệm tương tự với những cuốn sách theo phong cách rời rạc như vậy — Quyển sách của nỗi băn khoăn của Fernando Pessoa, Lịch sử ngắn về sự điêu tàn của Emil Cioran, Dự án Arcades của Walter Benjamin (một mê cung rộng lớn mà tôi đã từng lang thang trong vài năm qua) — nhưng chính Minima Moralia mới hấp dẫn tôi theo một cách nghịch lý nhất. Và tôi không chắc mình sẽ yêu thích cuốn sách đến thế nếu không phải vì sự ngẫu hứng của tôi. Đó vẫn là một vấn đề tôi muốn xử lý, sự ngẫu hứng này — có lẽ bằng cách đọc một phần ba cuốn sách nào đó viết về cách kiểm soát sự chú ý trong thời đại mất tập trung — nhưng cũng có những khoảnh khắc thoáng qua mà sự ngẫu hứng này không phải là một điều quá tồi tệ.

Hết.

Bún Cứng dịch.

Bài viết gốc được thực hiện bởi Mark O’Connell, đăng tại The New Yorker.

*

Có thể bạn sẽ thích?




Đọc bài viết

Trà chiều

Địa phương chó

Hay những điều thú vị xung quanh chuyện ăn thịt chó.

Published

on

Người châu Âu có nhiều đồng cỏ nên chuyên về nuôi bò, cừu, và dê. Chó khỏe, chạy nhanh, khôn ngoan, có thể giúp chủ rất nhiều trong việc lùa đàn thú về trại hay săn tìm những con thú đi lạc. Do nhiều năm tiếp xúc với chủ nhân nên tình cảm thân thiết giữa thú và người phát triển. Thế nhưng, luật bảo vệ súc vật nói chung và chó nói riêng chưa chắc đã nhân từ, và người ăn thịt chó không hẳn là người dã man.

Từ năm 1986, người Đức cấm bán hay ăn thịt chó. Tuy nhiên, vào những năm có chiến tranh hay thiếu thốn, thịt chó lại được bán công khai. Từ năm 1898 cho đến năm 1925, The New York Times nhiều lần đăng tin dân Đức bán và ăn thịt chó. Những bài báo này làm tôi tự hỏi liệu đây có phải là một hình thức người Mỹ kỳ thị người Đức vì họ là phe đối nghịch với Hoa Kỳ. Năm 1933 cho đến năm 1938, đảng Đức quốc xã cho ban hành bộ luật bảo vệ thú vật soạn thảo rất quy mô. Bộ luật này bao gồm luật sát sanh theo phép Kosher, luật cấm săn bắn, luật chuyên chở thú vật từ nơi này đến nơi khác bằng xe hay tàu hỏa. Arnol Arluke và Boria Sax cho rằng Nazi soạn bộ luật này với âm mưu sẽ xem loài người như súc vật chứ không xem súc vật như con người1.

Ở Hoa Kỳ, chữ dog được dùng để chỉ sausage (thịt dồi, xúc xích). Vào năm 1845, người ta phát hiện trong thịt dồi có pha lẫn thịt chó, từ đó phát xuất chữ hot dog. Việc bắt trộm chó không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác, Nhật Bản và Hoa Kỳ chẳng hạn. Trong những năm người ta vẫn dùng phương pháp vivisection (mổ động vật có xương sống lúc đang sống để quan sát hoạt động nội tạng của động vật khi vẫn đang tiếp nhận tín hiệu từ não bộ), chó thường bị bắt trộm đem bán cho các phòng thí nghiệm. Năm 1891, ở tiểu bang Indiana, môn thuốc dùng để trị bệnh lao phổi là thịt chó.

Người ta có đủ thứ niềm tin để lý luận ăn thịt chó là cần thiết. Người Ba Lan dùng mỡ chó để trị bệnh. Người Trung Quốc tin là trong thịt chó có vị thuốc, mùa đông ăn thịt chó làm ấm người. Ngược lại, người Hàn Quốc tin rằng ăn thịt chó có thể điều tiết nhiệt độ trong người, hoặc giải nhiệt. Họ ăn thịt chó nhiều nhất vào ba ngày nóng nhất trong năm.

Đa số người Nam Hàn không ăn thịt chó, nhưng có một số ít người có quan niệm chọn món ăn là quyền tự do cá nhân. Năm 1984, họ cấm bán thịt chó nhưng không kiểm soát nghiêm ngặt ngoại trừ lúc tổ chức Thế Vận Hội ở Seoul. Tháng 03.2008, một nhóm người vận động đòi được quyền công khai bán thịt chó, mở nhà hàng thịt chó nhưng không được chấp thuận. Loại chó người Nam Hàn nuôi để ăn thịt là loại chó đặc biệt thuộc giống Nureongi hay Hwangu, không phải thú cưng.

Người miền Bắc Việt Nam ăn thịt chó nhiều hơn người miền Nam. Người ta tin rằng ăn thịt chó sẽ được cường dương và giải xui, nhất là vào dịp cuối năm và cuối tháng âm lịch. Một con chó độ 20 kí có thể bán được giá tương đương với một tháng lương trung bình của công nhân, vì thế chó ở Việt Nam thường hay bị trộm. Không có tài liệu để kiểm chứng cụ thể nhưng có tin rằng giới Công giáo thường hay ăn thịt chó nhất là vào dịp Giáng sinh. Tôi, người viết bài này, nghĩ rằng rất có thể đây là sự biến thể của nghi thức tế lễ từ thời xa xưa của người Celtic sống ở Anh đến Việt Nam theo các nhà truyền giáo. Người ta thường tế lễ bằng dê và cừu, nhưng sang đến Việt Nam thì dê và cừu biến thành nai đồng quê.

Do ảnh hưởng của Phật giáo, Thiền giáo, và Thần đạo, người Nhật không ăn thịt chó. Tuy nhiên, thịt chó rất phổ biến ở Nhật Bản mãi cho đến năm 675 sau Công nguyên, khi hoàng đế Temmu ra lệnh cấm ăn thịt chó từ tháng 4 cho đến tháng 9. Vị Hoàng đế này ra trận thường xuyên, khi đi đánh giặc ông thường mang theo con chó. Ông cho rằng ăn thịt chó sẽ mang sự xui xẻo đến cho ông.

Bạn đọc thích xem phim, đọc truyện thế nào cũng biết đến tác phẩm Hachiko, dựa trên câu chuyện có thật và đẹp như huyền thoại. Chủ của Hachiko là giáo sư dạy ở đại học Tokyo. Hằng ngày Hachiko theo chủ ra nhà ga Shibuya đưa ông đi làm và buổi chiều ra nhà ga đón ông về. Ông đột ngột qua đời trong lúc giảng bài (vì thế không về bằng tàu hỏa). Hachiko đợi chủ ở nhà ga hằng ngày cho đến khi qua đời, nhất định không rời nhà ga này dù vợ con của ông giáo sư tìm cách đưa chó về và dời chỗ ở. Phim này về sau được quay lại bởi đạo diễn Lasstrom và diễn viên là Richard Gere. Người ta ngưỡng mộ Hachiko đến độ đúc tượng đồng con chó này.

Tượng Hachiko - chú chó đợi chờ
Ảnh: japanistry.com

Phim làm tôi tưởng tượng tất cả đàn ông Nhật đều đẹp trai và yêu chó như Gere vì thế hơi ngỡ ngàng khi thấy người Nhật nhập cảng thịt chó nhiều hơn thịt bò. Sau khi người Nhật đầu hàng vào năm 1945, toàn nước Nhật chỉ còn lại 16 con chó giống Akita. Đây là loại chó săn, mõm ngắn, tai vểnh, lông dày, sống ở miền bắc của Nhật (nơi gọi là xứ tuyết), rất khôn ngoan và trung thành. Vào những năm chiến tranh khi thực phẩm khan hiếm, chính quyền và quân đội Nhật kêu gọi toàn dân bán chó và nộp chó để phục vụ trong chiến tranh. Để thuyết phục người dân, tượng chó Hachiko bị hạ xuống và đem giấu đi. Bộ da chó được dùng làm lớp lót bên trong áo khoác của quân phục. Ai có chó mà không chia sẻ thịt với láng giềng bị xem là ích kỷ. Trong thời gian này chó thường bị ăn trộm hay bắt cóc2.

Thông tin rằng có người ăn trộm một con chó hai lần để đem bán cho người ta giết lấy thịt khiến dân cư mạng bàn tán và chia thành hai phái, một bên đòi giết tên trộm, bên kia kêu lên dù gì cũng không thể lấy mạng người để trả thù cho chó. Chó có quý hơn mạng người hay không? Chó không biết nói nên mình không biết câu trả lời của nó. Giữa loài người, dù bạn đứng ở phía nào, nếu là một người có lòng nhân, trả lời câu hỏi này thế nào cũng có chút áy náy xót xa. Dĩ nhiên, tôi không đồng tình với chuyện giết người đòi mạng, nhưng trộm chó là một hành động sai lầm cần phải được xét xử bằng pháp luật. Sự giận dữ của đám đông đòi xử tử người trộm chó có thể là một cách biểu lộ là người dân không còn tin tưởng vào pháp luật của chính quyền đương nhiệm. Mức độ trừng phạt phải xứng đáng với tội phạm, nhưng như thế nào thì xứng đáng? Giá một con chó bằng một tháng lương, phạt tiền gấp đôi cộng thêm phí tổn tòa án. Mấy thằng trộm ấy làm gì có tiền mà phạt. Nhà tù ở đâu có nhiều đủ để chứa và nuôi cơm mấy tên trộm chó chứ. Ngay cả ở Hoa Kỳ, tội hành hạ súc vật cũng khó được xử lý theo đúng luật pháp vì không đủ tiền và nhân lực. Xử chuyện người còn không xuể ai hơi sức đâu mà quan tâm đến chuyện chó.

Tóm lại, không chỉ nước nghèo mới ăn thịt chó. Hàn Quốc và Nhật Bản là hai nước giàu mạnh về kỹ nghệ, và Nhật có truyền thống văn hóa lễ độ bậc nhất thế giới cũng tiêu thụ thịt chó. Năm 2008, Nhật nhập cảng 5 tấn thịt chó từ Trung Quốc trong khi chỉ mua vào 4,714 tấn thịt bò. Người Mỹ không ăn thịt chó nhưng không có quyền áp đặt lên các quốc gia khác quyền tự do ăn uống. Người Việt ăn thịt chó không vì người Hàn, người Nhật, hay người Trung ăn và cũng không ngừng ăn thịt chó bởi vì bắt chước người Tây phương. Cái ý tưởng nuôi chó như nuôi cừu dê heo bò lấy thịt ở Việt Nam sẽ là một ý tưởng hay, hoặc là một hình thức kinh doanh đắc lợi. Loài người quan niệm thú vật sinh ra là để phục vụ con người. Người ta giết gấu lấy lông lấy mật lấy tay, giết voi giết tê giác lấy ngà, giết trăn và cá sấu lấy da lấy thịt. Thú vật là một kỹ nghệ lớn, chẳng những nuôi sống mà có khi còn đưa loài người đến chỗ giàu có và đầy quyền lực. Ngay cả khi yêu thú vật người ta cũng vô tình hành hạ thú vật như nhốt chim trong lồng, thiến chó thiến mèo để đoạn sản, thậm chí có người còn thuê bác sĩ thú y rút móng mèo để khỏi cào phá nệm ghế nệm giường, giết chó hoang để tránh trường hợp chó bị bệnh điên và cắn người.

Sau khi ngâm cứu loạt bài về thịt chó này tôi cũng hiểu rõ tôi hơn. Nếu thật sự yêu thú vật thì người ta nên ăn chay. Tôi không ăn chay vì vẫn còn thích ăn thịt. Tôi chưa hề ăn thịt chó nên không biết thịt chó ngon như thế nào. Có được thử món chân lợn giả cầy nhưng không thấy hấp dẫn lắm. Không thể nào biết được trước khi lâm chung tôi lại không gào thét đòi ăn một miếng thịt chó giống như một nhân vật ni cô suốt đời ăn chay lại đòi nước mắm trước khi qua đời. Với tôi, một chàng trai ôm con chó nhỏ trên tay, hay cúi người rót nước vào cái đĩa cầm trên tay cho chó uống, thấy đáng mến hơn là nhìn thấy những người mặt đỏ lựng hô hào hò hét “dzô, dzô” trước đĩa thịt chó và mắm tôm. Nếu tôi đi ngang một cửa hàng thịt chó, gia vị thơm lừng, và tôi đang đói meo thì có thể tôi sẽ cầm lòng không đậu. Bạn đọc đến đây sẽ cười bảo rằng tôi là người ba phải, nhiều trang chữ chẳng đưa đến một kết luận nào, hay đứng hẳn về phía nào.

Thế viết bài này để làm gì? Để thỏa mãn tính tò mò, để biết vì sao người ta ăn hay không ăn thịt chó. Biết để làm gì. Chẳng làm gì cả. Biết thôi, bộ chẳng đủ hay sao?

Hết.

Nguyễn Thị Hải Hà

Chú thích:

  1. Theo Wikipedia.
  2. Sherrill, Martha, “Dog Man” – An Uncommon Life on a Farwaway Mountain, New York, The Penguin Press.
Đọc bài viết

Cafe sáng